CHI-TIẾT VỀ  MỘT GIA-TỘC

 

tại làng KHIẾT-KỶ, địa-phận PHÁT-DIỆM

Quận KIM-SƠN, Tỉnh NINH-B̀NH

 

2001

   

 

 

   

 

 

 

Soạn bởi

Nguyễn Minh Châu 

Fountain Valley, California , USA

 


 

CHƯƠNG 18

VƯỢT TRÙNG DƯƠNG

 

                                    " Từ đây góc bể chân trời,

                                      Nắng mưa thui-thủi, quê người một thân...."           (Kiều)

 

                       Mới ba mươi tuổi đầu, tôi đă hai lần di-cư và h́nh như chưa bao giờ được hưởng giây phút thanh-b́nh như những thanh niên nước khác.  Cớ sao trời dành quá nhiều tang thương cho dân-tộc tôi vậy?

 

                     Nghĩ lại cuộc đời, tôi thấy chỉ toàn đổi thay.  Chưa đầy mười tuổi, tôi đă bỏ nơi chôn rau cắt rốn, lếch-thếch theo cha mẹ vào Nam năm 1954 khi Hiệp-Định Genève được kư-kết.  Tưởng rằng vào Nam, tôi sẽ được hưởng cuộc sống yên-lành.  Nhưng có ngờ đâu, chiến-tranh vẫn c̣n tiếp-diễn, dầy xéo quê-hương tôi măi:  Máu dân Việt đă chảy thành sông, xương đồng-bào đă chất thành núi.

 

             Thế rồi hiệp-định Paris lại được kư-kết.  Mọi người hớn-hở trông chờ thành-quả.Điều mà hiệp-định mang tới, điều mà ít ai ngờ đến là: dân Việt lại một lần nữa di-cư: Kẻ đi từ Quảng-Trị, Đànẵng vào Sàig̣n.  Người từ Sàig̣n, Vũng-Tầu bỏ nước ra đi, ra đi với hai bàn tay trắng, đến một phương trời vô-định, mặc cho số-phận đẩy-đưa...

 

            Bao nhiêu kẻ chết bờ, chết bụi, bao nhiêu người chết không toàn thây. Biết bao người mất cha, mất mẹ, biết bao hoàn-cảnh đau ḷng: vợ ở, chồng đi, cha xuống thuyền, con ở lại....

           

            Năm 1975 đúng là năm đau-thương của dân-tộc Việt-Nam.  Ngồi trên đất Mỹ giờ này, nghĩ lại chuyện xưa: vẫn c̣n tưởng như một giấc-mơ kinh-hoàng và c̣n thấy lành-lạnh nơi xương sống.

 

            Vào tháng ba năm 1975, cuộc chiến trở nên khốc-liệt hơn bao giờ hết: Ban-Mê-Thuộc thất-thủ, Pleiku, Kontum, Quảng-Đức di-tản chiến-thuật; rồi Huế, Quảng-Trị, Đà-Năng, Tuy-Ḥa tái phối-trí...  Theo đà đó, vào đầu tháng tư năm 1975 chỉ c̣n vùng Sàig̣n, Biên-Ḥa, Vũng-Tầu và vùng đồng bằng sông Cửu-Long c̣n được gọi là miền quốc-gia.  Ngày qua ngày, vùng quốc-gia dần dần bị thu-hẹp lại và người di-cư mỗi ngày kéo về vùng quốc-gia càng nhiều.  Thậm chí đến hải-đảo Phú-Quốc, một đảo nằm sâu trong vịnh Thái-Lan đă từng làm trại tù-binh, cũng được dùng làm nơi đón-tiếp dân tỵ nạn.  Ngày 24/4/1975 tôi được gởi xuống Phú-Quốc làm công-tác xă-hội trong trại tạm cư  này.  Trại nằm sâu giữa đảo, cách bờ biển chừng 8 cây số, chứa đến 25,000 người di-cư từ miền Trung chạy về.  Mọi sự ở đây đều thiếu-thốn.  Muốn vào trại, chỉ có một phương-tiện duy-nhất là đi bộ.  Ngay đến nước uống cũng không đủ thỏa-măn nhu-cầu, nói chi đến chuyện khác.

            Tôi đến Phú-Quốc sống chung với dân di-cư, cùng chia sẻ những buổi trưa hè nóng như thiêu, như đốt..  Dưới mái tôn lụp-xụp, chúng tôi cùng san-sẻ những chén cơm gạo đỏ Bulgur, với vài miếng ca khô đầy muối.  Mặc dầu thế, tôi vẫn cảm thấy may-mắn hơn nhiều người khác.  Ngày ngày tôi cố-gắng làm việc giúp dân không mặc cảm, không nề quản: nào cắt tóc, nào phát thư, nào giúp t́m thân-nhân thất-lạc..

 

            Có những đêm, dù đă 11, 12 giờ khuya, dù đang thả hồn trong giấc-mộng, vẫn phải ḅ dậy xếp hàng hứng nước cho ngày mai.  Những chuyện thương-tâm, những cảnh tréo cẳng ngỗng xẩy ra như cơm bữa. Một hôm tôi đang cắt tóc cho mấy em nhỏ, tôi thấy một người đàn bà chừng 30 tuổi bước lại gần, nhứt-quyết xin tôi cắt trọc mái đầu.  Nh́n mái tóc huyền óng-ả trên bờ vai bà, tôi thấy bất-nhẫn quá nên không chịu ra tay xuống tóc cho bà.  Bà nghẹn-ngào cố nài-nỉ tôi cắt tóc cho bà thật trọc, thật sát.  Chiều ư bà, tôi vừ cắt, vừa hỏi nguyên do.  Với đôi mắt đẫm lệ, bà kể-lể trong tiếng nức:

            - Chồng tôi chết trận, để lại 3 đứa con thơ..  Đến khi chạy loạn: hai đứa chết dọc đường, một đứa thất-lạc!  Mỗi lần nghĩ đến chồng, đến con, ḷng tôi rối như tơ-ṿ.  Tôi đâu c̣n ham sống nữa.  Kể chi đến mái tóc này."

 

            Kể đến đây, hai ḍng lệ tuôn-trào, người thiếu-phụ đó vẫn cắn răng cam chịu.

            Quê-hương tôi đó!  Đồng bào tôi đó!  Tôi nhận thấy đ̣ng-bào tôi khóc nhiều hơn vui.  Đôi khi nụ cười vừa nở trên môi, đă vội tắt nghẹn v́ bao ưu-tư, bao đau thương, nghịch-cảnh.   Vui trong phụng-sự, ngày tháng trôi nhanh đến nỗi ḿnh không ngờ tới... 

 

Hồi 10 giờ rưỡi sáng ngày 30/4/1975, dọng nói của tướng Dương Văn Minh (mới được trao quyền Tổng Thống chưa đầy 24 tiếng đồng hồ) vang lên trên các làn sóng điện, kêu gọi binh-sĩ các cấp buông súng đầu-hàng.  Vừa nghe dọng tướng Minh, chân tay chúng tôi rụng-rời, không ai c̣n thiết làm ǵ nữa, chỉ biết đưa mắt nh́n quanh và hè nhau chạy xuống băi biển.  Thậm chí có anh bạn mới hớt được nửa mái đầu, cũng đành gác kéo và chạy.  Mặc dầu từ sáng đến giờ chưa có ǵ bỏ bụng, mặc dầu trời nóng đổ lửa, chúng tôi vẫn không cảm thấy đói hay mệt-mỏi và cứ cắm đầu chạy trọn đoạn đường 8 cây số dẫn ra biển.  Đến gần căn-cứ hải-quân, chúng tôi được dẫn ra sau Quân-Tiếp-Vụ, giữa phi-trường và hải-cảng, ngồi trên băi biển chờ tầu đến bốc đi.  Chúng tôi nằm la-liệt trên băi cát, mắt nh́n ra khơi, chờ đợi...  Một vài tràng súng nổ.  Một hai trực thăng vội vàng đáp xuống, rồi lại vội vàng bay đi mất dạng...  Chẳng thiết ăn uống, chúng tôi cứ chờ, mong tầu đến đón.  Mười hai giờ trưa, rồi ba giờ chiều, rồi 5 giờ chiều qua đi và chúng tôi vẫn chờ.  Chiều xuống dần mà vẫn không thấy chiếc tầu cứu-tinh đâu cả.

 

Ḷng nóng như lửa, tôi không c̣n trông cậy vào ai nữa, tôi cùng gia-đ́nh thầy Đặng quang Hinh tách rời ra khỏi đám đông, đi dần về phía bến đ̣.  Với thân trai khỏe mạnh, lại nóng ḷng t́m phương-tiện thoát thân, tôi bỏ xa gia-đ́nh thầy Hinh lúc nào không hay.  Tôi dừng lại chờ thầy, vẫn không thấy bóng-dáng thầy đâu.  Tôi lại tiếp-tục lê gót xuống bến tầu, t́m ghe ra biển.  Không một ghe trống!  Ai ai cũng đổ xô đ̣i về lại Sàig̣n.  Thất-vọng, tôi tần-ngần trông mấy chiếc ghe đang rẽ sóng tiến vào đất liền. Với tâm trạng bồn-chồn và đầu óc trống rỗng, tôi đi đi lại lại trên bến đ̣ măi tới khi có một người, có lẽ cùng hoàn-cảnh như tôi, tiến lại gần và nháy mắt ra hiệu cho tôi.  Tôi nháy mắt lại.  Anh ta nh́n trước, nh́n sau rồi khẽ hỏi:

 - Anh cũng muốn thoát hả?

 

Tôi không trả lời, chỉ khẽ gật đầu.  Thế là tôi có thêm một bạn đồng hành.  Anh ta tên Cang, thiếu tá cảnh sát và là cựu học-sinh Taberd Sàig̣n.  Đi được một quăng, chúng tôi gặp hai trung tá nữa, cả bốn đều quyết-chí ra đi.  Chúng tôi trở lại bến cá thuê ghe.  Vừa đi chúng tôi lại vừa hoạch-định:

          - Trước tiên thuê ghe ra Ḥn Khói ngủ qua đêm.  Sau đó đi từ đảo này sang đảo nọ để sang Mă-Lai hoặc Singapore.

 

Chúng tôi cũng không quên mua mấy kư gạo và mươi gói ḿ để bỏ bụng trong những ngày bôn-tẩu.  Sau mấy lần thương-lượng, chúng tôi thuê được một chiếc thuyền câu, chỉ đủ cho 4 chúng tôi và 2 em nhỏ lái thuyền ngồi.  Thuyền ra khơi lúc 6 giờ kém 5 phút chiều hôm đó.  Mới cách bờ chừng vài trăm thước, thuyền bắt đầu chao lên, chao xuống.  Mấy phen tưởng chừng như đă lật nhào.  Chúng tôi ngồi rạp xuống: một người ở đằng mũi ghe, hai người ở ḷng nghe, c̣n tôi và hai em nhỏ ngồi dưới đuôi thuyền, hai tay nắm chặt thành nghe.

 

Khi ghe ra khỏi bờ chừng 10 hải-lư, chúng tôi thấy mờ mờ tận chân trời những lâu-đài vĩ-đại.  Càng tiền lại gần, chúng tôi càng thấy rơ: Đó là những chiếc tầu Mỹ thuộc hạm-đội 6.  Ḷng mừng khấp-khởi, chúng tôi hăng-hái tiến ra khơi, không c̣n nghĩ ǵ đến hiểm-nguy nữa.  Dần dần hiện trước tầm mắt chúng tôi: vô số ghe nhỏ bao quanh chiếc tầu khổng-lồ.  Nh́n kỹ hơn, chúng tôi thấy lố-nhố những khuôn mặt sạm nắng của người dân Việt, đang cố đánh đu với tử-thần, đang tranh nhau leo lên chiếc thang sắt nhỏ hẹp ḥng được cứu thoát khỏi ách Cộng-sản.  Chan chứa hy-vọng, tôi nhảy qua hai ba ghe để đến cạnh tầu Mỹ.  Rất đông người dưới thuyền, nhưng người Mỹ chỉ cho lên từng người một: có lẽ họ sợ cầu thang sắt sẽ gẫy vụn dưới sức nặng chưa đầy 50 kư của dân Việt ḿnh!  Trong khi chờ đợi đến phiên ḿnh, tôi đưa mắt  quan-sát tầu và đọc đi, đọc lại mấy chữ sơn thật lớn trên thành tầu: PIONEER CHALLENGER.

 

Có những anh Mỹ rất tốt bụng, chạy lên, chạy xuống: lúc th́ ẵm mấy em bé, khi th́ vác dùm đồ-đạc cho các cô gái nhỏ hay cho mấy cụ già.  Nhưng cũng có những tên thực du-côn.  Chính mắt tôi đă mục-kích: một cụ già với gia-tài chỉ vỏn-vẹn một túi vải trên vai, đang lần từng bước lên thang sắt.  Chẳng may túi vải vướng vào thành cầu thang, cụ ngừng lại gỡ, đă bị một tên Mỹ côn-đồ đưa chân đạp văng xuống thành ghe...

Chờ măi rồi cũng tới phiên ḿnh.  Chỉ c̣n 3 người nữa là tôi có thể ung-dung bước lên chiếc thang định-mệnh để lên tầu rồi.  Nhưng ô-ḱa! sao họ kéo cầu thang lên?

- Không sao! tôi tự nhủ, mày kéo thang lên, dẹp chỗ, rồi mày lại hạ thang xuống cho ông lên, càng tốt.          

 

            Tôi vẫn ung-dung đứng chờ.  Liếc mắt nh́n quanh: ôi sao đông người quá vậy! có cả mấy ghe chở bốn năm chục bà sơ, ông cha nữa.  Họ kép cờ thánh-giá to như mảnh buồm...  Mươi phút sau, thấy xôn-xao, tôi nh́n lên:

            - Trời ơi! Mỹ nó cắt dây tầu rồi! Một dọng nói hốt-hoảng la.

 

            Tôi lặng người, nói không thành tiếng. Thất vọng ê-chề.  Lúc đó tôi mới thấm-thía hiểu thế nào là: Ngước mắt trông theo!  Đồng bào quanh tôi: kẻ khóc, người gào.  Nỗi đau-đớn hằn trên trán mỗi người.  Một người đàn ông đứng gần tôi, có vợ và con đă lên tầu Mỹ, c̣n ḿnh bị bỏ lại, cố gào qua tiếng khóc: - Vĩnh biệt em và các con!

 

            Tầu Mỹ từ từ tách ra, mờ dần, mờ dần.  Lại một màn chen-lấn nữa: ai cũng tranh nhau xuống những chiếc ghe phía ngoài để vào lại bờ.  Riêng tôi, phần v́ mệt, phần v́ đói, cộng thêm niềm thất-vọng vô bờ-bến, tôi muốn xỉu.  Tôi rán sức nắm chặt lan-can cái ghe nhỏ, rồi từ từ lần xuống thành ghe và ngồi bệt xuống.  Khi tỉnh lại, tôi cố đứng dậy, nh́n xung-quanh: không c̣n một chiếc ghe nào khác ngoài chiếc ghe đổ-bộ LCM-28 mà tôi đang đứng.  Tôi hỏi người bên cạnh:

            - Sao ḿnh không đi hay về mà cứ lênh-đênh giữa biển thế này?

            - Đi đâu được mà đi!  Cả hai máy tầu đều hỏng cả rồi!

 

            Thế là chúng tôi lại "nhẫn-nại" ngồi xuống, mặc cho sóng đẩy, gió đưa và thờ-ơ nh́n hoàng-hôn trên biển cả.  Đêm từ từ xuống, xa xa một vài ngọn hải-đăng, đèn-báo đă bật sáng.  Thuyền chúng tôi ch́m dần vào trong đêm tối hưu-quạnh.  Nỗi cô-đơn xâm-chiếm dần tâm-hồn tôi: Cô-đơn giữa một vùng trời nước mênh-mông, không đèn đóm, không một người thân.  Bao nhiêu câu hỏi hiện lên trong đầu tôi:

            * Nếu tôi chết nơi đây, ai mà ngờ tới?  Bao nhiêu bạn-bè, anh chị em, cha mẹ

   đâu biết ḿnh bỏ xác giũa khơi!

* C̣n các em tôi thế nào đây, có thoát nổi không?

* Chị ḿnh có được may-mắn hơn ḿnh không hay đă trở lại Sàig̣n rồi?

* Lúc này em Hảo tôi, cô em gái út của tôi ra sao nhỉ? 

 

Tôi c̣n nhớ, hôm trước khi đi Phú-Quốc, tôi lên thăm em, giă từ em mà không dám hé răng với em về    cuộc ra đi của tôi, chỉ nhắn-nhủ: - Rán vui lên em nhé! cầu nguyện cho anh nhiều.  Nhất là em phải hứa với anh điều này là đừng khóc nhé!  Rồi để trấn-tỉnh em, tôi hứa tiếp: - Bao giờ anh về, sẽ mua nhiều quà cho em.  Nhưng biết bao giờ tôi mới trở lại Sàig̣n, đưa quà cho em tôi đây, hay để em tôi mỏi mắt trông chờ ngày này qua tháng khác?

            Những câu hỏi đó cứ dồn-dập trong tôi, d́u dần tôi vào một thế giới khác, chỉ văng-vẳng bên tai tiếng con nít khóc-nhè và những tiếng bàn-tán rời-rạc:

            - Gió này đưa thuyền vào bờ đó.

            - Điệu này ḿnh bị đưa vào Cam-Bốt mất rồi.  Coi chừng bị "cáp-duồn" cả đám.

  - Ḿnh thả neo xuống, mai hăy hay.

  - Đâu có được: bỏ neo xuống mà máy không chạy. làm sao kéo neo lên, ở đây làm mồi cho quạ à.

 

Mặc cho ai bàn tính, tôi vẫn sống trong thế-giới của riêng tôi.  Tôi ch́m dần vào

giấc mộng lúc nào không hay.  Tôi giật ḿnh thức dậy khi nghe tiếng la to:

 

            - Đ.M. ngồi đây chờ chết sao? C̣n nước c̣n tát chứ.  Ai biết máy-móc xuống sửa cho một tí đi.

 

            Cả ngày chưa hột cơm bỏ bụng, tôi lại khát nước kinh-khủng.   Thấy không ai nhúc-nhích, tôi đành liều thử vận-mang xem sao.  Dù ǵ ḿnh cũng đă xuất thân và dậy ở trường kỹ-thuật, vả lại máy dầu cũng không xa lạ ǵ với ḿnh.  Tôi đứng dậy, hỏi xin chút nước thấm cổ để xuống pḥng máy.  Một bà nhỏ nhẹ:

            - Tôi c̣n một ly nước đây, thôi ông uống một nửa, c̣n một nửa để tôi pha sữa cho cháu bé.

 

Ḿnh đâu có thể uống nửa ly nước đó được, nên từ chối.  Một cụ già vỗ vai tôi:

 

  - Thôi chú em," qua" có trái mận này, chú em ăn một nửa, c̣n một nửa ngậm đỡ, rồi xuống sửa máy giúp bà con đi, để đức lại cho con.

 

            Tôi vừa cảm-động, vừa nực cười: độc-thân, không vợ làm ǵ có con mà để đức lại cho con.  Chết mất xác đến nơi rồi, c̣n ǵ lo chuyện đâu đâu.  Tôi đưa tay tiếp lấy trái mận nhai một nửa, c̣n một nửa đặt trên lưỡi cho đỡ khát và đi xuống hầm tầu.  Hầm tầu tối đen: Không đèn, không đóm.  Chúng tôi phải trưng-dụng mấy cây đèn pin mới có được một chút ánh-sáng yếu-ớt.  Cùng mấy anh lính, chúng tôi bắt tay vào việc, mồ hôi đổ ra như tắm.  Sau gần hai giờ cực nhọc, một trong hai máy tầu coi bộ khả-quan.  Chúng tôi đề cho máy nổ. Sau mấy phút cố gắng, một tiếng bạch nổi nên, rồi những tiếng  bạch bạch khác kế tiếp.  Tạ ơn trời! Máy nổ rồi!  Mọi người hân-hoan vỗ tay.  Chúng tôi thấy đồng-bào sung-sướng, cũng quên luôn cả mệt-nhọc và đói-khát, thay phiên nhau dùng nón sắt múc nhớt trong thùng đổ vào hộp số tầu để giữ mức nhớt..  Khi máy đă nổ đều, một đại-diện hỏi đồng-bào:

             - Bây giờ chúng ta tính sao? Vào lại Phú-Quốc hay sang Thái-Lan?  Đi Thái-Lan chỉ mất hai ngày một đêm thôi.

 

            Anh chưa kịp dứt lời, một màn tranh-luận đă nổi lên.  Có hai phe:  một phe gồm ông già, bà lăo và con nít cũng như dân chài Phú-Quốc đ̣i về lại bờ; một phe tương-đương gồm toàn trai-trẻ và lính-tráng, đ̣i bằng mọi giá phải đi Thái-Lan.  Cuối cùng, sợ trách-nhiệm về những người sẽ chết, nhất là trẻ em: sẽ chết v́ đói, v́ khát, v́ nắng, v́ sóng.. nên tầu đành trực-chỉ Phú-Quốc.  Tầu chúng tôi cập bến Hải-Quân Phú-Quốc lúc 2 giờ sáng ngày 01/05/1975.  Đồng bào kéo nhau lên bờ.  Một số người ngồi lỳ lại, bị lính đến đuổi lên.

            - Đồng bào lên bờ đi. Bẩy giờ sáng mai bàn-giao hải-cảng này rồi.  Ở lại trong hải-cảng sẽ gặp nhiều phiền-phức lắm.

 

            Một số người nữa lại lên bờ.  Riêng tôi, tôi ngồi lỳ lại và nói với anh lính:

            - Xin các anh thông-cảm, tôi không có bà con ở đây, hơn nữa giờ này đă hai giờ sáng rồi, lên bờ ngủ ở đâu.  Ngoài ra, vừa rồi tôi sửa máy tầu, giờ c̣n mệt lắm đi không nổi nữa đâu.  Chi bằng cho tôi nằm nhờ đây đến sáng rồi hăy hay.

 

            Tôi lại nhắm mắt làm bộ ngủ tiếp, đầu óc căng-thẳng... Gần ba giờ rưỡi sáng, thấy rục-rịch, tôi mở mắt quan-sát thấy mấy anh lính đang đổ thêm dầu vào tầu.  Tôi phấn-khởi hẳn lên.  Tôi hỏi một anh sĩ-quan hải-quân:

             - Chuyện ǵ vậy?

             - Có Trung tá Hăn đi.

 

            Tôi vội-vàng làm như người nhà Trung-Tá, lo dẹp chỗ để Trung-Tá cùng vợ và 4 con lên tầu.  Mọi người được lệnh cấm hút thuốc, cấm mở đèn.  Chúng tôi ra khơi trở lại vào lúc 4 giờ sáng cùng ngày.  Khi tầu ra khỏi bờ chừng 5 dậm, tôi thấy mấy đóm hỏa-châu trên hải-cảng. Anh sĩ-quan ngồi bên tôi nói nhỏ:

             - Tụi trong bờ bắn ḿnh đó.  Chúng nó phát-giác ḿnh đi mà không cho chúng nó cùng đi nên bắn đó.  Nhưng cứ yên-trí, chúng nó bắn dọa vậy thôi, ḿnh tắt hết đèn đuốc, chúng nó biết ḿnh ở đâu mà bắn.

 

            Chúng tôi tiếp-tục rẽ sóng ra khơi, không ai nói ǵ, mỗi người đều mang nặng một tâm-trạng riêng-tư.  Một hồi sau, chúng tôi phát-giác mực nước trên tầu mỗi lúc một cao, v́ máy bơm không hoạt-động: dây couroir bị nóng quá dăn ra.  Thấy nguy-cơ, chúng tôi dùng máy truyền-tin 25 với tầm hoat-động rất ngắn, rà-t́m các tầu khác xin cấp-cứu.  Chẳng ai trả lời.  Tầu lại tiếp-tục lộ-tŕnh trong niềm lo sợ mênh-mang...

 

            Bỗng chốc hai chấm sáng, một đỏ một xanh, hiện dần trong tầm mắt chúng tôi.  Mừng hơn bắt được vàng.  Một anh bạn dùng đèn pin đánh Morse kêu cứu.  Khi hai đốm sáng lại gần, chúng tôi nhận ra đó là một chiếc tầu khá lớn.  Song v́ đêm quá tối, nên không biết được danh-tánh nó: Tầu dân-sự, quân-sự hay tầu Cộng-sản Hà-nội? Chúng tôi đánh liều cho tầu chúng tôi tiến về phía tầu đó, nó lui.  Khi chúng tôi ngừng, nó ngừng.  Cứ thế mấy lần, cuối cùng nó bỏ đi luôn.  Trời ơi!

 

            Không sờn ḷng, chiếc LCM-28 của chúng tôi lại cần-nhẫn ra khơi, mặc cho bao khó khăn đang đợi: thuyền quá cũ, máy hỏng tùm-lum, lại không có hải-đồ.  May thay, một anh lính bộ-binh rờ túi, moi ra một bản đồ Việt-Nam nhàu-rách và một địa bàn nhỏ-xíu. Anh tươi-cười nói:

            - Kỷ-vật của em đó nhé!  Nhờ nó mà em ṃ tứ Kontum về tới đây đó.

 

            Có bản-đồ, địa-bàn, chúng tôi vững tâm hơn, cho tầu nhắm hướng Singapore và không quên kêu-cứu liên-hồi.  Sự kêu-cứu của chúng tôi đă không vô-ích.  Bắt được tần số một chiếc tầu Hải-Quân Việt-Nam, Trung-tá Hăn vội xin họ vào tiếp-cứu và được trả lời:

            - Chúng ta c̣n nằm trong tầm pháo của địch, tôi không thể vào cứu anh được.  Thôi để tôi gửi cho anh một cái PCF.

            - Trời ơi! Chúng tôi cả thảy hơn 300 người mà anh gởi cái PCF nhỏ xíu chở 50 mạng đă ch́m th́ làm sao được.

 

            Mặc cho nài-nỉ, không ai thèm trả lời.  Một chập sau, một chiếc PCF cập sát tầu chúng tôi và hỏi:

            - Trung-tá Hăn đâu?  Yêu cầu ông lên tầu vào bờ v́ anh em trong căn-cứ không bằng ḷng cho Trung-tá đi.

 

            Trung-tá Hăn cùng vợ và các con leo lên chiếc PCF, tiếp theo là các sĩ-quan hải-quân.  Tôi cũng vội vàng nhảy sang, vừa nhảy sang vừa nói:

            - Tôi nữa, để tôi theo vào bờ với!

 

            Sở-dĩ tôi dám nhảy sang mà không do-dự là v́ tôi được theo-dơi cuộc điện-đàm của Trung-tá Hăn.  Nhảy theo tôi c̣n hơn 10 người nữa.  Chiếc PCF vội-vàng tách ra.  Tôi quay lại nh́n lần cuối chiếc LCM-28 định-mệnh mà tôi vừa rời gót: v́ không c̣n ai biết lái, nó quay ṿng ṿng giữa biển-khơi.  Trên đó lố-nhố trăm người ngơ-ngác.

            - Ôi đau-thương! Số-kiếp con người! Họ sẽ ra sao đây?

 

            Chừng nửa giờ sau, chiếc PCF cập sát hông chiếc tuần-dương-hạm HQ505. Sóng quá lớn, chiếc PCF nghiêng-nghiêng ngả ngả. Các anh thủy-thủ trên tầu HQ505 thấy chúng tôi tới, hăng-hái liệng dây xuống, kéo đồ-đạc lên dùm. Họ c̣n liệng cả bao bố xuống để chúng tôi nhét mấy đứa nhỏ vào rồi cột lại cho họ kéo lên cho. Chiếc PCF quá nhỏ, quá thấp so với chiếc HQ505: đỉnh cột cờ PCF chưa cao tới thành tầu, làm sao sang đây?  Chúng tôi cố leo lên cột radar của chiếc PCF rồi chờ khi nào sóng đánh 2 chiếc tầu nghiêng vào nhau, vội nhảy sang, đưa tay bám vào thành tầu lớn rồi nhờ đồng-bào kéo lên.  Nếu lỡ chậm một chút cũng đủ làm mồi cho cá rồi.  Tôi cũng liều theo mấy anh lính, leo lên cần radar.  Sóng gió thật mạnh. Tôi chao lên chao xuống trên cột radar. Sau khi suy-tính vội trong đầu, tôi đành lắc đầu, trèo xuống và tần-ngần nh́n đồng bào dỡn mặt tử-thần.

 

           - Làm sao tôi có cái may-mắn lên tầu cách đó được?  Khi mà một ngày một đêm chưa có một hột cơm bỏ bụng, ḷng trí lại hoang-mang, thất-vọng.  Bàn tay tôi đâu đủ nhanh-nhẹn, sức đâu giữ nổi cho tôi bám vào thành tầu?  Hơn nữa, ai kéo nổi tôi khi tôi nặng tới 74 kư (164 pounds).  Ngoài ra, nếu chẳng may truột tay rơi xuống, thân tôi sẽ bị nghiến nát bởi hai thành tầu, làm mồi cho cá.  Chắc cũng không ai thèm cho một tiếng thở-dài.  May thay chiếc LCM-28 định-mạng, bây giờ đă tới cạnh chúng tôi lúc nào không hay.  Tôi hỏi với sang:

           - Sao tới được đây? Hay quá vậy.

           - Các ông bỏ tụi tôi, chúng tôi phải rán chứ.  Chẳng lẽ đành chịu chết phơi thây ngoài khơi à. Hơn nữa, đại dương mà, đụng vào đâu được mà lo.

 

            Giờ đây, chính chiếc tầu định-mạng do chúng tôi bỏ lại, lại cứu-thoát chúng tôi.  Chúng tôi leo lên mui chiếc LCM28 đó, rồi bước sang boong tầu HQ505 một cách dễ-dàng.  Lên được tầu rồi, mừng như chết sống lại, tôi khoan-khoái hít một hơi thở măn-nguyện, măc dầu mọi vật-dụng, đồ-đạc c̣n bỏ lại hết dưới chiếc LCM28.  Tôi không dám xuống lấy, chỉ sợ bị cắt dây tầu lần nữa.  Đến lúc này tôi mới cảm thấy mệt.  Mặc cho trời mưa lất-phất, mặc cho người qua kẻ lại, tôi nằm đại xuống boong tầu, ngủ một giấc ngon lành.  Khi rạng-đông ló-dạng, tôi thức-giấc, nh́n xuống thân ḿnh: trời ơi bụi-bặm, dầu mỡ bám đầy người.  Sao dơ bẩn quá, tiều-tụy thế này?  Tôi vội cởi chiếc áo duy-nhất trên người mang đi giặt và phơi trên boong tầu, rồi sửa-soạn đi tắm.  Mặc dầu tắm nước biển, tôi vẫn thấy thoải-mái lạ thường.  Tôi cũng thấy đói chi lạ.  Để ḿnh trần, tôi đi làm quen mấy anh thủy-thủ, họ rất dễ-thương. Họ cho tôi chén cơm nguội và ít đồ mặn.  Ôi sao ngon quá chừng. Chắc chưa bao giờ tôi được ăn bữa cơm thanh-đạm mà ngon như thế này.  Vừa ăn tôi vừa nói truyện với các anh thủy-thủ.  Nhiều lúc không biết nói ǵ, tôi chỉ đưa mắt quan-sát họ, chiêm-ngưỡng họ với một ḷng biết ơn sâu-xa. Họ là những chàng trai rất trẻ, chỉ độ 20 tuổi đầu nhưng đầy trách-nhiệm. Trên mép túi áo họ, tôi thấy ghi những tên rất quen thuộc: Nhung, Quang, Long..  Chắc không bao giờ tôi quên được những khuôn mặt dễ thương này.

             - Nhung ơi, Quang ơi! Tôi viết mấy ḍng này cho các anh đó.

 

            Giải-quyết xong vấn đề bao-tử, tôi đi một ṿng quan-sát chiếc HQ505. Tựa người vào thành pḥng lái, tôi đưa mắt nh́n trong cơi xa mờ, thả hồn về quê-hương mến yêu...

 

Chiếc áo tôi phơi giờ này chắc đă tạm khô, tôi trở lại định lấy mặc, mới hay áo tôi không cánh mà bay. Thấy tôi loanh-quanh t́m áo, một anh lính thủy nh́n tôi cười, rồi chậm răi nói: 

            - Có một bà thấy áo anh, tưởng đồ bỏ, lấy chùi sàn tầu ướt v́ mưa đêm qua và liệng xuống biển rồi.

 

            Thế là hết, sản-nghiệp tôi chỉ c̣n lại duy-nhất một chiếc quần dơ và đôi dép Nhật ṃn đế.  Mấy anh thủy-thủ thấy tội nghiệp tôi, cho tôi cái áo đại lễ, cắt hai tay mới xỏ vừa, đủ phủ hai vai và cài được một nút trước bụng.  Nh́n không giống ai.  Ngay đến bạn-bè cũng chẳng nhận ra tôi đâu.  Đêm đó, khoảng 10 giờ đêm, giữa lúc mọi người đang ngước mắt nh́n  trời mây bao la, lại vang lên lệnh báo-động của Hạm-trưởng:

             - Đèn trên sàn tầu tắt hết! Đèn trên sàn tầu tắt hết! Quân-nhân các cấp về vị-trí pḥng-thủ! Quân-nhân các cấp về vị-trí pḥng-thủ!

 

            Lập tức thành tầu tối đen như mực, tôi cũng theo chân các thủy-thủ, chạy đến vị-trí súng đại-liên số 5: cũng nón sắt, cũng áo giáp, mắt trừng-trừng nh́n đêm đen dầy-đặc, sẵn-sàng chiến-đấu.  Tôi thấy ḿnh bị chấn-động thật sự, tim đập liên-hồi. Tôi tự hỏi:

            - Giờ này mà vẫn chưa thoát nữa? Sao trời c̣n đầy-đọa ḿnh măi thế nầy?

 

            Nửa giờ sau, chúng tôi được báo-cáo: máy bay địch đă trở vào đất liền và được lệnh giải-tán.  Hú hồn!  Đêm đó, không sao ngủ được, tôi leo lên sân đài kiểm-soát, nằm nơi chân cột cờ, vắt tay lên trán, đếm các v́ sao...  Đâu đây, dọng ca ai nho-nhỏ:

                         " Mẹ tôi tóc xanh nhuộm bạc tháng ngày,

                           Mẹ tôi đau buồn nặng chĩu đôi vai,

                           Bao năm nuôi đàn trẻ thơ nhỏ dại

                           Cầu mong con ḿnh có một ngày mai...

 

                           ... Chiều nay thắp hương tưởng-niệm trước mồ,

                               Nh́n khói đau ḷng, tưởng nhớ ơn xưa,

                               Công ơn sinh-thành: ngày nao đền trả?

                               Mẹ ơi con nguyện nhớ lời mẹ khuyên.."

 

            Câu ca đă d́u tôi dần vào một giấc ngủ đầy mộng-mị và nhớ thương.  Lúc tỉnh dậy, tôi thấy mặt tôi ướt đầy nước mắt. Lại một ngày nữa lênh-đênh trên hải-phận Quốc-Gia.  Chiều tối, chúng tôi gặp tầu Mỹ. Họ cung-cấp cho gạo, nước, đồ ăn và thêm nhiên-liệu để đi tiếp. Trung-Tá Hạm-Trưởng Phạm Văn Nhường, một người rất đức-độ, cộng với sự hăng-say vô vị-lợi và đa-năng của Đại-Úy Hạm-Phó Vũ Thế Hiệp (em ruột chị Tuyến), đă luôn luôn săn-sóc đồng-bào tận-t́nh.  Niềm ưu-tư về số-phận chúng tôi luôn hiện trên nét mặt các vị đó.

 

            - Không biết ḿnh được Mỹ rước lúc nào, tại đâu nhỉ? Subic Bay hay Guam, có thể Honolunu hay California?

 

            Dù được cung-cấp đầy-đủ, chúng tôi vẫn chỉ ăn cầm-chừng, pḥng hờ phải đi lâu trên biển cả.  Ngay buổi chiều hôm đó, mọi người đều được phát thịt, rau, sữa và cháo.  Tất cả như tỉnh hẳn lại.  Nhưng than ôi, bao-tử người Việt chỉ quen với nước vối. với trà tầu, chứ không ưa bơ sữa, nên đồng-bào cứ nối đuôi nhau từng hàng dài, cạnh hai chiếc cầu-tiêu dă-chiến, chênh-vênh trên mặt biển.

 

            Buổi chiều hôm sau, một cụ già không thể chờ nổi phiên ḿnh, liền ngồi bên thành tầu, tay cầm lan-can tầu và giải-quyết vấn-đề.  Nhưng ngờ đâu, bàn tay chẳng c̣n giữ nổi thân ḿnh. Cụ rơi xuống biển, ch́m luôn, trước sự ngơ-ngác và xúc-động của mọi người.  Trước hoàn-cảnh đó, tôi chịu không nổi nên t́m cách làm thêm một số cầu-tiêu nữa. T́m ra cầu nhưng quá nặng, một ḿnh tôi làm không nổi, tôi nhờ mấy anh thanh-niên giúp-đỡ, nhưng không một ai nhúc-nhích, họ cứ ngồi chơi bài và nghe radio. Tệ thật!  Tôi nghĩ đến mấy anh thủy-thủ dễ-thương. Không! Không thể nhờ họ được! Họ quá mệt rồi. Họ chỉ có 50 hay 60 người lo cả ngày lẫn đêm công-việc mà thường nhật phải 200 thủy-thủ mới làm nổi.  Không biết tính sao, tôi nghĩ đến Đại-tá Thiệu, một đại-tá Cảnh-sát, một bạn-dân cỡ bự.  Chẳng lẽ ông dám từ-chối giúp đồng-bào lần cuối?  Nếu ông nắm tay vào việc, đàn em ông đâu thể ngồi nh́n ông làm một ḿnh?  Đúng như tôi suy-đoán, khi nhờ ông, ông hăng-hái nhận lời ngay.  Cùng một số đàn em và không quản dơ-bẩn, nhọc-nhằn, ông giúp tôi hoàn-thành thêm chiếc cầu-tiêu nữa.  Nạn xếp hàng chờ đi cầu nhờ đó đă giải-quyết được phần lớn.

 

            Hai ngày sau, tầu chúng tôi bắt kịp đoàn tầu 28 chiếc của Hải-Quân Việt-Nam do Đề-Đốc Chung tấn Cang, trên chiếc HQ3 điều-khiển.  Gặp họ, chúng tôi mới hay tầu ḿnh là chiếc chiến hạm cuối cùng rời Việt-Nam. Sở dĩ có sự chậm trễ đó là v́ chiếc HQ505 thay v́ đi thẳng Côn-Sơn để nhập đoàn tầu, đă quay vào Phú-quốc rước thêm một số đồng-bào nữa. Chính nhờ thế mà tôi mới may-mắn được cứu lên tầu này và gặp anh chị Hy con bác Tổng Tiên trên tầu cùng với anh chị Tiến, con ông Tổng Đạt. Tạ ơn Chúa! Biết bao nhiêu người thiếu may-mắn hơn, đă chết gục, chết khát ngoài khơi v́ hết  nước, thiếu dầu. Xót xa thật!

 

            Ngày 7/5/1975 đoàn tầu chúng tôi được lệnh bàn-giao  cho Hải-quân Hoa-kỳ.  Đồng loạt, gần 30 lá cờ Việt-Nam được từ từ hạ xuống lần cuối. Một nỗi buồn mênh-mang tràn-ngập hồn tôi. Tôi ngây người. Đưa tay rờ khóe mắt, tôi thấùy ướt ướt, không biết ướt v́ mồ-hôi hay ướt v́ nước mắt, khóc cho quê-hương tôi. Không rơ đồng-bào đứng bên cạnh nghĩ thế nào, riêng tôi, như máy móc, tôi đứng nghiêm, hát nho nhỏ:

          - Này công-dân ơi đứng lên đáp lời sông núi...

 

Khi lá cờ Mỹ được kéo lên, tôi ghé mắt nh́n đồng-hồ: đồng hồ chỉ đúng 12 giờ trưa!  Chiều cùng ngày, đoàn tầu được hướng-dẫn vào vịnh Subic, thuộc Phi-luật-Tân. Chúng tôi được chuyển sang tầu Green Port. Đặt chân lên tầu Mỹ, tôi ngoảnh lại, thấy Trung-Tá Hạm-trưởng Nhường c̣n đứng trên boong chiếc chiến-hạm HQ505. Ông đưa mắt nh́n lại chiếc tầu thân-yêu lần cuối, rồi lầm-lỳ gỡ cặp lon Trung-tá Hải-Quân bỏ vào túi, nâng-niu như một kỷ-vật. Tôi thấy xót-xa thay cho ông, thay cho những người chiến-sĩ Quốc-Gia trong cơn hoạn-nạn bị bán đứng.

 

Lại một lần nữa lênh-đênh trên biển cả.  Tầu cập bến Orote-Point trên ḥn đảo Guam, trưa ngày 12/5/1975. Nỗi lo-sợ lắng dần xuống, một niềm hy-vọng lại vươn lên khi chúng tôi đặt chân lên bờ.  Chúng tôi được chuyển tới trại Orote-Point trong một lều vải mới dựng, c̣n nực mùi rễ cây và mùi vải mới. Tôi đă thực-sự xa-ĺa quê tôi rồi, c̣n đâu cảnh:

" Làng tôi không xa kinh-kỳ sáng chói,

   Có những cánh đồng cát dài,

   Có lũy tre c̣m tả-tơi...

   Ruộng khô có những ông già rách vai

            Cuốc đất bên đàn trẻ nhỏ,

            Có người bừa thay trâu cầy..."

 

            Cũng từ đây, bao nhiêu người như điên như khùng khi nghĩ đến vợ dại, con thơ bỏ lại. Biết bao nhiêu người không dằn được nhớ thương, một mực đ̣i trở-lại, dù phải chấp-nhận chết-chóc hay ngục-tù.

 

            Cuộc sống trong trại chậm-chạp trôi qua với những buổi xếp hàng dài thườn-thượt để lănh cơm, với những giờ núp dưới bóng dừa trên băi biển Gab-Gab hoặc với những lúc nằm vắt tay lên trán, nghĩ chuyện đă qua và tính chuyện ngày mai. Thấy đời quá vô-vị nếu chỉ có thế, nên tôi ghi tên vào hội Hồng-Thập-Tự và làm trong bệnh viện Orote-Point. Dấn ḿnh vào việc săn-sóc các bệnh-nhân, tôi quên dần nỗi buồn chán xa quê-hương.  Ngày 25/5/1975 tôi rời trại Orote-Point, giă từ căn lều vải nóng-nực để đến trại ASAN, sống trong căn nhà gỗ 2 lầu, mát-mẻ hơn. Tôi lại tiếp-tục phụng-sự đồng-bào tôi trong đoàn Hồng-Thập-Tự: trưởng pḥng liên-lạc, điện-thoại và điện-tín. Ông Tony Lâm (hiện làm Phó Thị-Trưởng Westminster, CA) hồi đó làm trại trưởng trại ASAN đă đề nghị với tôi ở lại làm việc có ăn lương ở ASAN đến ngày cuối cùng, nhưng tôi từ chối v́ tâm trạng bất-an chưa biết ḿnh đi về đâu của tôi, tiền bạc mà làm ǵ!

 

            Ngày 01/6/1975 tôi được chuyển lên trại Anderson Air Base, c̣n gọi là Tin City, tôi ở lại đó một ngày một đêm, rồi dùng phi-cơ hàng-không dân-sự  Oversea Airway DC-8 ghé các trạm Wake, Honolunu, Los Angels và đáp xuống Harrisburg, Pensylvania. Chúng tôi được chở tới trại Indianatown Gap, thuộc tiểu-bang Pensylvania lúc 6 giờ sáng ngày 3/6/1975 sau mấy tiếng đồng-hồ làm thủ-tục nhập-nội. Đặt chân lên đất Mỹ, tôi thấy sảng-khoái lạ: Một cuộc đời mới vừa hé mở cho tôi. Nhưng đồng-thời một nỗi lo-lắng về tương-lai lại ngấm-ngầm xâm-chiếm tâm-hồn tôi. Nhiều câu hỏi lại hiện ra trong đầu tôi:   * Ngày mai ḿnh sẽ ra sao trên đất Mỹ mênh-mông này?

                        * Ngày nào ḿnh mới được nh́n lại quê-hương VN thân-yêu cùng bao anh

   em, bạn-bè để lại mà không một lời giă-biệt?

* Ngày nào tôi mới có thể về, quỳ bên gối mẹ mà th́-thầm:

            "- Mẹ có hay chăng con về

                Chiều nay thời-gian đứng im để nghe

                Con thấy mẹ yêu đă già..."

 

hay chỉ biết hướng về quê mẹ, gởi ḷng về quê mẹ lẩm-bẩm:

                                    " Đêm khuya trăng mơ, mắt trông về trong cơi xa mờ

                                      Nơi xa xăm kia, tôi say nh́n quê cũ dấu yêu.

                                      Ôi t́nh quê-hương! Nơi chốn xưa có người mẹ hiền,

                                      Tóc mầu hoa bạc, chiều chiều mắt ngấn-lệ chờ con..."

 

            Nhiều đêm không sao dỗ được giấc ngủ. Có những lúc mơ-mơ, tỉnh-tỉnh, ḷng-trí tôi đầy h́nh-ảnh quê-hương, h́nh-ảnh cha mẹ tôi. Bây giờ tôi mới hiểu thấm-thía câu ca của Y-Vân:                     

                                    " Thương con thao-thức bao đêm trường

                                      Con đà yên giấc, mẹ hiền vui-sướng biết bao

                                      Thương con khuya sớm bao tháng ngày

                                      Lặn-lội cheo-neo, nuôi con đến ngày lớn khôn.."

 

            Thật thế, cha mẹ tôi cả đời lam-lũ, hy-sinh tất cả v́ con, không nề-quản, mong sao chúng tôi nên người. Ngày nay khi chúng tôi đă trưởng-thành lại tản-mát mỗi người một phương, để lại thân già cô-quạnh dưới ṿm trời cộng-Sản, không kẻ trông nom nhất là những đêm tắt lửa, tối đèn và những khi đau-ốm!  Rồi để tự an-ủi, tôi nhủ thầm:

                        - Một ngày kia, ḿnh sẽ trở lại.

 

            Nhưng ngày trở về c̣n xa vời quá! Ngày trở lại quêâ cũ, ba mẹ tôi chắc c̣n sống hay đă ra người thiên-cổ rồi.  Ba mẹ tôi có năm bẩy người con, nhưng đến khi nằm xuống, biết có con nào bên cạnh để tiễn-đưa các ngài lần cuối không?

                        - Phũ-phàng quá! Trời ơi!

 

Saint Louis, 4 giờ sáng ngày 04/8/1975

 

Châu

 


 

CHƯƠNG 19

THƯ CHO CON GÁI

12/7/1982

           

            Angela-MinhTú con của ba!

           

            Đêm nay đưa con đi ngủ, sau khi đặt con xuống giường và chúc con ngủ ngon, ba thiệt cảm-động nghe con thỏ-thẻ:

                        - Ba ngồi xuống đây với Tú đi!

 

            Trời ơi! Sao cái dọng bập-bẹ của con nó dễ-thương quá vậy.  Ba không những muốn ngồi xuống bên con, mà c̣n muốn ôm con vào ḷng, hôn con và nói cùng con:

                        - Tú ơi! Con gái cưng của ba ơi! Ba thương con nhiều lắm!

 

            Ngồi xuống bên con, nh́n con ngủ, ba thấy ba thương con thiệt nhiều.  Mới ngày nào đó mà hôm nay con đă được 21 tháng rồi!  Con đă biết đi, biết chạy, biết nói, biết cười và nhất là đă biết nói thương ba!  Tạ ơn Chúa!

 

            Tú ạ! Ba c̣n nhớ rơ lắm, ngày 12 tháng 10 năm 1980, ngày con chào đời, một ngày lịch-sử trong đời ba đó!  Niềm sung-sướng, nỗi vui mừng trong ngày này đă được ghi lại rơ-ràng trong thiệp báo tin và trong nhật-kư cũ của ba.

 

 

 

 

Mr. & Mrs. CHAU MINH NGUYEN 

Fountain Valley, CA 92708

 

 

 

Joyfully announce the birth of their first baby:

 

ANGELA-MINHTÚ DINH NGUYEN

 

She was born at 1:55PM on the 12th day of October,

in the year of 1980 in Fountain Valley Hospital.

            California, CA 92708

 

 

       

            " Hôm nay 12 tháng 10 nam1980:     Sáng ngủ dậy, Chuyên bảo ḿnh:

                        - Anh ạ! Em thấy có chuyện lạ! Có lẽ em sanh hôm nay đấy!

            Ḿnh vội-vàng ăn uống, dọn đồ rồi đưa Chuyên vào nhà thương Fountain Valley lúc 12 giờ trưa. Ḿnh ngồi bên cạnh Chuyên, cầm tay Chuyên suốt cả lúc Chuyên sanh.  Ḿnh hồi-hộp quá! Không biết con ḿnh ra sao đây!  Đến đúng 1:55PM tiếng khóc chào đời của con ḿnh vang-dội khu sản-khoa, đánh tan bầu không-khí tĩnh-mịch và hồi-hộp của pḥng sinh.  Bác-sĩ quay sang ḿnh nói:

                        - Mừng ông! Ông có con gái đầu ḷng!

            Bác-sĩ bỏ bé vào tờ giấy trắng rồi đưa cho ḿnh ẵm.  Thấy con ḿnh xinh-xắn quá, ḿnh mừng ghê và nước mắt cứ chảy dài.  Chuyên nh́n ḿnh hỏi:

                        - Sao anh khóc?

                        - Không!

            Mặc dầu trả lời không, nhưng ḿnh không nín khóc được.  Ḿnh khóc v́ mừng ḿnh có con.  Ḿnh khóc v́ con ḿnh đẹp, con ḿnh khỏe mạnh. Ḿnh khóc v́ ḿnh được làm cha, chứ không phải như anh chị Lê Ái: thui-thủi một ḿnh không con, không cháu.  Cũng như ḿnh, Chuyên mừng mà quên mọi đau-đớn.  Càng nh́n kỹ con ḿnh, ḿnh càng thấy con ḿnh đẹp.  Chân tay thật dài: vậy là không lùn đâu!  Mấy ngón tay cũng dài nữa! Đẹp ghê đi!  Nước da trắng hồng: hết sẩy! Ơ! bé có núm đồng tiền nữa chứ!..  Trời ơi! Cám ơn Người! Cám ơn Chúa đă nghe lời chúng con xin, đă nhận lời thầy mẹ con cũng như những người đă cầu-nguyện cho chúng con. Xin cám-ơn Chúa! Cám ơn mọi người! ..."

***

 

Mỗi ngày đi làm về, thấy con càng thêm tuổi càng thêm khôn-ngoan, ba thấy hănh-diện về con thiệt nhiều.

              - Tú của Ba! Con rán ngoan-ngoăn và chịu thương, chịu khó nghe con!

 

Niềm mong-ước của ba là được thấy con thành-công trong mọi lănh-vực: công, dung, ngôn, hạnh đủ cả nghe con!  Tại v́ con là con của ba mà!  Con phải biết rằng con có một người cha, một người mẹ xuất-chúng, nên con cũng phải xuất-chúng nữa để thưc-hiện câu: Cha nào con ấy!

 

                        - Minh-Tú! Con gái cưng của ba ơi!

 

            Con nên biết rằng ba đă xuất-thân từ một gia-đ́nh lễ-giáo, ít tiền-bạc, nhưng nhiều t́nh-thương và ư-chí.  Ba đă may-mắn sinh-trưởng trong một gia-đ́nh học-thức và tương-đối khá-giả, có kẻ ăn, người làm tai làng Khiết-Kỷ, Phát-Diệm, Bắc Việt-Nam. Ông nội con là người rất uyên-thâm Nho-học, rành Pháp-ngữ và ưa-thích chính-trị.  Sau một thời-gian trau-dồi Nho-học, ông nội con đă được gửi ra Hà-Nội học trường Toàn-Quyền Decoux và đă đậu bằng Brevêt, tương-dương với bằng cử-nhân, tiến-sĩ sau này.  Sự học-vấn luôn được đặc-biệt chú-trọng trong gia-đ́nh ta.

 

            Trong truyền-thống đó, ba cũng đă cố-gắng và cố-gắng mỗi ngày.  Chính v́ thế mà ba đă làm được nhiều chuyện phi-thường trong đời ba.  Nhưng con phải biết: Không một thắng-lợi nào mà không đ̣i-hỏi mồ-hôi và nước-mắt.  Đúng như ông Nguyễn Bá Học nhắn-nhủ: Ḷng hy-vọng đặt càng cao th́ sự dụng-sức cũng phải nhiều.

 

            Theo tiêu-chuẩn đó, ngày 20 tháng 7 năm 1954, đất nước Việt-Nam bị chia đôi, dù mới10 tuổi đầu, nhưng v́ là con trai lớn nhất trong nhà, ba đă cùng ông bà nội con khăn-gói di-cư vào Nam với hai bàn tay trắng, bỏ lại tất cả nhà cửa ruộng vườn cùng bao nhiêu xa-hoa, phú-quư.

 

            Sau một thời-gian ở Saig̣n với bác Tổng Tiên, gia-đ́nh ta đă được cha Phạm Ngọc Lan, một đại ân-nhân của gia-đ́nh, đưa lên lập-nghiệp ở Bảo-Lộc, Lâm-Đồng.  Cuộc sống ở Bảo_lộc rất cực-khổ nhưng b́nh-thản: ngày đi học, tối về cuốc đất., trồng khoai, gánh nước, tưới su (Chouchou)...Năm 1960 ba học lớp đệ tứ, sửa-soạn thi Trung-Học Đệ I Cấp (THĐIC) toàn nước.  Mặ dầu bận-bịu với bài vở, ba không quản mệt-nhọc, nên đă đi gánh nước thuê ban chiều, khuôn-vác su su (chouchou) ban đêm, để kiếm một  ít tiền phụ-giúp ông bà nội con.  Hồi đó, thi THĐIC là cả một biến-cố quan-trọng, có thể nói là quan-trọng hơn cả thi tốt-nghiệp Đại-học ở Mỹ bây giờ nữa: V́ số thí-sinh trúng-tuyển rất  ít, nên thường được xướng-danh trên đái-phát-thanh (đài Radio độc-nhất của 3 tỉnh). Cùng với bạn-bè, ba khăn-gói lên Đàlạt thi: vừa hồi-hộp, vừa lo-sợ.  Đàlạt kỳ đó thật đẹp, thật t́nh với hoa nở đầy đường, với cái lạnh làm cóng mấy ngón tay và nhất là với những cặp má hây-hây đỏ...  Đàlạt lúc nào cũng như mời như goiï, như rủ-rê... Nhiều lúc ba cũng muốn xếp sách lại, đi bát phố một chầu.  Nhưng lại sợ bị lạc và sợ mất th́-giờ dọn thi... Cuối cùng cũng xong và ba lại khăn gói về nhà tiếp-tục gánh nươc, tưới su đợi chờ.  Cỡ một tuần sau, lúc đang gánh nước cho bà Bạ Hởn, bà ấy gọi giật ba lại và bảo:

            - Cậu Châu ơi! Chiều nay Đài-phát-thanh có xương-danh thí-sinh Nguyễn Minh Châu, con ông Nguyễn Quang Trạch tại Tân-Phát, Bảo-lộc trúng-tuyển kỳ thi THĐIC vừa qua đó!

 

            Ba mừng quá, nói chẳng ra lời, vội-vàng chạy về nhà tŕnh cùng ông bà nội con hay.  Cha Lan cũng tới nhà báo cho ông bà nội con biết là ba đă đậu cùng với 3 người bạn cùng lớp, trong tổng-số 45 người trong lớp.  Trường của ba đậu đầu 3 tỉnh hồi đó.

 

-Tú ơi! Con thấy ba sư không? Con rán bắt chước ba con nhé!

 

            Thi đậu xong lại phải nghĩ đến việc học lên nữa.  Chỉ mấy ngày sau, ba được thư của bác Hiến nói là ba phải lên Đàlạt gặp ngay S.H. Gagelin Mai-Tâm.  Thế là tờ-mờ sáng hôm sau, ba đón xe đ̣ đi Đàlạt.  Đến trường Collège Adran xin gặp S.H. Tâm th́ người ta cho hay là S.H. ấy đă đi Sàig̣n rồi.  Ba liền ra bến xe đ̣ đón xe về Sàig̣n ngay.  Đến trường Taberd, người ta lại cho ba hay là S.H. Tâm đă dọn xuống Mỹ-tho sáng hôm ấy.  Quên cả ăn uống, ba lại vội-vàng đáp xe đ̣ xuống Mỹ-tho.  Tới trường St Joseph lại phải chờ đến tối mịt mới được gặp S.H. Tâm.  Chỉ nói được dăm ba câu, ông ta lại bảo ba:

            - Thôi đi ăn cái đă, chuyện ǵ c̣n đó. Mai sẽ hay.

 

            Cuối cùng cũng được gặp ông ta và ông ta chấp-nhận xin cho ba vào trường Lasan Nha-Trang. Đấy con coi, muốn học mà cũng phải lận-đận vậy đó.

            Đến Nha-Trang, học chung với mấy đứa nhỏ hơn ḿnh đến 5 hay 7 tuổi: bực ḿnh hết sức vậy đó.  Sở-dĩ như thế là v́ ở đây chỉ dậy chương-tŕnh Pháp mà thôi, khổ nỗi là ba từ xưa đến giờ chỉ học tiếng Việt nên một chữ tiếng Pháp cũng không biết. V́ vậy ba bị xếp vào lớp 5 (Cinqième): buồn và nhục lắm, nhưng ba đành cắn răng chịu-đựng và cố gắng học.  Sau năm đó, ba nghỉ học chữ 2 năm để học thần-học.  Đến năm thứ 3, ba lên Đàlạt học tại Collège Adran.  Trường này cũng không có lớp đệ tam của chương-tŕnh Việt, nên ba đành phải đi dậy học cho học-sinh tiểu-học người Thượng.  Đến tháng 10 năm 1963, khi mọi trường đă sắp-sửa thi Đệ-Nhất Lục-Cá-Nguyệt (First Semester), ba quyết-định xin đi học lại. Nếu chẳng có chương-tŕnh Việt th́ ḿnh học chương-tŕnh Pháp.  Nếu thi chẳng đậu, ít nhất ḿnh cũng học được một ít tiếng Pháp.  Chính v́ thế nên ba xin vào học lớp Première để dọn thi Tú-Tài I Pháp.  Ai cũng cho là ba ngông: chẳng lựa sức ḿnh và nhiều tham-vọng quá.  Không thiếu ǵ người nói xỏ, nói xiên để hạ-nhục ba.  Ba chấp-nhận hết và để ngoài tai những điều thị-phi.  Ba chỉ để tâm vào việc học mà thôi.  Đến ngày thi, một mặt ba xách bút đi thi với bạn-bè cùng lớp, một mặt ba góp đơn thi Tú-Tài Việt cho chắc ăn.  Đến ngày rao kết-quả Tú-Tài I Pháp, ba may-mắn đậu cùng với 7 người bạn trong lớp. Ai cũng cho là chó ngáp phải ruồi nên ba mới đậu.

            - Không sao! Miễn đậu là đủ rồi! Vậy là khỏi phải thi Tú-Tài Việt.  Ba tự an-ủi ba.

 

            Năm sau, ba lại ghi tên học lớp 12 (Classe Terminale)  Chương-tŕnh Pháp, ban Toán.  Lúc đó tiếng Pháp của ba cũng chưa được khá lắm, nhưng ba luôn cố-gắng.  Đến hôm tuyên-bố kết-quả thi Tú-Tài II Pháp, cả trung-tâm Đàlạt chỉ có 12 người đậu. Trong số 8 người thuộc nhóm của ba chỉ có một người duy-nhất trúng-tuyển.  Con biết ai không? - Ba của con đó!  Khi ông Hiệu-trưởng trường Adran loan-báo kết-quả, mọi người đều xít-xoa thán-phục, vừa ngạc-nhiên lại vừa như ganh-tỵ với ba:

           - Trời ơi! Thằng Châu giỏi quá nhỉ! Một người nói.

           - Tức-thiệt!Có mỗi ḿnh nó đậu thôi! Vậy là tuị ḿnh phải thi vớt lại hay thi khóa hai rồi. Một người khác phụ-theo.

 

            Gần đó, một dọng nói trầm-trầm như tự phân-giải, lọt vào tai ba:

           - Trớ-trêu vậy đó! Cả đời ḿnh học chương-tŕnh  Pháp th́ lấy hai Tú-Tài Việt, c̣n cả đời nó học chương-tŕnh Việt lại lấy đủ cả hai Tú-Tài Pháp.

 

            Lúc đó riêng ba, ba chẳng biết nói ǵ hơn, ba chỉ biết cám ơn Thượng-Đế đă dẫn-dắt và giúp-đỡ ba.  Ba biết, nhờ Trời, ba đă làm một việc phi-thường, một việc mà ông bà nội con rất vui-mừng và hănh-diện!

 

            Mấy năm sau, ba dậy học ở Cần-Thơ: vừa dậy học, vừa lái xe đưa rước học-sinh, lại c̣n coi nội-trú nữa. Có chút  th́-giờ nào rảnh-rỗi, ba lại cắp sách đến trường Đại-Học Cần-thơ học thêm về môn Khoa-Học Ứng-Dụng.  Mùa thi năm đó, môn học Toán Số-Trị (Numerical Calculus) rất khó hiểu và khó nhớ. Nhận được bài thi, ai cũng lắc đầu, lè-lưỡi.  Đến ngày đăng kết-quả, trong số 40 sinh-viên dự  thi, chỉ có một người duy-nhất đủ điểm đậu.  Con biết là ai không?            - Ba con nữa đó!

 

            Vào năm 1972, ba về dậy ở trường Kỹ-Thuật Đàlạt. Lại cũng vừa dậy, vừa coi nội-trú, c̣n chút thời-giờ rảnh-rỗi nào nữa, ba lại ghi-tên học chứng-chỉ Lư-Hóa I tại Đại-Học Đàlạt.  Con biết rằng ở Đại-học Việt-Nam, đậu được hạng Thứ (Passed: thường khoảng 5% số người dự-thi) cũng là hân-hạnh lắm rồi, nói ǵ đến hạng B́nh-Thứ (Good: khoảng 1%), B́nh (Very Good: khoảng 0.5%)  hay nhất là hạng Ưu (Excellent: khoảng 0.1% và rất ít khi có người đậu!). Thường th́ không bao giờ có ai đậu hạng Ưu cả, họa-huần th́ chỉ có một người đủ-điểm đậu hạng B́nh thôi, c̣n B́nh-Thứ th́ mỗi lớp may ra được một hay hai người. Năm đó, trong tổng-số 32 sinh-viên dự thi chứng-chỉ này, chỉ có 5 người đậu: 2 người đậu B̀nh-Thứ, 3 người đậu hạng Thứ.  May-mằn cho ba, ba đậu và đậu Á-khoa (người đậu đứng thứ hai trong toàn lớp) và đậu hạng B́nh-Thứ. Mọi người cứ tấm-tắc khen ba của con măi. Con rán theo gương ba con nhé. Con cứ chịu khó học-hành và cố-gắng, cố-gắng luôn măi, trời sẽ giúp con và con sẽ thành-công. Nghe lời ba con đi.

 

            Hai năm sau, ba về Sàig̣n lo việc xây-cất nhà dưỡng-lăo ở Vũng-Tầu: đó là một dự-án lớn-lao, tốn-phí cả đến  200 triệu đồng bấy giờ (Chừng 200,000 US Dollars)  Mỗi tuần ba đều phải ra Vũng-Tầu kiểm-soát việc xây-cất, rồi về lại Sàig̣n mua sắt, mua ximăng, gạch, gỗ, ngói, cát...  Luôn luôn ham học, ba lại ghi tên học ban Cử-Nhân Điện Tử tại Đại-Học Sàig̣n mà năm đầu, lớp ba có hơn 2,000 sinh-viên, phải dậy ở trong đại thính-đường với 2,000 chỗ ngồi, vậy mà nhiều người phải đứng mà học.  Sau 4 năm dùi-mài kinh-sử, đến ngày thi, chỉ có 7 người đậu, ba cũng đậu, mà lại đậu Thủ-Khoa (Đậu đầu lớp: Valedictorian) và lại đậu hạng B́nh tại ngay Đại-học Sàig̣n, nơi quy-tụ nhiều nhân-tài xuất-sắc của cả nước.  Chính v́ thế, tất cả những sinh-viên cùng lớp và những người quen biết ba đều nh́n ba với cặp mắt kinh-ngạc và thán-phục.  Cũng năm đó, v́ thấy ba đậu cao, Đại-học mời ba làm Giảng-Nghiệm-Viên (Teaching Assistant) cho ban Điện-tử.  Ba con vậy đó! Tú ạ.

 

            Đến năm 1975, khi miền Nam Việt-Nam sắp bị sụp-dổ, ba được yêu-cầu xuống Phú-Quốc, một ḥn đảo nằm sâu trong vịnh Thái-Lan, gần Rạch-Giá, để lo cho 28,000 dân di-cư từ miền Trung vào. Cùng làm việc với ba là một nhóùm anh em bạn bè 34 người. Con biết rằng nhóm của ba xuống đây làm công-tác do Sự-Vụ-lệnh của Tổng-Trưởng Giáo-Dục Lê Khắc Tỉnh và được Tư-Lệnh Hải-Quân tại đây hứa dành mọi ưu-tiên khi phải di-tản hay về lại Sàig̣n.  Đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, Tổng-Thống Dương Văn Minh ra lịnh đầu-hàng Cộng-Sản.  Nhóm của ba liền tức-tốc xuống căn-cứ Hải-Quân, nhưng lính không cho vào, đành ngồi tại băi biển chờ tầu đến đón.  Chờ măi đến 6 giờ chiều cũng chẳng thấy ai đón. Mọi người đều hoang-mang và tự t́m đường chạy: người về lại đất liền, kẻ ngồi lỳ tại bờ biển chờ tiếp... Riêng ba th́ quyết-định ra khơi.  Cuối cùng trong số 34 người cùng nhóm lại cũng chỉ có một ḿnh ba trốn-thoát được tới Mỹ kỳ đó.  Tin ba trốn-thoát đă làm xôn-xao các bạn bè bốn phương.  Ai cũng cho là một việc phi-thường! Đúng. Trời đă giúp ba làm một việc phi-thường khi ba trốn được tới Mỹ đó con ạ.

 

            Tói Mỹ, ba gần như câm, như điếc, v́ ba chẳng biết tiếng Anh: nghe không được mà nói cũng không.. Nhưng ba lại quyết-chí tranh-đấu, cắm đầu lo học lại ở tuổi trên ba mươi.  Ba tháng sau ba ghi-danh học Đại-học CBU tại Memphis, Tennessee, ngành Kỹ-sư điện.  Vừa đi làm, vừa đi học mà học những môn mới-mẻ và khó-khăn như Computer Hardware, Software... Cộng thêm với cái vốn Anh-Văn yếu-kém của ba và dọng nói khó nghe của ông giáo-sư người miền Texas nữa, ba vừa học vừa khóc.  Đêm nào cũng phải thức tới 1, 2 giờ sáng để học tiếng Anh của bài rồi mới học bài. Đă nhiều lần, ba muốn liệng sách vở vào sọt rác, không học nữa.  Nhưng ba lại tự an-ủi:

                        - Châu ơi! Nếu mày không học th́ làm sao khá hơn được?

 

            Nghĩ thế, ba đành cắn răng, chùi nước mắt học tiếp.  Sau một năm rưỡi học-hành, ba đă có đủ điều-kiện ra trường với những đặc-điểm sau:

                        * Ba đậu bằng Kỹ-sư Điện với hạng cao (Cum Laude), tương-đương với hạng B́nh-Thứ ở Việt-Nam.

                        * English composition được hạng B và B+

                        * Một số bài Anh-Văn của ba đă được đem đọc cho các lớp khác nghe.

 

            Hôm ra trường, các sinh-viên khác có đông-đủ cha-mẹ, anh em, bạn bè bên cạnh để chia-sẻ niềm vui, c̣n ba th́ chỉ trơ-trọi một ḿnh, buồn buồn, tủi tủi.  Ba chỉ mong có ông bà nội con bên cạnh để ba có thể khoe cùng ông bà nội con rằng:

                        - Thầy mẹ thấy con trai của thầy mẹ đó!  Mới chỉ 18 tháng tại xứ lạ, quê người, con đă ra kỹ-sư rồi đó. Thầy mẹ nên hănh-diện v́ con.  Được như ngày nay cũng là nhờ công ơn dưỡng-dục của thầy mẹ.

 

            Bù lại, ông Viện-trưởng đă đến bên cạnh ba, bắt tay ba và ân-cần nói:

                        - Chau! You did it!  You are wonderful! Congratulation!

 

            Sau này khi ba sang lập-nghiệp tại California, ba lại tiếp-tục học Cao-học tại trường C.S.U. Long Beach với ông Nguyễn Thúy Lai và ông Lê Văn Thành.  Ông Lai là một kỹ-sư rất nổi tiếng về computer, làm supervisor cho hăng Excellon tại miền Nam California. Ông Thành là một kỹ-sư ưu-tú từ Đức-Quốc sang.  Đến ngày thi măn-khóa, ông Thành đậu hạng C, ông Lai được hạng B, c̣n ba th́ được trời thương hơn nên đậu hạng A.  Ông Lai và ông Thành cứ ganh với ba măi. Ba chẳng biết nói sao cả, chỉ biết tạ-ơn Chúa và luôn cố-gắng.

                        - Angela con gái cưng của ba ơi! C̣n nhiều chuyện phi-thường khác nữa, ba chẳng cần kể hết cho con nghe bây giờ, khi nào có dịp ba sẽ kể tiếp cho con nghe. Con nên nhớ rằng tất cả mọi sự cố-gắng của ba má, mọi thành-công của ba má  đều v́ con và cho con hết cả.  Mong rằng mai này khi con lớn lên, con luôn nhớ lời ba, noi gương cố-gắng của ba mà phấn-đấu để tiến-tới.  Thế mới xứng-đáng là con của ba má.

 

 - Thương con nhiều, thương con nhiều lắm!

 

Ba của con

Châu

 


 

 

CHƯƠNG 20

TRỒNG NGƯỜI

                                                                                                        NMC biên-soạn   Tết Con Cọp 98

 

Thập niên chi kế mạc như thụ mộc

Bách niên chi kế mạc như thụ nhân

(Năm năm trồng cây, trăm năm trồng người)

                                                                                                        Đức Khổng Tử

                                                                                                         

            “Một ngàn năm nô-lệ giặc Tầu, một trăm năm đô-hộ giặc Tây...”  (Trịnh công Sơn)

 

            Không !  Không phải thế đâu !  Thượng Đế đă không sai quân Tầu, giặc Tây đến Việt-Nam để đô-hộ dân ta đâu, mà để đóng-góp vào sự đào-luyện một Đại Cường-Quốc

Việt-Nam đó.   Đây không phải là ư-kiến của người biên-soạn bài này, mà là lời tiên-tri của Linh-mục Học-giả Bửu Dưỡng đấy.

 

            Tôi c̣n nhớ, vào thập niên 60, trong một giờ Triết-học cho lớp 12, linh-mục Bửu

Dưỡng (hồi đó c̣n là cố-vấn cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm) đă cao-hứng tuyên-bố:

“Các anh, các chị phải luôn nhớ ḿnh la ø ḍng-dơi một siêu dân-tộc, công dân một Đại-Cường Quốc”.  Cả lớp cười vang v́ nghi-ngờ.  Nhưng với nét mặt nghiêm-nghị, linh-mục đă tuần-tự tŕnh-bầy quá-tŕnh huấn-luyện của Thượng-Đế dành cho dân-tộc ta:

 

            “Thoạt tiên, Thượng Đế thấy nước Tầu có một nền văn-hóa đứng đầu thế-giới, nên đă không quản-ngại thuê họ đến Viêt-Nam hơn 10 thế-kỷ để huấn-luyện cho dân-tộc ta.  Văn-hóa Trung-Hoa đă không mảy-may đồng-hóa văn-hóa Việt mà trái lại c̣n bị dân Việt rút-tỉa cái hay, cái đẹp của văn-hóa Tầu để làm của ḿnh, điển-h́nh là dân ta đă biến tiếng Tầu thành chữ Nho, chữ Nôm với những nét đặc-thù riêng: nh́n giống tiếng Tầu, nhưng người Tầu đọc không ra.

 

            Sau khi rút tỉa hết cái hay, cái đẹp của văn-hóa Tầu để làm của ḿnh, người Việt lại được Thượng-Đế cho học văn-minh Tây Âu trong gần một thế-kỷ nữa.   Đến thế-kỷ 20, kỹ-thuật tại Hoa-kỳ đă tiến vượt-bực, nên Thượng-Đế lại thuê người Mỹ đến Việt-Nam làm cố-vấn để kiện-toàn việc đào-tạo siêu dân-tộâc Việt-Nam.”

 

            Sau khi Saig̣n rơi vào tay Cộng-Sản, ṭan-thể dân Việt, không phân biệt lớn bé, già trẻ lại một phen đi học: Người th́ khăn gói đi học tập trong các trại cải-tạo, kẻ ở nhà tối tối bị lùa ra phường học chính-trị, những người may-mắn chạy thoát ra ngoại-quốc th́ sớm hôm bứt đầu, banh tai học một sinh ngữ và một nghề mới.  Cả một dân-tộc đi học ! 

 

            Nơi xứ-lạ, quê-người, các bậc phụ-huynh đă không quên vấn-đề trồng người Thành-quả đă hùng-hồn chứng-minh điều đó: Nơi học-đường, con em chúng ta đă mạnh-dạn dẫn đầu lớp trong mọi môn học, ngành học, mặc dầu ngôn-ngữ này chẳng phải ngôn-ngữ ḿnh. Tại sở làm, người Việt di-cư  luôn được trọng-vọng và thành-công.  Đó cũng là lư do người Việt được bảo-lănh vào Mỹ nhiều hơn các sắc-dân khác.  Trọng Viễn đă ghi lại một phần thành-quả đó trong những cuốn “Vẻ vang Dân Việt” mà con em chúng ta nên đọc để làm gương.

           

            Nhưng đôi khi một số người đă vô ư đi quá trớn, học đ̣i những tệ-đoan của xă-hội mới này.  May thay ở bất cứ đâu, dân Việt cũng có những quư-nhân quên thân ḿnh mệt-nhọc v́ kéo cầy trả-nợ cuộc sống, nguyện mang hết khả-năng ra phục-vụ tuổi-trẻ bằng những lớp Việt-Ngữ, những hội-đoàn, ḥng bảo-tồn văn-hóa và truyền-thống của dân ta.   Xin tặng một tràng pháo tay thiệt lớn cho nhũng anh-hùng vô-danh đó.

 

            Cụ Nguyễn Bá Học đă không quên nhắc-nhở các bạn trẻ: “ Người ta đương lúc thiếu-niên: ḷng xuân phơi-phới như trăng mới lên, như hoa mới nở, sự đời chưa hề từng-trải....  Ḷng hy-vọng đặt càng cao th́ sự dụng-sức cũng phải nhiều..”

 

            Hỡi các bạn trẻ !  Các bạn hăy cố lên, hăy dùng nhiều sức-lực để trau-dồi bản-lănh, để trở nên xuất chúng: Bằng-cấp cao, tiền-bạc nhiều: chưa đủ dâu !  Các bạn phải luôn ư-thức rằng: Tương-lai của dân-tộc ta nằm trong tay các bạn đó.  Nếu các bạn ư-thức được điều này, các bạn sẽ luôn hành-động xứng-đáng là con dân của nước Việt, ṇi-giống của một siêu dân-tộc Việt. 

 

Mong lắm thay.

Châu

 

 


 

 

Sau đây xin ghi lại mấy vần thơ của Cụ Phan Bội Châu

 

               

 SỐNG   

   

  Sống tủi làm chi đứng chật trời  

  Sống nh́n thế-giới hổ chăng ai ? 

  Sống làm nô-lệ cho người khiến, 

  Sống chịu ngu-si để chúng cười. 

  Sống tưởng công-danh không tưởng nước,

  Sống lo phú-quư chẳng lo đời  

  Sống mà như thế đừng nên sống !     

  Sống tủi làm chi đứng chật trời !  

 

            

CHẾT

 

Chết mà v́ nước, chết v́ dân,

Chết đấng nam-nhi trả nợ trần,

Chết buổi Đông-Châu hồi Thất Quốc,

Chết như Tây-Hán lúc tam-phân,

Chết như Hưng-Đạo hồn thành Thánh.

Chết tựa Trưng-Vương phách hóa thần

Chết Cụ Tây-Hồ danh chẳng chết !

Chết mà v́ nước, chết v́ dân !

 

                                                            

 

 

                                  

                                 

                  

                                      

                                

                                 

 

***

 

 

(Phần 3)