Giới Thiệu Tác Phẩm - Sản Phẩm
The Tragedy of the Vietnam War
(3)
MỘT SỐ Ư KIẾN ĐÓNG GÓP SAU KHI ĐỌC
CUỐN
THE TRAGEDY OF THE VIETNAM WAR
CỦA VĂN NGUYỄN DƯỠNG
Cung Trầm Tưởng
T́nh h́nh hiện đại hoá của hai quân
chủng Lục quân và Hải quân cũng không khả quan hơn. Chúng tôi xin
đan cử một vài thí dụ điển h́nh. Măi đến năm 1969 Bộ binh VNCH mới
được trang bị loại súng trường M16 trong khi bộ đội Bắc Việt đă sử
dụng loại AK47 hiện đại từ nhiều năm trước đó. Loại chiến xa M48 chỉ
được Mỹ chuyển giao cho Thiết giáp VNCH vào cuối năm 1972 nhưng lại
bị tháo gỡ bộ phận tác xạ bằng radar, khiến tăng thủ Việt Nam phải
bắn bằng mắt trần! Về phía Hải quân VNCH, trận liệt đa số gồm những
phế tích của thế chiến thứ hai, cổ lỗ. chậm chạp, khó thao tác và
bảo tŕ, kể cả bốn khu trục hạm loại Clark được coi như mũi xung
kích trên đại dương của Hải quân VNCH. Hậu quả là chúng ta đă thua
Hải quân Trung Cộng trong trận hải chiến chung quanh đảo Hoàng Sa
ngày 19/1/1974 chỉ v́ Mỹ đă không muốn trang bị cho chiến hạm của
chúng ta một khả năng pháo chiến thích hợp và dẫn dắt phi cơ bằng
radar - yếu tố này rất quan trọng - để đánh ch́m các chiến hạm địch.
Người ta sẽ thắc mắc hỏi tại sao lại có những chuyện phi lư như trên?
Lư do là v́ Mỹ thiếu thành tâm và v́ theo truyền thống chính sách
quân viện miễn phí cho các nước đồng minh nghèo của ḿnh, Mỹ không
muốn các nước này có một quân đội đủ mạnh để tự bảo vệ lấy và như
vậy sẽ có khuynh hướng độc lập đối với Mỹ. Để chứng ḿnh tính phi lư
của chính sách quân viện này cho VNCH, chúng tôi xin đan cử một thí
dụ điển h́nh, vụ vận tải cơ C-130A. Lầu Năm Góc đă giao nhiệm vụ tân
trang loại phi cơ cũ kĩ này (32 chiếc được
chuyển giao cho KLVNCH)
cho một hăng thầu dân sự Mỹ đảm nhận. Đối với hăng này, mục tiêu
chính là đạt lợi nhuận tối đa hơn là bảo đảm phẩm chất chương tŕnh.
Một số không ít những chuyên viên họ gửi sang Việt Nam để giúp
KLVNCH bảo tŕ loại phi cơ ấy là những thợ điện gia dụng, thợ hàn,
thợ sửa ống nước, thợ sửa xe hơi, được tuyển từ ngoài dân sự. V́ vậy,
điều tréo cẳng ngỗng xảy ra là các ông huấn luyện viên Mỹ đă phải
nhờ các “học tṛ” KLVNCH chỉ dẫn về kỹ thuật bảo tŕ phi cơ!
Nói tóm lại, chính sách Việt Nam hoá chiến tranh khó mà thành công
với một chương tŕnh hiện đại hoá QLVNCH khập khiễng như trên. Ngoài
ra, do việc rút ngắn thời gian thực hiện từ bốn năm xuống c̣n hai
năm rưỡi v́ áp lực của phong trào phản chiến Mỹ đ̣i phải rút quân
ngay về nước và áp lực của quốc hội Hoa Kỳ hối thúc phải kí một hoà
ước với Hà Nội càng sớm càng tốt, chương tŕnh hiện đại hoá QLVNCH
bị dồn nén đến mức trở thành cấp tập và bôi bác – làm cho xong
chuyện để sớm về nước, rồi “quên Nam”
(forget Vietnam) và đeo
đuổi tiếp “giấc mơ Mỹ”.
Hậu quả là, vào lúc chương tŕnh Enhance plus chấm dứt
(đầu 1973),
QLVNCH bị đặt trước một thực trạng là quân đội Bắc Việt mạnh hơn
QLVNCH cả về nhân lực lẫn hoả lực. Trận liệt CSVN cuối năm 1972 gồm
20 sư đoàn bộ binh, được tùng trợ bởi 20 trung đoàn pháo
(6 sư đoàn tương đương);
trong tổng số này, 10 sư đoàn được gửi vào Nam để “hiệp đồng” tác
chiến với 5 sư đoàn Việt Cộng. (trang 132)
Vũ khí xử dụng hiện đại và đa dạng gồm AK47; cối 60 li và 82 li;
pháo 75 li, 122 li, 130 li và 152 li; cao xạ 12,7 li, 37 li, hoả
tiễn pḥng không SAM 3, AT 3 và SA 7; tăng T 54, PT 76 và BRT 85.
(trang 162)
Trưóc một lực lượng địch hùng hậu như trên, trận liệt phía đồng minh
cho đến cuối tháng 6/1972 gồm 9 sư đoàn Mỹ
(7 Bộ binh +2 Thuỷ quân Lục chiến),
khoảng 4 sư đoàn Đại Hàn, Úc, Tân Tây Lan, và 14 sư đoàn tương đương
VNCH (10 Bộ binh + 1 Thuỷ quân Lục chiến +
1 Dù + 4 Liên đoàn Biệt động quân).
Tổng cộng là 27 sư đoàn, như vậy tương đương với lực lượng tác chiến
của CSVN. Nhưng kể từ tháng 6/1972 trở đi, sau sự ra đi của 13 sư
đoàn Mỹ và đồng minh, cán cân lực lượng đổi thành 14 sư đoàn VNCH
chống 26 sư đoàn CSVN.
Chính sự chênh lệch lực lượng lớn lao này, cộng với sự cắt giảm quân
viện đột ngột và ồ ạt của Mỹ cho VNCH, mới là nhân tố quyết định của
cuộc chiến chứ không phải những cái Hà Nội rêu rao như t́nh yêu nước,
yêu đảng cao độ của nhân dân, sức mạnh của ư hệ Mác – Lê và tư tưởng
Hồ Chí Minh, tính đúng đắn của chiến tranh cách mang nhân dân, vân
vân và vân vân. Bởi v́ nói ǵ th́ nói, số phận cuộc chiến Việt Nam
trên thực tế chủ yếu đă được định đoạt bằng bạo lực thô tháp và trần
trụi của súng ống chứ không phải bằng sức mạnh của thứ vũ khí mềm
trên mà Hà Nội đă huyênh hoang tuyên truyền và đă thuyết phục được
một số không ít người nước ngoài.
Nói cách khác, VNCH thua v́ H.K.đă không thực tâm giúp QLVNCH hiện
đại hoá để có khả năng đối đầu với một địch thủ được cộng sản quốc
tế vũ trang đến tận răng. Thực chất Việt Nam hoá chiến tranh chỉ là
một cái cớ để H.K. rút ra khỏi ngục lửa và giao củ khoai nóng
(hot potato: vấn đề nan giải)
lại cho người bạn đồng minh bé nhỏ và lâu đời của ḿnh để bạn ta tự
xoay xở lấy. Việt Nam hoá chiến tranh, đối với Kissinger, chỉ là một
màn phụ diễn (sideshow)
để Nixon thực hiện cái dự án toàn cầu vĩ đại của ông ta. Việt Nam
hoá chiến tranh chỉ là một thao tác của tên phù thuỷ để đổi mầu
chiến tranh bằng đổi mầu xác chết.
Về cung cách làm ăn của cặp bài trùng Nixon – Kissinger, tác giả
trích dẫn Michael Maclear, một sử gia Mỹ:
“Đó là một Cặp Kỳ dị, “ưa” giấu
giếm những quan điểm, chính sách đường lối của họ
(an Odd Couple with their secretive policy ideas and
methods), khiến không ai rơ
đâu là đầu mối, động cơ chủ yếu của những việc làm liên quan đến
Việt Nam của họ”.
(trang 134)
Riêng về Kissinger, nhân vật chủ chốt gây ra thảm hoạ Việt Nam và là
một người có cá tính tự mâu thuẫn với chính ḿnh, tác giả trích dẫn
nhận xét của Phụ tá Bộ trưởng Quốc pḥng Mỹ Adam Yarmolinsky:
“(quan điểm
của Kissinger) xuất phát từ
một nỗi sợ hoang tưởng (paranoid fear)
về phản ứng của cánh hữu Mỹ trước
việc rút lui (khỏi Việt Nam)…và
ông ta không sẵn sàng chấp nhận cái ông coi là một rủi ro nghiêm
trọng cho người Mỹ. Song ông ta lại sẵn sàng hi sinh tính mạng hàng
vạn người Mỹ và hàng chục vạn người Việt Nam để ngăn chặn cái ông
thấy đang có nguy cơ trở thành một tai hoạ”.
(trang 134)
Và thảm hoạ tập thể đă bắt nguồn từ sự mâu thuẫn nội tại ấy của một
cá nhân. Như trong một bi kịch cổ điển Hi Lạp. Song với một tiểu dị
khủng khiếp:
- 5 triệu thương vong Việt
(cả Bắc lẫn Nam);
- ngót 1 triệu thuyền nhân nịch tử
trên đường vượt thoát t́m tự do;
- hai triệu Khờ Me hiến tế cho giấc
mơ cuồng vĩ của Pol Pot;
- trên 58.000 trận vong Mỹ,
- 150.000 thương binh Mỹ,
- và một hội chứng Việt Nam hằn in
tâm thức.
Và trong triệu triệu văng sinh ấy, đă
mấy ai được mạc mặt, cầu siêu và khâm liệm? Riêng về phía CSVN, cái
chết của hàng trăm ngàn chiến binh “sinh Bắc tử Nam” đă không được
chính quyền Hà Nội thông báo cho thân nhân họ. Đây là một mảnh ch́m
hút thẳm của cái cộng sản gọi là “một cuộc chiến tranh thần thánh”,
chỗ ở vô định của những oan hồn vô danh, những bóng ma u uẩn của một
bi kịch khốc tàn và bội bạc.
7 - Nixon tái đắc cử tổng thống nhiệm kỳ thứ hai
(1969-1973)
với một đa số lớn lao (60.7%).
Một nguyên nhân của sự thắng lợi vẻ vang này của ông ta là trong lúc
tranh cử ông có hứa với nhân dân Mỹ là sẽ chấm dứt cuộc chiến Việt
Nam và mang quân lính Mỹ trở về nước trong một tương lai không xa.
Nhưng với một cuộc chiến cực kỳ phức tạp như cuộc chiến Việt Nam,
thực hiện được điều ông hứa không phải dễ dàng. Đối với ông, điều
quan yếu là phải làm như thế nào để có được cái ông gọi là “hoà b́nh
trong danh dự” (cho nước Mỹ).
Và ông đặt “việc bảo vệ uy tín quốc gia” lên hàng ưu tiên số một
(as the foremost priority)
để giải quyết chiến tranh. (trang 128)
Vốn là một người đầy mưu trí, đảm lược , tự tin và rất ĺ, lại được
hiến kế bởi một Kissinger quỷ quyệt và tháo vát, Nixon không muốn để
những áp lực bên ngoài chi phối chính sách và đường lối giải kết
khỏi Việt Nam của ḿnh. Ông chủ trương leo thang và mở rộng địa bàn
chiến tranh tới mức tối đa để ép Hà Nội phải nhượng bộ tối đa ở bàn
hội nghị. Chẳng hạn trong khoảng từ tháng 4/1969 đến cuối năm 1972,
ông đă ra lệnh cho Không lực Hoa Kỳ ném bom xuống Bắc Việt Nam, Lào
và Căm Bốt một khối lượng bom là 635.000 tấn, tức tương đương với
khối lượng bom của chiến dịch Sấm Rền từ 1965 đến 1968. Ngoài ra,
ông c̣n dự tính cho sử dụng bom nguyên tử nếu Hà Nội ngoan cố. Trên
mặt biển, ngày 8/5/1972, ông cho lệnh Hạm đội 7 Mỹ phong toả hải
cảng Hải Pḥng bằng thuỷ lôi để ngăn chặn tầu bè Liên Xô đến tiếp
viện cho quân Bắc Việt được ước lượng là 65% tổng số quân viện cho
CSVN của toàn khối cộng sản quốc tế (trang
166). Điều mà Nhóm Ăn Trưa
của Tổng Thống Johnson trưóc kia đă lo sợ một cuộc phong toả như vậy
sẽ làm bùng nổ thế chiến thứ ba đă không xẩy ra.
Với những nưóc cờ táo bạo trên, cùng với việc mở rộng chiến trường
sang Cam Bốt với cuộc hành quân Toàn Thắng tháng 4/1970 của liên
quân Việt-Mỹ và sang Lào với cuộc hành quân Lam Sơn 719 đầu năm 1971
của QLVNCH, và với việc đẩy mạnh Chiến dịch Phượng Hoàng để tiêu
diệt hạ tầng cơ sở tại miền Nam Việt Nam của cộng sản, có thể nói
Nixon là vị tổng thống Mỹ diều hâu nhất kể từ sau thế chiến thứ hai.
Song đây cũng là một nguyên nhân chủ yếu của sự phá sản sự nghiệp
chính trị của ông, bởi v́ ông đă không lường trước được mức độ phản
ứng quyết liệt của phong trào phản chiến H.K. và của một Quốc hội
H.K. cũng không kém quyết liệt trong đường lối chống chiến tranh của
họ.
Bi kịch Việt Nam trở thành bi kịch của chính Nixon. Điều trớ trêu là,
sau khi được nhân dân bầu lại với đa số phiếu lớn lao, ông lại bị
chính nhân dân phủ nhận phũ phàng với những cuộc biểu t́nh tuần hành
phản chiến có hàng trăm ngàn người tham dự, thuộc đủ mọi tầng lớp xă
hội, giương cao những biểu ngữ gọi ông là “tên đồ tể khát máu”, là
“con heo”. Đây là một mạ lị công khai chưa từng có trong lịch sử
nước Mỹ đối với một vị tổng thống đương quyền: chất độc thải ra từ
cuộc chiến Việt Nam đă nhiễm sâu vào và làm phân ră cơ cấu xă hội Mỹ.
Tất nhiên CSVN không thể không lợi dụng t́nh trạng nước đục ấy để
thả câu: Chúng thấy rằng đă đến lúc phải đẩy mạnh kế hoạch thôn tính
miền Nam Việt Nam của chúng. Trước hết, để đối phó với cuộc leo
thang chiến tranh không quân tại miền Bắc của Nixon, Hà Nội cho tăng
cường tối đa mạng lưới pḥng không gồm 2000 hoả tiễn SAM đủ loại,
trên 4000 pháo cao xạ ṇng lớn và 200 chiến đấu cơ MIG
(trang 165).
Đồng bộ với việc làm này, Hà Nội đẩy mạnh mức độ xâm lăng và tấn
công vào liên quân Việt Mỹ ở miền Nam của những sư đoàn Bắc Việt
thiện chiến. Ở cao điểm chiến dịch mùa hè đỏ lửa 1972, chủ lực quân
cộng sản tại miền Nam gồm 14 sư đoàn được phân phối như sau:
- 7 sư tại Quân khu I VNCH
(trang 143);
- 3 sư tại Quân khu II VNCH;
- 4 sư tại Quân khu III VNCH, gồm 2
Bắc Việt và 2 Việt cộng (trang 143 - 148);
chưa kể 26 trung đoàn biệt lập và chuyên môn tương đương với 6 sư
đoàn.
Theo tác giả, cuộc chiến trong giai đoạn Xuân 1969 – Hè 1972 là cuộc
đấu trí với hai ngộ nhận giữa Washington và Hà Nội. Nixon cho rằng
sự gia tăng tối đa áp lực quân sự của ông sẽ làm CSVN chùn bước và
phải t́m một giải pháp chính trị cho cuộc chiến
(trang 135).
Nhưng ông đă tính lầm v́
quyết tâm của giới lănh đạo già nua tại Hà Nội rất mạnh và v́ sự tổn
thất của Bắc Việt đă được nhanh chóng bồi đắp bởi mức độ quân viện ồ
ạt của khối cộng sản quốc tế, kể từ năm 1970 trở đi là 3, 5 tỉ đô la
mỗi năm của Liên Xô và 1 tỉ đô la mỗi năm của Trung Cộng
(trang 131).
Ngược lại, Hà Nội cũng hiểu lầm Nixon v́ chúng tin rằng, với sự
chống đối chiến tranh ngày càng mạnh mẽ của nhân dân và Quốc Hội Hoa
Kỳ, Nixon sẽ chỉ có những phản ứng lấy lệ trước cuộc leo thang chiến
tranh của chúng. Thêm vào đó, Hà Nội coi việc giảm quân số Mỹ tại
Việt Nam một cách nhanh chóng và ồ ạt của Nixon
(25.000 trong tháng 7/1969; 60.000 trong tháng
1/1970; 150.000 bắt đầu từ tháng 5/1970, và 9 sư đoàn kể từ tháng
6/1972) là một dấu hiệu
nhụt chí của Nixon.
Việc Hà Nội hiểu lầm quyết tâm của Nixon (nổi
tiếng là một tay chơi x́ phé lăo luyện ở ngoài đời)
đă làm chúng phải trả một giá rất đắt về quân sự. Chỉ riêng trong
chiến dịch Xuân 1972, mức tổn thất của quân Bắc Việt được ước tính
như sau: 60% quân số bị loại ra khỏi ṿng chiến, 80% quân khí, kể cả
tăng, pháo cơ động, cao xa và hoả tiễn bị huỷ diệt (trang 161).
Nhưng cũng như trong trận tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, cộng sản
lần này thua về quân sự nhưng thắng về tâm lư: cuộc leo thang chiến
tranh của chúng đă châm ng̣i cho phong trào phản chiến ngoài đường
phố và trong khuôn viên Quốc hội H.K. bùng nổ trở lại, đ̣i “hoà b́nh
tức khắc”, khiến Nixon và Kissinger chẳng c̣n mấy bụng dạ để giằng
co với cộng sản ở bàn hội nghị và kiên định trong lập trường “đặt
việc bảo vệ uy tín quốc gia lên trên hết” của họ. Cũng như Johnson
trước kia, Nixon không thua trận chiến với cộng sản nhưng thua trận
chiến với nhân dân Mỹ. Hậu quả là sự ra đời vội vă và bôi bác, trong
máu và nước mắt, của đứa con trí tuệ của Kissinger: “Thoả ước về
chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà b́nh tại Việt Nam”, được kư
kết tại Paris ngày 27/10/1973.
Trước khi xét đến nội dung của bản thoả ước trên, tưởng cũng nên nói
đến tiến tŕnh nhân quả của một số sự kiện then chốt đă thúc sinh ra
nó. Khởi sự là quyết định leo thang chiến tranh của Nixon để ép Hà
Nội phải nhượng bộ ở bàn hội nghị. Quyết định này được bí mật tiến
hành vào ngày 18/3/1969 với Chiến dịch Điểm tâm của Không lực Hoa Kỳ,
sử dụng 48 phi xuất B-52 dội bom xuống 15 căn cứ của quân Bắc Việt
rải dọc từ Tchepone Lào xuống đến vùng Mỏ Vẹt Nam Việt Nam(trang
131);
đồng thời Nixon cũng ra lệnh
cho phục hoạt Chiến dịch Biệt kích Hunt để đánh phá Đường ṃn Hồ Chí
Minh. Nhưng sự hiện hữu của chiến dịch không tập bí mật trên bị phát
giác bởi bài báo đăng trên tờ New York Times ngày 9/5/1969, tạo một
cái cớ cho phong trào phản chiến Mỹ bùng trở lại. Chỉ nội trong
tháng 5 này đă có 450 trường đại học đă đóng cửa để phản đối Nixon.
Rồi các cuộc biểu t́nh chống chiến tranh liên tiếp xẩy ra ở nhiều
nơi mà cao điểm là cuộc biểu t́nh tuần hành vào ngày 16/11/1969 của
250.000 người tại Washington, D.C. Ngoài ra c̣n phải kể đến một sự
kiện chống đối quan trọng khác: sự phổ biến trên báo chí những tài
liệu bí mật của Lầu Năm Góc (Pentagon
Papers) vào ngày 3/6/1971,
do sự trở cờ của viên chức quốc pḥng Daniel Ellsburg. Sự
phát giác những động cơ tăm tối và bất hợp pháp của những quyết định
về chiến tranh của nhà cầm quyền Mỹ này có tác dụng tức thời là đổ
thêm dầu vào ngọn lửa phản chiến.
Trước một t́nh trạng xă hội sục sôi như vậy, Quốc Hội H.K. không thể
ngoảnh mặt làm ngơ. Tiểu Ban Tư Pháp Hạ Nghị Viện mở cuộc điều tra
về Chiến Dịch Thực Đơn giội bom xuống Căm Bốt của không lực Hoa Kỳ
mà họ cho là vi phạm quy chế trung lập của quốc gia này. Cuối cùng
họ đưa ra khuyến nghị “buộc tội, xét xử, truất phế” Tổng Thống Nixon
v́ ông đă “vi phạm hiến quyền khai chiến của Quốc Hội” bằng cách đưa
ra “những lời tuyên bố dối trá về sự hiện hữu, tầm mức và bản
chất của chiến dịch giội bom xuống Căm Bốt trên”.
(trang 133)
Hệ quả của khuyến nghị này là, dù không được Quốc Hội chấp thuận, nó
lại là đầu mối của việc Quốc hội thông qua nghị quyết huỷ bỏ Nghị
quyết Vịnh Bắc Bộ 7/8/1964. Đây là một quyết định không những tước
đi cái cớ để H.K. gây chiến với Bắc Việt, một casus belli, mà c̣n
phủ nhận chính cơ sở pháp lư của cuộc chiến của Nixon, và đây là một
điềm dữ cho VNCH.
Về phía QLVNCH, giai đoạn 1970 – 1972 được đánh dấu bởi hai sự kiện
quan trọng: Cuộc hành quân Toàn Thắng Xuân 1970, nhằm tiêu diệt các
hậu cứ CSVN tại Căm Bốt; Chiến dịch Lam Sơn Xuân 1971 để cắt ngang
đường ṃn Hồ Chí Minh tại Hạ Lào; cuộc quyết thủ 66 ngày tại An Lôc
(bắt đầu từ ngày 13/4/1972);
và cuộc tái chiếm Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa năm 1972.
Với kinh nghiệm nóng hổi của một người lính đă tham gia hơn một
chiến dịch (ông đă cùng với đồng đội quyết
thủ tại An Lộc) và với kỹ
năng tinh thông của một sĩ quan quân báo lâu đời, tác giả đă cống
hiến cho người đọc một cuộc giải tŕnh chuyên sâu, tỉ mỉ, hào hứng
về những trận đánh quan trọng trên của QLVNCH
(toàn chương 11). Trước
hết ông phân tích cái sai lầm tai hại của Bộ Tham Mưu Việt Mỹ là đă
tung vào “hang cọp” Hạ Lào 17.000 quân thiện chiến của QLVNCH để đọ
sức với ít nhất ba sư đoàn tinh nhuệ Bắc Việt đang phục chờ trên
những điểm cao ở đó. Chỉ riêng sự chênh lệch lớn lao về quân số hai
bên này đă nói lên tính phi lư của quyết định trên. Tác giả tự hỏi:
“Làm sao một lực lượng
17.000 quân VNCH có thể thực hiện nhiệm vụ chết người ấy mà lẽ ra
phải được thực hiện bởi 60.000 quân Mỹ như Đại Tưóng Westmoreland đă
dự trù.”
(trang 133).
Đây là thất bại đầu tiên của chương tŕnh Việt Nam hoá chiến tranh
của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, ngoài sự sai sót trên, QLVNCH đă tỏ ra có một
khả năng chiến đấu kiên cường trong ba trận đánh tại Căm Bốt, An Lộc
và Quảng Trị. Riêng trận đánh Căm Bốt đă được các chuyên gia quân sự
đánh giá là một thần tốc chiến xuất sắc. Bí kíp của những chiến công
này là áp dụng mô thức phối hợp nhuần nhuyễn giữa hoả lực dưới đất
của QLVNCH và hoả lực trên không mà phần lớn do Không lực Hoa Kỳ
cung cấp. Tác giả nhận định:
“Trong chiến dịch tấn công của cộng sản, quân sĩ VNCH đă tỏ ra dũng
cảm và thiện chiến. Lẽ ra chương tŕnh Việt Nam hoá đă thành công
nếu như H.K.vẫn tiếp tục yểm trợ mạnh mẽ QLVNCH bằng không lực và
hoả lực của họ. Hơn nữa, lẽ ra QLVNCH đă phải được tăng cường ít
nhất là 4 hay 5 sư đoàn để thay thế 11 sư đoàn và những đại đơn vị
Đồng minh vừa rút ra khỏi Việt Nam. Lẽ ra sự tăng cường có tính
quyết định này cho QLVNCH đă phải được thực hiện trước khi có một
giải pháp chính trị để bảo tồn chế độ VNCH.
(trang 162 – 1963)
Ôi hỡi! Đối với Kissinger, VNCH chỉ là một “màn phụ diễn” trong mưu
đồ toàn cầu vĩ đại của Nixon mà ông ta là đồng tác giả. Nhưng điều
tác giả muốn nhấn mạnh ở đây là tính phi lư của cuộc chiến Việt Nam
của Mỹ. Chẳng hạn hoà ước Paris của Kissinger đă không phản ánh đúng
thực tiễn chiến trường Việt Nam. Trong cuộc tổng tấn công Xuân Hè
1972 của chúng, mà mục tiêu chính là chiếm và giữ một thị trấn, B́nh
Long hay Tây Ninh, để làm thủ đô cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời
Miền Nam Việt Nam do Hà Nội vội vă dựng lên để hậu thuẫn cho những
yêu sách chính trị của ḿnh tại bàn hội nghị, cộng sản đă thua về
quân sự nhưng lại thắng về ngoại giao. Trong cuộc đấu trí giằng co,
kỳ kèo, nhiều lúc trở nên hài hước và dị hợm. Lê Đức Thọ đă hạ đối
thủ Kissinger của hắn.
8 - “Thoả ước về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà b́nh tại Việt
Nam” (Agreement on Ending the War and
Restoring Peace in Vietnam)
được kư kết tại Paris ngày 27/1/1973 bởi 12 quốc gia và trước sự
hiện diện của tổng thư kư Liên hiệp Quốc. Hiệp định quốc tế này gồm
23 điều, được chia thành 9 chương, và một nghị định thư gồm 9 điều.
Theo nhận định của các nhà phân tích, điều quan trọng nhất là điều 2
về thể thức ngưng bắn tại Việt Nam kể từ nửa đêm
(giờ GMT)
ngày 27/1/1973 và về việc Mỹ cam kết
“chấm dứt mọi hoạt động quân sự
dưới đất, trên không cũng như ngoài biển, kể cả việc thả ḿn xuống
lănh hải, các quân cảng, dân cảng và thuỷ lộ của Bắc Việt Nam.”
(trang 173)
Một cam kết như vậy, theo tác giả, hàm ư Mỹ tự nhận ḿnh là kẻ xâm
lược ở Việt Nam.
Ngoài ra c̣n một nghịch lư nữa là điều 7, cấm VNCH nhận quân viện từ
bên ngoài và chỉ được thay thế theo định kỳ các quân dụng hư hỏng
của ḿnh trên căn bản một đổi một, nhưng lại không bắt Bắc Việt phải
tuân thủ những ràng buộc này. Ấy là chưa kể đến việc Kissinger rút
lại vào giờ chót yêu sách của ông đ̣i Hà Nội phải rút hết khỏi miền
Nam Việt Nam 180.000 quân Bắc Việt. Đây là một nhượng bộ có tính đầu
hàng, đe doạ trực tiếp đến tiền đồ của VNCH và là một nghịch lư v́
theo điều 5, Mỹ phải rút toàn bộ toàn bộ lực lượng của ḿnh ra khỏi
miền Nam Việt Nam trong ṿng 60 ngày, kể cả cố vấn quân sự, chuyên
viên kĩ thuật quân sự, vũ khí, quân bị và nhân viên quân sự liên hệ
đến chương tŕnh b́nh định, trong khi Bắc Việt lại được quyền duy
tŕ toàn bộ guồng máy chiến tranh tại miền Nam Việt Nam của chúng.
Những nghịch lư như trên - không thiếu ǵ - của bản thỏa ước Paris
chỉ là bề nổi của một thâm ư bán đứng miền Nam Việt Nam cho cộng sản
của Nixon và Kissinger. Để hậu thuẫn cho nhận định này của ḿnh, tác
giả trích dẫn lời tuyên bố ngày 20/1/1973 của Nixon mà ông cho là đă
định đoạt trước số phận VNCH: “…Đă
qua rồi cái thời mà Hoa Kỳ tự nhận là của ḿnh cuộc chiến tranh của
một quốc gia khác, hoặc chịu trách nhiệm về tương lai của họ, hoặc
cho là ḿnh phải chỉ dẫn họ phải điều hành ra sao công việc nội bộ
của họ.”
(trang 172)
Tưởng cũng nên nêu thêm một chi tiết khác về cá tính của Nixon, vốn
nổi tiếng là một chính khách nham hiểm. Tác giả trích lời của
Winston Lord, một phụ tá đắc lực của Kissinger tại hoà đàm Paris,
liên quan đến lư do tại sao Nixon đă cho tiến hành chiến dịch
Linebacker 2 (Hậu vệ 2)
giội bom xuống Bắc Việt trong suốt 11 ngày liền kể từ ngày
18/12/1972: “Tổng thống cảm
thấy cần phải chứng tỏ ông ta không là một kẻ để thiên hạ coi thường
(triffle with),
hay phải nói thẳng ra là ông ta muốn tỏ ra cứng rắn với ông Thiệu –
và đây mới là lư do căn bản (rationale)
của chiến dịch ném bom trên.”
Thứ cứng rắn mà theo người ta nhận xét có thể trở thành thô bạo,
kiểu Kissinger, đối với bản thân ông Thiệu, nếu ông này không biết
điều hoặc gây trở ngại cho việc kí kết sắp tới của thoả ước “hoà
b́nh trong danh dự” hiểu theo ngữ nghĩa nixonian. Và phải chăng đây
là lư do sâu kín tại sao ông Thiệu đă bật khóc trước Kissinger tại
Dinh Độc Lập? Và phải chăng ông ta khóc v́ lo cho sự an toàn của
chính bản thân ḿnh?
Riêng về cung cách hành sử của Kissinger, một môn đệ của trường phái
ngoại giao thực dụng Metternich, tác giả trích dẫn lời của sử gia
Maclear: “Hiển nhiên, một
người thông minh như Kissinger đă phải hiểu rằng
(hoà ước ấy)
chỉ là một thứ cao dán cấp thời (band – aid)
trước khi xẩy ra trong một thời gian ngắn sự sụp đổ mà ông ta đă
biết rơ trước của cái công tŕnh chúng ta để lại.”(trang
175). Đây cũng là
một cách nói uyển ngữ, nói giảm, nói ư, để khỏi nói thẳng Kissinger
là một người vô liêm sỉ. Vô liêm sỉ đến độ, dù đă biết rơ như vậy,
ông ta vẫn đến Stockholm để hoan hỉ nhận lĩnh giải thưởng Nobel Hoà
b́nh năm 1973 trong khi đối thủ Lê Đức Thọ của ông đă khước từ giải
này v́ hắn coi hoà ước Paris chỉ là một mớ giấy lộn mà Hà Nội sớm
muộn sẽ xé bỏ.
Để kết thúc chương 12 của sách, được ông đặt tên là “Sự phủi tay”,
tác giả đưa ra ư kiến: “Mối
quan tâm của giới lănh đạo Mỹ là sự xâm lược vào các nước khác trong
vùng Đông Nam Á của Trung Cộng chứ không phải sự xâm chiếm miền Nam
Việt Nam của cộng sản Bắc Việt. Thiết lập được quan hệ ngoại giao
với Trung Cộng sẽ tạm thời Kỳm hăm được khát vọng nhuộm đỏ toàn vùng
của nước này, nhưng việc sử dụng một nước Việt Nam thống nhất như
một thành tŕ thường xuyên ngăn chặn sự xâm lăng xuống hướng Nam của
Trung Cộng mới là ư đồ sâu kín của chính quyền Nixon.”
(trang 177).
Và, để thực hiện ư đồ này, theo tác giả, Nixon sẽ sẵn sàng, và đă
thực sự, giao nộp toàn bộ nước Việt Nam cho cộng sản Bắc Việt thống
trị. Đây là khổ nhục kế c̣n trong ṿng giả thuyết v́ cho tới nay
chưa có một tài liệu phổ biến nào xác định sự hiện hữu của nó. Nhưng
nếu đó là sự thực th́ Nixon quả là một chính khách quá nham hiểm và
lắt léo.
Riêng chủ quan chúng tôi nghĩ, nếu như Mỹ đă quyết tâm duy tŕ cái
công thức đă được chứng nghiệm có hiệu quả tại các chiến trường
Quảng Trị, Mỏ Vẹt, Móc Câu, An Lộc 72 là “Quân Lực VNCH + hoả lực
B-52 Mỹ” hoặc công thức cải tiến “16 sư đoàn QLVNCH
(thay v́ 12 sư đoàn như đang có)
+ hiện đại hóa QLVNCH + hoả lực B-52
Mỹ,. Mỹ đă có thể ung dung rút ra khỏi Việt Nam mà không bị mang
tiếng tắc trách, phủi tay, kiểu đem con bỏ chợ đối với VNCH. Hai
công thức trên, chúng tôi nghĩ, không phải là khó thực hiên đối với
Mỹ về quân sự cững như chính trị nội bộ, nhưng trên thực tế Mỹ đă
không làm như vậy. Và đây là một nghịch lư cơ bản nữa của cuộc chiến
Việt Nam của Mỹ, một cuộc chiến của những cơ hội bị bỏ lỡ. Và chúng
tôi mạnh mẽ tin tưởng không có sự mâu thuẫn giữa đạo lư và chiến
tranh hay giữa sự khôn ngoan và bạo lực. Bởi v́ cuộc chiến Việt Nam
của VNCH và của H.K. là để bảo vệ tư do của một dân tộc nên nó là
một cuộc chiến có chính nghĩa và bạo lực nó sử dụng là chính đáng.
T́nh h́nh biến chuyển nhanh chóng trong 6 tháng đầu của năm 1973. Mỹ
hoàn toàn rút quân theo đúng thời hạn (ngày
29/3/1973) và chỉ để lại
miền Nam Việt Nam một nhân số gồm 8500 chuyên viên kĩ thuật dân sự,
một ít nhân viên Toà Đại Sứ, 50 quân nhân thuộc Pḥng Tuỳ viên Quốc
pḥng (Defense Attaché Office, DAO)
và một số ít thuộc phái đoàn Mỹ tại Toán Quân sự Liên hợp Bốn bên
(Four – Party Joint Military Team, FPJMT).
Cho đến ngày 29/3/1973, số tù binh Mỹ được Bắc Việt trao trả là 587;
c̣n tổng số người Mỹ mất tích lúc lâm chiến
(Missing in Action, MIA)
là 1913.
Ngày 14/6/1973 Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua tu chánh án Case – Church
ngăn cấm “việc sử dụng mọi tài khoản đă có hoặc sẽ có vào những
hoạt động chiến tranh tại bất cứ nơi nào ở Đông Dương nếu không được
Quốc hội đặc biệt cho phép.” (trang
178). Đây là một quyết
định nhằm hạn chế tối đa quyền lực của Tổng Thống Nixon và như vậy
đe doạ đến tính khả thi của môt lời hứa viết tay với ông Thiệu của
ông ta là Hoa Kỳ sẽ trả đũa mănh liệt nếu như cộng sản vi phạm
nghiêm trọng hoà ước Paris. Trước một địch thủ thất thế như vậy mà
Bắc Việt vẫn án binh bất động v́ ba lư do: một, chúng sợ chạm nọc
Nixon, vốn nổi tiếng là người có bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm và dễ
nổi giận sẽ không để cho chúng muốn làm ǵ th́ làm mà không bị trừng
phạt đích đáng; hai, chúng chưa hết choáng váng bởi hệ quả của trận
đ̣n Hậu vệ 2; và ba, chúng cần có thời gian để bồi đắp những tổn
thất nặng nề mà liên quân Việt-Mỹ đă gây cho chúng trong chiến dịch
Xuân – Hè 1972 vừa qua. Thành thử trong suốt thời gian từ tháng
3/1973 đến tháng 8/1974 (Nixon từ chức vào
ngày 10/8/1974), Bắc Việt
chỉ tung ra một số trận đánh ḍ dẫm, lớn nhất là cấp trung đoàn, tại
một số địa điểm hẻo lánh của vùng Tây Nguyên Việt Nam.
Các nhà lănh đạo cộng sản ở Hà Nội hẳn ḷng như mở cờ khi nghe tin
Tổng thống Nixon phải từ chức vào ngày 10/8/1974 v́ nếu không làm
như vậy, ông sẽ có nguy cơ bị Quốc hội H.K.kết tội và truất phế do
hậu quả của vụ tai tiếng Watergate mà ông là người chủ mưu. Chính
sách be bờ cộng sản quốc tế của Tổng thống kế nhiệm Gerald R. Ford
chuyển trọng tâm vào những vùng khác trên thế giới hơn là Đông Dương.
Bắc Việt coi đây như một chỉ dấu Mỹ cho phép chúng tiếp tục bành
trướng xuống hướng Nam trong chừng mực Mỹ có thể chấp nhận được. V́
vậy, chúng áp dụng chiến lược ḍ dẫm từng bước một, kiểu tằm ăn rỗi,
ở những nơi chúng nắm ưu thế hầu như tuyệt đối và Mỹ không c̣n quan
tâm đến nữa. Đó là Lào và Căm Bốt.
Tại Lào, chiến tranh thật ra vẫn tiếp diễn kể từ ngay sau khi thoả
ước ngừng bắn lần đầu được kí kết vào tháng 1/1973 giữa lực lượng
hoàng gia của Tướng Phoumi Nosovan và liên quân Bắc Việt – Pathet
Lào. T́nh h́nh ngày càng xấu đi, khiến hai bên phải kí kết bản thoả
ước ngưng chiến thứ hai vào ngày 14/9/1973. Đây cũng chỉ là một mớ
giấy lộn bị Bắc Việt xé bỏ ngay sau khi nó ra đời, với việc chúng
tiếp tục gia tăng áp lực quân sự và lập thêm những “thánh địa” rải
dọc Đường ṃn Hồ Chí Minh, nay được mở mang giữa thanh thiên bạch
nhật mà không c̣n bị không quân và biệt kích Mỹ đánh phá nữa.
Tại Căm Bốt, t́nh h́nh cũng không khả quan hơn. Được sự yểm trợ hùng
hậu của những đại đơn vị Bắc Việt, quân Khờ Me Đỏ mở hàng loạt những
trận tấn công vào quân đội của Tổng thống Lon Nol khiến ông ta phải
ban bố t́nh trạng khẩn cấp kể từ ngày 17/3/1973. Chỉ một tháng sau,
thủ đô Nam Vang bị vây hăm (trang 197).
Địa bàn hoạt động của quân Bắc Việt không chỉ đơn thuần giới hạn vào
vùng biên địa phía đông của Căm Bốt mà c̣n mở sâu vào nội điạ nước
này: trên thực tế, quân Bắc Việt đă trở thành quân đội chiếm đóng,
và đây là một sự vi phạm trắng trợn và nghiêm trọng đến qui chế
trung lập của Căm Bốt mà không có một lời phản đối nào của phe phản
chiến Mỹ như họ đă làm trước kia với Chiến Dịch Thực Đơn của Tổng
Thống Nixon mà họ cho là một cuộc “chiến tranh diệt chủng”.
Tại VNCH, hy vọng của Tổng Thống Thiệu vào sự tái can thiệp mạnh mẽ
của H.K. hầu như tan thành mây khói với sự từ nhiệm của Nixon và
việc tân Tổng Thống Ford đề cử Kissinger làm bộ trưởng Ngoại Giao
Hoa Kỳ. Đây là một điều dữ cho VNCH v́ theo lời tiết lộ của ông
Thiệu, “Kissinger tin tưởng
chỉ sáu tháng sau ngày kư hoà ước Paris, VNCH sẽ sụp đổ và Mỹ cần
phải bỏ rơi miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt, như cắt bỏ một cái
u đă làm cho Mỹ đau đớn”.
(trang 179)
Một bằng chứng khác về sự phủi tay của Mỹ là cuốn băng ghi âm buổi
mạn đàm tại Toà Bạch Ốc vào một ngày tháng 8/1972 giữa Nixon và
Kissinger. Trong cuốn băng này, được Trung Tâm Nghiên Cứu Những Vấn
Đề Quốc Gia thuộc trường Đại Học Virginia kích âm
(voice activated),
chép lại và phổ biến vào ngày 8/8/2004:
Nixon nói: “Bất
luận thế nào, rất có thể miền Nam Việt Nam sẽ không sống sót được…
Năm nay là năm cực kỳ quan trọng, song chúng ta có thể có một chính
sách đối ngoại đứng vững được không (viable)
khi Bắc Việt đă nuốt chửng miền Nam Việt Nam trong ṿng một hay hai
năm kể từ đây?...”
Kissinger đáp: “Vậy
chúng ta phải t́m ra một công thức nào đó để giữ cho sự việc trên
đừng đổ vỡ trong một hay hai năm nữa; rồi sau đó, thưa tổng thống,
Việt Nam sẽ trở thành một nơi khỉ ho c̣ gáy
(backwater) chẳng c̣n ai muốn
quan tâm đến nữa nếu chúng ta giải quyết nó (cuộc
chiến) vào tháng 10 này chẳng
hạn”.
Như vậy, theo cách tính của
Kissinger, VNCH sẻ sụp đổ vào cuối năm 1974. C̣n theo ước tính của
Nixon, v́ khởi điểm của khoảng cách thoả đáng
(decent interval) là
đầu năm 1973, VNCH sẽ sụp đổ vào đầu năm 1975. Vào thời điểm này
Nixon đă ở một cự li an toàn để khỏi mang tiếng là bỏ rơi VNCH, và
nếu nước này có thua trận (như ông ta đă dự
đoán) th́ đó là lỗi của họ
chứ không phải của Hoa Kỳ. Ông ta không muốn bị lịch sử phê phán là
vị tổng thống thua trận đầu tiên của nước Mỹ.
|