Giới Thiệu Tác Phẩm - Sản Phẩm
The Tragedy of the Vietnam War
(2)
MỘT SỐ Ư KIẾN ĐÓNG GÓP SAU KHI ĐỌC
CUỐN
THE TRAGEDY OF THE VIETNAM WAR
CỦA VĂN NGUYỄN DƯỠNG
Cung Trầm Tưởng
Ngoài việc không dám như cố Tổng
Thống Diệm nói ngược lại người Mỹ, các nhà cầm quyền Việt Nam thời
đó đă tỏ ra không có khả năng và uy tín chính trị lẫn quân sự để lấp
lỗ hổng chính quyền do cái chết của ông Diệm để lại. Chẳng hạn họ đă
phạm phải một sai lầm nghiêm trọng khi quyết định giải thể Đảng Cần
lao Nhân vị của ông Ngô Đ́nh Nhu mà không tạo lập được một đảng cầm
quyền thay thế có cơ sở chính trị và một hệ thống cán bộ chống cộng
hữu hiệu như đảng bị giải thể. V́ vậy, tác giả đă coi cố Tổng thống
Diệm là “một vị lănh đạo quốc gia cuối cùng có thế lực nhất của miền
Nam Việt Nam và cuộc đảo chính năm 1963 để trừ khử ông ta và bào đệ
Ngô Đ́nh Nhu là một thảm kịch không chỉ riêng cho miền Nam Việt Nam
mà c̣n cho Hoa Kỳ nữa.” (trang 90)
Cũng ở trong góc độ trên, tác giả trích dẫn một câu nói của William
Colby, lúc đó đang là giám đốc Viễn Đông Sự Vụ của Cơ Quan T́nh Báo
Trung Ương CIA Hoa Kỳ: “Bây
giờ mới thấy là Kỳ quặc (incredible)
việc chúng ta quyết định trừ khử ông Diệm mà không cẩn thận xét đến
một loại chính quyền nào đó để thay thế ông ta… Sự rối loạn và hỗn
trị (chaos and anarchy)
nhiễm sâu vào cơ cấu chính quyền Việt Nam thời đó và làm nó tan ră.
Theo các cuộc đánh giá, rơ ràng là t́nh h́nh xuống dốc rất nhanh
trong năm 1964 và chúng tôi ước tính cộng sản sẽ thắng cuộc chiến
vào năm 1965. Chúng đă bắt đầu di chuyển những đơn vị chiến đấu của
chúng – không chỉ những phần tử thâm nhập - mà c̣n cả những binh
đoàn tác chiến dọc theo Đường Ṃn Hồ Chí Minh vào mùa thu 1964 để
xây dựng một lực lượng quân sự nhằm dứt điểm chiến tranh.”
(trang 90)
Mối đe doạ trên của quân đội Bắc Việt đă là một động cơ thúc đẩy
H.K.phải can thiệp mạnh mẽ hơn và trực tiếp hơn vào Việt Nam. Theo
ông Colby, Tổng Thống Johnson vốn là
“một người Texas ngoan cường và
cứng rắn nên không thể để cho thảm hoạ xẩy ra”.
V́ vậy, cuộc leo thang quân sự của H.K. khởi sự từ thời Kennedy một
cách ḍ chừng và hạn chế (khoảng 20,000
người) nay trở nên dứt
khoát và ồ ạt hơn, chạy theo cuộc leo thang chiến tranh ngày càng
mạnh mẽ và quyết tâm của CSVN và cộng sản quốc tế. Ngày 2/8/1964, Bộ
Tư Lệnh Thái B́nh Dương của Hoa Kỳ báo cáo với Washington là khu
trục hạm USS Maddox bị ba hải tốc đĩnh Bắc Việt tấn công ở hải phận
quốc tế thuộc vịnh Bắc Bộ. Hai ngày sau, ngày 4/8/1964, vào nửa đêm,
Washington lại nhận được báo cáo thứ hai là một hải tốc đĩnh cộng
sản vừa tấn công vào hai khu trục hạm USS Maddox và Turner ở cách bờ
biển Bắc Việt 55 dặm. Ngày 5/8/1964, vào lúc 11giờ sáng, để trả đũa,
64 khu trục cơ Hải quân H.K. giội bom xuống thành phố Vinh của Bắc
Việt, mở đầu cho kế hoạch hành quân 37- 64 mà cũng là sự tham dự
không có tuyên chiến của H.K. vào cuộc chiến tranh Việt Nam thứ hai.
Hai ngày sau, ngày 7/8/1964, “Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ” được
Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua với một đa số kỷ lục
(Hạ Nghị Viện: 416 – 0, Thương Nghị Viện: 88 – 2) (trang 97).
Ngày 8/3/1965, hai tiểu đoàn
Thuỷ Quân Lục Chiến H.K.đổ bộ lên Đà Nẵng, mở đầu cho sự tham chiến
bằng bộ binh của H.K. tại Việt Nam. Cho đến hết nhiệm Kỳ của Tổng
Thống Johnson (ngày 20/1/1969),
sự leo thang quân sự của Hoa Kỳ như sau:
82.000 quân cho đến cuối tháng
4/1965;
120.000 quân cho đến cuối tháng
8/1965;
184.000 quân cho đến cuối 1965;
300.000 quân cho đến tháng 6/1966
và trên 500.000 quân cho đến cuối năm
1967. (trang 103)
Một câu hỏi được đặt ra ở đây là, trước một lực lương Mỹ đông đảo và
hùng hậu như trên, tại sao Bắc Việt có thể gia tăng áp lực quân sự
của chúng tại miền Nam Việt Nam một cách mạnh mẽ và mau chóng như
vậy? Chẳng lẽ do một phép thần thông nào đó của Hà Nội, đội quân âm
binh đó đă bỗng dưng nhô lên từ trong ḷng đất? Theo tác giả, dựa
vào sự phân tích của sử gia Mỹ Norman B. Hannah, nguyên nhân chính
của mối đe doạ trên của cộng sản là, qua việc kư kết Hiệp định
Genève 1962 nhằm trung lập hoá nước Lào, Hoa Kỳ đă bỏ ngỏ biên giới
Việt Lào và như vậy đă mặc nhiên để Hà Nội tự do khai thác và mở
mang Đường Ṃn Hồ Chí Minh ngay trên lănh thổ Lào thành một hành
lang tiếp vận quân bị và nhân lực quan trọng cho bộ đội miền Nam của
chúng. Trong 6 tháng cuối năm 1964, số quân Bắc Việt xâm nhập lên
đến 34.000. Với sự bổ sung lực lượng này, Cộng Sản mở một loạt những
cuộc tấn công quan trọng vào các tiền đồn của QLVNCH dọc theo biên
giới Cao Nguyên Trung phần và tại châu thổ sông Cửu Long. Quân du
kích Việt cộng tiến sát tới ṿng đai biệt khu thủ đô Sàig̣n - Chợ
Lớn – Gia Định và đồng thời mở những cuộc đột kích phá hoại vào các
căn cứ không quân Mỹ ở khắp nước. (trang
98)
Tính đến hết năm 1965, tổng số quân cộng sản tại miền Nam là
120.000, kể cả bốn sư đoàn chủ lực Bắc Việt, được khối cộng sản quốc
tế trang bị những vũ khí hiện đại và có khả năng chuyển sang vận
động chiến. Địa bàn hoạt động của chúng nay mở rộng trên quy mô toàn
quốc, từ vùng Tây Nguyên Trung phần đến vùng đồng bằng sông Cửu
Long, với những chiến khu được thiết lập tại các tỉnh Biên Hoà, Tây
Ninh, B́nh Dương và những mật khu Tam Giác Sắt, Long Nguyên tại Tỉnh
B́nh Long và Rừng Sát ở sát Sàig̣n (trang
104). Tất cả đan kết thành
một trận tuyến da beo, có những đường giao liên chằng chịt với nhau,
và có khả năng đe doạ sự tồn tại của VNCH, lúc đó đang phải gánh
chịu một nhịp độ tổn thất là mỗi tuần mất một tiểu đoàn. Tuy nhiên,
nhờ vào sự tăng cường ồ ạt của QLVNCH lên tới một triệu quân vào
cuối năm 1967 và chiến lược “Lùng và Diệt” của Đại tướng Mỹ
Westmoreland, cuộc tấn công của quân đội cộng sản bị chặn đứng và
những thành phần chủ lực của chúng bị đẩy lui về những sào huyệt tại
Căm Bốt và Lào của chúng.
4 - Mà nói đến sự hiện diện từ năm này qua năm khác của những sào
huyệt ấy của cộng sản, hay đúng hơn là những thánh địa an toàn, là
nói đến tính cực kỳ phi lư của cuộc chiến tranh Đông Dương thứ hai
do Mỹ tự gây ra cho ḿnh. Trước hết, như đă nói ở trên, việc Mỹ bỏ
ngỏ vùng biên giới Việt Lào kể từ năm 1962 là một thứ hộ chiếu an
toàn (safe conduct)
cấp cho Hànội để chúng chuyển quân và vũ khí vào miền Nam Việt Nam
theo đường ṃn Hồ Chí Minh nhằm phục vụ mục tiêu chiến tranh trường
kỳ của chúng. Sự kiện này, ngoài giúp cho chúng rút ngắn thời gian
chuyển vận từ sáu tháng xuống c̣n một tháng rồi một hai tuần - Đường
ṃn Hồ Chí Minh v́ vậy đă được gọi là Tốc lộ Sullivan
(tên của vị Đại sứ Mỹ tại Lào, một tác giả của
Hiệp định Trung lập hoá Lào)
– c̣n tạo điều kiện cho chúng xây
dựng những hậu cứ để dưỡng quân, bồi đắp những tổn thất rồi từ đó
trở lại đánh phá miền Nam Việt Nam.
Không phải Mỹ không nh́n thấy hiểm hoạ này, nhưng chủ quan họ tin là
họ có khả năng hoá giải nó với một chủ trương leo thang quân sự từng
nấc, dựa trên một quan niệm chiến tranh pḥng thủ và cục bộ
(trang 91). Thực tế đă
chứng minh ngược lại: Với sự bỏ trống phía Đông Lào của tuyến tưởng
tượng Harriman cho Pathet Lào (xem bản đồ
trang 115), vói việc tiến
hành một cuộc chiến tranh ngầm (tacit war)
bằng cách tung các toán biệt kích vào quấy phá những hậu cứ địch ở
Lào, và với sự không yểm của chiến dịch Sấm Rền
(Rolling Thunder)
đă thả xuống Đường ṃn Hồ Chí Minh từ năm 1965 đến năm 1968 một khối
lượng bom là 643.000 tấn, (trang 106)
sách lược quân sự này của Mỹ đă không ngăn chặn được những làn sóng
tiếp vận của Bắc Việt cho cánh quân miền Nam của chúng.
Lư do của sự thất bại trên là, dù có dữ dội đến đâu chăng nữa, một
chiến dịch không tập không thể đơn phương giải quyết được chiến
trường, nhất là ở một địa h́nh rừng núi hiểm trở như vùng Hạ Lào. Nó
cần có sự phối hợp dưới đất của một lực lượng bạn có mặt ở ngay
chiến trường, đủ mạnh để cầm cự những đợt tấn công đầu tiên của địch,
rồi phản kích và truy quét chúng một khi chúng đă bị không quân bạn
gây cho những tổn thất nặng nề. Nói rơ hơn, để giải toả áp lực địch
ở miền Nam, lẽ ra Washington đă phải cho thực hiện kế hoạch của Đại
tướng Westmoreland là đánh thẳng vào đầu của áp lực ấy. Một số điểm
chính của kế hoạch này đă được tác giả tŕnh bày ở những trang 106
và 107: “… Tướng Westmoreland cho rằng những cuộc ném bom
xuống Bắc Việt và Đường ṃn Hồ Chí Minh sẽ không mang đến kết quả
khả quan hơn một cuộc phong toả Đường số 9 bằng những lực lượng trên
bộ. Ông ta đề nghị Lục quân Mỹ xâm nhập sâu vào lănh thổ Lào để cắt
đứt huyết lộ tiếp vận cho cánh quân cộng sản miền Nam Việt Nam của
Hà Nội… Kế hoạch của ông ta là sửa chữa và mở rộng xa lộ quốc tế số
9 từ Quảng Trị ở phía Bắc VNCH xuyên qua trung bộ của vùng cán chảo
Lào đến tận Savanakhet nằm ở tả ngạn sông Mekong. Ông ta ước tính
dùng một lực lượng tối thiểu là cấp quân đoàn gồm ba sư đoàn để giữ
đoạn đường ấy. Trận tuyến đông-tây của Westmoreland, nếu được
Washington chấp thuận, sẽ nằm thẳng góc với pḥng tuyến Harriman và
cắt đứt Đường ṃn Hồ Chí Minh ở phần Hạ Lào. Và như vậy cuộc chiến
(chủ yếu)
sẽ trở thành một trận thư hùng trên chiến tuyến đường số 9, và trên
thực tế nó sẽ biến thành một cuộc xâm lược vào nước Lào của cộng sản
Bắc Việt.
Kế hoạch Westmoreland được giới tướng lănh Mỹ
(trong đó có Trung tướng Lewis W. Walt, lúc đó là Tư lệnh Lực
lượng Thuỷ quân Lục chiến Hoa Kỳ tại Quân khu I VNCH gồm 73.000
người) đánh giá là hợp lư
và khả thi. Nó sẽ giúp nhổ đi những u ác tính đỏ tại Lào trước khi
chúng trở thành di căn, cắt đứt ống tiếp sinh cho bộ đội miền Nam
Việt Nam của Hà Nội khiến bọn này sẽ héo hon và dễ bị liên quân Việt-
Mỹ tiêu diệt tại chỗ. Và như vậy có khả năng cao là vụ tổng tấn công
Tết Mậu Thân 1968 của cộng sản đă không xẩy ra và do đó đă không tạo
một cái cớ cho phong trào phản chiến Mỹ bung nổ dữ dội và quy mô để
trở thành một nguyên nhân then chốt của sự thất bại chính sách về
Đông Dương của chính quyền Hoa Kỳ.
Xét rộng ra, kế hoạch Westmoreland (đưa ra
vào đầu năm 1968) - nếu
cần sẽ được tăng cường bằng kế hoạch phong toả hải cảng Hải Pḥng
được Đô đốc Tư lênh Lực lưọng Thái B́nh Dương Harry D. Felt đề nghị
vào cuối năm 1963 - sẽ bẻ gẫy được sách lược chiến tranh trường Kỳ
vốn là sở trường của công sản nhưng lại là sở đoản của một quốc gia
dân chủ như Mỹ, bởi v́ những định chế lâu đời và ḷng người dân ở
đây không cho phép chính quyền theo đuổi một cuộc chiến dài lâu như
vậy. Đồng ư là sớm muộn cũng phải có một giải pháp hoà b́nh cho cuộc
chiến Việt Nam, nhưng nếu được thực thi, Kế hoạch Westmoreland sẽ
giúp cho Hoa Kỳ và VNCH dắt tay nhau bước vào pḥng hội nghị Paris
nhất trí hơn, chững chạc hơn, bước vào từ thế mạnh có được tại chiến
trường chứ không phải cung cách đi đêm lén lút với Lê Đức Thọ của
một Kissinger thực dụng đến tráo trở, vô luân, hấp tấp kí kết một
hoà ước bán đứng miền Nam Việt Nam cho Hà Nội.
Nay, với những tài liệu mật được phổ biến về sự rạn nứt giữa Liên Xô
và Trung Cộng và về thực lực của CSVN thời đó, chúng ta thấy cách lư
giải trên hợp lư. Cái hợp lư có cơ sở vững chắc v́ xuất phát từ một
phân tích đúng đắn thực tiễn chính trị và tương quan lực lượng lúc
đó (1966).
Nhưng đầu mối của bi kịch Việt Nam là những người làm ra chính sách
tại Washington đă không nh́n ra điều hợp lư ấy. Họ là nhóm cố vấn
dân sự thân cận với Tổng Thống Mỹ Johnson, những “chuyên gia” có
tiếng nói cuối cùng về Đông Dương nhưng lại có một tầm hiểu biết rất
hạn chế về thực địa này. Họ được giới truyền thông đại chúng Mỹ gọi
là “Nhóm Ăn trưa” (Lunch Bunch),
hiểu như nhóm những thực khách mỗi Thứ ba đến họp với Tổng thống tại
Toà Nhà Trắng để vừa ăn trưa vừa bàn thảo và đưa ra những quyết định
then chốt về cuộc chiến Đông Dương. Điểm nghịch lư là không có một
nhà lănh đạo quân sự H.K. nào, kể cả vị tướng Tham Mưu Trưởng Liên
Quân hay tham mưu Trưởng Quân Chủng được mời tham dự những buổi ăn
trưa đó (trang 92).
Về hậu quả của thái độ miệt thị giới quân nhân và giành lấy độc
quyền chỉ đạo cuộc chiến của Nhóm Ăn Trưa, sử gia Mỹ H.R. McMaster
viết: “Cuộc chiến thua ngay
tại Washington D.C., ngay trước khi Mỹ đơn phương tự nhận trách
nhiệm tham chiến vào năm 1965…, trước khi những đơn vị Mỹ đầu tiên
được phối trí tại Việt Nam.”
(trang 93)
Nhưng nghĩ cho cùng, nguyên nhân gốc rễ của cuộc thảm bại là các vị
tổng thống Mỹ kế tiếp nhau kể từ Tổng thống Kennedy thay v́ lựa chọn
một phương hướng tấn công mạnh dạn như Kế hoạch Westmoreland chẳng
hạn lại nghe theo những khuyến cáo về một sách lược chiến tranh
pḥng thủ cục bộ của những tham mưu dân sự của họ. Thực chất đây là
một lựa chọn chủ bại dựa trên một giả thuyết sai - nỗi sợ hăi quá
đáng – là Trung Cộng sẽ trực tiếp nhảy vào tham chiến nếu chiến
tranh mở rộng ra ngoài biên giới VNCH. Thực tế đă phủ nhận giả
thuyết này: Trước sự leo thang ồ ạt chiến dịch ném bom xuống ngay
sát biên giới Việt Trung và cuộc phong toả hải cảng Hải Pḥng năm
1972 của H.K., Trung Cộng đă chỉ phản đối lấy lệ chứ không dám mang
quân vào giúp đỡ CSVN. Thứ nữa việc mở rộng chiến tranh trên của Mỹ
ra tới lănh thổ và lănh hải Bắc Việt cũng đă không làm cho Trung
Cộng và Liên Xô ngồi sát lại gần nhau như Nhóm Ăn trưa trước kia đă
dự đoán. Lư do của thái độ tự kiềm chế này của Bắc Kinh là v́ ưu
tiên hàng đầu của họ lúc đó không phải là cộng sản Việt Nam hay liên
minh với Liên Xô mà là hoà hoăn với H.K.để vừa phát triển kinh tế
vừa chống lại Liên Xô.
Ngoài ra c̣n một lư do khác tại sao Trung Cộng không c̣n mặn ṃi với
CSVN như kiểu “môi hở răng lạnh” trước kia nữa là v́ họ đă nh́n ra
khuynh hướng thân Liên Sô của tập đoàn Lê Duẩn – Lê Đức Thọ và ư đồ
của bọn này muốn biến Đông Dương thành một pḥng luỹ chống Trung
Cộng của Liên Xô. Đây là một yếu tố quan trọng mà nếu được khai thác
linh động th́ có thể giúp H.K. mở rộng chiến tranh Đông Dương tới
mức tối đa mà không gây ra một cuộc đụng độ trực tiếp với Trung Cộng
và v́ vậy đă không phải bán rẻ bán đảo này cho CSVN như họ đă làm.
Có thể có người coi lư giải trên là viển vông v́ họ cho rằng Mỹ chỉ
quan tâm tới lợi ích quốc gia của Mỹ chứ không thiết tha ǵ đến sự
sống c̣n của VNCH. Chúng tôi không phủ nhận tính xác thực hiển nhiên
của quan điểm này, nhưng thiết nghĩ cốt lơi vấn đề không phải ở đó
mà là sai lầm H.K. đă phạm phải v́ đă không hiểu rằng cách tốt nhất
để phục vụ lợi ích ḿnh là giúp VNCH đứng vững cho đến khi đạt được
một giải pháp hoà b́nh cho cuộc chiến một cách thoả đáng hơn hoà ước
Paris 1973 mà thực chất chỉ là một sự phủi tay vụng về và phũ phàng,
khiến uy tín trước thế giới của H.K. bị sứt mẻ rất nhiều, phải đợi
đến chiến tranh vùng Vịnh 1991 mới phục hồi được.
Qua “The Tragedy of the Vietnam War”, tác giả muốn làm một cuộc khảo
sử về một bi kịch phi lư là chiến tranh Việt Nam của Hoa Kỳ. Cuộc
chiến tranh này phi lư v́ nó chủ yếu là một diễn tŕnh nhân quả của
những sai lầm đáng tiếc (tức có thể tránh
được) và những cơ hội bị
bỏ lỡ mà một số đă được phân tích ở trên. Chẳng hạn như sai lầm Điện
Biên Phủ 1954 với việc huỷ bỏ vào giờ chót Kế hoạch Kên Kên; sai lầm
trung lập hoá Lào 1962, khiến H.K bị trói tay và không dám cho thực
hiện kế hoạch xẻ ngang Trường Sơn của Westmoreland; sai lầm loại trừ
chính quyền Ngô Đ́nh Diệm mà không tạo dựng được một chính quyền
thay thế hữu hiệu hơn; sai lầm giành độc quyền chỉ đạo chiến tranh
với một quan niệm “đánh không để thắng” hỏng ngay từ căn bản; và sai
lầm không biết khai thác đúng mức và đúng lúc sự rạn nứt bất khả hàn
gắn của khối cộng sản quốc tế, nhất là lúc nội bộ Trung Cộng bị đảo
lộn v́ cuộc Cách Mạng Văn Hoá trong thập niên 1960, để giải quyết
cuộc chiến Việt Nam có lợi cho ḿnh và đồng minh.
Hệ quả của chuỗi sai lầm nhân quả trên của Mỹ là sự bùng nổ của biến
cố Tết Mậu Thân 1968 mà nay nh́n lại th́ thấy đó là tiếng gióng đầu
tiên của hồi chuông báo tử của VNCH. V́ ư nghĩa lịch sử của biến cố
này mà tác giả đă để dành nguyên chương 9 của sách
(trang 115 - 124)
để phân tích nguyên nhân và ảnh hưởng của nó đến tiền đồ cuộc chiến.
5 - Biến cố Tết Mậu Thân 1968 là do
cộng sản khởi xướng trong lúc đă có thoả thuận hưu chiến song phương
để nhân dân Việt Nam được ăn mừng năm mới trong hoà b́nh và được
chúng gọi là cuộc “Tổng Công kích và Tổng Nổi dậy Tết Mậu Thân”. Đây
là lư do tại sao chúng đă gây được yếu tố bất ngờ cho QLVNCH và Quân
đội Mỹ ở nhiều nơi trên toàn quốc. Tuy không tạo được một cuộc tổng
nội dậy của nhân dân miền Nam Việt Nam như chúng đă dự trù, cuộc
tổng tấn công quân sự của cộng sản chứng tỏ chúng đă nắm được thế
chủ động mặc dù phải đương đầu với một lực lượng khổng lồ gồm một
triệu quân VNCH và nửa triệu quân Mỹ và đồng minh. Một nguyên nhân
cơ bản của thành tích này của cộng sản, như đă nói ở trên, là việc
Nhóm Ăn Trưa của Toàn Bạch Ốc đă cột buộc đội quân liên minh ấy vào
một sách lược chiến tranh hạn chế và pḥng thủ. C̣n một nguyên nhân
khác nữa: Tính mâu thuẫn tự thân của chủ thuyết “vừa súng vừa bơ”
(ám chỉ chương tŕnh Great Society)
của Tổng Thống Lyndon Johnson. Mâu thuẫn này đă khiến Mỹ không dốc
toàn lực và toàn tâm được để giải quyết chóng vánh và thoả đáng cuộc
chiến VN mà ông ta gọi là “cuộc chiến chó đẻ”.
Về mặt thuần tuư quân sự, biến cố Tết Mậu Thân là một thất bại nặng
nề của cộng sản. Trước hết, số tổn thất chúng phải hứng chịu là
32.000 tử trận và 5000 tù binh, (trang 122)
tương đương với quân số của bốn sư đoàn cộng sản. Một tổn thất mà
cho măi tới bốn năm sau (1972)
chúng mới bồi đắp được. Thứ nữa, dự định chiếm giữ Huế để làm thủ đô
cho Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời miền Nam của chúng không thành h́nh
v́ bị liên quân Việt Mỹ đánh bật ra khỏi thành phố này sau 24 ngày
tạm chiếm nó. Về thành tích của QLVNCH, tác giả trích dẫn lời tuyên
bố của Đại Tướng Westmoreland:
“Quân đội miền Nam Việt Nam, cùng
với những thành phần vơ trang khác như lực lượng địa phương quân,
nhân dân tự vệ và cảnh sát quốc gia, đă góp công lao lớn nhất để đẩy
lui cuộc tiến công của địch, bởi v́ họ phải hứng chịu phần ác liệt
nhất của cuộc tấn công ấy.” (trang 122)
Về lư do tại sao cộng sản thất bại, tác giả trích dẫn nhận định của
Đại Tướng Frederic C. Weyand, một nhân vật có thẩm quyền và uy tín,
được nhiều người kính nể:
“Trước hết v́ cách tấn công ở khắp nơi và trong cùng một lúc, họ
(quân cộng sản)
đă phải phân tán mỏng lực lượng và (như vậy)
đă phải chuốc lấy thất bại ở
từng mỗi nơi. Thứ nữa, và đây là điều quan trọng nhất, họ đă tự tin
vào những lời tuyên truyền của chính ḿnh và nghĩ rằng sẽ có “cuộc
tổng nổi dậy vĩ đại” của nhân dân Việt Nam, lũ lượt chạy sang phía
họ (flock to their banner).
Đồng ư là đă có một cuộc tổng nổi dậy vĩ đại, nhưng là để chống lại
họ thay v́ ủng hộ họ. Đại đa số nhân dân miền Nam Việt Nam không
muốn dính dáng ǵ tới Việt Cộng cả. (Và)
trong suốt quá tŕnh cuộc chiến chưa hề có một cuộc đào ngũ hàng
loạt nào của nhân dân miền Nam. Nhưng có một điều thích thú cần được
ghi nhận là, sau cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân, đă có trên 150.000
lính Việt cộng đào ngũ sang phía chúng ta. (trang
124)
Nhưng ư đồ của Hà Nội khi mở cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân 1968
chủ yếu không phải để giành chiến thắng quân sự mà để phục vụ những
mục tiêu chính trị và tâm lư như Nghị Quyết 14 của Đảng Lao Động
(tiền thân của đảng CSVN)
chỉ cho thấy. Mục tiêu chính trị của chúng là nhằm tiến tới bàn hội
nghị để thương thuyết về việc thành lập một “chính phủ trung lập”
cho miền Nam Việt Nam trong đó VNCH phải chia sẻ quyền hành với công
cụ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của Bắc Việt.
Một lư do khác tại sao cộng sản đă chọn dịp tết Nguyên Đán 1968 để
mở cuộc tấn công là v́, như Vơ Nguyên Giáp đă tuyên bố, đó là thời
điểm rất thuận lợi để Hà Nội khai thác mùa tranh cử tổng thống và
phong trào phản chiến đang bắt đầu nở rộ tại Mỹ. Kết quả là chúng đă
thắng lớn trong mục tiêu này: Biến cố Tết Mậu Thân 1968 đă gây nên
một chấn động tâm lư nơi người dân Mỹ khi họ được chứng kiến trên
màn ảnh vô tuyến truyền h́nh những cảnh đổ vỡ hoang tàn và chết chóc
thê thảm của cuộc chiến Việt Nam, với những xác lính Việt cộng nằm
ngổn ngang trên đường phố Sàig̣n và ngay trong khuôn viên Toà Đại Sứ
Mỹ trên Đại Lộ Thống nhất.
Cuộc tiếp xúc với bộ mặt thật ghê tởm và buồn thảm của chiến tranh,
mà ấn tượng đậm nét nhất là cảnh những bao xác lưnh Mỹ
(body bags)
hiện lên trên màn ánh tivi, đă làm thay đổi tâm tư người dân Mỹ về
chiến tranh, từ một cảm thức về tính phi lư của nó trở thành ghét nó
và chống nó. Đó là nguyên nhân sâu xa của sự bùng nổ phong trào phản
chiến Mỹ trong năm 1968 với giới thanh niên đại học làm lực lượng
xung kích. Nhưng cuộc phản kháng này không chỉ đơn thuần để chống
chiến tranh mà c̣n để phủ nhận những giá trị truyền thống nặng tính
thanh giáo của lối sống Mỹ, về xă hội cũng như về t́nh dục, như để
tóc dài, mặc quần ống loa rách ruởi, phụ nữ không đeo nịt vú hoặc để
ngực trần cho con bú nơi công cộng, chủ trương lối sống “hippy”, tự
do luyến ái, “làm t́nh thay v́ tiến hành chiến tranh”, vân vân và
vân vân. Hơn nữa, cuộc phản kháng c̣n xuất phát từ một khủng hoảng
niềm tin vào giới lănh đạo chính trị, thách thức uy quyền chức vị
tổng thống và như vậy đe doạ đến thể chế chính trị Hoa Kỳ.
Với sự hậu thuẫn tích cực của giới truyền thông đại chúng Mỹ vốn có
định kiến với VNCH, phong trào phản kháng trở thành một thứ đệ tứ
quyền có ảnh hưởng quyết định đến tiền đồ cuộc chiến Việt Nam. Và từ
bấy giờ trở đi số phận VNCH được định đoạt ở trong khuôn viên những
trường đại học và ngoài đường phố những đô thị Mỹ chứ không phải tại
chiến trường Việt Nam. Áp lực quần chúng ngày càng gia tăng, khiến
Tổng thống Johnson phải từ bỏ ư định ra tranh cử nhiệm kỳ thứ hai
của ḿnh, băi nhiệm Đại tướng Westmoreland, chấp nhận yêu sách mở
hoà đàm tại Paris của Hà Nội và như vậy mở đầu cho sự giải kết khỏi
Việt Nam của Hoa Kỳ.
Nói tóm lại, dựa vào ư kiến của một số sử gia Mỹ, tác giả kết luận:
“… Việc
(các nhà lănh đạo Mỹ)
thiếu ư chí, thiếu một khái niệm về chiến thắng, và việc họ chọn lựa
một chính sách sai lầm về chính trị, đă cuối cùng làm cho nhân dân
Mỹ chống lại cuộc chiến. Trận chiến thực sự mà ông Johnson đă tự
chọn lấy và đă thua là trận chiến chinh phục ḷng người dân Mỹ chứ
không phải trận tấn công Tết Mậu Thân tại miền Nam Việt Nam của cộng
sản.”
(trang 124)
6 - Phong trào phản chiến Mỹ có tác dụng của một bàn tay mở nắp
chiếc hộp Pandora chứa đầy những điềm dữ cho cuộc chiến chống cộng
tại Đông Dương và cho chính sự tồn tại của VNCH mà tính chính thống
vừa được xác định bởi cuộc tổng tuyển cử tháng 10/1967, được coi là
tự do nhất trong lịch sử đất nước. Nhưng mối quan tâm hàng đầu của
tân Tổng thống Richard Nixon không phải là tính dân cử hợp hiến của
VNCH mà là soạn thảo một kế hoạch triệt thoái khỏi Việt Nam mà ông
gọi là “việc giải Mỹ hoá tuần tự”
(progressive de-Americanization)
và tái lập “hoà b́nh trong danh dự”
cho nước Mỹ.
Nghĩ cho cùng, ông khó mà làm khác đi được v́ hai lư do: Trước hết,
ông phải kế thừa một di sản nặng nề của hai vị tổng thống tiền nhiệm,
với một nội t́nh Mỹ phân hoá gay gắt sau hai vụ ám sát Thượng Nghị
sĩ Robert Kennedy và nhà đấu tranh nhân quyền Martin Luther King,
nên ông chẳng c̣n mấy bụng dạ để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ
tại Việt Nam; thứ nữa – đây là một nhân tố quyết định – ông c̣n phải
đối phó với sự leo thang của một cuộc chiến khác ngay tại nước Mỹ,
sự bùng nổ ngày càng dữ dội và quy mô, chưa từng có trong lịch sử
nước này, của phong trào phản chiến như vừa được nói qua ở trên
(trang 127).
Một ảnh hưởng xấu của phong trào này là nó làm dao động rất nhiều
tinh thần chiến đấu của người lính GI Mỹ tại Việt Nam mà đa số là
lính quân dịch và tạo nên một phong trào trốn tránh nghĩa vụ quân sự,
đốt thẻ trưng binh, hoặc nạn đào ngũ hàng loạt như sau: 250.000 sinh
viên trốn ghi danh quân dịch; 1.000.000 công khai chống quân dịch;
25.000 người trong đám này bị kết tội và 3.000 người bị bỏ tù, và
gần 100.000 người khác đào tị sang Mexico, Canada và Thuỵ Điển.
(trang 127)
Kế hoạch giải kết khỏi Việt Nam của Nixon nhắm hai mục tiêu:
- Một, tăng cường hoà hoăn với Liên
Xô (qua việc kư kết Hiệp Ước Hạn Chế Vũ Khí
Chiến Lược SALT) và với
Trung Cộng (qua nỗ lực b́nh thường hoá quan
hệ ngoại giao với nước này),
hi vọng rằng hai quốc gia cộng sản khổng lồ này sẽ v́ thế mà cắt
giảm viện trợ cho CSVN của họ, khiến H.K. có thể t́m được một giải
pháp chấm dứt cuộc chiến Việt Nam một cách thoả đáng;
- Hai, đồng bộ với việc làm trên,
chuyển giao trách nhiệm cuộc chiến cho VNCH qua đẩy mạnh chương
tŕnh Việt Nam hoá, song song với việc gia tăng áp lực quân sự lên
Bắc Việt
Trên thực tế, kế hoạch Nixon thất bại v́ dù được hoà hoăn với H.K.,
Liên Xô và Trung Cộng vẫn không ngừng tăng viện cho CSVN và v́
chương tŕnh Việt Nam hoá chiến tranh đă bị phá hỏng ngay từ đầu bởi
một chủ trương lệch lạc, để đừng nói là thiếu thành tâm, của Hoa Kỳ.
Sở dĩ chúng tôi nhận định như vậy là v́ với cương vị một thuyết
tŕnh viên thường trực và lâu năm của Uỷ Ban Liên Hợp Việt-Mỹ về
hiện đại hoá Không lực VNCH (KLVNCH),
chúng tôi đă hiểu được thực chất của chương tŕnh này.
Trước hết, phía Mỹ nắm quyền quyết định tuyệt đối về nội dung của
chương tŕnh. Chẳng hạn, để đáp ứng yêu cầu của KLVNCH được trang bị
những loại vũ khí hiện đại, thích nghi với chiến t́nh ngày càng leo
thang từ phía cộng sản, đối tác Mỹ đă chỉ chấp thuận viện trợ những
loại phi cơ cũ kĩ, chậm chạp, khan hiếm cơ phận thay thế, bảo tŕ
phức tạp, khiến mức khả dụng hành quân bị giảm sút rất nhiều. Để
chứng minh, chúng tôi xin đan cử một vài thí dụ điển h́nh. Thay v́
yêu cầu được trang bị loại khu trục cơ không cận yểm
(close – air support)
A-4 hay A-7, KLVNCH đă chỉ được cung
cấp những loại F-5A, F-5E, A-37 (một huấn
luyện cơ hai chỗ, được một số anh em không quân chúng tôi gọi đùa là
máy bay chở bà xă đi chợ)
mà khả năng tác chiến và chở bom đạn thua xa hai loại A-4 và A-7.
Về không tải, việc hiện đại hoá không kém phần hài hước. Trên danh
nghĩa, KLVNCH được trang bị loại “đại bàng” C-130, nhưng trên thực
tế là loại C-130A già khú đế (sản xuất vào
năm 1954), được vội vă
mang ra từ những nghĩa địa không quân, rồi được phục chế để chuyển
giao kịp thời cho KLVNCH. Nghành không thám cũng chịu chung một số
phận hẩm hiu. Nó được mệnh danh là không thám điện tử - một uyển ngữ
nếu nghe từ xa sẽ làm không quân các nước nghèo thèm nhỏ dăi - hiểu
như một cái hộp đen (black box)
điện tử được đặt vào trong bụng một chiếc vận tải cơ C-47, phế tích
của thế chiến thứ hai để lại. Nghịch lư là của cảnh râu ông cắm cầm
bà: V́ tốc độ chậm ŕ của chiếc máy bay chở cái hộp nhạy cảm ấy, phi
công phải nâng nó lên ở một độ cao an toàn
(trên 10.000 bộ) để tránh
bị bắn rơi bởi những ṇng cao xạ ngày một hiện đại và chính xác hơn
của cộng sản, nên v́ vậy đă làm giảm sút rất nhiều hiệu năng của
chiếc hộp nh́n trộm nghe lén ấy.
Nay, nếu tính theo phương pháp phân tích phí tổn và hiệu quả
(CEA: Cost and Effectiveness Analysis)
th́ sẽ thấy tính phi lư của kế hoạch hiện đại hoá. Giá một chiếc
C-47 mua từ nghĩa địa là 50.000 đô la (tính
theo thời giá 1970), sau
khi tân trang thành EC-47 (C-47 điện tử),
tổng phí lên tới 1.200.000 đô la, gần bằng giá một phản lực cơ không
thám RF-5E. Nếu so với hiệu quả không thám vừa nêu trên, đây quả là
một phí phạm đến mức điên rồ mà người dân Mỹ đóng thuế phải chịu. Về
nghành khu trục, giá một chiếc A-4 Skyhawk được tân trang tại
Singapore là 300.000 đô la trong khi giá một F-5E là 1.600.000 đô
la; mà như vừa nêu trên, loại sau tuy bay nhanh hơn nhưng không thể
so sánh với loại trên về không cận yểm. C̣n về mặt nghênh cản trên
không (air interdiction),
tốc độ của F-5E là 1,6 Mach trong khi tốc độ của MIG-21D của Bắc
Việt là 2,4 Mach. Sự chênh lệch lớn về tốc độ này cho thấy ưu thế
trên không thuộc về bên nào.
|