Giới Thiệu Tác Phẩm - Sản Phẩm

 

The Tragedy of the Vietnam War   (1)
 

Trên 33 năm đă trôi qua, một thời gian đủ dài để những đống tro tàn chiến tranh nguội tan vào ḷng đất, nhưng những cuộc xung đột nó gây ra về chính kiến, ư hệ và những khía cạnh tinh thần lẫn t́nh cảm khác vẫn c̣n nóng bỏng.



MỘT SỐ Ư KIẾN ĐÓNG GÓP SAU KHI ĐỌC CUỐN

THE TRAGEDY OF THE VIETNAM WAR CỦA VĂN NGUYỄN DƯỠNG
 

Cung Trầm Tưởng
 

1 - Cuộc chiến Việt Nam thứ hai khởi sự ngay sau khi Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà chào đời vào một buổi sáng hanh thông cuối tháng mười năm 1956 và chấm dứt cũng vào một buổi sáng nhưng lần này nắng rực lửa trên bầu trời thủ đô Sài G̣n: Buổi sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975. Kể từ đó đến nay, trên 33 năm đă trôi qua, một thời gian đủ dài để những đống tro tàn chiến tranh nguội tan vào ḷng đất, nhưng những cuộc xung đột nó gây ra về chính kiến, ư hệ và những khía cạnh tinh thần lẫn t́nh cảm khác vẫn c̣n nóng bỏng. Nghịch lư này sở dĩ tồn tại là v́ chính bản thân cuộc chiến, nh́n dưới góc độ Mỹ, chứa đầy những nghịch lư oái ăm, thách thức lư trí và làm đảo lộn lương tri. Chẳng hạn như cuộc tranh căi gay gắt đă diễn ra quanh vụ giang tốc đĩnh và những chiến thương bội tinh của ứng cử viên tổng thống John Kerry vào năm 2004 là một trường hợp điển h́nh.

Chưa có một cuộc chiến nào đă để lại trong tâm tư người Mỹ, đặc biệt là giới cựu quân nhân
(3,74 triệu lượt người) đă chiến đấu ở Việt Nam, một di sản nặng nề như vậy. Người ta đă tốn không biết bao nhiêu tâm trí để bàn thảo, thường là căi cọ với nhau, về cuộc chiến kỳ quặc ấy với một khối lượng những bài báo, tiểu luận, những cuốn chuyên khảo, những bản phúc tŕnh, thống kê, duyệt xét lại, kể cả phim ảnh đủ loại liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới chủ đề ấy nhiều đến nỗi không đếm xuể.

Một điểm bất b́nh thường khác là, trước một khối lượng ấn liệu đồ sộ như vậy, sự có mặt của những tác phẩm viết bằng tiếng Anh hoặc được dịch sang tiếng Anh của người Việt Nam, kẻ phải hứng chịu những hậu quả khốc liệt nhất của cuộc chiến, chỉ như muối bỏ biển. Và đây là một sơ hở mà hơn một thế lực, thù và bạn, đă lợi dụng để nói sai, nói xấu về Việt Nam Cộng hoà
(VNCH) mà không có sự trả lời đích đáng của người bị gièm pha. Chính v́ sự thiếu sót này mà chúng tôi khẩn thiết và trân trọng kính mời quư vị độc giả hăy mở rộng ṿng tay đón nhận sự ra đời của cuốn khảo luận công phu, có hệ thống “The Tragedy of the Vietnam War” của Văn Nguyễn Dưỡng. (McFarland & Company Inc. Publishers, 2008 – www.mcfarlandpub.com)

Tác giả vừa là một nhà thơ có tên tuổi vừa là một cựu trung tá phục vụ 21 năm trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà
(QLVNCH). Đây là hai lư do tại sao ông đă bị cộng sản bỏ tù trong 13 năm và v́ vậy, sau khi được trả tự do, ông và gia đ́nh được chính phủ Mỹ mời sang tị nạn chính trị tại Hawaii kể từ năm 1994. Ở đây, dù tuổi đă cao, ông vẫn quyết tâm cắp sách trở lại ghế nhà trường, và sau nhiều năm dùi mài kinh sử, ông đă lấy được mảnh bằng cao học về Chính Trị Học (Master of Arts in Political Science). Tuy nhiên, mộng ước của ông, như ông đă thổ lộ với chúng tôi lúc c̣n ở tù với nhau, không phải để đăng khoa mà để trang bị cho bản thân ḿnh một cơ sở kiến thức vững vàng, một lề lối tư duy có hệ thống, biết nối liền những sự kiện tưởng là tách biệt vào với nhau (connecting the dots) thành một quan hệ nhân quả, một phương pháp luận khoa học, tức những công cụ học thuật cần thiết để kiến dựng một cái nh́n lư giải chính xác, vô tư, quân b́nh về một vấn đề đă làm ông trăn trở khôn nguôi: Vai tṛ và trách nhiệm của người Việt Nam quốc gia chống cộng và của người đồng minh Hoa Kỳ của họ trong cuộc chiến Việt Nam vừa qua.

Như đă nói ở trên, có rất nhiều sự đánh giá thiên lệch và bất công đối với VNCH, đặc biệt là QLVNCH, rường cột và lá chắn của quốc gia non trẻ này. Điều trớ trêu là những kẻ đă cố t́nh bóp méo chân lư lịch sử lại chính là những thủ phạm chủ chốt của thảm hoạ Việt Nam: Những Robert McNamara, Roger Hilsman, Averell Harriman, Henry Kissinger…, những chính khách kế thừa của chủ thuyết be bờ cộng sản của Harry Truman và đă đề ra những binh pháp “chiến tranh hạn chế”, “chiến tranh chống nổi dậy” mà thực chất, như thực tiễn lịch sử đă chỉ cho thấy, chỉ là những uyển ngữ che giấu một một quan niệm chủ bại ngay từ khởi thuỷ: đánh không để thắng, a no-win concept.

Một trong những cung cách hành xử để chạy tội của tập đoàn ấy là đổ lỗi cho QLVNCH, xuyên tạc khả năng và tinh thần chiến đấu của quân lực này và thổi phồng những khuyết điểm có tính kĩ thuật hơn là cơ bản của nó trong một số trận đánh lớn như trận tổng tấn công tết Mậu Thân 1968 của cộng sản hay trận đánh Hạ Lào đầu năm 1971 của QLVNCH chẳng hạn. Xét đến cùng lư, nguyên nhân những sai lầm quân sự ấy là do chính sách và đường lối chỉ đạo chiến tranh được hoạch định từ Toà Bạch Ốcv nằm cách xa chiến trường trên mười ngàn cây số. Một chính sách phân chia trách nhiệm thiếu hợp lư theo đó QLVNCH được giao nhiệm vụ pḥng thủ diện địa, c̣n Mỹ th́ giành quyền “t́m và diệt” địch, tức quyền tạo dựng một thế chủ động chiến trường bằng cách đánh thẳng vào hậu cứ địch để “nhổ cỏ tận gốc.”

Do đó, xét theo quan điểm trên, chính quân đội Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về việc đă để cho cộng sản sử dụng những thánh địa an toàn của chúng để mở những cuộc tấn công thâm nhập sâu vào hậu tuyến QLVNCH, chứ không phải QLVNCH như họ đă đổ vấy cho. Nói rơ hơn, để nhất quán với chiến lược “t́m và diệt” địch của ḿnh, lẽ ra quân đội Hoa Kỳ, chứ không phải QLVNCH, đă phải tấn công sang Hạ Lào vào đầu năm 1971 hoặc trước đó từ lâu. Luận cứ này, cũng như luận cứ lẽ ra H.K. đă phải phong toả hải cảng Hải Pḥng ngay từ đầu cuộc chiến để bóp nghẹt một nguồn tiếp sinh chủ yếu cho nỗ lực chiến tranh của Hà Nội, đă được tác giả nêu lên mà chúng tôi cho là hợp lư nếu chúng ta giới hạn vấn đề vào khuôn khổ một cuộc chiến tranh cục bộ và không xét tới những yếu tố ngoại vi, có tính cách toàn cầu của chính sách Mỹ, chẳng hạn Mỹ chỉ muốn dùng cuộc chiến Đông Dương thứ hai để vừa răn đe vừa chiêu dụ Trung Cộng về phe ḿnh nhằm cô lập Liên Xô, lúc đó đang là địch thủ đáng gờm nhất của họ.

2 - Hành động thiếu ngay thẳng của nhà cầm quyền Hoa Kỳ đối với QLVNCH đă tạo cho giới truyền thông đại chúng và phong trào phản chiến Mỹ một cái cớ bằng vàng để miệt thị, phỉ báng và coi QLVNCH không xứng đáng để Hoa Kỳ giúp đỡ. Kết quả là, dưới áp lực không ngừng gia tăng và được báo chí hướng dẫn của quần chúng nhân dân ḿnh, chính quyền Hoa Kỳ đă phải cắt đứt viện trợ cho QLVNCH và khai tử VNCH. Trên thực tế, sự phủi tay này đă xẩy ra rất tàn nhẫn, không những trói tay rồi giao nộp người bạn đồng minh lâu đời của ḿnh cho Cộng Sản mà c̣n bán đứng sự hy sinh để bảo vệ thế giới tự do của hàng trăm ngàn tử sĩ Việt-Mỹ.

Nhưng chủ đích của chúng tôi không phải để đếm xác chết hay luận về mặt đạo đức mà về tính phi logic của những lựa chọn chiến lược của Hoa Kỳ. Chúng tôi chỉ muốn dựa vào những sự kiện có thật để phân tích, lư giải ngơ hầu t́m ra chân lư lịch sử. Và, để làm việc này, chúng tôi thấy cần phải đặt vấn đề cho đúng rồi cố t́m giải đáp cho một câu hỏi then chốt: Tại sao chúng ta đă để thua cuộc chiến vừa qua?

Một câu hỏi như vậy ngoài để truy căn vấn đề c̣n mang hương vị xót xa của một nuối tiếc lẽ ra chúng ta đă phải, v́ chúng ta có thể, để cuộc chiến chấm dứt một cách bớt tệ hại hơn như nó đă chấm dứt trên thực tế. Và, chúng tôi nhận thấy ở tác giả Văn Nguyễn Dưỡng sự hội đủ một số điều kiện cần để giúp chúng ta giải đáp câu hỏi trên. Một, ông đă từ trong ḷng cuộc chiến đi ra nên có điều kiện hiểu nó rơ hơn một người đứng ngoài nghĩ về nó; hai, ở vị trí một tù binh chiến tranh phải giáp mặt thường xuyên với kẻ thù, ông có điều kiện nh́n ra chân tướng nó và qua đó hiểu rơ hơn tại sao nó đă thắng ta; và ba, với sự thủ đắc từ ghế nhà trường một phương pháp luận khoa học, ông có khả năng phân tích và lư giải vấn đề một cách chặt chẽ và mạch lạc. Nói tóm lại, ở vị trí một chiến sĩ kiêm chứng nhân kiêm nạn nhân kiêm sử gia, ông đă có được một lợi thế tốt nhất để tạo dựng một cái nh́n tổng hợp sinh động và chính xác về cuộc chiến.

Trước hết tác giả dẫn ta về khởi thuỷ của vấn đề là cuộc chiến tranh Việt Nam thứ nhất
(1946 – 1954) mà một trong những nguyên nhân đầu tiên, theo sử gia Mỹ John Dellinger, là một động lực tâm lư đă bị dồn nén từ lâu, tức tinh thần quật khởi của dân tộc Việt Nam quyết đứng lên giành lại chủ quyền cho đất nước họ từ tay người Pháp (trang 11). Thành quả của cuộc đấu tranh này là sự ra đời vào ngày 7/4/1945 của một chính quyền quốc gia độc lập (nội các Trần Trọng Kim) sau 60 năm bị Pháp đô hộ. Quốc gia tân lập này, và sau đó là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (ra đời vào ngày 2/9/1945), không được Pháp công nhận khi họ theo gót quân Anh trở lại Sài G̣n vào ngày 25/9/1945 với ư đồ ngoan cố lập lại chế độ thực dân trên toàn cơi Đông Dương. Chính v́ vậy mà cuộc chiến tranh Việt Nam thứ nhất đă bùng nổ vào đêm 19/12/1946.

Cuộc chiến này không chỉ đơn thuần liên hệ đến Việt Nam và Pháp mà c̣n ảnh hưởng tới nền trật tự thế giới mới mà Hoa Kỳ đang dày công xây dựng kể từ sau khi cuộc Thế Chiến thứ hai chấm dứt. V́ vậy Mỹ không thể không quan tâm tới nó. Có hai lư do để H.K.ủng hộ Pháp: Một, v́ Pháp đang là thành viên quan trọng của khối Liên Minh Bắc Đại Tây Dương; hai, v́ H.K.đă thấy rơ chân tướng làm tay sai cho Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản của Hồ Chí Minh nên họ dùng cuộc chiến của Pháp như một thứ chiến tranh uỷ nhiệm để ngăn chặn ư đồ nhuộm đỏ toàn cầu của đế quốc Liên Xô. Nhưng đồng thời họ cũng không muốn Pháp lợi dụng cuộc chiến này để lập lại chế độ thực dân tại Việt Nam mà họ cho là sai trái và lỗi thời. Đây là mâu thuẫn đầu tiên của chính sách về Việt Nam của H.K. Một mâu thuẫn làm cho sự can dự của họ thiếu dứt khoát trong nhiều năm. Nhưng trong khi Mỹ chần chừ do dự th́ cộng sản không đứng yên tại chỗ. Sự kiện Mao Trạch Đông lên nắm quyền tại Trung Hoa lục địa vào tháng 12/1949 và sự kiện quân đội cộng sản đánh thắng hai binh đoàn Charton và Lepage tại biên giới Việt-Trung chưa đầy một năm sau đó đă làm thay đổi cục diện chiến tranh: Quân đội viễn chính Pháp phải chuyển từ thế công sang thế thủ, với một hệ luận tất yếu là thiết lập vội vàng vành đai pḥng thủ De Lattre De Tassingy tại châu thổ sông Hồng.

Dưới chiêu bài Chiến Tranh Cách Mạng và Giải Phóng Dân Tộc, chính quyền Cộng Sản Trung Hoa
(Trung Cộng) liên tục huấn luyện và viện trợ ồ ạt (bằng vũ khí của Mỹ chiếm được từ tay quân đội Tưởng Giới Thạch) cho bộ đội của Vơ Nguyên Giáp, lúc này đă có khả năng hiệp đồng hành quân ở cấp liên sư đoàn (cộng sản gọi là tập đoàn hay đại đoàn) và chuyển từ du kích chiến sang vận động chiến và trận địa chiến. T́nh h́nh quân sự ngày càng trở nên thất lợi cho quân đội Pháp, và kể từ năm 1951 trở đi, cộng sản làm chủ được nửa phần phía bắc của Bắc Việt Nam và biến vùng này thành một cứ địa vững chắc để từ đó phóng ra những cuộc tấn công quy mô xuống châu thổ sông Hồng Hà và sang tới Lào. (trang 26)

Thừa thắng xông lên, cộng sản quốc tế mở thêm một mặt trận thứ hai tại Triều Tiên vào giữa năm 1950 khiến Hoa Kỳ phải nhảy vào can thiệp và như vậy phải chuyển chú tâm từ Đông Dương lên vùng Đông Bắc Á. Với sự tiếp tay của Trung Cộng, CSVN đă triệt để lợi dụng thời cơ này để mở rộng địa bàn hoạt động của chúng sang tận Hạ Lào, nhằm làm phân tán mỏng lực lượng Pháp và như vậy làm vơi nhẹ đi áp lực của lực lượng này tại những vùng chiến lược khác, đặc biệt là vùng châu thổ sông Hồng. Cho đến khi cuộc chiến Triều Tiên chấm dứt vào năm 1953 th́ bộ đội Giáp đă đủ mạnh để uy hiếp đến chính sự sống c̣n của quân đội viễn chinh Pháp tại Bắc Việt. Sự kiện này và việc H.K. bây giờ đă rảnh tay ở Triều Tiên đă làm cho Việt Nam trở thành mối quan tâm hàng đầu của chính sách đối ngoại của họ. T́nh h́nh ở đây ngày càng xấu đi, và muốn chấn chỉnh nó, H.K. phải có một đường lối can dự tích cực hơn và dứt khoát hơn là chỉ mỗi năm, như họ đang làm, chi vài trăm triệu đô la để trả công người khác đánh giặc giùm ḿnh. Nhưng trên thực tế, khi biến cố Điện Biên Phủ xẩy ra, do cố tật chần chừ và di luỵ c̣n nóng bỏng của cơn ác mộng Triều Tiên, H.K.đă nuốt lời hứa giúp Pháp giải vây ḷng chảo ấy bằng sức mạnh áp đảo của không quân ḿnh và thay v́ vậy, đă chỉ khiêm nhường đóng vai tṛ một anh khổng lồ chân đất sét bất lực đứng nh́n con dím Điện Biên Phủ của Navarre bị gặm ruỗng cho đến chết bởi đàn kiến cỏ của Giáp. Con dím ấy tắt thở lúc 5 giờ chiều ngày 7/5/1954; chiến thắng này của cộng sản quốc tế vang dội tới sơn cùng thuỷ tận của Thế giới Thứ ba, ở đó người ta lầm lẫn chiến tranh giải phóng dân tộc với chiến tranh giải phóng giai cấp
(vô sản).

Bảy mươi bốn ngày sau Điện Biên Phủ thất thủ, ngày 20/7/1954, Hiệp Định Đ́nh Chỉ Chiến Sự ở Việt Nam được kư kết tại Genève. Với quyết định chia đôi nước Việt Nam, lúc đó đang là một chính thể thống nhất được phê chuẩn bởi Hiệp Ước Elysée ngày 8-3-1949 giữa Pháp và chính quyền quốc gia của Cựu Hoàng Bảo Đại. Hiệp Định Genève năm 1954 là một h́nh thức công nhận ipso facto của Thế Giới Tự Do đối với cái gọi là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của CSVN, mặc nhiên nâng cấp nó từ một tổ chức quyền bính trong bóng tối, sống lét lút ở rừng rú lên thành một chính thể quốc gia nation-state có chính phủ, có nhân dân, có lănh thổ và một thủ đô riêng biệt trước mắt quốc tế

Như vậy, Hiệp Định Genève 1954 là một nhượng bộ quan trọng đầu tiên của Thế Giới Tự Do trước áp lực quân sự của cộng sản quốc tế. Một nhượng bộ lẽ ra có thể tránh được nếu xét đến tương quan lực lượng lúc đó ở Đông Nam Á và nếu như chính quyền Ésenhower đă ưng thuận đề nghị của Pháp là H.K. hăy sử dụng hoả lực ồ ạt của hai trăm pháo đài bay B-29 và khu trục cơ xuất phát từ Philippines và Hạm đội 7 để huỷ diệt đại quân tinh nhuệ của CSVN đang tập trung quanh Điện Biên Phủ. Đây là một đề nghị hữu lư và có tính khả thi cao, nhưng quyết mệnh lịch sử muốn rằng, khi mọi chi tiết của Kế Hoạch Kên Kên
(Vulture) đă được hoàn tất và chỉ chờ lệnh khai hoả, th́ bỗng dưng nó bị huỷ bỏ v́ Tổng thống Eisenhower vào giờ chót đă nghe theo lời khuyên của chính phủ Anh. H.K. đă chùn bước v́ sợ một hành động can thiệp quân sự mạnh mẽ như Kế Hoạch Kên Kên sẽ tạo cho Trung Cộng cái cớ để nối lại liên minh với Liên Xô và như vậy, theo lư luận của Ngoại Trưởng Anh Sir Anthony, sẽ có nguy cơ xảy ra một cuộc đại chiến thế giới. Một cuộc đại thế chiến mà ông ta cho là H.K. không nên gây ra nếu chỉ v́ Việt Nam.

Nói tóm lại, chính sách của Hoa Kỳ kể từ năm 1954 trở đi chủ yếu không phải để tiêu diệt CSVN mà chỉ coi cuộc chiến Việt Nam như một chiến pháp be bờ Cộng Sản, thứ tŕ hoăn chiến có tính cục bộ, nhằm phục vụ một mục tiêu chiến lược to lớn hơn: Chia rẽ khối Liên Xô - Trung Quốc, làm hao ṃn tiềm lực khối này với chính sách cấm vận kinh tế và mậu dịch uyển chuyển, tinh vi, rồi t́m cách giải quyết từng bước một cuộc chiến tranh lạnh và giành thắng lợi về phía ḿnh mà không phải đụng đầu trực tiếp với hai đối thủ khổng lồ trên. Và cuối cùng Hoa Kỳ đă thắng lớn. Nhưng cái dở của họ là, để được như vậy, họ đă hi sinh Đông Dương một cách lăng xẹt và không lấy ǵ làm vẻ vang cho lắm. Hiểu như với một chính sách phân nhiệm hợp lư với, và tin tưởng vào, ba chính quyền quốc gia Đông Dương đồng minh của họ, và với một chiến lược quân sự mạnh dạn, dứt khoát và rạch ṛi hơn, lẽ ra họ đă có thể giữ được Đông Dương và như vậy có thể đẩy nhanh hơn tiến tŕnh giải thể khối cộng sản quốc tế. Hoặc nếu làm như vậy th́ trong trường hợp đối đế phải rời bỏ bán đảo này, họ đă không phải ra đi tắc trắch như kiểu "peace with honor" của Nixon và Kissinger hay phải tháo chạy tán loạn như trong ngày 30/4/1975.

3 - Mà nói đến sự phân nhiệm Việt-Mỹ để điều hành cuộc chiến th́ không thể không nói đến một nguyên nhân cơ bản của sự phá sản chính sách về Việt Nam của Hoa Kỳ và sự sụp đổ năm 1975 của VNCH. Đó là sự bá quyền trịch thượng, hống hách, thô bạo, thiển cận, ích kỉ, không tin tưởng vào VNCH của hơn một chính quyền Hoa Kỳ, khiến xảy ra giữa hai bên một mâu thuẫn kiểu đồng sàng dị mộng, gây trở ngại rất nhiều cho việc phối hợp song phương cần có để tiến hành cuộc chiến có hiệu quả.

Mâu thuẫn trên đă trở thành một bất hoà gay gắt vào những năm 1962 và 1963 v́ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm tỏ ra muốn độc lập với H.K. trong việc quản lư quốc gia và điều hành chiến tranh của ḿnh. Hậu quả là H.K. dàn dựng ra vụ Phật Giáo đ̣i treo cờ ở Huế như một cái cớ để tổ chức cuộc binh biến ngày 1/11/1963 mà mục đích không chỉ là để lật đổ chính quyền Diệm mà c̣n để sát hại ông ta và bào đệ Ngô Đ́nh Nhu. Để truy t́m thủ phạm vụ giết người này, tác giả đă trích dẫn một câu nói của Tổng Thống Lyndon Johnson với Phó Tổng Thống Hubert Humphrey khi ông ta chỉ vào bức chân dung của ông Diệm: “
Chúng ta đă dính tay vào vụ giết ông Diệm. Và giờ đây bàn tay ấy đang hiện lên trước mắt chúng ta.” (trang 30) Vẫn theo tác giả, dựa vào những tài liệu khả tín, ba nghi can chính của vụ thảm sát trên là Averell Harriman, Roger Hilsman và Henry Cabot Lodge. Nhưng chủ đích của chúng tôi không phải là luận về mặt đạo đức của một hành động tội ác mà để bàn đến tác hại chính trị của nó gây ra cho VNCH và Hoa Kỳ.

Trước hết là vấn đề chính danh và chính nghĩa của cuộc chiến tranh chống cộng của người quốc gia, hai yếu tố tâm lư quan trọng để tranh thủ sự hưởng ứng của người dân Việt Nam. Như mọi người đă biết, một lư do tại sao Mỹ đă giết ông Diệm v́ ông ta chống đối việc Mỹ dự định đổ quân ồ ạt vào Việt Nam để nắm trọn quyền chỉ đạo chiến tranh theo cung cách của ḿnh. Và thực tế đă chỉ cho thấy tính đúng đắn của lập trường quốc gia của ông Diệm: Với sự có mặt ngày càng gia tăng và càng lộ liễu của quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam. VNCH ngày càng bị mất chủ quyền và QLVNCH ngày càng trở thành một thứ tuỳ phái cho quân đội viễn chính Mỹ. Cái thế độc lập quốc gia dân tộc v́ thế mà bị tổn thương, khiến cuộc thu phục nhân tâm trở nên khó khăn rất nhiều.

Ngoài ra, về mặt xă hội, như chúng ta đă được biết, sự có mặt tại miền Nam Việt Nam của quân đội Mỹ mà điểm đỉnh lên tới 525,000 người vào tháng 8/1967, rủng rỉnh tiền bạc
(overpaid), ăn uống ê hề (overfed) và nhục cảm mạnh mẽ (oversexed), cùng với cách sống duy vật buông thả, đă làm băng hoại trầm trọng truyền thống đạo đức của nền văn hoá Việt Nam. Cả một đội quân bản điạ khổng lồ vô dụng, ăn bám vào chiến tranh, khai thác những bản năng xấu xa của người lính viễn chính Mỹ sống xa vợ hay người yêu, cung cấp những dịch vụ măi dâm, ma tuư không những chỉ ở trong những quán rượu (mọc lên như nấm) mà c̣n ra tận bụi bờ, hầm hố của chiến tuyến. Tất cả được tổ chức thành một thứ công nghiệp của đồi bại và tội ác, ngoài làm mất phẩm giá của nạn nhân, nhất là nữ giới, c̣n làm thui chột nhuệ khí của người lính viễn chinh Mỹ. Như vậy, tác hại đến tiền đồ cuộc chiến của đạo quân thứ năm này không phải nhỏ.

Một hậu quả khác của việc Mỹ thanh toán thô bạo chế độ Ngô Đ́nh Diệm là nó làm suy giảm rất nhiều cảm t́nh lẫn sự ủng hộ rộng răi đối với miền Nam Việt Nam của quốc tế, đặc biệt là Thế Giới Thứ Ba lúc đó đang chịu ảnh hưởng không nhỏ của Khối Phi Liên kết. Một thí dụ điển h́nh về hậu quả tai hại của lỗi lầm trên của Mỹ đă được tác giả nêu ra ở trang 89: Ngày 20/11/1963, Thái Tử Sihanouk của Căm Bốt tuyên bố quyết định khước từ mọi viện trợ của H.K. Kể từ đó, ông ta trở thành một tiếng nói bài Mỹ hăng hái nhất của Khối Phi Liên kết, rồi cuối cùng bắt tay với Hà Nội để biến Căm Bốt thành chiếc gai nhọn đâm vào hông VNCH. Có thể coi đây là món quà H.K tặng không cho Hà Nội.

Về mặt đối nội
(của VNCH), việc H.K. khai tử chế độ Ngô Đ́nh Diệm đă đẩy miền Nam Việt Nam vào một cơn khủng hoảng chính trị triền miên với những chính phủ dựng lên rồi đổ ngay sau đó, khiến VNCH trở thành một con rắn không đầu. Và Washington đă vội lấy đầu con đại bàng Mỹ gắn vào thân con rắn này để giành quyền lănh đạo chiến tranh. H́nh ảnh đầu chim ḿnh rắn này minh hoạ tính phi lư của chính sách Mỹ. Một chính sách được đề ra bởi một nhóm người đầu trứng (egghead) thiếu những hiểu biết cơ bản về Việt Nam (như Robert McNamara đă thú nhận trong quyển hồi kư mới đây của ông ta) nhưng lại có mặc cảm tự tôn, hống hách, tin rằng họ có thể giải quyết cuộc chiến Việt Nam theo mô thức Mỹ mà không cần tham khảo ư kiến của nước chủ nhà (mà họ coi thường). Hơn nữa, với khuyết tật chủ quan cố hữu, họ c̣n đánh giá thấp khả năng và quyết tâm chống trả của CSVN. Một vị tham mưu trưởng Lục Quân Hoa Kỳ đă ví địch thủ này như một vơ sĩ hạng lông, c̣n Mỹ là một vơ sĩ siêu nặng. Theo logic của ông ta, cú đấm đầu tiên của Mỹ chỉ làm nó hơi lung lay, nhưng cú đấm thứ hai sẽ làm nó choáng váng, và cú đấm thứ ba chắc chắn sẽ đo ván nó. Đại khái sách lược leo thang chiến tranh từng nấc của Mỹ là như vậy. Thực tế đă chỉ cho thấy vị tướng này đúng ở điểm một và điểm hai nhưng sai ở điểm ba: CSVN đă tỏ ra chịu đ̣n dai hơn như ông ta đă tưởng. Nhưng nói đúng ra, muốn đo ván nó, Mỹ cần phải bồi tiếp cú đấm thứ tư nhắm vào cái đầu nó nằm ở Hà Nôi. Một việc mà Mỹ đă không làm v́ thiếu ư chí và ḷng dũng cảm. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này ở phần sau bài viết.