QUARTIER LATIN
Từ khi Collège de
Sorbonne được thành lập vào thế kỷ 13, Quartier Latin trở thành trung
tâm đời sống trí tuệ của Paris. Sở dĩ Quartier đuợc gọi là Latin là bởi
v́ sự giảng dạy đại học vào thời đó đuợc thực hiện bằng tiếng latin và ở
đây người ta nói tiếng latin như ngôn ngữ chính thức cho măi đến năm
1793.
Quartier Latin bao gồm các khu phố Saint-Séverin, Núi Sainte
Geneviève và Place Saint-Michel. Được bao quanh bởi Núi Sainte Geneviève
và sông Seine, Quartier Latin nằm ở trung tâm lịch sử và địa lư của
Paris. Là cao điểm lịch sử của Paris, du khách có thể t́m thấy ở đây các
tàn tích thời La Mă như các đấu trường Lutèce hoặc các khu tắm công cộng
(thermes romains) của thế kỷ thứ 3 mà ta có thể t́m thấy trong Musée de
Cluny .
Các địa điểm
cần tham quan:
- LA SORBONNE
- PANTHEON
- EGLISE SAINTE
SEVERIN
- EGLISE
SAINTE-ETIENNE-DU-MONT
- MUSEE DE
CLUNY.
SORBONNE
Năm 1527, Robert de Sorbon, linh mục (chapelain) phụ trách
nhà thờ Saint Louis đă thành lập một trường trung cấp (collège) làm nơi
trú ngụ và giảng dạy cho 16 sinh viên thần học của ông. Ngôi trường
khiêm tốn dành cho thầy và tṛ xuất thân từ những gia đ́nh nghèo với
mong muốn theo học thần học, đă nhanh chóng trở nên trung tâm thần học
chính của đất nước.Thánh Thomas d’Aquin và Roger Bacon đă giảng dạy ở
đó. Dante (1265-1321), nhà thơ người Ư, Ignace de Loyola (1491-1556),
người sáng lập ḍng Jésuites, và Jean Calvin (1509-1564), cha đẻ của tôn
giáo cải cách, đă học ở Sorbonne. Năm 1259, với sự chấp thuận của Giáo
Hoàng, ngôi trường nhanh chóng trở thành trụ sở của Khoa Thần Học của
Đại Học Paris. Là pháo đài của chủ nghĩa bảo thủ, đại học Sorbonne bị
đóng cửa dưới thời Cách Mạng, rồi được mở cửa lại bởi Napoléon năm
1806.Trường cũng bị đóng cửa vào tháng năm 1968. Ngôi trường này, rất
thịnh đạt và nổi tiếng, có những lập trường rất dứt khoát trong suốt một
thời kỳ dài của lịch sử hoạt động của trường. Thật vậy Sorbonne chống
lại các Templiers (các chức sắc ḍng Đền), ủng hộ Anh trong cuộc chiến
tranh 100 năm, lên án các triết gia của thế kỷ XVIII. 7 thế kỷ sau khi
thành lập, Sorbonne trở nên biểu tượng của cuộc nổi dậy của sinh viên
vào tháng năm 1968.
Các toà nhà
đă được tái xây dựng lại bởi Nenot vào cuối thế kỷ XIX.Trái lại, nhà thờ
(la chapelle), được xây dựng bởi Lemercier, trong đó có ngôi mộ lộng lẫy
của Hồng Y Richelieu, có từ thế kỷ thứ XVII.

PANTHEO
Panthéon được xây dựng theo lệnh của vua Louis XV. Vào năm 1744, nhà vua
lâm bệnh nặng và hứa sẽ xây một nhà thờ mới dành cho Sainte-Geneviève
nếu vị thánh này chữa lành bệnh cho ông ta. Sau khi lành bệnh, năm 1754
nhà vua giao phó cho Germain Soufflot xây dựng ngôi điện thờ rộng lớn
này.Vào thời đó việc xây dựng một kiến trúc to lớn như thế là một kỳ
công táo bạo.Vào năm 1764, viên đá đầu tiên được đặt với sự hiện diện
của nhà vua. Nhưng điện thờ này chỉ được hoàn thành năm 1790, là năm
chính quyền Cách mạng huỷ bỏ các lệnh nhà vua trước đó và tuyên bố điện
thờ là Temple à la Nation. Panthéon sau đó trở thành nơi an nghỉ cuối
cùng của Voltaire, Jean Jacques Rousseau và Mirabeau. Mirabeau là vĩ
nhân đầu tiên được chôn cất ở Panthéon, nhưng sau đó Robespierre thay
thế bởi Marat. Rồi đến lượt Marat bị thất sủng và thi hài bị vất vào
cống rănh. Vào thời Phục Hưng, Panthéon lại trở thành nhà thờ. Sau cùng
vào năm 1885, nhân đám tang của Victor Hugo, Panthéon trở nên cénotaphe
(mộ không thi thể) của các vĩ nhân mà tổ quốc ghi ơn. Ở đây có mộ của
Emile Zola (1830-1902), Jean Moulin (1899-1943), Marie Curie
(1859-1906)), André Malraux và Alexandre Dumas (1802-1870).
Victor Hugo (1802-1885) chiếm một vị trí đặc biệt trong văn
học Pháp thế kỷ XIX. Dấn thân về mặt chính trị, các tác phẩm của ông, do
các tư tưởng xă hội của chúng, đă là nguồn gợi cảm cho các cuộc cách
mạng, nhất là cuộc cách mạng năm 1830. Các vỡ kịch của ông đă soi sáng
nghệ thuật sân khấu bằng cách giải phóng nó ra khỏi cái gông cùm gây trở
ngại từ thời đại của Racine và Corneille. Năm 1851, sau khi đă cố gắng
chống lại cuộc đảo chánh của Napoléon III và cảm thấy ḿnh bị đe dọa,
Victor Hugo đă tự lưu đày. Ông chỉ trở lại Pháp 18 năm sau, năm 1870.
Lúc ông mất năm 1885, một nửa triệu người đă xuống đường để khóc thương
tiếc ông.Thi hài của ông được trưng bày một cách hoành tráng dưới Khải
Hoàn Môn (Arc de Triomphe). Sau đó thi hài của ông được đem đến điện
Panthéon trên một chiếc xe tang của dân nghèo, để tỏ t́nh đoàn kết với
những người dân bé nhỏ. Mỉa mai thay cho số phận, Hugo đă luôn luôn ghét
cái công tŕnh kỹ niệm này, nhưng lại là nơi an nghỉ cuối cùng của ông.
QUARTIER SAINT-SEVERIN
Triết gia và nhà thần học Pierre Abélard (1079-1142) là một trong những
nhân vật lịch sử nổi tiếng nhất của khu phố Saint-Séverin. Bị đuổi ra
khỏi tu viện Notre Dame sau một cuộc tranh luận về triết học, ông cư trú
ở tả ngạn sông Seine, kéo theo 3.000 sinh viên đệ tử.
Những con đường nhỏ chung quanh nhà thờ Saint-Séverin đă có từ thời các
Gallo-Romains.
Rue de la Huchette vẫn mang cùng tên từ 800 năm nay. Rue du
Chat-qui-Pêche là một trong những con đường ngắn nhất của Paris ; Rue
Galande, vào thế kỷ XVIII, dọc theo đường là những quán rượu nổi tiếng
xấu. Tất cả đă giữ một vẻ yêu kiều xưa cũ, và tạo một không khí nhộn
nhịp gần như thường trực ngày và đêm.
BOULEVARD SAINT-MICHEL
Đường phố chính của Quartier Latin, được mô ra vào cuối những năm 1860
bởi nam tước Haussmann vào lúc cải tạo thành phố. Con đường mang tên một
nhà thờ ở tận cùng phía bắc của đại lộ. Ngày nay, dọc hai bên đường là
các tiệm cà phê vui nhộn , các tiệm bán quần áo, và các tiệm ăn rẻ
tiền.Tiệm cà phê Cluny, ở số 20, là một trong những cơ sở hiếm hoi
(trong số các cơ sở làm đại lộ Saint-Michel nổi tiếng) vẫn c̣n tồn tại
giữa các tiệm bán quần áo may sẵn.Trên quảng trường Saint-Michel, một
đài nước to lớn bằng đồng thau, biểu tượng Thánh Michel đang quật ngă
con rồng. Trên quảng trường này có những tấm bảng bằng cẩm thạch tưởng
nhớ các sinh viên đă ngă xuống trong thời kỳ giải phóng Paris.
SAINT GERMAIN DES PRES
Khu phố cổ đầy truyền thuyết Saint-Germain-des-Prés ở tả ngạn sông
Seine, đă phát triển từ thế kỷ thứ 9, chung quanh một trong những abbaye
bénédictine (tu viện cấp cao ḍng thánh Benoit nổi tiếng nhất của Pháp).
Ngày nay khu phố này là nơi tọa vị của rất nhiều quán café văn học
(cafés littéraires), hiệu sách và các nhà trưng bày nghệ thuật (galeries
d’art). Ở giữa tu viện là Eglise Saint- Germain des Prés. Đây là nhà thờ
kiến trúc la mă và cổ nhất Paris. Nhà thờ lấy tên một giám mục tên là
Saint Germain chết năm 576, và v́ được xây dựng giữa một đồng cỏ nên mới
có tên là Nhà Thờ Saint–Germain-des- Prés. Trong nhà thờ có mộ của René
Descarte, nhà tư tưởng, nhà toán học và cha đẻ của nền triết học hiện
đại. Bên cạnh nhà thờ là Café de Flore nổi tiếng. Ở đây Jean Paul
Sartre, lư thuyết gia của chủ nghĩa hiện sinh, thường đến để viết hoặc
chuyện tṛ với Simone de Beauvoir và các bạn văn chương. Những nhà trí
thức khác trong đó có Raymond Aron thường đến uống ở Deux-Magots, hay ăn
ở Brasserie Lipp. Do đó Saint Germain des Prés trở thành biểu tượng cho
đời sống trí thức của Paris.
BOULEVARD SAINT GERMAIN
Văn sĩ, nhạc sĩ và họa sĩ đă làm nổi tiếng các tiệm café và các
hộp đêm trong các con đường nhỏ bao quanh đại lộ.
Đại lộ này đă được mở ra bởi nam tước Haussmann vào thế kỷ XIX, dài 3km,
chạy xuyên qua 3 quận của Paris.
Boulevard Saint Germain chạy xuyên suốt chiều dài khu phố
Saint-Germain-des-Prés đến tận Quartier de L’Odéon.
Đại lộ nổi
tiếng dài 3 km này chạy xuyên qua một phần của tả ngạn sông Seine, nằm
gần sông Seine và nối liền Pont de La Concorde với Pont de Sully. Ở giữa
đại lộ, nằm sừng sững Eglise de Saint-Germain-des-Prés mà ta có thể thấy
từ xa. Nhà thờ này được xây dựng vào thế kỷ thứ XI trên nền tảng của một
điện thờ đă được dựng lên vào năm 542. Ngay đối diện với ngôi nhà thờ là
các tiệm café nổi tiếng như Café de Flore và Café de Deux-Magots. Ngược
lên về phía Place de La Concorde, dọc hai bên đại lộ là những nhà trưng
bày nghệ thuật (galeries d’art), các hiệu sách, các tiệm bán đồ thời
trang. Về phía đối diện, đại lộ chạy xuyên qua Quartier Latin, Place
Maubert xinh đẹp (nổi tiếng với khu chợ nhộn nhịp) và tận cùng ở Ile
Saint-Louis.
EGLISE
SAINT-GERMAIN-DES-PRES
Eglise Saint-Germain-des-Prés
là nhà thờ cổ nhất của Paris, trong đó có mộ của Boileau, René Descartes
( nhà tư tưởng, nhà toán học và cha đẻ của nền triết học hiện đại ) và
của Jean-Casimir, vua của Ba Lan, thoái vị năm 1668 để trở thành tu viện
trưởng (abbé) của Nhà Thờ Saint-Germain-des-Prés.Trong công viên nhỏ
Laurent-Prache, bên trái nhà thờ, có một tác phẩm điêu khắc của Picasso,
để tưởng nhớ Guillaume Apolilinaire, nằm không xa tiệm café Le Flore, là
nơi nhà thơ thường hay lui tới. Chính ở tiệm café Le Flore bên cạnh nhà
thờ, là nơi Jean Paul Sartre, nhà triết học lớn, lư thuyết gia của chủ
nghĩa hiện sinh thích đến ngồi để viết và chuyện tṛ với nữ văn sĩ
Simone de Beauvoir và các bạn. Những nhà trí thức khác, trong đó có
Raymond Aron, thường đến uống ở Deux-Magots hoặc dùng bữa ăn ở Brasserie
Lipp.
Theo lời khuyên của Saint Germain (giám mục tương lai của
Paris), năm 543 vua mérovingien Childebert đệ nhất (con của Clovis) đă
ra lệnh xây dựng một basilique và một tu viện (monastère) để cung hiến
cho Saint Vincent và Sainte Croix.Vào thế kỷ thứ VIII, toà nhà trở nên
một abbaye bénédictine.Tu viện này không ngừng được mở rộng và thịnh
vượng cho đến thời kỳ Cách mạng. Abbaye, trở nên một trong những tu viện
cấp cao nổi tiếng nhất của vương quốc Pháp, đă tiếp nhận mộ phần của các
vua mérovingien.
Sau khi bị phá hủy bởi
quân normand, năm 1000, nhà thờ được tái xây dựng theo kiểu roman.Tháp
chuông nhà thờ được xây dựng từ thế kỷ XI là tháp chuông cổ nhất của
thành phố Paris.
Tháng 6 năm 1789,
quân cách mạng tấn công nhà tù của abbaye để giải phóng binh sĩ đă từ
chối bắn vào các công nhân nổi dậy của thị trấn Saint-Antoine. Năm sau,
abbaye được biến hẳn thành nhà tù và nhà thờ trở thành nhà kho.
Năm 1792, tu
viện là một trong những nơi diễn ra những cuộc thảm sát tháng 9. Trong
thời kỳ Khủng Bố, Charlotte Corday đă bị giam ở đây sau khi đă ám sát
Marat.
Được trả
lại làm nơi thờ phụng, nhà thờ được trùng tu vào thế kỷ thứ XIX và phần
lớn là nhờ cố gắng của Victor Hugo.
LE
CAFE DE FLORE
Tọa vị 172
Bd Saint Germain. Café de Flore là một trong những quán café nổi tiếng
nhất của Paris. Rất được
yêu chuộng bởi các nghệ sĩ và trí thức bắt đầu từ những năm 1920.
Apollinaire, Breton, Sartre, Simone de Beauvoir, Camus,
Jacques Prévert, Salvador Dali. thường lui tới quán café này. Chính ở
đây Guillaume Apollinaire đă thành lập tạp chí nổi tiếng của ông Les
Soirées de Paris. Mặc dầu giá cả tăng vọt, nhưng trang trí nội thất Art
déco vẫn luôn luôn không thay đổi và đây luôn luôn là nơi được ưa thích
bởi những nhà dựng phim và các văn nhân.

LES DEUX- MAGOTS
Les Deux-Magots : 6 Place
St-Germain-des-Pres.
Verlaine, Rimbaud, Gide, Picasso, Simone de Beauvoir, Sartre và
Hemingway thường lui tới ở đây.
Giá cả cũng
đắt không thua ǵ Le Café de Flore.Trong thế kỷ vừa qua, Les Deux-Magots
đă cạnh tranh với Le Flore để trở thành nơi gặp gỡ được ưa thích nhất
của giới tinh hoa trí thức Paris. Heminway, Saint-Exupéry, Oscar Wilde,
André Breton, Rimbaud, Verlaine và Mallarmé là những khách hàng thường
xuyên lui tới. Năm 1925, tiệm café này trở thành tổng hành dinh của các
nhà siêu thực. Picasso đă gặp ở đây vào năm 1937 nữ thần nghệ thuật của
ông là Dora Maar. Sân hiên tiệm mở ra trên Boulevard Saint Germain và
Place Saint Germain. Cao điểm của giới tinh hoa văn học và nghệ thuật
này đă từng thường được lui tới bởi các nhà siêu thực (surréalistes) và
François Mauriac.Trong những năm 1950, Jean Paul Sartre và Simone de
Beauvoir thường đến sáng tác ở đây 2 giờ mỗi ngày.

BRASSERIE LIPP
Cùng với Le Flore et Les Deux-Magots, Brasserie Lipp là “ công tŕnh
nghệ thuật ” lớn thứ 3 của Saint-Germain-des-Prés. Brasserie Lipp được
xây dựng vào cuối thế kỷ thứ XIX bởi một người gốc Alsace và được ưa
chuộng bởi các chính trị gia từ năm 1920. Brasserie Lipp là nơi gặp gỡ
của các văn nhân và chính trị gia.Trong số khách hàng của tiệm luôn luôn
có các tác giả sáng tác và các nhân vật nổi tiếng. Đó là Valéry,
Henriot, Léon Blum, Giraudoux, Saint-Exupéry hay Max Jacob. Verlaine,
Marcel Proust, André Gide, André Malraux hội họp ở đây. Chính ở
Brasserie Lipp, Ernest Hemingway đă viết cuốn “ Giă từ vũ khí
” (Adieu aux armes). Ở đây phục vụ các môn ăn tiêu biểu của
vùng Alsace .
LES CAFES PARISIENS
Khó tưởng tượng
Paris mà không có các quán cà phê. Thành phố có 12.000 tiệm trong đó dân
Paris và du khách đến để giải khát, gặp lại bạn bè, kư kết các công việc
buôn bán hoặc chỉ nh́n quang cảnh của phố phường.
Năm 1686, Francesco
Procopio, người Sicile, mở một tiệm cà phê ở Paris, rue de
L’Ancienne-Comédie. Tiệm Le Procope nhanh chóng trở nên nơi gặp gỡ của
các diễn viên của Comédie-Française (Nhà hát nằm ở trên con đường cùng
tên). Sau đó quán cà phê này là điểm hẹn của Voltaire và của Rousseau,
rồi của các nhà cách mạng Danton, Robespierre và Marat. Ngày nay đây là
một tiệm ăn.
Vào thế kỷ XIX, sự mở rộng các đường phố và việc mở các đại lộ lớn cho
phép các quán cà phê phát triển và các bàn ghế xâm chiếm lề đường. Sự
thịnh hành trong việc xây dựng các đại lộ lớn dưới thời Napoléon đệ tam
đă dẫn đến sự tăng sinh các quán cà phê.
Café de la Paix, được trang trí bởi Charles Garnier, ở
góc giữa Place de l’Opéra và Boulevard des Capucines, là một trong những
quán cà phê ở đó bàn và ghế được đặt trên sân hiên (terrasse) của tiệm.
Trong những năm 1920, những quán cà phê khác được mở ra ở
Montparnasse. Trước Đệ nhất thế chiến, các quán cà phê ở Montparnasse ŕ
rầm các cuộc họp bí mật của những người lưu vong người Nga. Hai trong số
những người này, Lénine và Trotsky, làm lại thế giới ở các tiệm la
Rotonde và le Dôme Sau đó là những người Mỹ thuộc “ thế hệ đă mất ”,
như Ernest Hemingway và Scott Fitzgerald thường hay lui tới khu phố này.
Họ la cà ở các tiệm La Coupole, le Select và La Closerie des Lilias. Man
Ray, nhà nhiếp ảnh tiền phong (avant-gardiste) hay Henry Miller, tiểu
thuyết gia người Mỹ gây nhiều tai tiếng, Picasso, Vlaminck, Modigliani,
thường xuyên lui tới các quán La Rotonde, Le Dôme, La Coupole và Le
Select.
Saint-Germain-des-Prés là nơi được ưa thich khác đối với những
quán cà phê theo thời trang.Tiệm cà phê Voltaire là nơi hẹn của những
văn nhân theo chủ nghĩa lăng mạn và tượng trưng (symbolisme). Các nhà
thơ theo chủ nghĩa tượng trưng như Verlaine, Rimbaud hay Mallarmé, vào
khoảng năm 1885, đă khởi xướng truyền thống văn hóa của các tiệm
Deux-Magots et Café du Flore, rồi được duy tŕ bởi những nhà siêu thực
sau đó, và sau Đệ nhị thế chiến, được tiếp nối bởi những nhà hiện sinh
(existentialiste), quy tụ chung quanh Sartre, Camus và Simone de
Beauvoir . Chính ở trong 4 bức tường của quán Café de Flore, đại lộ
Saint Germain, mà Charles Maurras (1862-1953) đă phát động tờ nhật báo
L’Action Française. Maurras là nhà văn, và chính trị gia người Pháp. Qua
tờ báo L’Action Française, ông có một ảnh hưởng quan trọng lên thành
phần bảo thủ nhất của công chúng Pháp. Cũng chính ở Café de Flore,
Guillaume Apollinaire (1880-1918) đă thành lập Les Soirées de Paris.
Apollinaire là nhà thơ người Pháp.Thoát khỏi mọi ảnh hưởng của trường
phái, ông được xem là người tiền thân của chủ nghĩa siêu thực
(surréalisme). Xuất hiện thường xuyên ở Café de Flore c̣n có họa sĩ
Derain, nhà điêu khắc và họa sĩ người Thụy Sĩ Giacometti (theo trường
phái lập thể, cubisme) và nhà điêu khắc Zadkine.
Đối diện gác chuông
nhà thờ Saint-Germain-des-Prés là tiệm cà phê nổi tiếng Les Deux
Magots.Tiệm cà phê này được thành lập năm 1891và thời gian giữa hai đại
chiến đă trở thành tổng hành dinh của Alfred Jarry, James Joyce và
Stefan Zweig.Vào khoảng năm 1945, Jean Paul Sartre và Simone de Beauvoir
thường đến và làm việc ở tiệm cà phê này. Các văn sĩ Apollinaire,
Breton, Sartre, Camus ngồi ở sân hiên của Café du Flore. Các sân hiên
của các quán cà phê Le Flore và Les Deux Magots của khu phố cổ thuộc tả
ngạn sông Seine này, cũng có tầm quan trọng như nhà thờ
Saint-Germain-des-Prés xinh đẹp, những hiệu sách và những con đường nhỏ
hẹp với các tiệm bán đồ cổ và các tiệm bán đồ thời trang.Những con đường
xưa cổ, những ngă tư nên thơ, những quảng trường bé nhỏ, những gian
pḥng nhỏ tŕnh diễn nhạc jazz… Đại lộ St-Germain chạy xuyên suốt chiều
dài của khu phố Saint-Germain-Des-Prés, đến tận khu phố Odéon.Và giữa
sông Seine và đại lộ này, có rất nhiều con đường bé nhỏ xinh đẹp.
NHỮNG QUÁN CÀ PHÊ NGÀY NAY.
Les Phares, place de
Bastille, cũng như Café des Arts, place de la Contrescarpe hay Le Sofa,
rue Saint-Sabin, ngày nay tiếp đón các giáo sư và sinh viên đă chọn
những nơi này để bàn bạc về triết học. Các quán cà phê văn học không
thiếu gi : Les Marronniers (quận IV) và La Maroquinerie (trong quận XX)
tổ chức những buổi thảo luận, những đêm dạ hội thi ca hay những buổi gặp
gỡ với các tác giả. Những quán cà phê khác vẫn giữ cảnh trang trí nguyên
thủy.
Café Beaubourg, không xa trung
tâm Georges-Pompidou, đă được thiết kế bởi Christian de Portzamparc, đó
là nơi hẹn ḥ thường rất được lui tới bởi các nghệ nhân, các nhà phê
b́nh nghệ thuật các chủ nhân của các galeries.Trên tả ngạn sông Seine,
la Palette rất được lui tới bởi các sinh viên của Trường Mỹ Thuật. Café
Marly, nh́n ra Pyramide của Điện Louvre cũng rất nổi tiếng.
Nhưng thế giới thay đổi, các tiệm cà phê có tiếng tăm không những nhờ
chất lượng của “ nước ép bé nhỏ ” mà c̣n nhờ “ bộ mặt ” của nội thất,
hay của khách hàng. Etat Parisien (156, rue du Faubourg Saint-Martin),
nổi bật với đồ đạt nội thất phi thực tại của anh em người Ba Tay
Fernando và Humberto Campana.
Cách không xa la Bourse de Commerce, Adrien Gardère đă
trang trí Café des Initiés (3, place des Deux-Ecus).
QUARTIER DU
LUXEMBOURG
LA PLACE
SAINT-SULPICE
Cái quảng trường to lớn được chế ngự bởi Nhà thờ Saint-Sulpice
có từ hậu bán thế kỷ XVIII.
Fontaine des Quatres-Evêques của Joachim Visconti được
dựng lên từ năm 1884 ở trung tâm của quảng trường.
Khi các tia nắng xuân soi
sáng những cánh hoa hồng của các cây dẻ (marronniers), quảng trường
Saint-Sulpice là một trong những nơi xinh đẹp nhất của Paris. Ngồi vào
một trong những chiếc bàn trên sân hiên của Café de la Mairie, nơi đây
các văn sĩ Albert Camus và Georges Perec đă có thói quen tọa vị, các bạn
sẽ đánh giá tốt hơn cái đài nước đồ sộ Quatres-Evêques (1844) và ngôi
nhà thờ oai nghiêm Saint-Sulpice.
Nhà thờ Saint-Sulpice là
một ṭa nhà uy nghi và khắc khổ và việc xây dựng nhà thờ này đă kéo dài
trên hơn 135 năm. Viên đá đầu tiên đă được đặt năm 1646, nhưng các công
tŕnh phải dừng lại 20 năm sau do thiếu ngân quỹ.Vào thế kỷ thứ VIII,
việc xây dựng được tái tục và được theo đuổi cho đến năm 1778. Chapelle
des Saints-Anges, mà Delacroix đă mất mười năm để trang trí nội thất, là
viên ngọc báu của nhà thờ.
JARDIN DU LUXEMBOURG
Đối với phần lớn dân Paris, tên “ Luxembourg ” gợi ngay
một công công viên xinh đẹp 29 hectare, theo kiểu Pháp, khoảng xanh thật
sự duy nhất của Quận VI, chứ không phải là cung điện có cùng tên (Palais
du Luxembourg), là trụ sở của Thượng Viện từ năm 1852.
Thật vậy, từ nhiều thế hệ, vườn Lục xâm
bảo vẫn là một trong những khu vườn được dân thủ đô ưa thích nhất.
Những vườn cây ăn quả, những bồn hoa rộng lớn, những cây du (ormes) do
chính Marie de Médicis trồng, chứng tỏ nỗi say mê mà bà đă dành cho khu
vườn. Được vẽ lại vào thế kỷ thứ XIX, khu vườn vẫn giữ một b́nh đồ
nguyên thủy, pha trộn truyền thống Pháp và Anh trong nghệ thuật làm
vườn.
Jardin du Luxembourg là vườn lớn nhất Paris mà vẻ đẹp đă làm say mê
nhiều văn sĩ.Vào những ngày đẹp trời dân Paris thường đến đây để đọc
sách, nghỉ ngơi và tắm nắng, c̣n sinh viên đại học Sorbonne th́ chiếm
lĩnh khu vườn này suốt trong năm học. Công viên 25 hectares này đúng là
một góc của thiên đường ở trung tâm tả ngạn sông Seine. Được che bóng
bởi các cây ngô đồng, Bassin de la Fontaine de Medicis là một trong
những trang trí đẹp nhất của công viên. Đó đây nhiều pho tượng được dựng
lên mà nổi tiếng hơn hết là nguyên tác La Liberté của Bartholdi.

PALAIS
DU LUXEMBOURG
Palais du Luxembourg :
Palais và Parc được xây dựng là do sáng kiến của Marie de Médicis vào
đầu thế kỷ thứ 17 sau khi chồng bà là vua Henry IV bị ám sát. Palais
được xây theo kiểu Pháp nhưng có những nét Ư là do bà Marie de Medicis
hoài tưởng đến Palais Pitti ở Florence, là nơi bà đă trải qua thời thơ
ấu.
Để trang
trí nội thất, hoàng hậu đặt hàng họa sĩ Rubens 24 tác phẩm hoành tráng,
hiện được trưng bày ở viện bảo tàng Louvre. Những bức tranh này thể hiện
những lúc trọng đại của đời bà. Bà chỉ ở cung điện này 5 năm. Sau đó,
năm 1630, bà bị luu đày theo lệnh của Louis XIII, con bà. Ngay ở phía
đông của Palais du Luxembourg là Fontaine des Médicis, một ao cá dài,
trang sức công phu, được xây dựng khoảng năm 1630. Palais là trụ sở của
Thượng Viện của Quốc Hội Pháp, từ năm 1958.
LA FONTAINE DE MEDICIS
Năm 1866, Auguste Ottin thực hiện các tác phẩm điêu khắc phỏng
theo phong cách huyền thoại. Các tác phẩm điêu khắc này trang trí cái
đài nước baroque tuyệt đẹp, được xây dựng vào đầu thế kỷ thứ XVII theo
lệnh của Marie de Médicis. Các huy hiệu (armoiries) trang trí trán tường
( fronton) của đài nước nhắc lại điều đó

ĐẠI LINH
(1/9/2008)
|