PARIS

(phần 4) 

Đại Linh

25 tháng 09 năm 2008


 

                                 
     
     QUARTIER LATIN 
                                                                                                                              

          Từ khi Collège de Sorbonne được thành lập vào thế kỷ 13, Quartier Latin trở thành trung tâm đời sống trí tuệ của Paris. Sở dĩ Quartier đuợc gọi là Latin là bởi v́ sự giảng dạy đại học vào thời đó đuợc thực hiện bằng tiếng latin và ở đây người ta nói tiếng latin như ngôn ngữ chính thức cho măi đến năm 1793.      
           Quartier Latin bao gồm các khu phố Saint-Séverin, Núi Sainte Geneviève và Place Saint-Michel. Được bao quanh bởi Núi Sainte Geneviève và sông Seine, Quartier Latin nằm ở trung tâm lịch sử và địa lư của Paris. Là cao điểm lịch sử của Paris, du khách có thể t́m thấy ở đây các tàn tích thời La Mă như các đấu trường Lutèce hoặc các khu tắm công cộng (thermes romains) của thế kỷ thứ 3 mà ta có thể t́m thấy trong Musée de Cluny .

 

Các địa điểm cần tham quan:

  - LA SORBONNE

  - PANTHEON

  - EGLISE SAINTE SEVERIN

  - EGLISE SAINTE-ETIENNE-DU-MONT

  - MUSEE DE CLUNY.

                                            
SORBONNE

            Năm 1527, Robert de Sorbon, linh mục (chapelain) phụ trách nhà thờ Saint Louis đă thành lập một trường trung cấp (collège) làm nơi trú ngụ và giảng dạy cho 16 sinh viên thần học của ông. Ngôi trường khiêm tốn dành cho thầy và tṛ xuất thân từ những gia đ́nh nghèo với mong muốn theo học thần học, đă nhanh chóng trở nên trung tâm thần học chính của đất nước.Thánh Thomas d’Aquin và Roger Bacon đă giảng dạy ở đó. Dante (1265-1321), nhà thơ người Ư, Ignace de Loyola (1491-1556), người sáng lập ḍng Jésuites, và Jean Calvin (1509-1564), cha đẻ của tôn giáo cải cách, đă học ở Sorbonne. Năm 1259, với sự chấp thuận của Giáo Hoàng, ngôi trường nhanh chóng trở thành trụ sở của Khoa Thần Học của Đại Học Paris. Là pháo đài của chủ nghĩa bảo thủ, đại học Sorbonne bị đóng cửa dưới thời Cách Mạng, rồi được mở cửa lại bởi Napoléon năm 1806.Trường cũng bị đóng cửa vào tháng năm 1968. Ngôi trường này, rất thịnh đạt và nổi tiếng, có những lập trường rất dứt khoát trong suốt một thời kỳ dài của lịch sử hoạt động của trường. Thật vậy Sorbonne chống lại các Templiers (các chức sắc ḍng Đền), ủng hộ Anh trong cuộc chiến tranh 100 năm, lên án các triết gia của thế kỷ XVIII. 7 thế kỷ sau khi thành lập, Sorbonne trở nên biểu tượng của cuộc nổi dậy của sinh viên vào tháng năm 1968.

Các toà nhà đă được tái xây dựng lại bởi Nenot vào cuối thế kỷ XIX.Trái lại, nhà thờ (la chapelle), được xây dựng bởi Lemercier, trong đó có ngôi mộ lộng lẫy của Hồng Y Richelieu, có từ thế kỷ thứ XVII.




                     

PANTHEO

Panthéon được xây dựng theo lệnh của vua Louis XV. Vào năm 1744, nhà vua lâm bệnh nặng và hứa sẽ xây một nhà thờ mới dành cho Sainte-Geneviève nếu vị thánh này chữa lành bệnh cho ông ta. Sau khi lành bệnh, năm 1754 nhà vua giao phó cho Germain Soufflot xây dựng ngôi điện thờ rộng lớn này.Vào thời đó việc xây dựng một kiến trúc to lớn như thế là một kỳ công táo bạo.Vào năm 1764, viên đá đầu tiên được đặt với sự hiện diện của nhà vua. Nhưng điện thờ này chỉ được hoàn thành năm 1790, là năm chính quyền Cách mạng huỷ bỏ các lệnh nhà vua trước đó và tuyên bố điện thờ là Temple à la Nation. Panthéon sau đó trở thành nơi an nghỉ cuối cùng của Voltaire, Jean Jacques Rousseau và Mirabeau. Mirabeau là vĩ nhân đầu tiên được chôn cất ở Panthéon, nhưng sau đó Robespierre thay thế bởi Marat. Rồi đến lượt Marat bị thất sủng và thi hài bị vất vào cống rănh. Vào thời Phục Hưng, Panthéon lại trở thành nhà thờ. Sau cùng vào năm 1885, nhân đám tang của Victor Hugo, Panthéon trở nên cénotaphe (mộ không thi thể) của các vĩ nhân mà tổ quốc ghi ơn. Ở đây có mộ của Emile Zola (1830-1902), Jean Moulin (1899-1943), Marie Curie (1859-1906)), André Malraux và Alexandre Dumas (1802-1870).
          Victor Hugo (1802-1885) chiếm một vị trí đặc biệt trong văn học Pháp thế kỷ XIX. Dấn thân về mặt chính trị, các tác phẩm của ông, do các tư tưởng xă hội của chúng, đă là nguồn gợi cảm cho các cuộc cách mạng, nhất là cuộc cách mạng năm 1830. Các vỡ kịch của ông đă soi sáng nghệ thuật sân khấu bằng cách giải phóng nó ra khỏi cái gông cùm gây trở ngại từ thời đại của Racine và Corneille. Năm 1851, sau khi đă cố gắng chống lại cuộc đảo chánh của Napoléon III và cảm thấy ḿnh bị đe dọa, Victor Hugo đă tự lưu đày. Ông chỉ trở lại Pháp 18 năm sau, năm 1870. Lúc ông mất năm 1885, một nửa triệu người đă xuống đường để khóc thương tiếc ông.Thi hài của ông được trưng bày một cách hoành tráng dưới Khải Hoàn Môn (Arc de Triomphe). Sau đó thi hài của ông được đem đến điện Panthéon trên một chiếc xe tang của dân nghèo, để tỏ t́nh đoàn kết với những người dân bé nhỏ. Mỉa mai thay cho số phận, Hugo đă luôn luôn ghét cái công tŕnh kỹ niệm này, nhưng lại là nơi an nghỉ cuối cùng của ông.


 

       QUARTIER SAINT-SEVERIN

Triết gia và nhà thần học Pierre Abélard (1079-1142) là một trong những nhân vật lịch sử nổi tiếng nhất của khu phố Saint-Séverin. Bị đuổi ra khỏi tu viện Notre Dame sau một cuộc tranh luận về triết học, ông cư trú ở tả ngạn sông Seine, kéo theo 3.000 sinh viên đệ tử.

Những con đường nhỏ chung quanh nhà thờ Saint-Séverin đă có từ thời các Gallo-Romains. Rue de la Huchette vẫn mang cùng tên từ 800 năm nay. Rue du Chat-qui-Pêche là một trong những con đường ngắn nhất của Paris ; Rue Galande, vào thế kỷ XVIII, dọc theo đường là những quán rượu nổi tiếng xấu. Tất cả đă giữ một vẻ yêu kiều xưa cũ, và tạo một không khí nhộn nhịp gần như thường trực ngày và đêm.

     

BOULEVARD SAINT-MICHEL
 

Đường phố chính của Quartier Latin, được mô ra vào cuối những năm 1860 bởi nam tước Haussmann vào lúc cải tạo thành phố. Con đường mang tên một nhà thờ ở tận cùng phía bắc của đại lộ. Ngày nay, dọc hai bên đường là các tiệm cà phê vui nhộn , các tiệm bán quần áo, và các tiệm ăn rẻ tiền.Tiệm cà phê Cluny, ở số 20, là một trong những cơ sở hiếm hoi (trong số các cơ sở làm đại lộ Saint-Michel nổi tiếng) vẫn c̣n tồn tại giữa các tiệm bán quần áo may sẵn.Trên quảng trường Saint-Michel, một đài nước to lớn bằng đồng thau, biểu tượng Thánh Michel đang quật ngă con rồng. Trên quảng trường này có những tấm bảng bằng cẩm thạch tưởng nhớ các sinh viên đă ngă xuống trong thời kỳ giải phóng Paris.

 

SAINT GERMAIN DES PRES

        
Khu phố cổ đầy truyền thuyết Saint-Germain-des-Prés ở tả ngạn sông Seine, đă phát triển từ thế kỷ thứ 9, chung quanh một trong những abbaye bénédictine (tu viện cấp cao ḍng thánh Benoit nổi tiếng nhất của Pháp). Ngày nay khu phố này là nơi tọa vị của rất nhiều quán café văn học (cafés littéraires), hiệu sách và các nhà trưng bày nghệ thuật (galeries d’art). Ở giữa tu viện là Eglise Saint- Germain des Prés. Đây là nhà thờ kiến trúc la mă và cổ nhất Paris. Nhà thờ lấy tên một giám mục tên là Saint Germain chết năm 576, và v́ được xây dựng giữa một đồng cỏ nên mới có tên là Nhà Thờ Saint–Germain-des- Prés. Trong nhà thờ có mộ của René Descarte, nhà tư tưởng, nhà toán học và cha đẻ của nền triết học hiện đại. Bên cạnh nhà thờ là Café de Flore nổi tiếng. Ở đây Jean Paul Sartre, lư thuyết gia của chủ nghĩa hiện sinh, thường đến để viết hoặc chuyện tṛ với Simone de Beauvoir và các bạn văn chương. Những nhà trí thức khác trong đó có Raymond Aron thường đến uống ở Deux-Magots, hay ăn ở Brasserie Lipp. Do đó Saint Germain des Prés trở thành biểu tượng cho đời sống trí thức của Paris.

BOULEVARD SAINT GERMAIN


        Văn sĩ, nhạc sĩ và họa sĩ đă làm nổi tiếng các tiệm café và các hộp đêm trong các con đường nhỏ bao quanh đại lộ.

          Đại lộ này đă được mở ra bởi nam tước Haussmann vào thế kỷ XIX, dài 3km, chạy xuyên qua 3 quận của Paris. Boulevard Saint Germain chạy xuyên suốt chiều dài khu phố Saint-Germain-des-Prés đến tận Quartier de L’Odéon.

Đại lộ nổi tiếng dài 3 km này chạy xuyên qua một phần của tả ngạn sông Seine, nằm gần sông Seine và nối liền Pont de La Concorde với Pont de Sully. Ở giữa đại lộ, nằm sừng sững Eglise de Saint-Germain-des-Prés mà ta có thể thấy từ xa. Nhà thờ này được xây dựng vào thế kỷ thứ XI trên nền tảng của một điện thờ đă được dựng lên vào năm 542. Ngay đối diện với ngôi nhà thờ là các tiệm café nổi tiếng như Café de Flore và Café de Deux-Magots. Ngược lên về phía Place de La Concorde, dọc hai bên đại lộ là những nhà trưng bày nghệ thuật (galeries d’art), các hiệu sách, các tiệm bán đồ thời trang. Về phía đối diện, đại lộ chạy xuyên qua Quartier Latin, Place Maubert xinh đẹp (nổi tiếng với khu chợ nhộn nhịp) và tận cùng ở Ile Saint-Louis.



EGLISE SAINT-GERMAIN-DES-PRES

 

Eglise Saint-Germain-des-Prés là nhà thờ cổ nhất của Paris, trong đó có mộ của Boileau, René Descartes ( nhà tư tưởng, nhà toán học và cha đẻ của nền triết học hiện đại ) và của Jean-Casimir, vua của Ba Lan, thoái vị năm 1668 để trở thành tu viện trưởng  (abbé) của Nhà Thờ Saint-Germain-des-Prés.Trong công viên nhỏ Laurent-Prache, bên trái nhà thờ, có một tác phẩm điêu khắc của Picasso, để tưởng nhớ Guillaume Apolilinaire, nằm không xa tiệm café Le Flore, là nơi nhà thơ thường hay lui tới. Chính ở tiệm café Le Flore bên cạnh nhà thờ, là nơi Jean Paul Sartre, nhà triết học lớn, lư thuyết gia của chủ nghĩa hiện sinh thích đến ngồi để viết và chuyện tṛ với nữ văn sĩ Simone de Beauvoir và các bạn. Những nhà trí thức khác, trong đó có Raymond Aron, thường đến uống ở Deux-Magots hoặc dùng bữa ăn ở Brasserie Lipp.
         Theo lời khuyên của Saint Germain (giám mục tương lai của Paris), năm 543 vua mérovingien Childebert đệ nhất (con của Clovis) đă ra lệnh xây dựng một basilique và một tu viện (monastère) để cung hiến cho Saint Vincent và Sainte Croix.Vào thế kỷ thứ VIII, toà nhà trở nên một abbaye bénédictine.Tu viện này không ngừng được mở rộng và thịnh vượng cho đến thời kỳ Cách mạng. Abbaye, trở nên một trong những tu viện cấp cao nổi tiếng nhất của vương quốc Pháp, đă tiếp nhận mộ phần của các vua mérovingien.

        Sau khi bị phá hủy bởi quân normand, năm 1000, nhà thờ được tái xây dựng theo kiểu roman.Tháp chuông nhà thờ được xây dựng từ thế kỷ XI là tháp chuông cổ nhất của thành phố Paris.

Tháng 6 năm 1789, quân cách mạng tấn công nhà tù của abbaye để giải phóng binh sĩ đă từ chối bắn vào các công nhân nổi dậy của thị trấn Saint-Antoine. Năm sau, abbaye được biến hẳn thành nhà tù và nhà thờ trở thành nhà kho.

Năm 1792, tu viện là một trong những nơi diễn ra những cuộc thảm sát tháng 9. Trong thời kỳ Khủng Bố, Charlotte Corday đă bị giam ở đây sau khi đă ám sát Marat.

Được trả lại làm nơi thờ phụng, nhà thờ được trùng tu vào thế kỷ thứ XIX và phần lớn là nhờ cố gắng của Victor Hugo.


LE CAFE DE FLORE
 

Tọa vị 172 Bd Saint Germain. Café de Flore là một trong những quán café nổi tiếng nhất của Paris. Rất được yêu chuộng bởi các nghệ sĩ và trí thức bắt đầu từ những năm 1920. Apollinaire, Breton, Sartre, Simone de Beauvoir, Camus, Jacques Prévert, Salvador Dali. thường lui tới quán café này. Chính ở đây Guillaume Apollinaire đă thành lập tạp chí nổi tiếng của ông Les Soirées de Paris. Mặc dầu giá cả tăng vọt, nhưng trang trí nội thất Art déco vẫn luôn luôn không thay đổi và đây luôn luôn là nơi được ưa thích bởi những nhà dựng phim và các văn nhân.

 



LES DEUX- MAGOTS

 

Les Deux-Magots : 6 Place St-Germain-des-Pres.

        Verlaine, Rimbaud, Gide, Picasso, Simone de Beauvoir, Sartre và Hemingway thường lui tới ở đây.

Giá cả cũng đắt không thua ǵ Le Café de Flore.Trong thế kỷ vừa qua, Les Deux-Magots đă cạnh tranh với Le Flore để trở thành nơi gặp gỡ được ưa thích nhất của giới tinh hoa trí thức Paris. Heminway, Saint-Exupéry, Oscar Wilde, André Breton, Rimbaud, Verlaine và Mallarmé là những khách hàng thường xuyên lui tới. Năm 1925, tiệm café này trở thành tổng hành dinh của các nhà siêu thực. Picasso đă gặp ở đây vào năm 1937 nữ thần nghệ thuật của ông là Dora Maar. Sân hiên tiệm mở ra trên Boulevard Saint Germain và Place Saint Germain. Cao điểm của giới tinh hoa văn học và nghệ thuật này đă từng thường được lui tới bởi các nhà siêu thực (surréalistes) và François Mauriac.Trong những năm 1950, Jean Paul Sartre và Simone de Beauvoir thường đến sáng tác ở đây 2 giờ mỗi ngày.



 


BRASSERIE LIPP

                         

         Cùng với Le Flore et Les Deux-Magots, Brasserie Lipp là “ công tŕnh nghệ thuật ” lớn thứ 3 của Saint-Germain-des-Prés. Brasserie Lipp được xây dựng vào cuối thế kỷ thứ XIX bởi một người gốc Alsace và được ưa chuộng bởi các chính trị gia từ năm 1920. Brasserie Lipp là nơi gặp gỡ của các văn nhân và chính trị gia.Trong số khách hàng của tiệm luôn luôn có các tác giả sáng tác và các nhân vật nổi tiếng. Đó là Valéry, Henriot, Léon Blum, Giraudoux, Saint-Exupéry hay Max Jacob. Verlaine, Marcel Proust, André Gide, André Malraux hội họp ở đây. Chính ở Brasserie Lipp, Ernest Hemingway đă viết cuốn “ Giă từ vũ khí  ”          (Adieu aux armes). Ở đây phục vụ các môn ăn tiêu biểu của vùng Alsace .

                 

LES CAFES PARISIENS

Khó tưởng tượng Paris mà không có các quán cà phê. Thành phố có 12.000 tiệm trong đó dân Paris và du khách đến để giải khát, gặp lại bạn bè, kư kết các công việc buôn bán hoặc chỉ nh́n quang cảnh của phố phường.

          Năm 1686, Francesco Procopio, người Sicile, mở một tiệm cà phê ở Paris, rue de L’Ancienne-Comédie. Tiệm Le Procope nhanh chóng trở nên nơi gặp gỡ của các diễn viên của Comédie-Française (Nhà hát nằm ở trên con đường cùng tên). Sau đó quán cà phê này là điểm hẹn của Voltaire và của Rousseau, rồi của các nhà cách mạng Danton, Robespierre và Marat. Ngày nay đây là một tiệm ăn.

       Vào thế kỷ XIX, sự mở rộng các đường phố và việc mở các đại lộ lớn cho phép các quán cà phê phát triển và các bàn ghế xâm chiếm lề đường. Sự thịnh hành trong việc xây dựng các đại lộ lớn dưới thời Napoléon đệ tam đă dẫn đến sự tăng sinh các quán cà phê. Café de la Paix, được trang trí bởi Charles Garnier, ở góc giữa Place de l’Opéra và Boulevard des Capucines, là một trong những quán cà phê ở đó bàn và ghế được đặt trên sân hiên (terrasse) của tiệm.
         Trong những năm 1920, những quán cà phê khác được mở ra ở Montparnasse. Trước Đệ nhất thế chiến, các quán cà phê ở Montparnasse ŕ rầm các cuộc họp bí mật của những người lưu vong người Nga. Hai trong số những người này, Lénine và Trotsky, làm lại thế giới ở các tiệm la Rotonde và le Dôme   Sau đó là những người Mỹ thuộc “ thế hệ đă mất ”, như Ernest Hemingway và Scott Fitzgerald thường hay lui tới khu phố này. Họ la cà ở các tiệm La Coupole, le Select và La Closerie des Lilias. Man Ray, nhà nhiếp ảnh tiền phong (avant-gardiste) hay Henry Miller, tiểu thuyết gia người Mỹ gây nhiều tai tiếng, Picasso, Vlaminck, Modigliani, thường xuyên lui tới các quán La Rotonde, Le Dôme, La Coupole và Le Select.
        Saint-Germain-des-Prés là nơi được ưa thich khác đối với những quán cà phê theo thời trang.Tiệm cà phê Voltaire là nơi hẹn của những văn nhân theo chủ nghĩa lăng mạn và tượng trưng (symbolisme). Các nhà thơ theo chủ nghĩa tượng trưng như Verlaine, Rimbaud hay Mallarmé, vào khoảng năm 1885, đă khởi xướng truyền thống văn hóa của các tiệm Deux-Magots et Café du Flore, rồi được duy tŕ bởi những nhà siêu thực sau đó, và sau Đệ nhị thế chiến, được tiếp nối bởi những nhà hiện sinh (existentialiste), quy tụ chung quanh Sartre, Camus và Simone de Beauvoir . Chính ở trong 4 bức tường của quán Café de Flore, đại lộ Saint Germain, mà Charles Maurras (1862-1953)  đă phát động tờ nhật báo L’Action Française. Maurras là nhà văn, và chính trị gia người Pháp. Qua tờ báo L’Action Française, ông có một ảnh hưởng quan trọng lên thành phần bảo thủ nhất của công chúng Pháp. Cũng chính ở Café de Flore, Guillaume Apollinaire (1880-1918) đă thành lập Les Soirées de Paris. Apollinaire  là nhà thơ người Pháp.Thoát khỏi mọi ảnh hưởng của trường phái, ông được xem là người tiền thân của chủ nghĩa siêu thực (surréalisme). Xuất hiện thường xuyên ở Café de Flore c̣n có họa sĩ Derain, nhà điêu khắc và họa sĩ người Thụy Sĩ Giacometti (theo trường phái lập thể, cubisme) và nhà điêu khắc Zadkine.

         Đối diện gác chuông nhà thờ Saint-Germain-des-Prés là tiệm cà phê nổi tiếng Les Deux Magots.Tiệm cà phê này được thành lập năm 1891và thời gian giữa hai đại chiến đă trở thành tổng hành dinh của Alfred Jarry, James Joyce và Stefan Zweig.Vào khoảng năm 1945, Jean Paul Sartre và Simone de Beauvoir thường đến và làm việc ở tiệm cà phê này. Các văn sĩ Apollinaire, Breton, Sartre, Camus ngồi ở sân hiên của Café du Flore. Các sân hiên của các quán cà phê Le Flore và Les Deux Magots của khu phố cổ thuộc tả ngạn sông Seine này, cũng có tầm quan trọng như nhà thờ Saint-Germain-des-Prés xinh đẹp, những hiệu sách và những con đường nhỏ hẹp với các tiệm bán đồ cổ và các tiệm bán đồ thời trang.Những con đường xưa cổ, những ngă tư nên thơ, những quảng trường bé nhỏ, những gian pḥng nhỏ tŕnh diễn nhạc jazz… Đại lộ St-Germain chạy xuyên suốt chiều dài của khu phố Saint-Germain-Des-Prés, đến tận khu phố Odéon.Và giữa sông Seine và đại lộ này, có rất nhiều con đường bé nhỏ xinh đẹp.

 

NHỮNG QUÁN CÀ PHÊ NGÀY NAY.

         Les Phares, place de Bastille, cũng như Café des Arts, place de la Contrescarpe hay Le Sofa, rue Saint-Sabin, ngày nay tiếp đón các giáo sư và sinh viên đă chọn những nơi này để bàn bạc về triết học. Các quán cà phê văn học không thiếu gi : Les Marronniers (quận IV) và La Maroquinerie (trong quận XX) tổ chức những buổi thảo luận, những đêm dạ hội thi ca hay những buổi gặp gỡ với các tác giả. Những quán cà phê khác vẫn giữ cảnh trang trí nguyên thủy.

 Café Beaubourg, không xa trung tâm Georges-Pompidou, đă được thiết kế bởi Christian de Portzamparc, đó là nơi hẹn ḥ thường rất được lui tới bởi các nghệ nhân, các nhà phê b́nh nghệ thuật các chủ nhân của các galeries.Trên tả ngạn sông Seine, la Palette rất được lui tới bởi các sinh viên của Trường Mỹ Thuật. Café Marly, nh́n ra Pyramide của Điện Louvre cũng rất nổi tiếng.

          Nhưng thế giới thay đổi, các tiệm cà phê có tiếng tăm không những nhờ chất lượng của “ nước ép bé nhỏ ” mà c̣n nhờ “ bộ mặt ” của nội thất, hay của khách hàng. Etat Parisien (156, rue du Faubourg Saint-Martin), nổi bật với đồ đạt nội thất phi thực tại của anh em người Ba Tay Fernando và Humberto Campana. Cách không xa la Bourse de Commerce, Adrien Gardère đă trang trí Café des Initiés (3, place des Deux-Ecus).
                          
        

QUARTIER DU LUXEMBOURG

          LA PLACE SAINT-SULPICE
         Cái quảng trường to lớn được chế ngự bởi Nhà thờ Saint-Sulpice có từ hậu bán thế kỷ XVIII.
Fontaine des Quatres-Evêques của Joachim Visconti được dựng lên từ năm 1884 ở trung tâm của quảng trường.

         Khi các tia nắng xuân soi sáng những cánh hoa hồng của các cây dẻ (marronniers), quảng trường Saint-Sulpice là một trong những nơi xinh đẹp nhất của Paris. Ngồi vào một trong những chiếc bàn trên sân hiên của Café de la Mairie, nơi đây các văn sĩ Albert Camus và Georges Perec đă có thói quen tọa vị, các bạn sẽ đánh giá tốt hơn cái đài nước đồ sộ Quatres-Evêques (1844) và ngôi nhà thờ oai nghiêm Saint-Sulpice.

        Nhà thờ Saint-Sulpice là một ṭa nhà uy nghi và khắc khổ và việc xây dựng nhà thờ này đă kéo dài trên hơn 135 năm. Viên đá đầu tiên đă được đặt năm 1646, nhưng các công tŕnh phải dừng lại 20 năm sau do thiếu ngân quỹ.Vào thế kỷ thứ VIII, việc xây dựng được tái tục và được theo đuổi cho đến năm 1778. Chapelle des Saints-Anges, mà Delacroix đă mất mười năm để trang trí nội thất, là viên ngọc báu của nhà thờ.

 

             JARDIN DU LUXEMBOURG
             Đối với phần lớn dân Paris, tên  “ Luxembourg ”  gợi ngay một công công viên xinh đẹp 29 hectare, theo kiểu Pháp, khoảng xanh thật sự duy nhất của Quận VI, chứ không phải là cung điện có cùng tên (Palais du Luxembourg), là trụ sở của Thượng Viện từ năm 1852.
Thật vậy, từ nhiều thế hệ, vườn Lục xâm bảo vẫn là một trong những khu vườn được dân thủ đô ưa thích nhất.

           Những vườn cây ăn quả, những bồn hoa rộng lớn, những cây du (ormes) do chính Marie de Médicis trồng, chứng tỏ nỗi say mê mà bà đă dành cho khu vườn. Được vẽ lại vào thế kỷ thứ XIX, khu vườn vẫn giữ một b́nh đồ nguyên thủy, pha trộn truyền thống Pháp và Anh trong nghệ thuật làm vườn.

         Jardin du Luxembourg là vườn lớn nhất Paris mà vẻ đẹp đă làm say mê nhiều văn sĩ.Vào những ngày đẹp trời dân Paris thường đến đây để đọc sách, nghỉ ngơi và tắm nắng, c̣n sinh viên đại học Sorbonne th́ chiếm lĩnh khu vườn này suốt trong năm học. Công viên 25 hectares này đúng là một góc của thiên đường ở trung tâm tả ngạn sông Seine. Được che bóng bởi các cây ngô đồng, Bassin de la Fontaine de Medicis là một trong những trang trí đẹp nhất của công viên. Đó đây nhiều pho tượng được dựng lên mà nổi tiếng hơn hết là nguyên tác La Liberté của Bartholdi.




        

         PALAIS DU LUXEMBOURG

        Palais du Luxembourg : Palais và Parc được xây dựng là do sáng kiến của Marie de Médicis vào đầu thế kỷ thứ 17 sau khi chồng bà là vua Henry IV bị ám sát. Palais được xây theo kiểu Pháp nhưng có những nét Ư là do bà Marie de Medicis hoài tưởng đến Palais Pitti ở Florence, là nơi bà đă trải qua thời thơ ấu.

Để trang trí nội thất, hoàng hậu đặt hàng họa sĩ Rubens 24 tác phẩm hoành tráng, hiện được trưng bày ở viện bảo tàng Louvre. Những bức tranh này thể hiện những lúc trọng đại của đời bà. Bà chỉ ở cung điện này 5 năm. Sau đó, năm 1630, bà bị luu đày theo lệnh của Louis XIII, con bà. Ngay ở phía đông của Palais du Luxembourg là Fontaine des Médicis, một ao cá dài, trang sức công phu, được xây dựng khoảng năm 1630. Palais là trụ sở của Thượng Viện của Quốc Hội Pháp, từ năm 1958.

LA FONTAINE DE MEDICIS

         Năm 1866, Auguste Ottin thực hiện các tác phẩm điêu khắc phỏng theo phong cách huyền thoại. Các tác phẩm điêu khắc này trang trí cái đài nước baroque tuyệt đẹp, được xây dựng vào đầu thế kỷ thứ XVII theo lệnh của Marie de Médicis. Các huy hiệu (armoiries) trang trí trán tường ( fronton) của đài nước nhắc lại điều đó

 



 

     ĐẠI LINH
     (1/9/2008)