Làm việc với các nhân vật danh tiếng thế giới – Câu chuyện đời tôi
Nguyễn Hữu Hanh
Lời giới
thiệu
Ông Nguyễn Hữu Hanh nguyên giữ những địa vị quan trọng về kinh tế, tài chánh
trong chính quyền Việt Nam Cộng hoà cũng như trên trường quốc tế:
· Cố vấn kinh tế, tài chánh cho Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, 1955-1962
· Tổng giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, 1955-1962
· Tổng giám đốc Ngân hàng Khuếch trương SOFIDIV, 1963-1965
· Chánh sự vụ (Division chief) Ngân hàng Thế giới (World Bank), 1965
· Chủ tịch Tổng giám đốc Ngân hàng Việt Nam Thương tín, 1955-1960
· Chủ tịch Ngân hàng Việt Nam Thương tín, 1955-1968
· Thống đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, 1965-1968
· Tổng uỷ coi 4 bộ Kinh tế, Tài chánh, Thương mại, Kỹ nghệ, 1967-1968
· Hội viên 1955-1968 và Chủ tịch Hội đồng Tối cao Tiền tệ và Tín dụng, 1967-1968
· Quản trị viên phụ khuyết (Alternate executive director) Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), 1968-1975
· Cố vấn Sở Ngân hàng Trung ương-Quỹ Tiền tệ Quốc tế (Advisor, Central Bank Service Department, IMF), 1975-1981.
Cuốn hồi kư này thật ra được viết
cho các con của ông. Từ sự thúc giục của nhiều người v́ một số sự kiện lịch sử
quan trọng được đề cập tới, hồi kư này đă được ấn hành cách đây trên một năm,
với hai ấn bản độc lập Việt ngữ và Anh ngữ. Trong ấn bản lần đầu, để tránh đụng
chạm, trừ tên những nhân vật ai cũng biết như Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Văn Thiệu,
Nguyễn Cao Kỳ... tên các nhân vật bị đụng chạm được thay đổi. Từ đóng góp của
nhiều người, rằng giá trị sử liệu của hồi kư sẽ mất mát khi tên nhân vật bị thay
đổi, trong bản hiệu đính này tên thật được khôi phục. Một số nhận định thời sự
cũng được thêm vào.
Khi làm công việc đánh dấu cho bản hiệu đính, tôi không khỏi có một số nhận xét:
Qua cảnh sống thanh bạch, qua những suy tính, lo toan cho cuộc sống lúc xế chiều,
mà tôi được chứng kiến tận mắt, của một người có trên 27 năm đảm trách những địa
vị công quyền về kinh tế, tài chánh cao nhất trong nước và những chức vị khá cao
trên trường quốc tế, mà chưa có ai khác của Việt Nam Cộng hoà cùng một lúc kiêm
nhiệm trong một quăng thời gian dài như vậy; tôi nghĩ ông Nguyễn Hữu Hanh đă thi
hành trách nhiệm một cách liêm khiết. Chỉ cần một chút tư tâm khi thi hành công
vụ th́ ông Hanh không có cái lo toan mà ông đang có bây giờ.
Từ năm 1977, ông Hanh được chính quyền Việt Nam t́m gặp và mời về giúp xứ sở,
ông đă mất rất nhiều thời giờ đắn đo, suy nghĩ. Có lẽ do kinh nghiệm sống, làm
việc chung với những nhân vật ở thượng tầng kiến trúc trong nhiều môi trường
khác nhau, văn hoá khác nhau, ông thấy sự thật của lănh tụ khác với sự thật của
quần chúng, thấy tính tương đối của nhiều việc, thấy sự an sinh, hạnh phúc của
dân tộc Việt Nam là quan trọng hơn những chế độ, thể chế chính trị tiếp nhau đi
qua; và rồi ông đặt quyền lợi của dân tộc lên trước những danh từ, nhăn hiệu,
thành kiến khi lấy quyết định về giúp Việt Nam vào năm 1991. Bất b́nh với IMF,
ông Hanh về hưu sớm từ năm 1981 để tư doanh. Sau đó, ông nhận được nhiều lời mời tư
vấn cho Liên Hiệp Quốc, IMF và World Bank trong việc giúp Việt Nam. V́ có những
ư kiến riêng của ḿnh về hệ thống ngân hàng của đất nước, nên thay v́ làm việc
cho Việt Nam trong khuôn khổ những tổ chức trên, ông bỏ tiền túi 4 lần về quê
hương từ 1991 tới 1994 để làm công việc tham vấn vô vị lợi cho chính quyền, với
tâm nguyện nhằm giúp đỡ đồng bào quá khốn khổ. Nhưng rồi ông thấy do t́nh h́nh
chính trị trong nước, việc ông làm không thể thành tựu nên năm 1994, ông đành bỏ
nửa chừng, không tiếp tục nữa.
Ngay trong lời nói đầu của hồi kư, ông Hanh viết: “Tôi muốn được hoàn toàn tự
do khi kể lại các sự kiện đúng như tôi đă chứng kiến, tôi muốn đánh giá các nhân
vật đúng như tôi đă nhận định, và mô tả các hoàn cảnh xă hội và chính trị đúng
như tôi đă quan sát”.
Nhưng khi đọc hồi kư này, điều làm tôi lưu ư là ông Hanh đă có nhận xét nghiêm
khắc về lănh đạo Việt Nam Cộng hoà, ông đă dứt áo ra đi; ông cũng chỉ trích
chính sách của Mỹ qua những biến cố thời sự gần đây, thế mà ông chỉ nói sơ qua
về những việc ông làm cho nhân dân Việt Nam qua sự trung gian của chính quyền
trong 4 chuyến làm việc tại Việt Nam. Được huấn luyện từ buổi đầu sự nghiệp về
cách nhận xét người, khả năng phán đoán của ông c̣n được tập dượt, cọ xát ở
những chức vụ điều hành trong nhiều năm dài, làm sao ông lại không thấy, không
đánh giá, phê phán những lănh đạo mới của Việt Nam sau những lần tiếp xúc, làm
việc với họ; lại không nhận định về Việt Nam hiện nay trong những lănh vực sở
trường của ông?
Câu trả lời của ông Hanh: Ông chỉ gặp những cấp lănh đạo chính quyền mới ở Việt
Nam trong một thời gian rất ngắn ngủi, không thể nào có ư kiến một cách chính
xác, ông cũng không có đủ cơ hội, thời giờ để nhận xét, theo dơi, v́ những ư
kiến, đề nghị cuả ông không được áp dụng. Trái lại, đối với các cấp lănh đạo
Việt Nam Cộng hoà ngày trước, ông làm việc, sống cùng với họ trong 13 năm liên
tiếp, nên ông mới có thể nhận xét. Ngay cả đối với lănh đạo miền Nam, ông cũng
không nghe, không dùng những tin đồn không căn cứ, những lời chỉ trích không nền
móng, như tin đồn về các ông Thiệu, Kỳ... Ông phải biết chắc chắn, có bằng
chứng tai nghe mắt thấy, mới xét đoán.
Ngoài ra, từ năm 1973 ông Hanh đă cảnh cáo “Tôi đă bỏ nhiều tháng để nghiên
cứu và phân tích các sai lầm của các nước thuộc thế giới thứ ba, cứ chộp lấy tất
cả các loại viện trợ tài chánh và chấp nhận tất cả các khoản vay, mà không xem
xét tới giá phải trả ngày mai và ảnh hưởng của hai vấn đề đó trên vấn đề nợ nước
ngoài trong tương lai", “tôi phân tích hoàn cảnh thê lương của một số nước vay
mượn hoặc nhận viện trợ không đáng, quá nhiều”. Những điều này tức th́ gợi
cho tôi vụ PMU 18 mà quan chức chỉ riêng của một ngành giao thông vận tải mua
phung phí hàng trăm xe hơi để cho mượn và để phơi bụi; ăn chơi, cờ bạc trác táng
hàng mấy triệu đô la chỉ trong 1, 2 tháng bằng tiền mượn nước ngoài mà con cháu
chúng ta sẽ phải trả.
Xin chân thành cảm ơn ông Nguyễn Hữu Hanh đă cho tôi hân hạnh được đóng góp vào
việc gia tăng kiến thức về một giai đoạn lịch sử Việt Nam, có dịp suy ngẫm về
nguyên tắc chính trực mỗi khi dính líu tới quyền lợi của công chúng.
Lê Anh Dũng
*
Kính gởi thân phụ và thân mẫu
Câu chuyện về cuộc đời tôi xin đề tặng cho cha tôi, ông Nguyễn Hữu Lư, và mẹ tôi,
bà Thân Thị Quỳnh Trân, những người đă cam chịu những hy sinh to lớn để cho sáu
đứa con của ḿnh được học hành đến nơi đến chốn hơn.
Cha mẹ chúng tôi đă nuôi dạy chúng tôi theo nền giáo huấn truyền thống của Khổng
giáo. Cha mẹ đă đào tạo tôi nên một con người chính trực. Tất cả những khuyết
nhược của tôi đều do hoàn cảnh xă hội, không dính líu ǵ đến gia đ́nh tôi.
Tôi mang ơn song thân tất cả mọi chuyện trong đời: những kết quả tốt trên con
đường học vấn trong và ngoài nước, những thành công trên con đường sự nghiệp ở
trong nước và trên thế giới, những chức vụ mà tôi nắm giữ trong chính quyền và
trong giới kinh doanh quốc tế, sự kính trọng mà tôi dành được ở người khác nhờ
ḷng trung thực của ḿnh, cũng như sự thù ghét mà tôi đă gây ra bởi sự cứng rắn
tuân thủ những nguyên tắc chính trực mỗi khi dính líu tới quyền lợi của công
chúng.
Gởi các con tôi
Để các con khỏi vướng vào cuộc chiến tranh khổ đau và huỷ diệt, ba bắt buộc phải
gởi các con ra nước ngoài từ khi các con c̣n rất nhỏ, mới có từ một tới tám tuổi.
Để theo đuổi sự nghiệp phục vụ đất nước mà ba coi như là mục tiêu tối thượng của
đời ḿnh, ba đă phải sống xa các con.
Những năm tháng sống như vậy th́ dù ba có thành công trong sự nghiệp đến đâu,
cũng không phải là những năm tháng hạnh phúc nhất của đời ba. Ba chỉ muốn được
sống với các con, bởi ba thương các con và nhớ các con hết sức; ba luôn luôn t́m
cách đi thăm các con bất cứ khi nào có dịp.
Giờ đây chỉ khi về hưu ba mới thật sự hạnh phúc v́ có được điều ba mong ước hơn
cả – được sống bên cạnh các con.
Lời cảm tạ
Tôi xin được gởi lời cám ơn tới những bạn bè thân như anh Đoàn Thêm, chị Vũ Gia
Kiều Dung, anh Phạm Kim Ngọc… đă từng khuyến khích tôi xuất bản cuốn sách này từ
năm 1984, và cám ơn tất cả những ai quan tâm tới những ǵ tôi đă làm và kể lại
trong hồi kư này.
Nguyễn Hữu Hanh
Santa Barbara, tháng Năm 2004
*
Mục lục
Lời nói đầu
Tại sao tôi không muốn xuất bản sách trong hai mươi ba năm qua
I. Thời thơ ấu
Quăng đời êm đẹp ở Việt Nam những năm 30–40; Buổi giao thời giữa nề nếp truyền
thống đang mất dần và cuộc sống mới; Nền giáo huấn ngàn xưa: Khổng giáo và Phật
đạo; Sợi dây vô h́nh nhưng hùng mạnh giữa con và cha mẹ; Lần đầu tiên gặp gỡ
Tổng thống tương lai của Việt Nam; Buổi va chạm đầu tiên với ách thống trị thực
dân
II. Thời trung và đại học
Những năm tháng chiến tranh: Nhật chiếm đóng và máy bay Đồng minh oanh tạc đất
nước; Con đường đại học bị gián đoạn v́ chiến tranh và tàn phá; Trận đói khủng
khiếp v́ chiến tranh; Trường quân sự. Chiến đấu chống quân Pháp tái xâm lược;
Giúp Việt Minh thành lập lực lượng bộ đội địa phương; T́nh bạn với hai người
lính Nhật theo kháng chiến Việt Nam; Qua Paris tiếp tục việc học
III. Sự nghiệp đầu tiên
Phó giám đốc sở tín dụng Ngân hàng Trung ương ba nước Đông Dương; Tổng giám đốc
Ngân hàng Quốc gia Việt Nam; Cố vấn kinh tế tài chánh cho Tổng thống Ngô Đ́nh
Diệm; Cố gắng tŕnh bày sự thật cho Tổng thống, chống lại đám cận thần xu nịnh;
Thành lập Ngân hàng Thương tín, Ngân hàng Khuếch trương, Công ty bảo hiểm, Công ty
sản xuất giấy; Xem dáng mặt: nhận diện khách có thể không tốt trong vấn đề vay
mượn; Thương thuyết với Bộ trưởng Tài chánh Pháp Antoine Pinay; Thoả ước kinh tế
tài chánh tiền tệ với nước Pháp; T́nh bạn lâu dài với Pinay; Phản kháng Ngô Đ́nh
Nhu, người em quyền uy của Tổng thống Diệm
IV. Bước vào Khu vực tư
Thành lập Ngân hàng Khuyếch trương Kỹ nghệ SOFIDIV; Đời sống nông trại: Những
mẩu chuyện kỳ thú về săn thú rừng; Đám tang phụ thân theo lễ nghi truyền thống
V. Sự nghiệp quốc tế đầu tiên
Bị gọi về nước; Chánh sự vụ Ngân hàng Thế giới: sự nghiệp quốc tế đầy hứa hẹn;
Về nước theo lời mời của chính phủ: Thống đốc Ngân hàng Quốc gia; Làm việc với
Tổng thống Lyndon Johnson và các Đại sứ Mỹ; Làm việc với các Thủ tướng, Bộ
trưởng và Thống đốc ngân hàng các nước châu Á và châu Âu
VI. Tận tuỵ trong công việc
Tổng uỷ viên Kinh tế Tài chánh, phụ trách bốn bộ Tài chánh, Kinh tế, Thương mại
và Kỹ nghệ; Gánh vác trách nhiệm hạ giá đồng tiền quốc gia: thành công vang dội;
Ván bài x́ phé với đám thương gia buôn gạo Trung Hoa: thắng lớn; Ngăn chặn đám
thương gia tham lam Đại Hàn mưu toan xâm nhập; Đ̣i hỏi chính phủ Đại Hàn đáp ứng
tương xứng; Chống tham nhũng và buôn lậu
VII. Sự nghiệp quốc tế lần hai
Quản trị viên phụ khuyết hội đồng quản trị Quỹ Tiền tệ Quốc tế; Bất đồng ư kiến
với cách làm việc của các tổ chức quốc tế; Vụ kiện Ernest Lederer về tội vu
khống và nhục mạ
VIII. Sự nghiệp quốc tế lần ba
Cố vấn ngành chương tŕnh hổ trợ kỹ thuật của IMF; Về hưu sớm
IX. Chính sách ngoại giao của Mỹ
Những đường lối tiếp cận ngoại giao sai lầm; Chính sách ngoại giao của Mỹ trên
thế giới: đâu phải chính sách tốt đẹp nhất
Kết
Đôi ḍng tâm sự
*
Lời nói đầu
Có nhiều người bạn biết tôi đă sống một cuộc sống đặc biệt và một sự nghiệp cũng
đặc biệt thú vị, đă gợi ư tôi kể lại chuyện đời ḿnh.
Tôi luôn luôn từ chối v́ tôi không muốn có thêm một cuốn sách nữa vào trong đống
sách của đám người thuộc chính quyền Sài G̣n cũ. Tôi đâu cần đến một cuốn sách
để tự biện bạch như họ, và tôi cũng không muốn viết ra những sự thật nửa vời hay
những sự thật bóp méo để biện minh cho hành vi quá khứ hay cho thái độ hiện tại.
Nhưng năm đứa con tôi, vốn sống xa cách tôi đă lâu, lại tha thiết muốn biết sự
nghiệp cũng như mối quan hệ của tôi với những nhân vật danh tiếng trên thế giới
như thế nào. V́ vậy mà bản thảo đầu tiên, tôi chỉ viết riêng cho gia đ́nh tôi và
đặc biệt là cho năm đứa con tôi: tôi muốn ḿnh hoàn toàn chân thật, không một
lời nói dối. Tôi muốn được hoàn toàn tự do khi kể lại các sự kiện đúng như tôi
đă chứng kiến, tôi muốn đánh giá các nhân vật đúng như tôi đă nhận định, và mô
tả các hoàn cảnh xă hội và chính trị đúng như tôi đă quan sát.
Trong hơn hai mươi ba năm qua, tôi không có ư định xuất bản cuốn sách của ḿnh,
tôi vẫn cứ bị giằng co giữa những tư tưởng đối nghịch và những suy nghĩ trái
ngược nhau: tôi muốn kể lại một mảng lịch sử Việt Nam bởi v́ tôi biết rất nhiều
điều bí mật, nhưng mảng lịch sử này lại mang đến cho tôi quá nhiều chuyện buồn
và quá ít chuyện vui. Tôi đă chứng kiến quá nhiều những con người thiếu tư cách,
và quá ít những con người thật sự đáng kính trọng. Ngay cả khi viết sắp xong bản
thảo thứ hai này, tôi cũng chưa rơ ḿnh có c̣n muốn xuất bản nó hay không.
Cần phải nói rằng nếu như tôi đă được sống một cuộc đời thú vị, th́ đó hoàn toàn
là do may mắn và những cơ hội ngẫu nhiên. Tôi sinh ra vào đúng thời điểm, khoảng
đâu hai mươi năm trước khi đất nước được độc lập; lớn lên trong những ngày tháng
cuối cùng của một nếp sống đang mất dần và những giá trị truyền thống đang tàn
lụi.
Tôi vào đại học khi những trường học ưu tú nhất ở nước Pháp lần đầu tiên được
phép mở cửa đón sinh viên thuộc địa. Và khi bước chân vào đời lần đầu tiên, tôi
đă may mắn được làm việc dưới quyền một viên thanh tra tài chánh người Pháp sáng
chói, trẻ trung và tài năng, có khuynh hướng xă hội, đầu óc phóng khoáng và rất
có cảm t́nh với đất nước Việt Nam.
Khi miền Nam Việt Nam bắt đầu có phần nào độc lập và lănh tụ phe Quốc gia Ngô
Đ́nh Diệm về nước, tôi đă được một số người vô tư không phe nhóm – cả Pháp lẫn
Việt – giới thiệu với ông Diệm như là một chuyên viên giỏi nhất và trẻ tuổi nhất,
và ông đă yêu cầu tôi làm cố vấn kinh tế tài chánh cho ông, khi ông trở thành
Tổng thống của Việt Nam Cộng hoà.
Sau khi giành được độc lập, Nam Việt Nam là một quốc gia mới được h́nh thành,
cần phải thiết lập những cơ chế mới, những tổ chức mới. Tôi được giao phó những
chức vụ chuyên môn quan trọng để hỗ trợ cho các chính trị gia mới được bổ nhiệm
vào các tổ chức được cải tạo lại từ thời thuộc địa cũ và thành lập các cơ chế
tài chánh ngân hàng mới. Ngoài những công việc thường lệ, tôi phải xử lư những
vấn đề kinh tế tài chánh quan trọng nhất, và do đó cũng là những vấn đề hấp dẫn
nhất. V́ những bộ liên quan (như Tài chánh, Kinh tế, Ngoại giao…) hầu hết đều do
những chính trị gia không có kiến thức chuyên môn cầm đầu, nên tôi cũng được
giao trách nhiệm điều khiển những cuộc thương thuyết đầu tiên về các vấn đề tài
chánh tiền tệ với các nước Đồng minh mới và cũ của Việt Nam như Mỹ, Nhật, Pháp...
Và như vậy, tôi có được biết bao nhiêu là cơ hội tham dự vào những công việc
quan trọng nhất của một quốc gia mới h́nh thành, học hỏi và thu thập được những
kinh nghiệm quư giá trong các lănh vực tiền tệ, kinh tế và tài chánh. Tôi sẵn
sàng gánh vác thêm trọng trách, nhận thêm nhiệm vụ và t́m kiếm mọi cơ hội nhằm
phục vụ đất nước để học hỏi thêm.
Ở nước ngoài, tôi có may mắn gặp và quen biết nhiều nhà lănh đạo lớn trên thế
giới, những người có cảm t́nh với đất nước Việt Nam hoặc có dính líu tới tương
lai và sự sống c̣n của Việt Nam. Một vài người, như Thủ tướng Pháp Antoine Pinay,
đă trở thành bạn bè cố cựu của tôi và vẫn c̣n tiếp tục giúp tôi sau khi tôi từ
giă chính trường.
Khi Việt Nam gia nhập các định chế quốc tế th́ tôi đang có một tư thế thuận lợi.
V́ đă từng ở trong các cơ quan tài chánh quan trọng nhất của quốc gia và do đó
có được những kinh nghiệm chuyên môn và kỹ thuật cần thiết, năm 1965 tôi được
mời giữ một chức vụ cao trong Ngân hàng Thế giới (World Bank) – người Việt Nam
đầu tiên và duy nhất giữ chức Chánh sự vụ trong World Bank ngay bước đầu tiên.
Nói tóm lại, tôi đă gặp rất nhiều may mắn trong suốt cuộc đời sự nghiệp. Thế
nhưng tôi cũng trải qua biết bao thăng trầm do việc tuân thủ một cách cứng rắn
những nguyên tắc đạo đức, chẳng hạn như sự trung thực và liêm chính, mỗi khi
dính líu tới quyền lợi của đất nước. Tôi đă được sinh ra và nuôi dưỡng trong
niềm tin rằng xă hội loài người chỉ tốt đẹp lên khi một số người trong chúng ta
coi lợi ích của cộng đồng hay của đất nước chẳng khác ǵ quyền lợi của chính
ḿnh.
Nhưng bất hạnh thay trong suốt cả sự nghiệp lâu dài ấy, tôi nhận thấy rất ít
người thật sự lưu tâm tới quyền lợi chung. Hầu hết thời gian, người ta không
dành cho quốc gia hay dân tộc, mà dành cho gia đ́nh họ, quyền lợi riêng của họ,
cái ta của họ, và trên hết là túi tiền của họ. T́nh trạng này không chỉ xảy ra
trên đất nước tôi mà, lạ lùng thay, nó cũng có ở những cơ quan quốc tế có uy tín
nhất, những nơi được coi là quy tụ những con người ưu tú nhất, thế nhưng bất
hạnh thay cũng là nơi mà tánh tham lam ích kỷ chi phối mạnh nhất, và các phẩm
chất chính trực và năng lực chuyên môn thường bị gạt ra ŕa bởi những toan tính
chính trị và âm mưu tranh giành quyền lực; và cũng là nơi mà quyền lợi của các
cường quốc thường xuyên lấn áp quyền lợi của các nước thuộc thế giới thứ ba,
ngược lại những lời họ rêu rao là cổ xuư và bảo vệ cho quyền lợi của các nước
nhược tiểu.
Sau khi đă rời khỏi mọi chức vụ, giờ đây nh́n lại tôi bắt đầu nghi ngờ rằng sự
tận tuỵ với lư tưởng phục vụ nhân dân, cũng như tư cách đạo đức và ḷng trung
thực, vốn là động cơ thúc đẩy tôi dám đứng thẳng, miệt mài làm việc trong bao
năm ṛng, phải chăng là sai lầm, không đúng chỗ và không đúng lúc.
Trở về Việt Nam làm việc dưới thời Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm vào những năm 50,
tôi đă đem hết sức ra phục vụ nhân dân, đôi khi quên cả bản thân ḿnh. Thế nhưng
sự tận tâm ấy không được ḷng ai, ngoài ông Diệm và vài ba người nữa. Ngay cả
gia đ́nh ông Diệm và đám người thân cận của ông cũng khó chịu với thái độ cứng
rắn của tôi khi xử lư những vấn đề công ích. Trong khi có biết bao nhiêu người
sẵn sàng đổ xô tới phục vụ để lấy ḷng họ, th́ tôi lại từ chối giúp họ trong
những vụ làm ăn riêng tư. Và tôi đă bắt đầu tạo cho ḿnh những kẻ thù giấu mặt.
Và khi tôi hy sinh sự nghiệp tốt đẹp ở Ngân hàng Thế giới, từ bỏ một chỗ làm
ngon lành với lương bổng hậu, để theo lời mời của chính phủ Sài G̣n, trở về Việt
Nam nhận lấy một lô công việc và trách nhiệm nặng nề, đeo đuổi lư tưởng về một
cuộc trường chinh gian khổ góp phần cứu lấy đất nước, bằng cách đảm nhiệm phần
lớn việc lănh đạo kinh tế và tài chánh nhằm quét sạch nạn tham nhũng và hối lộ
trong chính quyền Sài G̣n, th́ đó có lẽ cũng là một sai lầm lớn. Sau một loạt
các cuộc đảo chính và phản đảo chính, chính quyền càng ngày càng thối nát, xă
hội Sài G̣n và các thành phố lớn càng ngày càng sa đoạ; những viên tướng đầy
quyền uy, những vị Tư lệnh vùng, những viên Tỉnh trưởng, và đặc biệt là những bà
vợ của họ, bỏ mặc quyền lợi quốc gia mà chỉ cố t́m cách vơ vét cho đầy túi. Điều
này làm cho quân đội thất vọng và chán nản, làm cho quần chúng căm ghét và khinh
bỉ; nó tiêu huỷ mọi ư chí chiến đấu c̣n sót lại trong binh lính và nhân dân.
Miền Nam tựa như một trái cây chín rữa chỉ chờ ngày rụng dưới giông băo.
Điều mỉa mai cay đắng là để đền đáp lại những nỗ lực chống tham nhũng của ḿnh,
chính tôi lại bị những kẻ dính líu, và bị tôi trừng phạt, buộc tội hối lộ và
tham nhũng! Khi tôi ngăn chặn vụ nhập lậu “xe hơi Fatima”, tôi đă tạo ra cho
ḿnh một lô kẻ thù, và đám này đă buộc tội tôi là bảo vệ quyền lợi cho con buôn
xe hơi. Khi tôi từ chối không cấp tiền hưu bổng và quyền mua nhà cho một người
vốn là cựu nhân viên Ngân hàng Quốc gia và là một tân nghị sĩ Quốc hội, v́ những
thứ này chỉ dành cho nhân viên Ngân hàng Quốc gia, mà ông ta th́ đă từ chức rồi,
nhân vật này đă lập tức lợi dụng vị thế mới của ḿnh, lên diễn đàn Quốc hội gay
gắt chỉ trích tôi bằng đủ mọi lời dối trá. Khi tôi đóng cửa một văn pḥng Ngân
hàng Quốc gia ở Paris v́ bất hợp lệ, không đúng với nghiệp vụ của một Ngân hàng
Trung ương và tốn kém vô ích, chưa kể có thể có những mục đích bất chính ở sau
lưng, th́ con người đă mở văn pḥng ấy, vốn không hề có một kinh nghiệm hay hiểu
biết về Ngân hàng Trung ương, đă lên án tôi đủ thứ tội trên đời. Những loại vu
khống như vậy không phải là chuyện hiếm trong những năm tôi làm việc dưới chế độ
Sài G̣n.
Tôi làm ǵ được đây? Chúng ta đang sống trong một xứ sở “tự do” (!) và ai muốn
làm ǵ nói ǵ cũng được, dù trái với lương tâm. Điều hay nhất tôi có thể làm là
bỏ ra ngoài tai mấy chuyện đó, hy vọng rằng ở ngoài cuộc đời lớn rộng, có những
người tôn trọng lẽ phải, sáng suốt, sẽ nhận ra ai phải ai trái, ai đáng khen và
ai đáng trách.
Năm 1968, ḷng đầy ngao ngán, tôi xin rút lui khỏi mọi chức vụ trong chính phủ
và Ngân hàng Quốc gia. Điều thúc đẩy tôi quyết định rời bỏ đất nước và quay trở
về Ngân hàng Thế giới (World Bank) nhiều hơn cả là sự thiếu năng lực và t́nh
trạng tham nhũng tràn lan của chính phủ và quân đội Sài G̣n, sự suy đồi của xă
hội tại các thành phố lớn. Đối với tôi, số phận đất nước này đă được an bài:
ngoại trừ một phép lạ, Nam Việt Nam không c̣n cơ cứu văn.
Những năm tiếp theo đó ở nước Mỹ, tôi lại càng thêm ngao ngán và tuyệt vọng.
Ngoài một số thành tích sáng chói của sinh viên Việt Nam và một vài thành công
đáng kể của các chuyên gia Việt Nam trẻ tuổi, th́ cộng đồng người Việt di tản đă
gây nên tai tiếng xấu xa trong cái xă hội đă dung dưỡng họ: bên cạnh những người
đang cố gắng làm lụng để nuôi nấng con cái, một số người di tản lại đem qua đây
những thói xấu cũ, lừa đảo và chôm chỉa bất cứ khi nào có dịp. Không phải chỉ có
những người nghèo khổ phải sống bằng tiền trợ cấp, mà cả những tầng lớp trên (bác
sĩ, dược sĩ, những người môi giới cổ phần, mua bán bất động sản v.v…). Một ngày
nọ tại Westminster, bang California, người ta trông thấy tám mươi vị bác sĩ và
dược sĩ Việt Nam bị c̣ng tay dẫn đi sau một toán cảnh sát Mỹ. Xấu hổ thay cho
cộng đồng người Việt chúng ta ở đây, và xấu hổ lây cho cả quê hương đất nước
chúng ta bên kia nữa!
Có đôi khi tôi cảm thấy tuyệt vọng với cộng đồng người Việt trên đất Mỹ, những
người tự xưng là đại diện cho đất nước tôi và cho dân tộc tôi bên quê nhà. Đâu
rồi bốn ngàn năm văn hiến mà họ rêu rao là cội nguồn của họ? Đâu rồi đức hạnh và
phẩm chất cao quư của cha ông và của những lớp người đi trước mà họ cho rằng
ḿnh thừa hưởng? Phải chăng xă hội chúng ta đă suy đồi đến nỗi tư cách đạo đức
và ḷng trung thực ngày nay quá hiếm hoi, và những con người đáng kính quá ít?
Năm 1991, khi tôi về thăm lại Việt Nam lần đầu tiên sau chiến tranh, tôi đau
ḷng trông thấy nhân dân sống trong những điều kiện nghèo nàn và khốn khổ. Tôi
muốn giúp đỡ đồng bào tôi, dù có những trở ngại chính trị và những hy sinh tài
chánh về phía tôi. Tôi đă về thăm quê hương bốn lần, theo lời mời của Thủ tướng
chính phủ Việt Nam lúc ấy, bằng tiền túi của ḿnh, nhằm cố gắng góp phần cải
cách và xây dựng lại đất nước. Nhưng những điều kiện của đất nước lúc đó chưa
thích hợp cho những nỗ lực như vậy, và năm 1994 tôi đành phải chấm dứt mọi kế
hoạch. Sau khi thấy không giúp được xứ sở trong bốn chuyến về nước, tôi hy vọng
dùng cuốn sách của tôi, để trao kinh nghiệm nghề nghiệp, chuyên môn, cho dân,
cho nước nhưng tiếc thay, bức thành kiểm duyệt quá cao nên chuyện này cũng không
thành.
Khi người ta không hiểu đâu là điều lợi, đâu là điều hại cho đất nước, th́ bất
cứ điều ǵ cũng là quốc cấm cả!
Tôi phải thành thực thú nhận rằng nếu hôm nay tôi phải làm lại những ǵ tôi đă
làm trong những năm 50 và 60 của thế kỷ qua, tôi không dám chắc ḿnh c̣n đủ can
đảm để duy tŕ sự thẳng thắn, ḷng trung thực và tận tuỵ như xưa, khi đối diện
với ngần ấy sự vô tâm, thói ích kỷ và tệ tham nhũng.
Quả là buồn khi phải đi đến một kết luận như vậy.
Tôi cố tự thuyết phục ḿnh rằng ở sâu trong ḷng người dân Việt vẫn c̣n những
đức tính và giá trị truyền thống, được lưu truyền qua hàng ngàn năm văn hoá, thử
thách và chiến đấu – một điều mà tôi đă được thấy trong đời, nhất là ở thôn quê
xa đô thị.
Đó là điều duy nhất c̣n cho tôi niềm tin vào đồng bào và quê hương đất nước.
Ghi chú: Riêng đối với Quỹ Tiền tệ Quốc tế, theo phép lịch sự và ḷng
trung thành đối với Quỹ, trước khi xuất bản cuốn sách này lần đầu trong bản
tiếng Anh, Brushing the World Famous và bản tiếng Việt, Làm việc với
các nhân vật danh tiếng thế giới, tôi đă gởi thơ cho ông Tổng Giám đốc xin
phép, và kèm theo thơ, tất cả những chương tôi đă viết về Quỹ Tiền tệ Quốc tế.
Ông biết là tôi nói đúng, không sai, nên ông lúng túng, trả lời cũng hơi tế nhị,
mà không trả lời cũng không nhă nhặn lắm, nên ông im lặng.
Nguyễn Hữu Hanh
Santa Barbara, Tháng Năm 2004
*
I. Thời thơ ấu
Tôi sinh ngày 10 tháng 11 năm 1923 tại cố đô Huế trong ngôi nhà của bên ngoại,
v́ mẹ tôi muốn sinh đứa con đầu ḷng tại quê bà hơn là tại ngôi nhà đầu tiên của
chúng tôi ở Quảng Trị, cách Huế quê hương bà chừng 60 cây số.
Cha tôi vốn rất gắn bó với làng quê của ông, nơi ông nội tôi đang sống; trong
bất cứ chuyện ǵ cha tôi cũng nghiêng về phía gia đ́nh và làng xă ông. Ông cư
trú và dạy học ở Quảng Trị, cách làng Đại Hoà chúng tôi khoảng 12 cây số. Quan
điểm của ông là việc làng lo trước, việc nước lo sau. Mỗi tháng ông đi bộ ít
nhất một lần về thăm cha mẹ. Sau này ông đi bằng xe đạp, khi ông dành dụm đủ
tiền sắm một chiếc xe đạp mua từ bên Pháp, một chiếc hiệu Saint Étienne mà ông
cưng quư suốt đời. Thời đó, xe đạp và xe kéo là hai loại phương tiện di chuyển
cá nhân duy nhất ở Việt Nam. Xe hơi riêng hiếm đến nỗi có thể đếm trên đầu ngón
tay.
Thay v́ làm khai sinh cho tôi đúng ngày sinh ở Huế, cha tôi đă chờ cho tới dịp
về thăm làng mới đăng kư trước bạ cho tôi ở làng ông. V́ vậy mà ngày và nơi sinh
chính thức của tôi là 15 tháng Ba năm 1924 tại làng Đại Hoà, tổng An Dạ, phủ
Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thay v́ mồng Mười tháng Mười Một năm 1923 tại thành
phố Huế, tỉnh Thừa Thiên.
Sau này mẹ tôi kể lại rằng khi tôi chào đời, cha tôi đă vào Huế thăm bà và khi
cô y tá bế đứa bé cho ông xem, ông đă lóng ngóng ôm đứa nhỏ vào hai cánh tay dài
ngoằng của ông và hôn con, nuớc mắt chảy dài xuống hai g̣ má. Đoạn ông quay lại
nói với mẹ tôi: “Tôi muốn cho con được học hành tử tế hơn tôi, nhưng tôi chỉ là
một tên thầy giáo nghèo xác, làm sao lo nổi cho con vào học đại học Hà Nội hay
đại học Pháp!”. Ông đă từng được nhận vào trường đại học Hà Nội, nhưng không
được học, v́ ông nội tôi không chịu chu cấp cho ông học thêm nữa. Thế nhưng ông
nội tôi, vốn là một vị quan trong triều về hưu, lại rất giàu; chỉ có điều ông
tập trung mọi sự hào phóng vào ba người con trai con đời vợ trước, c̣n cha tôi
là con của bà vợ kế. Và về sau, ông nội tôi cũng chỉ để lại toàn bộ gia sản cho
ba người con vợ lớn của ông.
Tuổi thơ tôi dính mắc với đủ thứ bịnh: quai bị, sởi, hen suyễn, vàng da v.v...
Cha tôi hết sức thương tôi v́ tôi là đứa con đầu ḷng và là con trai trưởng.
Truyền thống gia đ́nh Việt Nam đặc biệt coi trọng con trai trưởng, bởi người
trưởng nam sẽ là người gánh vác công chuyện gia đ́nh và lo toan việc thờ cúng tổ
tiên; anh được giáo huấn đầy đủ các tiêu chuẩn về đạo đức và cách xử thế ở đời
để tới phiên anh, anh sẽ dạy lại cho mấy đứa em, cha mẹ anh sẽ không cần phải lo
nữa, họ trông cậy anh đảm trách việc đó. Cha tôi đă dạy dỗ tôi rất nghiêm khắc
trên nền đạo đức và triết lư của Khổng giáo và Phật giáo. Ông không dạy mấy em
tôi như vậy; ông giao việc đó cho mẹ tôi. Mẹ tôi vốn tánh rộng răi khoan hoà,
không theo sát đạo lư cặn kẽ như cha tôi. Thuở trước, truyền thống giáo huấn
theo Khổng giáo rất hữu hiệu. Nhưng kể từ thế hệ tôi, phương pháp này bắt đầu
kém hiệu quả, v́ trong xă hội hiện đại, em út không c̣n kính trọng anh chị như
thuở xưa, đặc biệt là khi chúng tôi qua sống bên châu Âu hay Mỹ, nơi cha mẹ đối
xử với tất cả con cái y hệt như nhau. Thế nhưng cha tôi không bao giờ thay đổi
cung cách của ông. Sau này, khi tôi trở về Việt Nam làm việc, ông thường vào Sài
G̣n thăm tôi bốn năm lần mỗi năm, ở với tôi một thời gian để bàn chuyện gia
đ́nh, nhưng không hề làm vậy với các em tôi.
Khi tôi c̣n nhỏ, cha tôi thường dắt tôi theo những chuyến đi săn hay đi câu của
ông. Những chuyến đi này thường dài từ 40 tới 50 cây số lội bộ, leo núi, băng
rừng, ngủ giữa đồng rộng, trên sườn đồi hay cạnh bờ sông – không lều trại, không
túi ngủ, chỉ có ít tấm chiếu lát và mền thô.
Đi câu thú vị vô cùng v́ phong cảnh thiên nhiên thường xinh đẹp và sông suối
thường đầy cá. Ḍng nước chảy xuyên qua các khe suối hay đổ xuống những con thác
nhỏ, hay nước trong các con sông uốn trôi lững lờ giữa đồng cỏ xanh, đều rất
sạch, trong vắt, không một chút bợn nhơ hay ô nhiễm. Chúng tôi câu bằng những
cái cần thô sơ làm từ cành tre nhỏ chặt ngay trong rừng, nhưng bao giờ cũng
thành công v́ lũ cá trong rừng chẳng biết ǵ hơn ngoài thức ăn và những miếng
mồi mà mẹ thiên nhiên dành cho chúng.
Tại những địa điểm mà cha tôi biết rất rơ, chúng tôi chặt một ít tre rồi dầm
xuống nước; sáng hôm sau chúng tôi có thể nh́n thấy từng đàn cá đang xúm xít rỉa
lá tre dưới làn nước trong veo, làm cho bụi tre chỉ c̣n trơ cành và gốc. Thế rồi
chúng tôi liệng xuống một thỏi nhỏ thuốc nổ, chờ nó nổ và lũ cá ngất ngư rồi,
chúng tôi lao xuống nước tóm những con cá bị thương nhưng vẫn c̣n quẫy rất dữ,
đôi khi làm chúng tôi bị thương không ít.
Mỗi khi cảm thấy khúc sông nào đó có nhiều cá hanh trắng quư hiếm, cha
tôi hái một số lá non từ một loại cây leo đặc biệt về nhồi thành bánh. Sau đó
chúng tôi giăng lưới bắt tôm dưới bờ sông lên, thận trọng nhét một viên nhỏ thứ
bánh đó vào trong bụng con tôm c̣n sống rồi thả chúng lại xuống sông. Rồi th́,
lạnh run trong cái lạnh buổi sáng sớm, chúng tôi trùm mền hay chiếu lát, kiên
nhẫn ngồi trên bờ, chờ cho tới khi những con cá hanh trắng nổi dật dờ trên mặt
nước. Sau khi ăn phải những con tôm kia khoảng nửa giờ, lũ cá hanh bị say thuốc,
bắt đầu trồi lên mặt nước, phơi bụng bơi ḷng ṿng, và chúng tôi bơi ra tóm lấy
chúng trước khi chất thuốc hết hiệu lực.
Chúng tôi kho cá nấu cơm ăn ngay tại chỗ cắm trại, đó là những bữa ăn ngon nhất
trong đời tôi. Chúng tôi san sẻ thức ăn với những người đi cùng đường; phần nào
không đem về được cho mẹ tôi, chúng tôi cho những người dân tộc thiểu số ở các
làng bên, hay cho dân xóm vạn ven sông. Đôi khi chúng tôi nhóm một cụm lửa lớn
bên bờ sông để hun khói mớ cá bắt được trước khi đem về nhà.
Đi săn th́ không thú vị bằng v́ cha tôi chỉ sắm nổi một khẩu súng săn nhỏ,
ca-líp 16; các loại thú săn thường là gà gô, trĩ, gà rừng, thỏ rừng, thỉnh
thoảng vài con hươu nhỏ. Với một khẩu súng nhỏ như vậy, chúng tôi không dám vào
sâu trong rừng, nơi lợn ḷi và cọp không phải là tṛ chơi của chúng tôi.
Cha tôi rất thích đi du lịch đây đó. Trong những ngày tháng ấy, những lần đi tắm
biển là cả những chuyến viễn hành, v́ chúng tôi thường phải đi bộ từ nhà ra băi
biển. Đâu có đủ xe đạp cho tất cả mọi người. Có đôi khi chúng tôi kiếm tiền thuê
một chiếc thuyền, một chiếc tam bản – cái tên gọi từ tiếng Trung Quốc có
nghĩa là ba tấm ván – dài khoảng 6 mét, có mái khoang che bằng tre nứa.
Thời gian ấy chúng tôi c̣n sống ở Quảng Trị. Băi biển gần nhất là Cửa Việt nằm
cách khoảng 16 cây số nên chúng tôi thường phải ra đi từ 4 giờ sáng. Chúng tôi
đem theo thức ăn, và dùng bữa dưới bóng râm của những cây fi-lao, một
loại cây thông, cao, lá nhỏ và dài như kim, reo vi vu trong làn gió biển nghe
rất êm tai. Lá fi-lao không có mũi nhọn như lá thông nên có thể nằm ngủ trên đám
lá dưới gốc fi-lao êm hơn nằm dưới gốc thông. Bao giờ chúng tôi cũng dừng chân ở
một làng chài để mua hải sản, món tuyệt nhất là ṣ huyết, một loại ṣ nhỏ, vỏ
sậm đầy lông, khi nướng trên lửa than sẽ mở miệng và cho ra một chất nước màu đỏ
như huyết, ăn rất ngon.
Cửa biển thứ hai, xa hơn, là Cửa Tùng, nằm ở vĩ tuyến 17, sau này chia đôi Việt
Nam thành hai miền Nam, Bắc. Cửa Tùng cách nhà chúng tôi khoảng 60 cây số nên
chúng tôi thường thuê thuyền tam bản để đi. Bốn, năm người chúng tôi chiếm
khoang chính rộng khoảng 3 mét và dài 5 mét, khoang kia nhỏ hơn dành cho gia
đ́nh chủ thuyền, với 4 người – cặp vợ chồng và hai con nhỏ. Khoang thuyền chỉ đủ
chỗ để ngồi hoặc nằm chứ không đứng được, v́ nó chỉ cao khoảng mét hai tính từ
sàn lên mái khoang. Thế nhưng tất cả mọi người ăn, ngủ, giặt giũ và mọi thứ linh
tinh ở trên đó. Chúng tôi xuống sông tắm rửa mỗi khi dừng thuyền lại để nghỉ
ngơi hay ngắm cảnh. Thuyền lướt đi theo nhịp đẩy mái chèo mà người chủ thuyền
hoặc vợ anh ta chèo với những động tác hết sức uyển chuyển, theo tiếng ḥ khoan
nhặt của họ.
Trong tất cả những băi biển đẹp trên thế giới mà tôi từng đặt chân tới trong
nhiều năm du lịch khắp nơi, th́ không nơi nào có thể sánh được Cửa Tùng và Đại
Lănh ở miền Nam Việt Nam, với vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ của nó. Tôi chỉ sợ
việc phát triển đất nước có thể làm mất đi vẻ đẹp của hai chốn này, v́ người ta
thường có khuynh hướng huỷ hoại tất cả mọi thứ bởi chính ḷng ham muốn phát
triển thêm và làm đẹp thêm những cảnh quan vốn xinh đẹp ấy.
Cũng tại Cửa Tùng tôi được thưởng thức ba món ăn mà tôi không hề gặp ở nơi nào
khác:
Ốc gạo, một loại ốc nhỏ rất sạch, màu vàng, sống trong cát ở cửa sông, có
vỏ tṛn, lớn cỡ một hột đậu phụng bự. Luộc ốc bằng nước sôi xong, chúng tôi dùng
gai cây chanh lể ốc ra nhấm nháp, sau khi đă khươi miếng vảy che miệng ốc
đi – thịt chúng mềm, đậm đà, hết sức thú vị.
Cá mó, một loại cá thân lép có đủ thứ màu sáng, ngó rất buồn cười, nhưng
thịt ngon tuyệt vời.
Và hải sâm tươi mà chúng tôi đi lượm buổi sáng sớm giữa các khe đá khi
triều xuống. Loài này mỗi khi nhặt lên lại tiết ra một chất nước đặc ngộ nghĩnh
màu đỏ, nhưng khi nấu với nấm rơm th́ ăn ngon hơn bất cứ loại hải sâm khô nào,
dù đắt tiền, ở các tiệm ăn.
Bao giờ tôi cũng ḷ ḍ theo cha tôi trong những chuyến đi câu ấy, lúc th́ vùng
vẫy bơi lặn trong nước sông, lúc th́ lang thang chân trần trên băi biển, đến nỗi
trượt chân té ngă giữa các tảng đá. Một hôm ở Cửa Tùng chúng tôi chứng kiến một
sự cố vừa buồn cười vừa tội nghiệp. Cùng đứng câu với chúng tôi ở một vùng nước
cạn trên băi là hai người đàn ông và một người đàn bà. Đàn ông thường chỉ đóng
khố, và mấy cái khố thường rách tả tơi, ngoài ra họ không mặc thêm ǵ khác. Họ
không hề ngượng khi phơi bày thân thể dưới mấy cái khố rách nát. Người dân nghèo
hay tận dụng tất cả mọi thứ, kể cả giẻ rách. Thỉnh thoảng họ lại lặn xuống nước
để bắt cua hay tôm hùm bằng tay không. Sáng hôm đó, một người đàn ông lặn xuống
nước, và th́nh ĺnh tôi trông thấy anh ta vọt lên khỏi mặt nước la hét, một con
cua dính cứng ở dương vật. Anh ta lê từng bước đi chậm chạp, bộ dạng đau đớn và
kỳ cục rất buồn cười, với con vật độc ác đung đưa giữa hai chân. Chúng tôi cười
đến nỗi chảy cả nước mắt và thắt cả bụng. Cha tôi vội lao tới giúp anh ta, nhưng
ông cũng đang cười rũ đến nỗi ông không gỡ con cua ra được. Cuối cùng ông lượm
một cục đá đưa cho người đàn ông, anh ta cố lết tới ngồi dạng chân trên một tảng
đá. Nhưng anh ta đau quá không cử động nổi nên anh ta nhờ cha tôi đập giùm, và
cha tôi đă đập con cua, nhưng suưt chút nữa ông cũng bị nó kẹp. Con cua quờ
quạng rớt xuống, nhưng cái càng của nó vẫn cứ kẹp ở chỗ cũ và cha tôi phải đặt
người đàn ông nằm xuống trên mặt đá để đập dập nó ra. Sự cố này dường như kéo
dài vô tận, và người đàn ông kia chắc phải đau khủng khiếp v́ gương mặt anh ta
tái xanh tái tím.
Gia đ́nh tôi rất nghèo nên đối với tôi, đồ chơi là thứ xa xỉ dành cho đám bà con
giàu có của tôi ở kế bên nhà. Bắt chước bọn trẻ con hàng xóm, tôi tự tạo lấy đồ
chơi cho ḿnh: một chiếc xe tăng làm bằng một trục chỉ trống, với một que tre và
mấy cọng thun làm bộ máy nổ, lực đẩy được cung cấp bởi cọng thun xoắn lại và dầu
nhớt bôi trơn là sáp đèn cầy; một cái ná làm bằng một nạng cây h́nh chữ Y với
hai sợi dây cao su và một miếng da giày cũ.
Nhưng có những ngày tôi buồn bă không biết làm ǵ, sau mấy tṛ bắn bi hay ném
xu. Một hôm tôi đứng sau cánh cửa chờ cha tôi đi đánh tennis trở về. Tôi
vừa chơi với tấm lưới trên khung cửa vừa ngóng chừng bóng dáng chiếc xe đạp của
ông xuất hiện cuối con đường. Khi ông bước vào nhà, ông bắt gặp tôi đang thọc
cây vào tấm lưới cửa, và ông dùng cây vợt tennis nện một cú lên đầu tôi.
Đau hết sức. Đó là lần đầu tiên ông đánh tôi và cũng là lần đầu tiên tôi giận
ông, dù chỉ vài ba phút, bởi tôi luôn luôn thương và kính trọng ông vô cùng.
Ngày hôm sau, ông mua cho tôi một món quà, như để bày tỏ t́nh thương và ḷng hối
hận, món đồ chơi đầu tiên và duy nhất mà tôi được tặng trong thời thơ ấu – một
con chuột máy. Món tiền này là cả một sự hy sinh của ông; tôi quư con chuột đến
nỗi tôi đă ǵn giữ nó nguyên vẹn trong hơn mười năm, không phải như một món đồ
chơi, mà như một kỷ vật cha tôi để lại, và như một kỷ niệm về lần bị phạt đầu
tiên.
Mặc dù nghèo, cha mẹ tôi lại rất giàu ḷng trắc ẩn. Nhiều học sinh nghèo được
cha mẹ tôi nuôi ăn ở: họ là anh em tôi. Hầu hết họ là người tốt, về sau đều trở
nên những con người xứng đáng. Một số trong họ tham gia cách mạng và không bao
giờ quên ơn cha tôi. Hầu hết bọn họ đều coi ḿnh là thành viên trong gia đ́nh và
cư xử như con cái trong nhà. Cũng giống như vậy, những người học tṛ cũ của cha
tôi đều suốt đời quư trọng ông và thương yêu ông như cha của họ.
Năm 1930, cha tôi được thuyên chuyển về Huế, làm hiệu trưởng một trường học gần
hoàng thành cũ. Chúng tôi sống trong khu vực Đại Nội, gần Hồ Tịnh Tâm danh
tiếng, một khu nghỉ mát của hoàng gia, nơi ngày xưa các hoàng đế tới ngắm hàng
triệu bông sen trong hồ… Nhà chúng tôi ở trước một cái hồ nhỏ và chúng tôi vẫn
thường ra đó câu cá mỗi ngày, sau giờ tan trường và trước bữa ăn tối – thời gian
được coi là lúc cá ăn mồi nhiều nhất.
Khi mùa mưa tới, toàn bộ khu vực này ch́m dưới nước, hai anh em tôi tha hồ có
chuyện vui; v́ nước dâng lên rất bất ngờ, chảy từ nơi này qua nơi khác, tràn
ngập các con đường, nên lũ cá cũng lớ ngớ lội qua mặt đường, t́m một chỗ nấp an
toàn. Chúng tôi đứng chờ sẵn trên đường, đuổi theo và đập chúng bằng gậy hoặc
bằng dao. Chúng tôi cũng đi tới các khu nghĩa trang, nơi các nấm mộ cũng đang
ngập nước, và những con chim mỏ nhát, một loại chim mỏ dài, quá mệt mỏi
v́ phải bay trong mưa băo, muốn t́m một chỗ khô ráo để nghỉ, đă hạ cánh đậu trên
các ngôi mộ. Khi đêm xuống, chúng tôi khoác áo tơi, đội nón lá, cùng với các
người anh em khác h́ hục lội trong làn nước lụt từ ngôi mộ này qua ngôi mộ khác
để tóm cổ lũ mỏ nhát – có khi tới 15-20 con trong một đêm. Đuổi bắt cho được
chim mỏ nhát từ ngôi mộ này sang ngôi mộ khác rất cực, nhưng vui, và chén lũ
chim nướng th́ tuyệt cú mèo!
Năm tôi sáu tuổi, cha tôi gởi tôi trọ học ở một nơi cách nhà chừng 10 cây số.
Ông thầy ở đó cho tôi cùng ba tên học tṛ nhỏ khác ăn, ở, học hành, và cai quản
luôn công việc của chúng tôi sau giờ học. Thức ăn rất tệ, kỷ luật hà khắc và
h́nh phạt bị khẻ thước trên đầu ngón tay là chuyện thường xuyên. Mỗi ngày, sau
sáu giờ học tập ở trường, về nhà chúng tôi c̣n phải chúi đầu vào học thêm bốn
tới năm tiếng nữa. Tôi nhớ nhà và cha mẹ đến nỗi một hôm, sau buổi học, bỗng
dưng một cảm giác kỳ lạ xâm chiếm ḷng tôi và tôi bỏ trốn, chạy một mạch về nhà.
Đó là một chuyến đi khủng khiếp và dài dằng dặc đối với một đứa nhỏ sáu tuổi –
chạy bộ một quăng đường dài 10 cây số. Về tới nhà tôi mới hay mẹ tôi bịnh rất
nặng phải chuyển vào bệnh viện. Đây là lần đầu tiên tôi nhận thức ra rằng có một
mối liên kết vô h́nh nhưng hùng mạnh giữa cha mẹ và con cái, bất chấp thời gian
và khoảng cách: khi một tai nạn hay một biến cố quan trọng xảy ra cho một đứa
con, hoặc cho cha hay mẹ, th́ cha mẹ hay đứa con sẽ có linh cảm rằng vừa mới xảy
ra một điều ǵ đó quan trọng trong gia đ́nh.
Năm tôi bảy tuổi, tôi được nhận vào học trường tiểu học Paul Bert – cái tên được
đặt để tưởng niệm viên toàn quyền thực dân Pháp – cách nhà tôi khoảng 3 cây số,
cha tôi làm hiệu trưởng ở đó. Lẽ ra tôi đă vào đây từ năm ngoái, nhung chưa đủ
tuổi, nên đành phải học tư ở ngoài – thời đó bảy tuổi mới bắt đầu được học lớp
Năm – lớp đầu tiểu học. Ngày ngày tôi đi bộ đến trường, đem theo sách vở và bữa
ăn trưa gồm có cơm nắm và muối mè hay muối đậu. Tôi ở lại trường suốt ngày, và
cứ đến buổi trưa, tôi lại ngửi thấy cái mùi muốn nôn mửa mà tôi ghét cay ghét
đắng của thịt chó nướng từ một tiệm ăn Bắc Kỳ ngoài trời, gần bờ sông Hương. V́
vậy mà ngày nào tôi cũng phải t́m cách ăn giữa hai giờ học để tránh cái mùi thịt
chó cứ theo ám bữa cơm trưa của tôi. Và đó cũng là lư do v́ sao lớn lên tôi rất
ghét món thịt cầy, vốn là món ăn khoái khẩu của một số dân miền Bắc. Thật khôi
hài khi một mùi hôi như vậy lại cận kề con sông Hương – “con sông của hương
thơm”.
Nhắc tới chó, tôi phải nói rằng tôi luôn luôn ghét chó, bởi hồi nhỏ tôi đă bị
chó cắn tới ba lần và cứ mỗi lần như vậy tôi lại phải chịu hai mươi mốt mũi kim
tiêm vào bụng để ngừa bịnh dại – những mũi kim tiêm đau khủng khiếp, đau hơn ta
tưởng rất nhiều. Sau này, trong thời gian sống ở Mỹ, có một đêm khi tôi đang
chạy thể dục chầm chậm trong một sân trường gần nhà, th́ từ trong một bụi rậm,
một con chó đen to lớn xồ tới cắn vào cánh tay phải tôi. Thật rùng rợn khi trong
một đêm trời rất tối và rất yên tĩnh, bỗng có một vật ǵ đen ng̣m và to lớn bất
th́nh ĺnh nhảy xổ lên anh và cắn anh! Mỗi khi tôi đến thăm một người em hay một
người bà con, nh́n thấy họ vuốt ve con chó cưng của họ, tôi không thể sờ vào nó
hay giả bộ thích nó được. Bất cứ khi nào nó liếm tay tôi, tôi đều rùng ḿnh và
cảm thấy một luồng sóng run rẩy chạy dọc xương sống…
Năm 1935 cha tôi được thuyên chuyển vào Quảng Nam, một tỉnh kề cận Huế ở phía
Nam, giữ chức chánh thanh tra học đường, phụ trách tất cả các trường trong tỉnh.
Ông cư trú ở Điện Bàn, ngay tại uỷ ban quận. Dưới quyền ông là tám mươi tám
trường tiểu và trung học, rải dài từ biên giới Lào tới bờ biển Thái B́nh, một
diện tích chừng 80 cây số chiều dọc và 200 cây số chiều ngang. Với chiếc xe đạp
cũ, ông quyết định mỗi năm phải ghé thăm mỗi trường ít nhất hai lần, và mỗi lần
như vậy thanh tra từng lớp học (mỗi trường năm lớp). Ông thường khởi hành lúc 4
hoặc 5 giờ sáng và trở về nhà khoảng 6 –7 giờ tối, đem theo cơm nguội cùng muối
mè hay muối đậu. Có khi ông ở lại qua đêm tại nhà một người bạn, hay ngủ trên
một cái ghế dài ở một trường nào đó. Ông là người sống giản dị nhưng tận tuỵ với
bổn phận và công việc đến nỗi tất cả các giáo viên đều thương và quư ông. Ông đi
xe đạp trong một thời gian dài và nhiều đến nỗi sau này trong bài điếu văn đọc
tại đám tang ông, một người bạn của ông, cũng là một giáo viên, nói rằng có lẽ
cha tôi đă đi tới 4 ṿng bao quanh trái đất trên chiếc xe đạp cũ kỹ duy nhất của
ông. Ông làm việc có lương tâm và chăm chỉ đến nỗi năm nào ông cũng được cấp
trên khen ngợi, tán dương và khen thưởng. Tên ông luôn luôn đứng ở hàng đầu
trong danh sách đề bạt hằng năm.
Anh em tôi học ở Vĩnh Điện, cách nhà 6 cây số, đi bộ. Thời gian đó chúng tôi
chưa có giày dép ǵ cả, gia đ́nh tôi vẫn c̣n rất nghèo và cha mẹ tôi chưa đủ sức
mua giày cho bất cứ ai trong nhà trừ cha tôi. Chúng tôi cuốc bộ trên con đường
quốc lộ 1, lúc bấy giờ đă được tráng nhựa. Khi trời nắng nóng, nhựa hắc ín mềm
ra và nóng bỏng; và bàn chân chúng tôi đau nhức sau 6 cây số cuốc bộ về nhà. Mỗi
năm có hơn sáu tháng mưa, khi trời mưa giữa trưa th́ nước bốc hơi và không khí
đầy hơi nóng hết sức ngột ngạt. Chúng tôi vẫn khoác những cái áo tơi và nón lá
chúng tôi từng mang khi đi bắt chim mỏ nhát ở Huế. Chúng tôi đi học từ sáng sớm
và ở lại trường suốt ngày. Khoảng giữa 11 giờ rưỡi và 2 giờ trưa, chúng tôi chơi
hoặc học bài trong sân chơi của nhà trường. Bữa ăn trưa của chúng tôi là cơm vắt
với muối mè hay muối đậu.
Chính trong khoảng thời gian này tôi gặp vị Tổng thống tương lai của Việt Nam,
ông Ngô Đ́nh Diệm, lần đầu tiên. Anh trai của ông, Ngô Đ́nh Khôi, là Tổng đốc
tỉnh Quảng Nam, mà Vĩnh Điện là tỉnh lỵ. Người con duy nhất của Khôi, Ngô Đ́nh
Huân, rất gần gũi với cha ḿnh. Cũng như ông Diệm, cả hai đều là người Thiên
Chúa giáo cuồng nhiệt và triệt để chống cộng.
Ngô Đ́nh Diệm là một thành viên của Viện Cơ mật dưới triều vua Bảo Đại vào những
năm 30. Ông là người nhiệt thành theo chủ nghĩa quốc gia và đă từ chức v́ bất
đồng ư kiến với viên Khâm sứ Pháp, người giám sát tất cả mọi hành động của triều
đ́nh Huế. Những quan điểm quốc gia của ông không làm vừa ḷng thực dân Pháp nên
Bảo Đại phải để ông đi. Diệm vào Quảng Nam ở với anh của ông là Khôi, trồng hoa,
nuôi chim quư và chơi phong lan. Cha tôi cũng nuôi chim và trồng hoa phong lan
và cái thú vui chung này đă tạo nên một mối quan hệ thân thiết giữa ba người.
Khôi và Diệm quư cha tôi v́ sự thanh liêm và năng lực của ông. Cha tôi thường
ghé thăm họ ngày chủ nhật, và lúc nào cũng dắt tôi theo. Cả ba người cùng nhau
ngắm hoa và bầy chim xinh xắn mà họ nuôi dưỡng. Đôi lúc họ thảo luận chính trị,
nhưng hạ giọng nói rất nhỏ và liếc nh́n chung quanh như coi chừng bọn mật báo
viên hay điểm chỉ được gài trong đám nhân viên hay đầy tớ của họ. Một đôi khi
cha tôi bận việc, ông sai tôi xuống phố đưa hoa và chim cho ông Diệm, và ông này
thường xoa đầu tôi như để khen thưởng. Việc này sẽ rọi một ít ánh sáng lên cuộc
gặp gỡ sau này giữa tôi và ông Diệm.
Ngô Đ́nh Khôi và con trai ông ta có một kết cuộc bi thảm vào năm 1945 khi cộng
sản lật đổ chính quyền ở Quảng Nam. Nhân danh quần chúng nhân dân, họ lập toà án
quân sự và kết án tử h́nh Khôi. Khi họ dẫn ông ta ra sân bắn, con trai ông là
cậu Huân nắm lấy áo cha ḿnh kéo lại. Những người cán bộ cộng sản quát tháo và
đánh anh ta, Khải nói chẳng thà anh ta chết với cha, và họ bắn cả hai người.
Một vài ngày trước đó, ông Diệm đă trốn ra Bắc với hy vọng tới được lực lượng
quốc gia đóng ở ngoài ấy để đi t́m sự giúp đỡ của quân đội Nhật Bản. Nhưng h́nh
như ông không tiếp xúc được với bộ chỉ huy quân đội Nhật nên phải trốn tránh,
nhưng rồi vẫn bị bắt và giải ra Hà Nội. Ông được thả ra theo lệnh của ông Hồ Chí
Minh – ông Hồ coi Diệm là một người quốc gia yêu nước.
Vào thời gian ấy tôi bắt đầu làm quen với môn quần vợt – tennis. Cha tôi
là một trong những người Việt Nam đầu tiên chơi tennis vào những năm đầu
thập niên 20 ấy. Đầu tiên ông gia nhập một câu lạc bộ ở Quảng Trị do chính người
Việt Nam thành lập, v́ cái Club Sportif (câu lạc bộ thể thao) chỉ dành
riêng cho người Pháp, tương tự như việc phân biệt chủng tộc giữa người da đen và
da trắng ở Mỹ trước những năm 60. Vĩnh Điện vốn ở xa các thành phố lớn, không hề
có câu lạc bộ lẫn sân quần vợt. Cha tôi đă tự ḿnh xây một cái sân “đất nện” với
sự góp sức của những người “anh em” của tôi. Nhưng đất ở đây không phải loại đất
đỏ, mềm và mịn như ở các sân đất châu Âu hay Mỹ. Khi khô nó cứng như xi-măng,
c̣n khi ướt nó mềm và trơn trượt. Lưới là một tấm rào đan bằng tre. Chúng tôi
chơi bằng những cái vợt cắt từ các tấm ván, không hề có lưới đan mặt vợt, c̣n
bóng là những quả bóng xài rồi được vất bỏ tại các sân quần vợt ở Faifo
(Hội An), một thành phố cách nhà tôi chừng 10 cây số, mà lũ trẻ nhặt bóng ở câu
lạc bộ đem bán lại. Nhưng chúng tôi rất hănh diện về cái sân của ḿnh. Nhiều nhà
vô địch môn quần vợt đă tới chơi bóng với chúng tôi, v́ cha tôi vốn là người hào
phóng và mẹ tôi là một đầu bếp cừ khôi và cũng là một bà chủ nhà duyên dáng hiếu
khách. Tôi đă học đánh tennis với những cái vợt gỗ như vậy và đă thu
hoạch cái thói quen chơi bóng tệ hại từ đó.
Sau khi xong bậc tiểu học, tôi được cha tôi gởi ra Huế để theo học trung học đệ
nhất cấp ở trường Khải Định (đặt theo tên vua Khải Định). Tôi ở kư túc xá của
nhà trường: khoảng 100 học sinh ngủ trên hai dăy giường gỗ cứng, không nệm, dưới
một cái mùng. Thức ăn dở kinh khủng c̣n kỷ luật th́ nghiêm khắc. Tới giờ ăn,
chúng tôi được dọn ăn, cứ bốn tên một bàn với ba hoặc bốn dĩa đồ ăn. Bọn tôi c̣n
trẻ và đứa nào cũng háu ăn. Khi một dĩa thức ăn vừa được bày ra trên bàn, ba tên
kia lập tức gắp lấy món ăn bỏ vô chén của ḿnh, trên bàn hầu như không c̣n ǵ
cả. Tôi là đứa ăn chậm – tới giờ này cũng vậy – nên tôi vừa và xong miếng cơm
đầu tiên th́ trên bàn đă hết sạch. Hầu hết thời gian tôi đều rời bàn với cái
bụng trống, và tôi phải t́m cách trốn ra ngoài – sau giờ học mọi cánh cửa đều bị
khoá – để mua bánh ḿ ở một bà bán hàng vốn rất am hiểu t́nh cảnh của những tên
học tṛ ăn chậm như tôi. Đó là một mục chi tiêu lớn trong ngân sách c̣m cơi hàng
tháng của tôi, và tôi đành phải hy sinh những mục khác.
Trường Khải Định là một trường hỗn hợp trai gái học chung, nên có một nữ sinh cứ
mỗi buổi sáng trên đường tới lớp lại đi băng ngang sân chơi của chúng tôi. Cô
rất dễ thương và rất xinh đẹp và tôi cảm thấy yêu cô, lần đầu tiên trong đời.
Nhưng v́ rụt rè, không bạo gan như đám con trai sành sỏi, tôi không bao giờ dám
nói chuyện với cô. Về sau tôi nghe cô đă vào tu viện và trở thành một nữ tu.
Năm 1941 tôi tốt nghiệp với thứ hạng cao, cha mẹ tôi thưởng tôi bằng cách cho đi
nghỉ hè ở Đà Lạt, một nơi nghỉ mát ở cao nguyên, với người chú của tôi – chú
Tân. Đà Lạt là một nơi nghỉ mát rất đẹp do thực dân Pháp xây dựng dành riêng cho
người Pháp. Người Việt Nam không được sống ở đây nếu không được phép. Những
người Việt Nam từ tỉnh khác muốn lên đây phải có giấy thông hành – “passport”,
hay thẻ căn cước. Vào thời gian ấy, chỉ có một con đường để lên Đà Lạt – một con
đường hẹp chạy ṿng vèo qua các cánh rừng, và một đường sắt có răng cưa cho xe
lửa.
Tôi về Quảng Trị, quê tôi, để xin cấp thẻ căn cước, và chính nơi đây lần đầu
tiên tôi nếm mùi cay đắng với nền hành chánh độc tài của thực dân. Vừa đặt chân
đến Quảng Trị, tôi đi ngay tới toà thị chính để nộp đơn xin cấp thẻ căn cước.
Tôi đang đi bộ một ḿnh ở một bên đường, th́ th́nh ĺnh từ phía bên kia, tôi
nh́n thấy một viên thiếu uư Pháp chạy ào về phía tôi, và, cực kỳ đáng sửng sốt,
hắn xáng cho tôi một bạt tai vào mặt.
“Mày không biết tao hả”, hắn hỏi. “Tao là sếp garde indigène toàn thị xă
này mà mày lại dám không chào tao! Lần sau thấy tao th́ lo mà chào, dù ở xa cũng
phải chào. May mà tao thấy mày là dân ngoài thành phố, không th́ tao đă tống mày
vô tù rồi!”
Tôi sôi lên v́ tức giận và căm thù, nhưng làm sao được? Tôi chỉ cần nói một
tiếng là hắn tống cổ tôi vô tù ngay lập tức. Và nếu tôi vẫn khăng khăng đ̣i công
lư, hắn không những chỉ tống tôi vô tù, mà c̣n vu tôi là cộng sản và sẽ cho tôi
tiêu luôn, không bằng cách này th́ bằng cách khác. Sau này tôi biết đó là cách
đối xử mà người dân Việt Nam ở các tỉnh lẻ phải gánh chịu mà không kêu ca vào
đâu được. Thời gian đó tại các thuộc địa của Pháp, viên chức Pháp có quyền hành
tuyệt đối, và người Pháp muốn làm ǵ cũng được. Không hề có luật lệ trong cách
đối xử với người dân bản xứ! Sự cố này đă có một tác động sâu xa tới t́nh cảm
của tôi đối với người Pháp và ách thống trị thực dân, đối với đất nước và đồng
bào Việt Nam của tôi. Một quyết định h́nh thành trong đầu tôi, một lời hứa long
trọng với chính ḿnh: tôi sẽ dốc tất cả sức lực để tống cổ bọn Pháp ra khỏi đất
nước.
Sau khi thi đậu tú tài một ở năm áp chót cấp trung học – theo lối giáo dục Pháp,
với thứ hạng cao, tôi được thưởng nguyên một bộ veston: trong đầu óc tôi,
tôi đă thành người lớn! Một lần nữa tôi được lên Đà Lạt ở nhà chú Tân tôi. Tôi
cũng được mời dạy toán cho hai cô con gái của viên Thống đốc Pháp ở Đà Lạt. Điều
này đă cho tôi có một tư thế đặc biệt, và rất nhiều người nh́n tôi một cách thán
phục và thèm thuồng, nhất là đám con gái.
Chính tại Đà Lạt tôi đă gặp mối t́nh đầu tiên trong đời, một t́nh yêu thật sự,
đó là một cô gái dịu dàng xinh đẹp người Huế, cô con gái lớn của một nhà thầu
rất giàu. Tôi cũng được mời dạy toán cho cô và cô em gái của cô. Rồi cả hai đều
yêu tôi, nhưng tôi chỉ yêu người chị, và cô cũng đáp lại mối t́nh của tôi. Cô em
gái vốn ít bị cha mẹ để ư xét nét nên được tự do hơn, cố hết sức làm tôi chú ư
tới ḿnh, nhưng ḷng tôi chỉ hướng về người chị, cô dịu dàng hơn và cũng xinh
đẹp hơn. Thế nhưng mối t́nh của chúng tôi không bao lâu phải chấm dứt lúc cha cô
biết gia đ́nh tôi rất nghèo và cấm cô không được gặp tôi nữa, khi mùa hè đă hết
và những giờ học toán đă xong. Phần tôi, v́ ḷng tự ái, tôi cũng nhất định quên
cô, khi tôi nghe câu chuyện đó, mặc dầu tôi luôn luôn yêu cô. Sau này tôi được
biết mẹ cô hết sức tiếc nuối khi bà biết tôi đă tốt nghiệp trường đại học thương
mại danh tiếng nhất Paris, thủ đô nước Pháp, và tôi đă giữ những chức vụ cao
trong chính quyền và trong những tổ chức quốc tế.
Nguồn: Cuốn hồi kư này được tác giả tự xuất bản lần đầu năm 2004 tại California. Bản đăng trên talawas là ấn bản lần thứ nh́, có một số hiệu đính và bổ sung, bản điện tử do tác giả cung cấp.
II. Thời trung và đại học
Năm 1944, tôi tốt nghiệp trung học khi thi đậu bằng tú tài hai, thường được gọi
là Bac II, với hạng B́nh (Mention Bien). Điều này làm cho cha mẹ
tôi rất đỗi vui ḷng và tự hào v́ hai người tuy rất nghèo nhưng đă ráng chịu
thiếu thốn nhiều bề để cho tôi và em Minh tôi được học lên trung học. Có một
chuyện vui là vào năm thi tú tài I, sau phần thi viết, tôi đang xem bảng th́ có
một cô giáo người Anh ra t́m tôi, tự giới thiệu là cô Wilkinson ở Hà Nội vào
chấm thi. Cô cho tôi hay bài của tôi được điểm cao nhất, và cô muốn gặp người
học sinh đạt được điểm cao nhất ấy… Sau đó, khi thi vấn đáp, cô lại khen tôi. Cô
rất xinh đẹp nên tôi không khỏi đôi khi bâng khuâng nhớ nghĩ về cô. Dưới thời
thuộc điạ, người da trắng hay khinh miệt người da vàng, mà có một câu chuyện như
vậy, cũng là một điều rất lạ.
Mẹ tôi đặc biệt sung sướng v́ giữa gia đ́nh bên nội và bên ngoại của tôi có một
sự thi đua, có thể nói là ganh đua, rất dữ tuy vẫn thân t́nh, về chuyện học hành
của con cái. Dĩ nhiên là mẹ đứng về phía chúng tôi v́ là con ruột của bà. Tôi
vốn học giỏi khi c̣n học trung học và cả sau này khi lên đại học, lúc nào tôi
cũng xuất sắc hơn đám anh chị em bà con và cả mấy ông cậu của tôi. Cứ sau mỗi kỳ
thi, một vài ông cậu của tôi lớn tiếng tuyên bố sẽ đậu cao, nhưng khi kết quả
được công bố th́ họ rớt đài, c̣n tôi th́ không nói ǵ nhưng cuối cùng lại đậu
cao. Điều này làm cho bọn thanh niên em út cười nói đă đời và cha mẹ tôi th́ cứ
mỉm cười thú vị. Chuyện tôi học giỏi và thi đâu đậu đó giúp cha mẹ tôi thêm can
đảm, hy sinh thêm nhiều tiền của để cho tôi vào học ở trường đại học Hà Nội và
sau này ở Pháp. Và cho tất cả các em trai và em gái tôi vào học ở các trường đại
học châu Âu và Mỹ.
Thời bấy giờ chúng tôi đang sống dưới sự chiếm đóng của quân đội Nhật. Năm 1941
sau một cuộc chiến ngắn ngủi, quân Pháp thua trận một cách thảm hại ở biên giới
phía Bắc và buông súng đầu hàng. Chính quyền thực dân Pháp phải chấp nhận cho
quân đội Nhật Bản chiếm đóng toàn bộ bán đảo Đông Dương. Người Nhật vẫn để viên
Toàn quyền Pháp cai quản việc hành chánh trong nước, nhưng trong tất cả mọi lănh
vực khác th́ họ nắm lấy quyền chuyên chính của một đội quân chiếm đóng. Máy bay
Đồng minh (gồm các nước Mỹ, Anh, Trung Hoa) dội bom mỗi ngày, nhất là tuyến
đường sắt vốn là tuyến vận chuyển chính của quân đội Nhật. Xe lửa chỉ chạy ban
đêm, ban ngày nghỉ. Hành khách th́ ban ngày ngủ trên các toa xe, hay trong các
nhà ga xe lửa, để đêm lại lên tàu tiếp tục cuộc hành tŕnh. Đôi khi đang giữa
đêm chúng tôi nghe tiếng bom nổ và con tàu dừng lại giữa đường và hành khách
phóng xuống các đám ruộng chung quanh hay chạy nấp trong các bụi cây để tránh
miểng bom đạn. V́ tất cả các cây cầu đều bị sập hoăc bị phá huỷ hoàn toàn nên
người ta qua sông trên những chiếc phà cũ kĩ chạy bằng mô-tơ cũ hoặc kéo bằng
tay để rồi lại leo lên một chiếc xe lửa khác ở bên kia sông. Chúng tôi phải mất
ba ngày để đi từ Huế đến Hà Nội, cách nhau chừng 500 dặm.
Hà Nội là một thành phố rất đẹp, hoàn toàn khác Huế và các thị trấn quanh Huế.
Thành phố cổ kính này, với những ngôi chùa và đền miếu xinh đẹp, đă gây một ấn
tượng sâu sắc trong ḷng một thanh niên nghèo đến từ một thị trấn xa xôi hẻo
lánh. Tôi mua một chiếc xe đạp cũ và đạp ḷng ṿng khắp Hà Nội trong khi chờ năm
học tới.
V́ đại học Hà Nội chỉ có ba phân khoa là Luật, Y và Khoa học, nên tôi ghi danh
học Luật và Y khoa. Tôi học rất chăm và luôn luôn ở trong tốp sinh viên đứng đầu
của trường Y. Lần đầu tiên trong đời, tôi để dành nhiêu thời giờ suy nghĩ về
chính trị và t́nh yêu nước. Tôi dự các buổi mít-tinh của phong trào sinh viên và
tham gia vào những vụ quấy rối đám sinh viên người Pháp và bọn mật vụ Pháp được
gài vô để theo dơi sinh viên Việt Nam. Những trận đánh nhau giữa sinh viên Việt
Nam và sinh viên Pháp xảy ra hầu như mỗi ngày sau giờ tan học và thường có tôi
trong những vụ đánh nhau trên đường phố.
Người bảo trợ cho tôi đi học là cậu của mẹ tôi, ông là Tổng đốc của một tỉnh kế
cận. Rơ ràng ông không thích thái độ chính trị của tôi. Cứ mỗi tháng, cùng với
hai người cậu, tôi lại đạp xe vượt 40 cây số đường trường để về Hưng Yên thăm
ông cậu và nghe ông quở trách. Hai cậu tôi th́ không giống tôi, họ được coi là
những sinh viên gương mẫu v́ họ không tham dự vào các hoạt động chính trị. Bởi
v́ một phần học phí của tôi là do ông cậu chu cấp nên điều này là cả một vấn đề
lớn cho tôi và cho mẹ tôi.
Thế rồi tất cả đều chấm dứt ngày 9 tháng Ba năm 1945, khi giữa đêm tối quân đội
Nhật th́nh ĺnh đảo chính và chiếm trọn bán đảo Đông Dương và bỏ tù tất cả các
quan chức và nhân viên người Pháp, tước vũ khí quân đội Pháp. Tất cả mọi trường
trung và đại học đều đóng cửa và sinh viên được khuyến cáo trở về nhà chờ chỉ
thị của chính quyền quốc gia Việt Nam vừa mới được thành lập với sự giúp đỡ của
quân đội Nhật. Dư luận râm ran về chuyện Kỳ Ngoại Hầu Cường Để sắp về nước, sau
nhiều năm lưu vong ở Nhật Bản. Bởi v́ ông là một người quốc gia đă chấp nhận từ
chức chớ không chịu hợp tác với chính quyền Pháp, nên mọi người đều phấn khởi và
tràn trề hy vọng, mong ông về sớm để thành lập chính phủ. Than ôi, điều ấy không
bao giờ có. Không rơ chuyện ǵ đă xảy ra với ông.
Tôi về nhà.
Trong những tháng tiếp theo, đất nước trải qua một trận đói khủng khiếp. Người
chết đói la liệt khắp mọi nơi. Từng đoàn, từng đoàn người đói lũ lượt kéo đi
khắp làng, khắp phố kiếm ăn và xin cứu giúp. Gia đ́nh tôi có truyền thống mở
rộng cửa đón khách nên người ta kéo tới xin ăn, đôi khi giữa bữa ăn, họ đến tận
bàn ăn, nh́n vào thức ăn nghèo nàn của chúng tôi với cặp mắt thèm thuồng và cái
miệng chảy nước miếng. Chúng tôi cũng không đủ ăn, nhưng phải chia bớt cho họ.
Tôi biết là trong trận đói này có hơn một triệu người chết đói. Vậy mà đất nước
tôi lại là một trong những nước sản xuất lúa gạo nhiều nhất thế giới, mỗi năm
xuất khẩu hơn một triệu tấn! Tôi nghe nói là người Nhật v́ cũng thiếu gạo nên đă
chở tất cả số gạo đang có về Nhật, làm cho Việt Nam lâm vào t́nh trạng thiếu gạo
hết sức trầm trọng.
Cả nhà chúng tôi ai cũng thiếu ăn, nhưng cha mẹ tôi thiếu ăn hơn tất cả: trước
hết v́ phải ưu tiên dành cho con cái, và sau đó c̣n phải giúp đỡ người khác. Hơn
bao giờ hết, căn nhà chúng tôi đông nghẹt những đứa trẻ được nhận nuôi, bạn bè
và bà con đủ kiểu. Chúng tôi chỉ ăn một ngày hai bữa, mỗi người được hai chén
chứa đủ các thứ rau nhặt nhạnh sau vườn, phía trên phủ vài hột cơm. Đôi khi hết
gạo, chúng tôi phải thay bằng mấy lát sắn khô. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng được
cung cấp ít chất đạm nhờ mấy con cá mà em Trí của tôi và tôi câu được ở con sông
gần đó, hoặc một hai cái trứng mỗi tuần từ bầy gà vịt nuôi trong nhà. Đây quả là
quăng thời gian của biết bao nhiêu đau khổ và hy sinh. Sau này, khi là Tổng giám
đốc của hai ngân hàng, tôi thường đi lại Paris, New York, Washington nhiều lần
và được các ngân hàng bạn chiêu đăi thịnh soạn. Khi ăn trứng cá, gan ngỗng và
uống đủ thứ rượu khai vị, sâm banh, và hai hay ba ly rượu vang trong một
bữa ăn, tôi không thể nào không nhớ lại những ngày tôi chỉ được một cái chén
đựng đủ thứ rau khốn khổ sau vườn nhà.
Khi tôi c̣n nhỏ, chúng tôi sống ở Quảng Trị trong một ngôi nhà gạch do cha tôi
xây, nằm trên con lộ chính của thị xă. Nhưng từ đó trở đi, v́ cha tôi là một
thầy giáo giỏi và năng nổ nên cứ được thăng chức đều đặn hai năm một lần, và
chúng tôi phải di chuyển nhiều lần từ tỉnh này sang tỉnh khác. Ngoại trừ ở Quảng
Nam, nơi cha tôi thuê được một ngôi nhà ngói, c̣n th́ ở bất cứ nơi đâu ông
chuyển tới, cha tôi cũng phải dựng một căn nhà mái tranh, nền đất nện và vách
phên tre trét bùn. Thông thường chỉ có một pḥng riêng có tấm ngăn dành cho cha
mẹ tôi, c̣n cả bọn chúng tôi ngủ trên mấy chiếc giường gỗ hay bộ ngựa không đệm.
Nhà lúc nào cũng đông cứng người v́ cha tôi thường hay đưa về nhà những sinh
viên nghèo hay những người bà con nghèo làm con nuôi. Ở bất cứ nơi đâu chúng tôi
chuyển đến, tôi cũng có từ tám tới mười người anh em hay chị em nuôi, và ban đêm
giường nào cũng chật cứng người nằm. Cha tôi lúc nào cũng đầy ḷng thương người,
tuy lúc nào ông cũng nghèo.
Tôi c̣n nhớ măi nỗi sợ cháy nhà vào mùa hè, khi đợt gió Lào khô khốc, rất nóng
và rất mạnh từ đất Lào thổi qua Việt Nam (tương tự gió Santa Ana ở vùng
California) với vận tốc lên tới 50-60 km một giờ, làm ngọn lửa bốc cháy, lan hết
dăy nhà tranh này tới dăy nhà tranh khác, đôi khi đốt trụi cả ngôi làng. Cha tôi
leo lên nóc nhà, tưới nước lên mái tranh để ngăn lửa. V́ chúng tôi chẳng bao giờ
có nước máy nên cả bọn chúng tôi chạy ùa tới giếng nước, dùng gàu kéo nước lên
và chuyền tay tới cha tôi. Ngọn lửa bốc cao lên trời làm bầu trời đỏ rực và nóng
hổi. Quang cảnh thật là đáng sợ và nếu ngọn lửa liếm tới nhà chúng tôi, chắc nó
sẽ bị thiêu rụi trong ṿng vài phút. May sao là chúng tôi chưa hề bị cháy nhà
lần nào, mặc dù tất cả các ngôi nhà đều xây như nhau với mái tranh và phên tre.
Sau khi chính phủ Việt Nam đầu tiên của Trần Trọng Kim được thành lập dưới lá cờ
độc lập quốc gia (trong khuôn khổ Khối Thịnh vượng Đại Á) th́ một trường quân sự
– trường Thanh niên Tiền tuyến – được thành lập tại Huế, và tôi cùng một số sinh
viên từ Hà Nội và Sài G̣n đăng kư vào đây. Thầy dạy chúng tôi là những sĩ quan
Việt Nam trong quân đội Pháp bỏ về. Tất cả chúng tôi đều rất tự hào được ở trong
ngôi trường quân sự đầu tiên để phục vụ tổ quốc. Trang bị của chúng tôi rất ít,
chỉ là những khẩu súng cũ kỹ từ thời thế chiến thứ nhất được quân đội Nhật bí
mật trao cho. Và rất ít đạn dược. Chúng tôi hầu như không có tập bắn, nhằm dành
đạn cho những trường hợp khẩn cấp.
Thời gian đó De Gaulle đă trở về nắm quyền ở Pháp sau khi Đức bại trận và nước
Pháp đang t́m cách tái chiếm Đông Dương vốn được coi là “ḥn ngọc của đế quốc
Pháp.” Nền độc lập quốc gia dưới sự bảo trợ của Nhật Bản làm nhân dân phấn khởi
rất nhiều. Nhưng sau khi Nhật thua trận, chúng tôi luôn lo lắng là Pháp sẽ xâm
lược. Việc lính Anh vào miền Nam để giải giới quân Nhật càng làm tăng thêm nỗi
lo này v́ chúng tôi ngờ rằng nước Anh sẽ giúp Pháp tái chiếm Đông Dương. Những
lời đồn đăi về việc lính nhảy dù Pháp đang được thả xuống những vùng xa lan toả
khắp nơi và người dân bắt đầu chuẩn bị cho một thời kỳ bị vây hăm lâu dài và
gian khổ, nhưng tất cả đều cương quyết giữ cho được nền độc lập mới mẻ và chống
trả quân xâm lược Pháp.
Tại trường quân sự của chúng tôi, các sĩ quan cố hết sức kiếm thêm súng và đạn
dược, nhưng dưới áp lực của chính phủ Pháp, quân đội Nhật từ chối không cho
chúng tôi thêm súng nữa, ngoại trừ một vài khẩu súng rỉ sét có từ thời trước
chiến tranh mà dân quân Việt Nam trước đây sử dụng.
Một ngày kia, chúng tôi được tin quân nhảy dù Pháp đă đổ bộ xuống Cửa Thuận, một
cửa biển cách Huế chừng 12 cây số. Chúng tôi thuê hai chiếc xe tư nhân để di
chuyển, rồi tiến về Cửa Thuận dưới quyền vị chỉ huy trưởng của chúng tôi là Phan
Tử Lăng, và viên chỉ huy phó là Hà Văn Lâu, người sau này gia nhập lực lượng du
kích cộng sản và trở thành đại sứ của Bắc Việt tại Liên Hiệp Quốc. Chúng tôi đến
Cửa Thuận, và trong đêm tối bao vây căn nhà mà đám lính Pháp trú đóng. Đám lính
này không hề chờ đợi cuộc thăm viếng của các chiến sĩ Việt Nam, và chúng tôi đă
tóm hết cả đám một cách dễ dàng, không cần bắn một phát đạn. Về sau trong khi
thẩm vấn, chúng tôi mới biết rằng bộ chỉ huy của chúng ở Ấn Độ – đám lính này
đến từ Pondichery, một thuộc địa của Pháp ở Ấn Độ – đă nói với chúng là dân Việt
Nam rất trung thành với nước Pháp và chúng sẽ được đón chào như “những người anh
em”.
Trong thời gian này tôi gặp một tai nạn buồn cười: chúng tôi được học về súng và
chiến lược quân sự nhưng không có đủ đạn để tập bắn. Trong khi bao vây căn nhà
bọn Pháp đóng quân, tôi đă vô t́nh kéo c̣ súng, nhưng may lúc ấy mũi súng đang
chĩa xuống đất và viên đạn chui xuống cát, cách ngón chân cái của tôi chỉ có vài
phân.
Sau đó ít lâu, một buổi sáng chúng tôi thức dậy với cái tin Việt Minh dưới sự
lănh đạo của ông Hồ Chí Minh, đă chiếm tất cả mọi cơ sở chính phủ ở Hà Nội và đă
giành lấy chính quyền trung ương với sự đồng t́nh ngấm ngầm của quân đội Nhật.
Chúng tôi không biết nhiều về Việt Minh ngoại trừ đó là một lực lượng kháng
chiến do Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức, dưới quyền lănh đạo của ông Hồ Chí
Minh; nhưng chúng tôi không thể cưỡng lại lời kêu gọi của Việt Minh khi mục đích
chính của chúng tôi là chiến đấu chống quân Pháp và bảo vệ nền độc lập nước nhà.
Chúng tôi chẳng biết ǵ nhiều về chủ nghĩa cộng sản và lúc ấy cũng chẳng quan
tâm bao nhiêu tới những rối rắm chính trị.
Vài ngày sau chúng tôi đón viên chính uỷ đầu tiên của khu uỷ Huế, anh ta đi tới
trường chúng tôi một ḿnh, vũ khí trang bị chỉ là một con dao găm. Anh ta cho
chúng tôi một bài diễn văn hùng hồn về phong trào Việt Minh và kêu gọi chúng tôi
giúp anh giành chính quyền tỉnh và tổ chức quân đội cho khu trung bộ, v́ Việt
Minh chưa có tổ chức quân sự nào ở khu này. Chúng tôi đều nhất trí chấp nhận lời
kêu gọi, giúp Việt Minh tổ chức một đội quân cho khu vực này, khi mà chính quyền
mới ở Hà Nội chưa thể hỗ trợ cho lực lượng Việt Minh tại đây. Sau buổi họp chúng
tôi mới biết được là giữa bọn chúng tôi có ba người cảm t́nh viên cộng sản, và
họ chờ tới lúc này mới xuất hiện.
Và vậy là chúng tôi đây, sắp dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mới, dưới một ngọn
cờ mới, với một đề án đồ sộ là xây dựng cả một quân đội từ một tốp lính lộn xộn
để chống lại quân đội hiện đại của Pháp, lúc này đang chuẩn bị đổ bộ xuống một
nơi nào đó dọc theo hai ngàn rưỡi cây số của bờ biển Việt Nam.
Ít lâu sau, tại Nam bộ quân Pháp đă quay trở lại, nấp sau lưng quân Anh lúc ấy
đă nhận lệnh của bộ tư lệnh Đồng minh là giải giới quân đội Nhật ở phía Nam vĩ
tuyến 17. Được quân Anh ủng hộ hoàn toàn, dùng Sài G̣n làm bàn đạp, bọn Pháp bắt
đầu tiến ra hướng Bắc bằng cả đường thuỷ lẫn đường bộ về nhiều địa điểm ở miền
Trung. V́ thành phố lớn đầu tiên chúng định chiếm là Nha Trang, đội quân chúng
tôi rút lui về Khánh Hoà ở mạn bắc Nha Trang và trấn giữ trận tuyến này một ít
ngày. Tôi được phong làm chỉ huy phó khu vực với cấp bậc Trung tá, cùng với một
trong ba người cảm t́nh viên cộng sản là đại tá Nguyễn Kèn, tổ chức cuộc kháng
chiến ở Nha Trang. Chúng tôi là một đội quân áo vải nghèo nàn với những người
lính vừa nhập ngũ mới toanh, vũ khí trang bị là những con dao róc mía, gậy tầm
vông, vài khẩu súng cổ lỗ sĩ từ thời thế chiến thứ nhất và một hai khẩu tiểu
liên loại nhỏ được mấy người lính Nhật có cảm t́nh với cuộc kháng chiến trao
tặng.
Thay v́ giải giới hoàn toàn quân Nhật, lính Anh chỉ tịch thu những vũ khí hạng
nặng c̣n vũ khí nhẹ th́ để lại cho quân Nhật và yêu cầu họ đánh chúng tôi để
b́nh định khu vực, và lính Pháp tiến sau lưng quân Nhật. Đại tá Kèn và tôi chỉ
huy quân lính kháng cự lại quân Nhật; chúng tôi cảm thấy buồn bă v́ phải đánh
Nhật thay v́ đánh Pháp. Những khẩu đại bác hùng mạnh từ chiến hạm Richelieu của
Pháp dội xuống đầu chúng tôi suốt ngày đêm và chúng tôi chẳng có ǵ để tự vệ
ngoài một số súng nhỏ. Chúng tôi mất dần trận địa và bị thương vong khá nhiều.
Chúng tôi rút lui về hướng Bắc, rồi khi đụng tuyến đường sắt cách thành phố
khoảng 6 cây số, chúng tôi vào nấp trong một đường hầm xe lửa để nghỉ lấy sức v́
chúng tôi đă chiến đấu liên tục suốt ba ngày ba đêm. Đêm hôm ấy, ḍ ra được chỗ
chúng tôi, chiến hạm Pháp hướng những khẩu đại bác hùng mạnh của nó về cả hai
đầu đường hầm. Quả là cả một địa ngục cho chúng tôi ở trong đó!
Tiếng đạn nổ dội trong đường hầm thực là khủng khiếp. Khi đạn ngừng nổ v́ một lư
do nào đó – chúng tôi không rơ – chúng tôi quyết định tháo chạy ra khỏi chỗ này
và tập hợp lại ở một ngôi làng cách đó khoảng ba cây số. Dân làng đón tiếp chúng
tôi hết sức nồng hậu và cho chúng tôi ăn uống, những thức nóng hổi mà suốt mấy
ngày qua chúng tôi chẳng có được một tí nào. Rồi chúng tôi lại di chuyển lên các
thôn xóm vùng sơn cước, trong khi lính Nhật và Pháp vẫn tiếp tục truy kích và
gây cho chúng tôi một số thương vong nữa. Chúng tôi vừa thua kém quân số và vũ
khí, vừa thiếu kinh nghiệm chiến đấu. Điều duy nhất chúng tôi có là ḷng can đảm
và ư chí kiên quyết chiến đấu cho đất nước.
Một ngày nọ trong khi đi tuần cùng sáu người lính trẻ, tôi bị thương và được đưa
tới một ngôi làng nhỏ trong rừng. Họ cột tay chân tôi lại, dùng kéo để gắp đầu
đạn ra khỏi đùi tôi mà không có lấy một tí thuốc tê. Bệnh viện dă chiến này được
đặt trong một ngôi chùa, chúng tôi không có đủ trang bị y tế, và cũng không có
đủ nhân viên; một bác sĩ và hai y tá đảm nhận tạm làm việc quần quật suốt đêm
ngày, chăm sóc cho thương binh. Vết thương của tôi được coi là nhẹ, tôi phải rời
giường bệnh để nhường chỗ cho một người lính khác bị thương nặng hơn. Tôi ở lại
làng này thêm một ít hôm nữa với một gia đ́nh nông dân, rồi sau đó được đưa về
nhà. Một người đồng đội cùng học trường quân sự với tôi là đại tá Hoàng cũng đi
về Huế. Trên chuyến tàu tôi gặp một người quen cũ, vốn là học tṛ của cha tôi
trước kia, hồi ở Quảng Trị. Anh ta bị bắt và cứ bị hai người lính áp tải đánh
đập măi. Tôi hỏi hai người lính v́ sao lại đánh anh ta, họ trả lời anh ta là một
tên mật vụ của Pháp trước đây mà họ đă truy ra được ở Nha Trang. Tôi nói với đại
tá Hoàng là tôi có quen biết với anh ta, chúng tôi phải làm sao cho anh ta đừng
có bị đối xử quá tàn tệ như vậy. Hoàng cho hai người lính biết cấp bậc của anh,
và nói họ để yên cho người tù. Nếu anh ta có tội, toà án sẽ trừng phạt đích
đáng, nhưng hai người lính không có quyền hành hạ anh ta. Người tù nh́n tôi khẽ
cười kín đáo để cám ơn. Anh ta sẽ c̣n nhớ sự cố nhỏ này và sau này sẽ giúp đỡ
tôi khi tôi gặp khó khăn.
Khi tôi về tới gia đ́nh, cha tôi quyết định tôi phải đi học trở lại, ngay cả khi
chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh hết sức eo hẹp về tài chánh. Trong khi chờ
ra Hà Nội, tôi ở lại chia sẻ với gia đ́nh cuộc sống khổ cực của trận đói vẫn
đang hoành hành trên cả nước lúc bấy giờ.
Chuyến đi Hà Nội hết sức khó nhọc, mọi cây cầu đều bị phá huỷ hoặc hư hỏng v́
máy bay Đồng minh, và chúng vẫn tiếp tục bắn vào những cây cầu đă hỏng và vào cả
đám đông tụ tập quanh bến phà hai bên sông. Cuộc hành tŕnh qua 600 cây số mất
tới ba ngày.
Tại Hà Nội tôi bắt đầu học y khoa và được chỉ định về pḥng hoa liễu. Những ǵ
tôi nh́n thấy tại đây sẽ c̣n đọng lại trong tâm trí tôi suốt đời. Tôi được nhiều
điểm cao và hai vị giáo sư chính từ Huế ra đây dạy nói rằng nếu tôi cứ tiếp tục
như vậy, sau này tôi sẽ trở thành một bác sĩ giỏi. Nhưng rồi tháng 12 năm 1946,
sau thất bại của bản tạm ước (modus vivendi) giữa ông Hồ Chí Minh và chính phủ
Pháp tại Paris, chiến tranh lại tái diễn, và một lần nữa trường bị đóng cửa. Tôi
lại về nhà và một lần nữa chính quyền cộng sản địa phương lại yêu cầu tôi gia
nhập quân đội và giúp họ tổ chức kháng chiến chống quân Pháp lúc này đang tiến
tới sau khi đổ bộ xuống Cửa Thuận, cách Huế khoảng 16 cây số.
Tôi tái ngũ và đóng quân tại ngôi trường cũ của ḿnh, trường trung học Khải
Định, với một số lính và sĩ quan mới. Tôi góp phần huấn luyện đám tân binh, tổ
chức việc vận chuyển và t́m kiếm thêm vũ khí từ những kho súng đạn cũ của quân
Pháp bỏ lại.
Một ngày kia có hai người lính Nhật tới cổng trường xin gặp tôi. Tôi bước ra và
trông thấy hai người lính mặc quân phục Nhật nhưng không mang vũ khí. Họ lịch sự
cúi chào tôi, và tôi đáp lễ. Họ biết rất ít tiếng Việt c̣n tôi th́ chỉ biết một
hai tiếng Nhật. Họ bèn viết cho tôi bằng chữ Hán, nhưng mà kho tiếng Hán của tôi
đă để quá lâu ngày nên tôi chỉ hiểu được một vài chữ, nhưng dù sao chúng tôi
cũng hiểu nhau được phần nào. Tên hai người này là Yamashita và Narita. Họ không
muốn đầu hàng quân Đồng minh nên quyết định gia nhập lực lượng chúng tôi, giúp
chúng tôi chống lại quân Pháp, bảo vệ nền độc lập. Điều duy nhất họ mong muốn là
cho họ được hướng về phía mặt trời vào lúc b́nh minh và lúc hoàng hôn để đảnh lễ
hoàng đế của họ. Tôi chấp nhận và chúng tôi đă sắp xếp để chiều tối hôm sau tới
đón họ tại đồn của họ. Từ đó trở đi hai người luôn theo tôi bất cứ nơi đâu giống
như hai người cận vệ. Chúng tôi thân thiết với nhau tới mức sâu nhất có thể đạt
được mà không cần trao đổi bằng ngôn ngữ. Họ viết tên và địa chỉ của họ trong
một mẩu giấy cứng nhỏ màu đỏ, pḥng trường hợp chúng tôi bị cách biệt nhau.
Chúng tôi hứa sẽ t́m nhau một khi chiến tranh chấm dứt. Nhà của Narita ở
Nagasaki, anh là một diễn viên điện ảnh, và em gái anh vẫn c̣n đóng phim cho
quân đội ở quê nhà. C̣n Yamashita th́ ở thị trấn Sendaye, tỉnh Hokkaido, anh là
y tá.
Vào cuối tuần, tôi được nghỉ phép và đưa hai anh về nhà ngoại tôi ở Nguyệt Biều
trên bờ con sông Hương xinh đẹp. Họ nói chuyện với ông ngoại tôi bằng chữ Hán,
thứ chữ mà cho tới năm 1930 là văn tự căn bản của người Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn
Quốc và Việt Nam. Chúng tôi cùng nhau câu cá trên sông Hương, và v́ không câu
được cá, chúng tôi liệng xuống sông một bó nhỏ thuốc nổ, rồi chúng tôi bơi ra
ngoài bắt những con cá ngất ngư v́ vụ nổ; rồi mẹ tôi đem kho và chúng tôi có một
buổi ăn tối hết sức ngon lành. Ăn xong chúng tôi lại tụ tập trên bờ sông, dưới
một bầu trời không vẩn mây và một vành trăng tṛn tuyệt đẹp. Mấy ông cậu tôi và
đám anh em bà con cũng đem đàn sáo ra tham gia với chúng tôi, tất cả chúng tôi
hát ḥ và cười giỡn rất vui. Narita và Yamashita cũng tham gia hát bằng tiếng
Nhật. Narita hát rất hay. Cả bọn chúng tôi đều cảm thấy thích thú với các làn
điệu và các bài ca này. Ông ngoại tôi lại cho chúng tôi một ít rượu nếp và điều
này càng làm cho buổi tiệc thêm đậm đà. Khi mặt trăng lặn xuống sau rặng tre và
mọi người chuẩn bị rút lui về ngủ th́ Yamashita nói ǵ đó với Narita, rồi xin
ông ngoại tôi nán lại thêm một vài phút nữa. Họ xin phép ông tôi vào trong pḥng
họ lấy một món đồ. Rồi họ trở ra với một mẩu giấy, một cây bút lông, và một lưỡi
dao cạo. Một lần nữa họ lại viết bằng chữ Hán để nói với ông ngoại tôi là họ rất
gắn bó với tôi, với đất nước chúng tôi và họ muốn bày tỏ ḷng trung thành tuyệt
đối của họ với tôi theo phong cách truyền thống của người Nhật. Họ lần lượt dùng
dao rạch ngón tay út, để máu nhỏ vào đầu ngọn bút đoạn viết lên tấm giấy. Ông
ngoại tôi giải thích cho tôi hay là họ xem tôi như một người anh em và thề hoàn
toàn tận tuỵ với tôi. Rồi họ giao cho tôi miếng giấy có chữ viết bằng máu và
biểu tôi cất đi cho tới khi chúng tôi có thể gặp lại nhau ở Việt Nam hay Nhật
Bản, khi chiến tranh chấm dứt.
Yamashita và Narita ở bên tôi suốt thời gian, làm việc với tôi, đi tuần với tôi,
ăn với tôi và luôn luôn nằm ngủ cạnh tôi. Nhưng rồi một ngày, viên chính uỷ tới
gặp tôi thông báo là anh mới nhận được lệnh từ chính phủ trung ương đưa hai
người ra Hà Nội. Đó là một tin rất buồn đối với tôi và đối với họ. Khi họ chào
từ biệt th́ mắt họ và mắt tôi đẫm lệ và họ nói họ sẽ trở về ngay khi nào về
được. Không bao lâu tôi được tin họ đang ở Hà Nội cùng với một toán lính Nhật đă
đứng về phía kháng chiến. Toán lính này được biên chế vào một đơn vị đặc biệt để
cùng chiến đấu chống lại quân Pháp. Tôi đă giữ mảnh giấy màu đỏ với lời thề viết
bằng máu của họ, nhưng sau khi tôi bị quân Pháp bắt rồi thả ra, bọn lính tuần và
bọn mật vụ Pháp thường xuyên tới nhà chúng tôi sục sạo t́m du kích quân và tài
liệu tuyên truyền. Tôi sợ chúng có thể t́m được tài liệu nên tôi đă đốt cả mảnh
giấy ghi lời thề bằng chữ Nhật, chỉ giữ lại tấm cạc có địa chỉ của họ. Năm 1970,
sau khi nghe mấy người bạn Nhật cho biết đơn vị lính Nhật đặc biệt đă được giải
thể và các thành viên trong đó đă hồi hương trở về nước Nhật, tôi ghi lại địa
chỉ của họ và nhờ mấy người bạn Nhật của tôi ở Tokyo t́m giúp, nhưng buồn thay
không ai t́m thấy họ. Tôi rất buồn khi nghe tin này, và trong ḷng tôi luôn luôn
mang h́nh ảnh của họ. Sau này tôi nghe tin là tất cả những quân lính, sĩ quan
Nhật bản, không chịu về xứ, ở lại giúp cho Việt Nam, được hội về một chỗ và tiêu
diệt hết.
Sau khi Yamashita và Narita đi rồi, tôi vẫn tiếp tục hoạt động cho tổ chức Việt
Minh ở địa phương, nhưng rơ ràng là lư lịch gia đ́nh tôi không được đánh giá cao
với các chính uỷ được biên chế ở mỗi đơn vị, những người chỉ huy thật sự. Tôi có
thể nh́n thấy trong ánh mắt họ và cảm thấy trong thái độ của họ sự nghi ngại đối
với đám bạn bè tôi và bản thân tôi; chúng tôi biết rằng họ chỉ giữ chúng tôi
chừng nào họ c̣n cần đến chúng tôi. Nhưng ḷng mong muốn phục vụ đất nước mạnh
hơn sự thiếu thiện cảm của những người cộng sản nên chúng tôi vẫn tiếp tục ở lại
giúp họ. Sau này tôi cũng được biết có tin đồn là những lính và sĩ quan Nhật đào
ngũ và ở lại giúp cho Việt Nam đánh lại quân Pháp đều bị t́nh nghi và ám sát
hết. Quả thật là quá thiển cận, quá độc ác và vô nhân đạo.
Trong thời gian này gia đ́nh tôi đă đi tản cư để tránh bị kẹt trong chiến trận.
Cha mẹ tôi cùng với các em tôi và người giúp việc đă bỏ nhà cửa để lên vùng rừng
núi cùng một gia đ́nh người bạn. Trên đường đi lánh nạn họ bị bọn lính Pháp chặn
lại, chúng cướp con ḅ của chúng tôi và đánh đập em Đức của tôi. Việc này lại
càng làm tôi thêm quyết tâm tống cổ bọn Pháp ra khỏi Việt Nam.
Một ngày kia trong khi đi tuần với năm người lính mới, tôi bị bắt làm tù binh và
bị thẩm vấn suốt ngày đêm không nghỉ, giữa các lần thẩm vấn là lao động khổ sai.
May thay, một viên cảnh sát ch́m làm việc cho Pháp, và là một học tṛ cũ của cha
tôi – cái người tôi đă giúp trên chuyến xe lửa từ chiến trường về, anh ta đă
nhận ra tôi. Anh vội báo cho cha tôi hay, ông liền đi tới gặp vị Thống đốc Trung
kỳ, Trần Văn Lư, ông này can thiệp với viên chỉ huy quân sự Pháp đề nghị thả tôi
ra và đặt tôi dưới sự quản chế của ông. Tôi được dẫn tới văn pḥng Thống đốc và
được nghe một bài giảng về hiểm hoạ cộng sản. Cuối cùng ông ta nói v́ tôi là một
sinh viên rất giỏi ông sẽ cho tôi học bổng ở nước ngoài để tiếp tục việc học và
trở về phục vụ chính phủ. Vậy là năm 1947 tôi vào Sài G̣n để đáp tàu qua Pháp.
Nhưng tại Sài G̣n một tên mật vụ Pháp đă chờ sẵn tóm tôi về tra vấn thêm một đợt
nữa; chỉ sau khi tôi báo động cho ông Thống đốc Trung kỳ, y mới thả tôi ra và
không làm phiền tôi nữa. Tôi đáp tàu Felix Roussel, một chiếc tàu buôn cũ, ở đó
tôi gặp khoảng mười hai sinh viên cũng đi Paris học. Nhưng tất cả bọn họ đều là
con nhà giàu và không ai cần tới học bổng như tôi. Có hai người từ Huế, và tôi
nhận ra họ là cháu của một vị giáo sư ḍng dơi hoàng tộc đă dạy tôi ở trường
Khải Định năm năm trước, ông Ưng Quả. Họ rủ tôi theo họ, v́ họ được một người
anh họ cũng trong hoàng tộc, đang hành nghề luật sư ở Paris bảo trợ, và họ biết
rằng tôi nhà nghèo, lên đường tới Paris không một xu dính túi. Chuyến đi quả là
vất vả ngay cả đối với một thanh niên như tôi. Bọn tôi ngủ vơng và ăn toàn đậu
lăng. Qua Địa Trung Hải, tàu bị những cơn băo lớn nhồi rất dữ suốt mấy ngày; làm
tôi ngày nào cũng say sóng gần cả tuần lễ. Khi tàu cặp bến Marseilles, lại một
tên cảnh sát ch́m người Pháp lên tàu điệu tôi về bót thẩm vấn thêm một lần nữa!
Hắn hỏi tôi tại sao tôi lại muốn qua Pháp trong khi tôi có thể ở lại phụng sự
cho Việt Minh với một binh nghiệp sáng chói v́ tôi mới có hai mươi hai tuổi mà
đă mang cấp bậc trung tá. Khi tôi cho hắn biết tôi được Thống đốc Trung kỳ bảo
trợ và tôi muốn qua Pháp học để về phục vụ chính nghĩa quốc gia, hắn mới thả cho
tôi về.
Chúng tôi tới Paris bằng xe lửa. Ra đón chúng tôi tại sân ga là hoàng thân Bửu
Lộc, anh em họ với hai người bạn đường của tôi là Bửu Hàm và Bửu Hào.
Cùng với người anh họ ông là Bửu Hội, một nhà khoa học về nguyên tử nổi tiếng,
ông đăi chúng tôi một bữa tiệc cơm ra tṛ. Tôi học trường Lakanal ở thị trấn
Bourg La Reine gần Paris để theo các khoá dự bị trước khi thi vào trường cao
đẳng H.E.C. (Hautes Études Commerciales), trường thương mại ngân hàng danh tiếng
nhất nước Pháp. V́ tiền học bổng của tôi chỉ đủ cho những bữa ăn sinh viên, nên
mỗi cuối tuần tôi phải đi làm để kiếm thêm tiền trả học phí và nơi trọ. Cứ hai
ngày mỗi tuần tôi phải cuốc bộ qua các con đường của Paris, khoảng 25 tới 30 dặm
mỗi ngày, để mua kim may ở các cửa tiệm bách hoá gởi về cho mẹ tôi, v́ suốt thời
gian trong và sau chiến tranh, Việt Nam không nhập được loại hàng đó. Ngay cả
tại Pháp lúc ấy, những sản phẩm như kim may chẳng hạn cũng phải phân phối theo
tiêu chuẩn, và mỗi cửa tiệm mỗi tháng chỉ nhận được một lượng nhỏ. Mẹ tôi bán số
kim may này rồi mua gạo, gởi từng gói nhỏ 3 kư qua cho tôi để tôi bán lại cho
cộng đồng người Việt ở đây v́ gạo lúc ấy ở Pháp cũng phân phối theo tiêu chuẩn.
Công việc này khá nặng nhọc nhưng nó cho phép tôi vận động thay cho các môn thể
thao v́ thiếu thời gian. Đồng thời nó là một công việc kiếm được khá tiền.
Sau đó một năm tôi thi đậu vào trường H.E.C. lẫy lừng danh tiếng, ngôi trường
hàng đầu trong lĩnh vực thương mại và tài chánh của Pháp. Thông thường sinh viên
phải mất từ 2 tới 3 năm học các lớp dự bị trước mới hy vọng thi đậu vào H.E.C.,
nhưng tôi th́ chỉ sau một năm là thi đậu vào trường. Trong số hơn 1000 thí sinh,
chưa tới 200 người được thi đậu. Năm 1952 tôi tốt nghiệp với titre francais
– thi đậu như một học sinh người Pháp. Trong 3 năm học ở H.E.C. mỗi tuần tôi
cùng với nhóm anh em sinh viên chơi thân với nhau hay có cuộc thi đua từng môn
một: chúng tôi có lệ ai được điểm cao nhất th́ “bị phạt”, là phải mua một chai
rượu vang để đăi cả nhóm. Tôi thường “bị phạt” cho nên phải hay mua rượu, do đó
mà tôi biết đủ loại rượu của Pháp, một điều rất lợi cho cuộc đời tiếp tân của
tôi sau này. Năm sau tôi được nhận vào trường École Nationale d’Administration
(trường Quốc gia Hành chánh) là nơi đào tạo những công chức cao cấp nhất của
Pháp. Đây cũng là lần đầu tiên trường ENA nhận sinh viên các nước thuộc địa; v́
tôi không có quốc tịch Pháp, nên chỉ được học năm giảng bài, chứ không được tham
dự hai năm tập sự vốn chỉ dành cho sinh viên dân Pháp.
Giáo sư Henri Fournier, người rất mến tôi, khuyên tôi trở về Việt Nam làm việc
cho Ngân hàng Trung ương Đông Dương (Lào-Cao Miên-Việt Nam), lúc ấy hầu như chỉ
do người Pháp điều hành. Ông Fournier giới thiệu tôi với René Frappart, Tổng
Giám đốc Ngân hàng, một người có khuynh hướng xă hội và rất có cảm t́nh với Việt
Nam.
Sau khi tốt nghiệp ở H.E.C., kỳ hè năm đó tôi được chọn đi Hoa Kỳ học “lối sống
Mỹ” (the American way of life). Mỗi nước được chọn hai sinh viên đại diện sau
một kỳ thi, và tôi được chọn cùng một sinh viên Pháp. Nhà chức trách Pháp không
cho tôi đi v́ tôi không phải dân Pháp, nhưng Hội International Fund ở New York,
phụ trách việc này, không chịu cho thay sinh viên khác.
Cuộc hành tŕnh bắt đầu từ Ba Lê, qua Amsterdam, Hà Lan, rồi qua Shannon ở
Iceland, mới bay đến New York, tất cả hơn 36 tiếng đồng hồ bằng máy bay DC4. Khi
đến New York, chúng tôi được Hội International Fund cho ngủ một đêm ở khách sạn.
Đó là đêm duy nhất chúng tôi ở khách sạn trong suốt cuộc hành tŕnh.
Sáng hôm sau, tôi đáp xe buưt đi Chicago, rồi Peoria, Illinois, để gặp ông
Jordan, người bảo trợ của tôi, và tôi vào ở YMCA để chờ đến tối hôm sau ra nói
chuyện trong buổi họp của hội Rotary. Sau buổi nói chuyện và trao đổi với hội
viên về vấn đề Việt Nam và chuyện du học ở Ba Lê, một người hội viên kêu tên tôi
và t́nh nguyện đem tôi về sống hai ngày với gia đ́nh họ. Tôi được mời như vậy
thêm hai lần nữa trước khi rời khỏi Peoria; và tôi đă sống với các gia đ́nh Mỹ
gốc Ư, gốc Anh và cả gốc da đen ở vùng chung quanh Chicago. Đây là điểm chánh
trong chương tŕnh học lối sống của dân Mỹ.
Sau Peoria, tôi lên đường đi các tỉnh khác, từ Chicago đến Galveston, Texas và
từ đó trở về New York. Tôi đă sống với 28 gia đ́nh Mỹ, trong đó có đủ dân gốc Ư,
Đức, Mễ, Pháp v.v… Trong những ngày ở với các gia đ́nh Mỹ như vậy, tôi có được
cơ hội học hỏi rất nhiều về đời sống của họ, tập quán của họ, sự suy nghĩ, phân
tách, nhận định của họ. Nhờ sự học hỏi trong các gia đ́nh Mỹ và bao nhiêu năm
lăn lộn trong xă hội Mỹ, chen chúc sống cạnh người dân Mỹ cùng giới trí thức của
họ, tôi đă biết rất nhiều về tâm lư người Mỹ và nhất là sự suy nghĩ của họ trên
phương diện chính trị. V́ vậy mà sau này, bắt đầu năm 69-70, khi phong trào
chống chiến tranh Việt Nam khởi sự tại Mỹ, tôi hiểu ngay diễn biến của thời
cuộc, tác động của cuộc chiến đối với quần chúng, quốc hội, và đường lối chính
trị của các cơ quan chính phủ Mỹ. Bắt đầu là một số sinh viên chống chiến tranh,
sau đó lan rộng ra quần chúng, dần dần quốc hội phải đứng về phía dân và buộc
Tổng thống phải thay đổi chính sách. Bắt đầu từ năm 1969 và nhất là từ năm 1971
mỗi lần về Việt Nam tôi trao đổi nhiều lần với ông Thiệu và nhân viên chánh phủ,
cùng với các lănh đạo chính trị, nhận định của tôi về phong trào chống chiến
tranh ở Mỹ, và tôi tiên đoán sẽ sớm có ngày Mỹ bỏ miền Nam Việt Nam. Ông Thiệu
không tin v́ chung quanh ông ta toàn là những cậu trẻ học ở Mỹ về không có kinh
nghiệm về cơ cấu chính trị Mỹ, cho rằng Mỹ không bao giờ bỏ Việt Nam, và Tổng
thống Mỹ Nixon không bao giờ bỏ rơi chính phủ miền Nam. Tiếc thay lănh đạo miền
Nam đă không nghe lời cảnh cáo của tôi.
Nguồn: Cuốn hồi kư này được tác giả tự xuất bản lần đầu năm 2004 tại California. Ấn bản lần thứ nh́ đăng trên talawas có một số hiệu đính và bổ sung, bản điện tử do tác giả cung cấp.
18.10.2006
III. Sự nghiệp đầu tiên
(1954–1965)
Năm 1954 tôi trở về Việt Nam làm việc cho Ngân hàng Trung ương
[1] Đông Dương, Lào,
Cao Miên, Việt Nam (Institut d'Emission des Etats Associes du Laos, du Cambodge
et du Viêt Nam) dưới quyền của Tổng Giám đốc René Frappart và Chủ tịch Hội đồng
Quản trị Victor Cusin. Nhờ có kiến thức chuyên môn và tận tâm làm việc, tôi được
thăng hạng rất nhanh, vượt qua nhiều người Pháp và tất cả nhân viên người Việt
vào làm việc trước tôi.
Vài tháng sau, lănh tụ phe quốc gia Ngô Đ́nh Diệm về nước để thành lập chính phủ
đầu tiên. Ông cần một cố vấn tài chánh tín cẩn. Ông sai người phụ tá của ông là
Tôn Thất Cẩn tới Ngân hàng Trung ương Đông Dương, để hỏi ban điều hành, ai có
thể làm cố vấn tài chánh cho ông. Chủ tịch Hội đồng Quản trị Victor Cusin và
Tổng Giám đốc René Frappart đề cử tên tôi. Sau này tôi được nghe kể lại là khi
ông Diệm nh́n thấy tên tôi, ông đă mỉm cười và la Cẩn: “Cậu bé này thường đem
hoa lan tới nhà tôi và tôi thường xoa đầu nó để cám ơn. Làm sao nó làm cố vấn
tài chánh cho tôi được!”. Trong đầu óc ông, tôi vẫn c̣n là thằng nhỏ thường được
cha sai mang hoa tới ông vào những năm 30 xa xôi ấy. Ông không tin được thằng
nhỏ đó bây giờ đă lớn, học hành thành đạt, ra làm việc và đă hơn 30 tuổi. Những
người bạn ông và một số thành viên nội các biết tôi, khi nghe Tôn Thất Cẩn kể
lại, đă cho ông Diệm hay là thằng nhỏ đó đă trưởng thành và trở nên một thành
viên cao cấp rất có khả năng trong ban giám đốc Ngân hàng Trung ương Đông Dương.
Họ nói với ông thằng nhỏ đó là người tốt nhất mà ông có thể kiếm được.
Vài ngày sau ông cho gọi tôi vào và yêu cầu tôi làm cố vấn tài chánh và kinh tế
cho ông. Theo phong cách riêng của ḿnh xưa nay, ông không kư một sắc lệnh bổ
nhiệm tôi, mà chỉ tuyên bố cho tất cả mọi người biết – các thành viên nội các
chính phủ, đặc biệt là người em đầy uy quyền của ông, Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu, và Bộ
trưởng Phủ Tổng thống, Nguyễn Đ́nh Thuần, người luôn luôn làm tấm b́nh phong với
bất cứ ai muốn gặp ông Diệm, dù Bộ trưởng hay tướng lănh.
Tôi nghe nói là Nhu và Thuần đều rất khó chịu về việc tôi có thể trực tiếp gặp
Tổng thống Diệm: ông đă ra lệnh cho sĩ quan tuỳ viên đưa tôi vào ngay mỗi lúc
ông ta gọi tôi vào, và cũng v́ vậy mà sau này cả hai hay dèm pha và phá rối công
việc của tôi. Việc không có giấy tờ bổ nhiệm chức vụ công khai đă giữ cho tôi
tránh khỏi những rắc rối về sau khi các tướng lănh lật đổ và giết ông Diệm; tất
cả những thành viên nội các và phụ tá của ông Diệm, như Bộ trưởng Phủ Tổng thống
Nguyễn Đ́nh Thuần và Bộ trưởng Kinh tế Hoàng Khắc Thành chẳng hạn – người đă
thay thế tôi ở Ngân hàng Việt Nam Thương tín và đă thay đổi chính sách ngân hàng
để giúp bà con bè bạn của các ông Nhu, Thục, Cẩn, – tất cả đều bị bắt và bỏ tù
sau cuộc đảo chánh năm 1963. Nhưng việc này cũng gây cho tôi một số phiền toái
khi tôi cầm đầu những cuộc thương thuyết mật với Thủ tướng Antoine Pinay v́ bị
Nhu và Thuần phá. Tôi không quan tâm đến việc không được bổ nhiệm chính thức,
cũng không quan tâm đến cấp bậc, danh dự, thăng thưởng vân vân… Tôi chỉ muốn làm
việc và phục vụ đất nước.
Từ đó cho tới năm 1962, khi tôi bất đồng ư kiến mạnh mẽ với ông và từ chức, Tổng
thống Diệm đă hỏi ư kiến tôi trên tất cả các vấn đề kinh tế, tài chánh và tiền
tệ. Là người đại diện cho cá nhân ông, tôi đă cầm đầu những cuộc thương thuyết
với Pháp, Mỹ, Nhật và các nước khác. Trong một vài trường hợp, sau khi tôi đă
kết thúc những cuộc thương lượng bí mật và quan trọng, giải quyết các vấn đề và
thu được những kết quả mong muốn, ông Diệm sẽ bổ nhiệm một phái đoàn chính thức,
nhưng tôi vẫn được yêu cầu luôn luôn ở bên cạnh để can thiệp trong trường hợp có
khó khăn giữa hai phái đoàn. Điều này đă xảy ra trong vụ kư kết thoả ước với
phái đoàn Pháp trong dịp Thủ tướng Pháp Antoine Pinay qua thăm Tổng thống Diệm.
Ông Diệm thường gọi tôi vào Dinh Độc Lập mỗi ngày, có khi rất sớm, khoảng 5 tới
6 giờ sáng, và có khi rất khuya. Ông thường tiếp các Bộ trưởng, các viên chức
cao cấp và các tướng lănh trong văn pḥng riêng của ông. Căn pḥng này cũng được
dùng làm pḥng ăn và pḥng nghỉ trưa, và ông luôn luôn biểu tôi ngồi kế bên phải
ông. Không ai dám hút thuốc trước mặt ông trừ Vũ Văn Thái và tôi. Khi tôi đốt
một điếu thuốc trước mặt ông, th́ ông đẩy cái gạt tàn về phía tôi. Ông thường
hút thuốc điếu này nối điếu khác, rồi chỉ sau vài hơi đă dụi đi, nhưng vẫn hút.
Nhắc tới đây, tôi nhớ lại chuyện quyết định bỏ thuốc lá sau nhiều năm “nghiện
ngập”. Ngày 31-12-1965, sau bữa tiệc cuối năm và điếu thuốc cuối cùng, tôi đă
liệng qua cửa sổ tất cả “đồ nghề”, gồm có bật lửa bằng vàng, hộp thuốc lá đắt
tiền và tất cả số thuốc lá c̣n lại, tự thề không bao giờ cầm lại điếu thuốc nào
nữa. Xong tôi gọi bồi bảo cho hay đừng lượm vào cho tôi. Quả thật là địa ngục,
trong suốt cả tháng trời sau khi bỏ thuốc lá, tôi thèm thuốc lá một cách tệ hại
và có nhiều lần khi đi tiếp tân, có người đưa thuốc mời, tay phải tôi vừa ch́a
ra định đón lấy điếu thuốc, th́ tự nhiên tay kia kéo tay phải về. Cũng từ đó tôi
bỏ thuốc vĩnh viễn, không bao giờ hút trở lại. Bỏ thuốc lá rất khó, đ̣i hỏi rất
nhiều nghị lực và can đảm.
Mọi người ai cũng sợ ông Diệm; một vài người không dám xoay lưng lại ông khi đi
ra. Rất thường khi các thành viên nội các và các tướng lănh phải chờ ở ngoài văn
pḥng một lúc lâu, trong lúc viên sĩ quan tuỳ viên lại nhận chỉ thị của ông phải
đưa tôi vào ngay lập tức. Ông Diệm không hề có ư niệm về nghi thức và cũng không
coi trọng nghi thức, và người ta rất khó chịu với tôi về việc tôi được ông Diệm
tiếp đăi đặc biệt như vậy, tuy đó không phải lỗi tôi. Trong đầu óc ông Diệm, các
vấn đề tiền tệ và tài chánh là rất quan trọng, và những thắc mắc của ông phải
được giải đáp ngay tức khắc. Ông sống, làm việc và thường ngủ trong văn pḥng.
Đời sống của ông giản dị, có nhiều lần tôi được gọi vào giữa bữa cơm trưa, món
ăn của ông ít, giản dị và hầu như lúc nào cũng là món Huế. Ông không có chút ư
thức về các giá trị vật chất bởi ông chưa bao giờ sống ngoài ṿng gia đ́nh và
đám người thân cận, và không bao giờ biết tới đời sống thường nhật của dân
chúng.
Ông Diệm có nhiều nhược điểm, ảnh hưởng rất mạnh đến việc chọn người cộng sự hay
nhân viên chánh phủ. Ông thích được khen, ông thích nghe những lời nịnh bợ. Ông
thích người ta nói đến những công việc của ông làm, nhất là những dự án “ruột”
của ông. Ông không hề biết thực tế bên ngoài, ông không có một ư niệm về đời
sống của dân chúng, nên những người làm việc với ông phần nhiều hay nói láo với
ông, che giấu sự thật, làm cho ông không thấy rơ thực tế ở đời và mất sự xét
đoán về người và về công việc.
Ông không tin người, nên ông hay chọn người làm cho ông trong số những người
đồng hương đồng xứ với ông, bà con bạn bè thân thuộc với ông, hoặc là bà con bạn
bè với những người bạn xa bạn gần của ông.
Ông là người rất mộ đạo Thiên Chúa, nên ông hay chọn người có đạo Thiên Chúa và
ông tin họ hơn những người không có đạo.
Ông tin những người có vào Đảng Cần lao của ông Nhu hơn là người thường, nên ông
hay chọn người là đảng viên Đảng Cần lao.
Khi chọn người để đưa vào chánh phủ hay thăng thưởng công chức ông đặt nặng ba
điều đó hơn là công việc làm hay công tâm. Vấn đề chuyên môn không cần thiết
lắm, vấn đề đạo lư, vấn đề tư cách con người, ông ít để ư đến, mặc dầu ông là
người rất có tư cách, một nhân vật rất có đạo lư, chịu rất nhiều ảnh hưởng Khổng
gíáo. Cho nên chung quanh ông và trong chính phủ, ít có người tài giỏi, và phần
nhiều chỉ có những người bà con thân thuộc của ông, những người có đạo Thiên
Chúa và những người vào Đảng Cần lao, những người mà ông có thể tin được. Những
người này chỉ biết nịnh bợ ông; họ che mắt ông, họ giấu sự thật, làm cho ông mất
hết sự xét đoán, và khó ḷng cho ông biết bề trái bề mặt ở đời. Ông cũng biết đó
là những người thường không làm được việc, nên ông đặt bên cạnh họ, những người
chuyên môn để cho công việc chạy suôn sẻ.
Khi ông ở ngoại quốc mới về xứ để lập chánh phủ, ông cần một chuyên gia để giúp
ông; theo lời đề nghị của thượng cấp của tôi, ông mời tôi làm cố vấn cho ông, và
tôi thường có sự đi lại mật thiết với ông; nhưng khác với những người chung
quanh ông, tôi không chịu nịnh bợ ai, không chịu ḷn cúi ai, không chịu hạ ḿnh
chiều ai.
Tôi từ chối không vào Đảng Cần lao của ông Nhu, tôi cũng không chịu bỏ “đạo”
Khổng của tôi, để vào đạo Thiên chúa như một số tướng lănh và nhân viên chính
phủ khác. Tôi cũng không phải chạy theo hầu đức cha Ngô Đ́nh Thục, hay hàng năm
ra Huế “hầu” cậu Cẩn, như một số các bộ trưởng, và tướng lănh.
Tôi hoàn toàn độc lập, nên tôi chỉ làm việc theo công tâm của tôi, là phục vụ
đất nước và dân chúng. Không ai bắt buộc tôi làm việc ǵ trái với lương tâm của
tôi được. V́ vậy mà tôi đụng chạm rất nhiều với những người chạy theo nịnh bợ
ông Diệm, ông bà Nhu, ông Thục, ông Cẩn...
Và khi tôi bất đồng ư kiến với ông, tôi không ngần ngại xin từ chức, mặc dầu ông
không muốn tôi ra đi bỏ ông, ông không muốn mất sự cộng tác của tôi, như năm
1962 khi tôi thấy những người nịnh bợ bao vây ông, làm ông mất hết sự sáng suốt
và ông không c̣n thấy rơ t́nh thế đất nước nữa.
Không ai dám từ chối ông Diệm một điều ǵ. Nhưng tôi đă từ chối lời yêu cầu của
ông Diệm nhờ tôi giúp đỡ công việc làm ăn của đức cha Thục; tôi từ chối v́ công
việc của ông này toàn dựa vào sự giúp đỡ của các ngành trong chánh phủ, và cách
làm việc của ông rất bê bối, thiếu trật tự và nền nếp của một công ty thương mại
làm ăn đứng đắn, đúng pháp luật. Nhưng tôi rất phục và kính nể ông Diệm, v́
trong 7 năm làm việc bên cạnh ông, ông chỉ nhờ tôi có một lần đó thôi, mà tôi đă
từ chối và không bao giờ ông can thiệp vào công việc của tôi nữa.
Cha tôi cũng vậy, tuy là bạn “chim”, bạn “hoa” của ông Diệm và ông Khôi, anh ông
Diệm, làm tỉnh trưởng ở Quảng Nam– nhưng không bao giờ cha tôi xin ông Diệm một
điều ǵ, hay chạy theo ông Thục, ông Diệm để cầu cạnh. Không bao giờ cha tôi xin
gặp ông; Cha tôi chỉ dặn tôi một điều, khi nào gặp ông Diệm, đừng quên thưa với
ông Diệm, cha tôi có lời thăm. Chỉ thế thôi.
Phần nhiều các bộ trưởng, các tướng lănh hay gọi ông bằng cụ; tôi gọi ông bằng
Tổng thống; ông không già đến đỗi phải gọi ông bằng cụ. Các bộ trưởng, các tướng
lănh, có khi già hơn ông, cũng hay xưng "con" với ông; tôi xưng "tôi" với ông,
đúng như lễ nghi. Ông không phải là cha tôi, nên tôi không xưng con với ông
được, tôi không phải là đầy tớ của ông để phải xưng con với ông.
Ông làm việc rất nhiều, cả ngày lẫn đêm, bởi ông chẳng có tṛ giải trí nào,
không chơi môn thể thao nào, không có món tiêu khiển bất cứ kiểu nào. Môn giải
trí duy nhất của ông là đi thanh tra các dự án xây dựng mới, các vùng kinh tế
mới, các khu định cư mới, những ǵ mà ông tin rằng ông đă làm v́ quyền lợi dân
chúng. Bởi v́ ông rất nôn nóng nh́n thấy những việc này tiến triển nhanh chóng,
nên những viên chức có trách nhiệm thường gian lận và nói dối ông. Một ngày nọ,
khi tôi đi thăm vùng đồng bằng sông Cửu Long, dân chúng trong vùng đă chỉ tôi
xem những cái cây mới mà viên tỉnh trưởng bắt họ trồng trong một dự án tái định
cư để ông Diệm đi thanh sát. Theo lời đề nghị của các bô lăo địa phương, người
tài xế của tôi đă nhổ thử một cây lên cho tôi xem: đó là một cành cây mới cắt
được cắm xuống đất ướt! Ở nông thôn người ta biết tôi rất gần gũi với Tổng thống
và tôi dám nói sự thật với ông, v́ vậy họ không ngần ngại tiết lộ các tṛ gian
lận và những cuộc tŕnh diễn dỏm của đám tỉnh trưởng và quận trưởng.
Ông Diệm luôn luôn tự hào là đă được bầu lên trong một cuộc trưng cầu dân ư và
dân chúng vẫn tiếp tục tôn sùng ông v́ ḷng tận tuỵ của ông đối với đất nước và
nhân dân. Măi tới ngày cuối cùng ông vẫn tin tưởng rằng mọi người thương yêu
ông, và ông rất được ḷng dân. V́ vậy khi ông khởi đầu một dự án cho dân chúng,
ông thường yêu cầu nhân dân t́nh nguyện. Nhưng nhân dân trong các làng quê
thường rất nghèo, và những người t́nh nguyện chỉ có thể bỏ công việc đồng áng
của ḿnh một vài ngày thôi. Biết rằng ông Diệm thích nh́n thấy một số lượng lớn
người t́nh nguyện không đ̣i tiền công làm việc tại các dự án mới, các viên tỉnh
trưởng thường bắt dân làng làm việc ṛng ră hàng tháng trời không tiền, thậm chí
không hỗ trợ thức ăn hay chỗ ở. Thế rồi họ nói dối với Diệm, tâu với ông rằng
hàng trăm người ông nh́n thấy trên công trường đều là dân t́nh nguyện. Một ngày
kia tôi tới thăm Sóc Trăng nơi đang xây dựng một sân bay địa phương. Khi tới đó
vào giữa buổi trưa, tôi trông thấy mấy trăm người dân đang ngồi ăn bữa cơm trưa
đạm bạc của họ và nghỉ ngơi ở hai vệ đường; họ nằm la lết trên đất, có người có
chiếu, có người không. Ṭ ṃ muốn coi tận mắt cái dự án này và nói chuyện với
dân chúng, tôi dừng xe và bước ra ngoài nói chuyện với mấy người nông dân. Một
vị bô lăo địa phương đi theo tôi trong chuyến thanh tra này nói với những người
đang đứng quây quanh tôi rằng họ có thể nói thật hết với tôi, v́ tôi là cố vấn
của Tổng thống Diệm và tôi luôn luôn báo sự thật cho ông hay. Thế rồi một vài
người nông dân đến bên cạnh tôi, và trong khi mắt đảo quanh coi có mật thám hay
không, ngập ngừng nói với tôi rằng họ bị ép phải t́nh nguyện làm việc theo lệnh
viên tỉnh trưởng, rằng họ phải bỏ mọi công việc đồng áng, phải rời gia đ́nh, tự
đem theo thức ăn để đến đây làm việc mà không có lấy một xu tiền công, thức ăn
hay chỗ ở, trong thời gian ít nhất là một tháng mỗi lần.
Khi tôi quay trở về Sài G̣n và báo cáo chuyện này với Tổng thống Diệm, ông nổi
trận lôi đ́nh và biểu người phụ tá gọi viên tỉnh trưởng Sóc Trăng ngay lập tức.
Tôi không biết chuyện ǵ xảy ra sau khi tôi rời Dinh Độc Lập, nhưng ngày hôm sau
khi tôi trở lại, ông Diệm nói với tôi rằng những người nông dân mà tôi gặp đă
nói láo, thật ra mọi người đều sung sướng được t́nh nguyện xây dựng phi trường
cho tỉnh nhà. Tôi nói ǵ bây giờ với ông ta? Người của ông nói dối ông và phản
bội ông bởi v́ ông thích nghe những câu chuyện êm tai; họ biết rơ điều ấy và sẵn
sàng bịt mắt ông.
Một lần khác tôi tới thăm một vùng kinh tế mới gần Mỹ Tho; tôi nh́n thấy một dăy
hàng cây ăn quả dọc lộ có vẻ như sắp chết héo. Tôi dừng xe lại, bước tới coi.
Một người nông dân tiến tới phía tôi và hỏi nhỏ tôi có muốn coi mấy cây hay
không. Anh ta nhổ lên một cây và đưa cho tôi: đó là một cái cành được cắt khỏi
cây và cắm xuống đất. Anh ta lập tức biến mất, rơ ràng sợ bị nh́n thấy nói
chuyện với người lạ. Sau này tôi được biết là những việc như vậy xảy ra rất
thường xuyên, bởi v́ các viên tỉnh trưởng và quận trưởng đều muốn tỏ cho Diệm
thấy là họ đă mở mang các dự án mới một cách mau chóng, họ muốn được ông Diệm
đánh giá cao, muốn “ghi điểm”, và thăng chức. Tôi nghe nói một lần ông đến thăm
một dinh điền mới với một ông trung tá, trách nhiệm về dinh điền này, ông cầm
lên xem một cành cây có trái; bỗng nhiên cành cây rơi xuống đất, ông biết là
cành cây mới được cắm. Ông quay lại nh́n ông trung tá, mặt ông đỏ bừng; ông hét
lên, ông cầm cây ba ton của ông, đánh vào người ông trung tá. Ông này qú xuống
lạy xin tha tội, mặt tái mét và nước mắt rưng rưng; vài ngày sau ông trung tá bị
cách chức và đày đi nước độc.
Ông Diệm rất ngây thơ. Ông dễ tin người, đặc biệt là với những ai biết cách nói
láo khi phụ trách những dự án “cưng” của ông. Ông là một loại thầy tu kín suốt
đời. Ông chỉ ở trong nhà, trong văn pḥng, và trước đây là trong tu viện, không
bao giờ ra ngoài trà trộn với người dân. Ông không bao giờ lấy vợ, chỉ sống với
anh em của ḿnh. Ông không biết ǵ về cuộc sống và cũng không có một ư thức nào
về trị giá tiền bạc. Có một lần, để thưởng cho một người giúp việc đă phục vụ
ông ngày đêm, ông cho phép người này ra phố xả hơi và giải trí. Ông cho anh ta 2
đồng bạc để hớt tóc. Thế nhưng vào lúc ấy, giá hớt tóc cao hơn nhiều.
Một vị bộ trưởng của ông muốn tỏ cho ông thấy là anh ta nghèo khổ và thanh liêm
như thế nào, đă nói với ông rằng anh ta chỉ có 2 cái áo sơ-mi! Diệm tin anh ta!
Vậy nhưng vị bộ trưởng này sau khi thoát khỏi Việt Nam sau cuộc đảo chánh 1963
đă sống một cuộc đời xa hoa suốt 40 năm mà không cần phải làm việc! Chỉ với số
tiền mà anh ta đă tích luỹ được sau mấy năm làm bộ trưởng! Diệm không có ư thức
ǵ về thực tại. Ai cũng có thể lừa ông nếu biết được điểm yếu của ông, biết ông
thích những ǵ và muốn nghe những ǵ. Những chuyện như vậy đă làm cho tôi thất
vọng, làm cho tôi mất dần niềm tin nơi ông và góp phần vào việc tôi từ chức năm
1962 sau này.
Ông Diệm hỏi ư kiến tôi về các vấn đề tài chánh, kinh tế và tiền tệ và chỉ thị
cho tôi giải quyết những việc mà lẽ ra phải do các vị Bộ trưởng Tài chánh, Kinh
tế và Thống đốc Ngân hàng Trung ương giải quyết. Ông hiếm khi thảo luận các vấn
đề kinh tế tài chánh trong các buổi họp nội các. Ông thích thảo luận các vấn đề
quan trọng nhất với tôi trước đă, lấy quyết định rồi sẽ cho ư kiến trong buổi
họp nội các, và chỉ thị các bộ trưởng thi hành những quyết định của ông.
Tôi được bổ nhiệm làm hội viên của Hội đồng Tối cao Tiền tệ, đây là cơ quan thảo
luận và quyết định mọi vấn đề tài chánh, kinh tế và tiền tệ. Mặc dầu Ngân hàng
Trung ương đă có một hội viên là Thống đốc trong hội đồng này. Diệm yêu cầu phó
Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ đưa thêm tên tôi vào trong hội đồng bởi v́ như ông
nói, ông muốn có một chuyên gia trong hội đồng, các thành viên khác đều là các
chính trị gia được bổ nhiệm. Tiếng nói của tôi rất có ảnh hưởng, và các quan
điểm của tôi thường được chú ư hơn hết, bởi các thành viên hội đồng biết rằng
tôi có kiến thức chuyên môn và tôi luôn luôn cẩn thận nghiên cứu các vấn đề
trước khi vào họp. Mặc dù tôi chỉ là Tổng giám đốc và Chủ tịch Hội đồng Quản trị
của hai ngân hàng (Ngân hàng Quốc gia và Ngân hàng Thương tín lớn nhất lúc bấy
giờ), tôi vẫn được coi là người có thẩm quyền nhất trong các lănh vực tài chánh
và tiền tệ. Những quan chức và đại diện của các chính phủ bạn luôn luôn yêu cầu
gặp tôi để bàn những vấn đề quan trọng bởi v́ họ biết rằng gặp các bộ trưởng
liên quan sẽ không có kết quả bao nhiêu.
Tôi c̣n nhớ một hôm tôi được phó Đại sứ Mỹ Palmer mời cơm tối; khi tôi đến, tôi
giật ḿnh thấy ông bà Nhu ở đó, và khi vào bàn ăn, chỉ có mỗi hai ông bà Nhu
thôi. Sau bữa cơm, khi đứng nói chuyện, tôi thấy bà Nhu ghé vào tai ông phó đại
sứ nói nhỏ. Sau khi ông bà Nhu về – về trước chứng tỏ ḿnh là thượng khách – ông
phó đại sứ cho tôi hay, bà Nhu hỏi ông, tôi là ai mà được mời cùng bàn với bà.
Ông nói tôi là Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia và là cố vấn của Tổng thống; bà
hỏi ông tại sao lại mời một ông Tổng Giám đốc ngồi cùng bàn với bà. Ông hơi khó
chịu, ông trả lời với bà rằng tuy tôi chỉ là Tổng Giám đốc, nhưng toà đại sứ Hoa
Kỳ coi trọng hơn là các bộ trưởng. Có lẽ bà đă bực ḿnh nên về sớm.
Tuy tôi là bà con với bà, nhưng không bao giờ tôi nói ra, bà con với bà đối với
tôi là một cái nhục. Trái lại tôi rất thương và kính nể ông bà Trần Văn Chương
là cha mẹ bà Nhu, và hay lui tới thăm viếng họ lúc tôi làm việc ở Washington.
Sau ông bà Chương bị con trai là Trần Văn Khiêm giết chết.
Tôi thường được chiêu đăi và có quan hệ thân thiết với nhiều trưởng phái đoàn
của Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Úc, Trung Hoa… Những người Việt Nam làm việc trong các
toà đại sứ nước ngoài, các ngân hàng và các tổ chức nước ngoài thường hay cho
tôi biết là cấp trên của họ khen ngợi tôi không tiếc lời trong các bản báo cáo
gởi về nước và nhấn mạnh sự cần thiết phải gặp tôi cho các công việc quan trọng.
Tôi được nhiều chính phủ và Ngân hàng Trung ương mời mọc và đăi đằng thịnh soạn
mỗi lần đi công tác nước ngoài. Tuy nhiên tôi lúc nào cũng dốc ḷng cho quyền
lợi chung của đất nước và dân chúng. Tôi không bao giờ nghĩ tới việc dùng những
vị trí quan trọng của ḿnh trong chính phủ hay những mối quan hệ hữu hảo với các
quan chức nước ngoài để lo việc riêng hay làm giàu cho bản thân ḿnh. Có một lần
lúc gia đ́nh tôi sinh sống ở nước ngoài, ngân hàng Banque de l’Indochine (Đông
Dương Ngân hàng) đă đề nghị cho tôi vay một khoản tiền để mua cho gia đ́nh một
căn hộ lộng lẫy ở Paris, đại lộ Grande Armée; tôi từ chối. Tôi đă có thể làm
giàu nếu tôi chịu vay tiền mua căn hộ đó, bởi v́ nhà cửa ở đại lộ Grande Armée,
gần tháp Eiffel và sát Champs Elysées, thuộc loại danh tiếng và giá trị luôn
luôn tăng với mức làm ḿnh chóng mặt. Tương tự như vậy, tôi cũng thường nhận
được những lời đề nghị hối lộ kín đáo hay trắng trợn; tôi luôn luôn từ chối và
thường phản ứng rất mạnh với những người đề nghị. Về sau, khi tôi bị kẹt về tài
chánh v́ những sai lầm của một người trong gia đ́nh, mấy người bạn tôi nói tôi
thật là ngốc khi không chịu dùng ưu thế của ḿnh để kiếm ít tiền để dành pḥng
những ngày mưa gió. V́ vậy mà tôi hết sức cay đắng và giận dữ khi những kẻ thù
tôi đi rêu rao là bất cứ khi nào tôi huỷ bỏ hay sửa đổi một quyết định sai lầm
mà ai đó đă làm, th́ chắc là tôi có một món tiền “lại quả” ở đâu đó. Họ không
thể tin tôi không giống họ, vẫn có người mà động cơ làm việc không phải chỉ v́
tiền.
V́ nắm giữ những chức vụ chủ chốt trong chính phủ và dám có những quyết định có
lợi cho đất nước mà không để ư tới quyền lợi của các nhóm chính trị hay cá nhân
quyền thế, nhiều khi tôi đă giẫm lên chân của cả bạn bè lẫn kẻ thù và đă tạo cho
ḿnh thêm nhiều kẻ thù. Bị đụng chạm tới quyền lợi riêng hay tới túi tiền của
họ, ngay cả một vài người “bạn” tôi cũng trở mặt và buộc tội sau lưng tôi là tôi
tham nhũng. V́ tôi chống lại quyền lợi của họ th́ nhất định là tôi phải được phe
đối nghịch họ mua chuộc! Nhưng nói chung th́ một số lớn đều hiểu và đánh giá cao
sự thẳng thắn của tôi; dù họ không thích tôi bởi tôi có tiếng là cứng rắn và
không khoan nhượng, người ta vẫn kính trọng tư cách chính trực của tôi. Các
thành viên và quan sát viên tham dự các buổi họp của Hội đồng Tối cao Tiền tệ
thích nghe tôi phát biểu về nhiều đề tài và đánh giá cao những câu trả lời tuy
thiếu tính ngoại giao nhưng am hiểu tường tận của tôi đối với những câu hỏi của
các bộ trưởng và các thành viên khác trong hội đồng. C̣n những nhân viên thâm
niên tham gia buổi họp, xưa nay quen cúi đầu trước các ông sếp thiếu năng lực
nhưng hống hách, th́ lặng lẽ vỗ tay tán thưởng mỗi khi tôi đứng lên phản công,
điều mà họ không dám làm làm v́ sợ mất việc. Thỉnh thoảng gặp tôi trong hành
lang, họ bước tới khen ngợi và cổ vũ tôi cứ tiếp tục như vậy.
Tháng 7-1954, Việt Nam giành được độc lập từ Pháp. Sau thất bại Điện Biên Phủ và
sau khi đất nước Việt Nam bị chia đôi thành hai miền Nam Bắc ở vĩ tuyến 17, quân
Pháp rút về miền Nam Việt Nam để lần lượt chờ lên tàu về nước. Quốc trưởng Việt
Nam lúc bấy giờ là Hoàng đế Bảo Đại đă yêu cầu ông Diệm đang lưu vong ở Mỹ về
nước để thành lập chính phủ đầu tiên. Một cuộc trưng cầu dân ư sau đó đă chấm
dứt chế độ Bảo Đại và thành lập nước Việt Nam Cộng hoà, trong lúc miền Bắc trở
thành nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Ngày mồng 1 tháng Giêng 1955, theo một thoả thuận với nước Pháp, Ngân hàng Trung
ương ba nước Đông Dương, Việt Nam-Lào-Cao Miên, được tách ra làm 3 Ngân hàng
Quốc gia Trung ương. Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập ngay ngày hôm ấy
bởi một sắc lệnh do Tổng thống Diệm kư. Một viên chức dân sự có nhiều kinh
nghiệm hành chánh nhưng thiếu căn bản ngân hàng được bổ nhiệm làm Thống đốc, ông
Dương Tấn Tài, một viên đốc phủ dưới chế độ Pháp trước kia, một người rất liêm
chính, cần cù, nhưng không được đào tạo hay có kinh nghiệm về ngân hàng. Ông ta
đă mau chóng chứng tỏ ḿnh bất lực. Cùng lúc đó tôi nhận được sắc lệnh do ông
Diệm kư bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia. Khi kư sắc lệnh, Diệm gọi
tôi vào, nói tôi sẽ chịu trách nhiệm về tất cả các hoạt động chuyên môn, c̣n để
việc quản trị hành chánh của ngân hàng cho Tài. Tài dành th́ giờ để lo toan
những chi tiết hành chánh nhỏ nhặt, luôn luôn sợ mất một cây bút ch́ hay ai đó
chôm mất một xu. Ông ta không bao giờ để ư đến những nhiệm vụ chính của một Ngân
hàng Trung ương, không bao giờ ngó ngàng tới những vấn đề tài chánh và tiền tệ
quan trọng mà đất nước đang đối mặt, việc mà một Ngân hàng Trung ương và vị
Thống đốc phải làm. Ông ta bị thu hút vào những công việc thường lệ và quên mất
các vấn đề tiền tệ và tài chánh cần phải được giải quyết trong buổi chuyển tiếp
từ một nền kinh tế thuộc địa qua nền kinh tế của một quốc gia vừa mới độc lập.
Ông ta phạm nhiều sai lầm mà tôi đă cố gắng lưu ư ông và đề nghị biện pháp sửa
chữa, nhưng ông thường không chịu nghe, có lẽ v́ không hiểu. Cuối cùng tôi bực
ḿnh v́ sự thiếu năng lực của ông và con đường nguy hiểm mà ngân hàng đang theo,
đến nỗi tôi quyết định viết một luận án ngắn về những vấn đề cấp bách mà quốc
gia phải đương đầu và cho in mấy ngày sau.
Khi Diệm nghe những việc này, ông gọi tôi vào thảo luận rất lâu các vấn đề của
ngân hàng và của quốc gia. Cuối buổi nói chuyện dài đó ông cho biết ông sẽ bổ
nhiệm một Thống đốc mới, tuy nhiên với tư cách là một chuyên gia và một Tổng
Giám đốc, tôi phải đảm nhiệm công việc điều hành. Tôi hiểu là ông sắp sửa bổ
nhiệm một chính trị gia làm vị Thống đốc ngân hàng mới. Vài ngày sau ông chuyển
Tài qua làm cố vấn cho Tổng thống và bổ nhiệm Vũ Quốc Thúc, một người có bằng
thạc sĩ luật khoa, giáo sư môn dân luật làm Thống đốc ngân hàng. Rồi ông lại kư
sắc lệnh tái bổ nhiệm tôi làm Tổng Giám đốc, mặc dù theo đúng điều lệ của ngân
hàng, một chức vụ như vậy phải do một quyết định của hội đồng quản trị ngân
hàng. Trong đầu óc ông, h́nh như ông cho rằng tôi phải nắm giữ chức vụ quan
trọng của một Tổng Giám đốc điều hành, c̣n vị Thống đốc kia chỉ là một chính trị
gia bổ nhiệm mang danh nghĩa. Nhưng mọi việc lại vận hành trôi chảy bởi v́ Thúc
để cho tôi lo tất cả mọi khía cạnh chuyên môn và bắt tôi đảm nhiệm tất cả các
nghiệp vụ của ngân hàng. Thúc kéo vào ngân hàng một số bạn bè và bà con hầu hết
đều xuất thân trường ốc và không hề có căn bản hay kinh nghiệm ngân hàng. Ông ta
rất sung sướng có tôi làm Tổng Giám đốc điều hành. Với tư cách là Thống đốc, ông
là người chính thức đứng đầu ngân hàng và chỉ bận tâm tới các mối quan hệ với
chính phủ, giao phó tất cả việc chuyên môn cho tôi.
Trong những tháng đầu tiên năm 1955, trong khi rút quân ra khỏi Việt Nam, chính
quyền thực dân Pháp đă cố lật đổ chính phủ Diệm bằng cách vơ trang và xúi giục
các giáo phái như Cao Đài, Hoà Hảo và nhóm giang hồ nửa hảo hớn nửa du đăng B́nh
Xuyên, cùng với các sĩ quan quân đội bất măn. Một vài sĩ quan Việt Nam, trước
đây ở trong quân đội Pháp và vẫn c̣n mang quốc tịch Pháp, không bằng ḷng với
việc vua Bảo Đại bị phế truất và việc Diệm nắm quyền lực, đă t́m cách nổi loạn
với sự đồng loă của bộ chỉ huy quân sự Pháp. Một người như vậy là đại tá Nguyễn
Văn Hinh, con của nguyên Thủ tướng thời Pháp thuộc là Nguyễn Văn Tâm, đă cố làm
một cú đảo chánh để loại Diệm nhưng thất bại phải đi lưu vong. T́nh trạng khủng
hoảng chính trị và xă hội tiếp sau đó đă tạo nên một sự bất an và rối loạn trong
giới kinh doanh; tất cả các mặt hàng nhập cảng chủ yếu bị dừng lại, đe doạ nguồn
cung cấp c̣n dễ bị tổn thương của đất nước. Giá cả tăng vọt và chợ đen nở rộ.
Các ngân hàng thương mại hầu hết do người Pháp sở hữu, từ chối không chịu tài
trợ nhập cảng v́ muốn phá Diệm hơn là v́ những lư do kinh doanh. Những công ty
Pháp đang thống trị thị trường hàng nhập khẩu từ chối không chịu mạo hiểm và
lặng lẽ giao hàng tồn kho cho những tay lái buôn Trung Hoa để đổi lấy những món
lời khổng lồ chuồi dưới mặt bàn.
Bị đánh phá bởi các cuộc nổi loạn vũ trang và bị bao vây bởi các khó khăn kinh
tế, ông Diệm đă phản ứng một cách can đảm. Ông đánh lại các giáo phái và lực
lượng B́nh Xuyên rồi tiêu diệt họ trong một chiến dịch ngắn ngày nhưng quyết
liệt do tướng Dương Văn Minh chỉ huy, người sau này lật đổ ông. Trong lănh vực
kinh tế, Diệm bỏ tù bọn đầu cơ, trừng phạt bọn buôn bán chợ đen và thực hiện
những biện pháp quyết liệt chống lại cộng đồng người Hoa lúc ấy đang thống trị
nền kinh tế và kiểm soát nguồn gạo cùng các mặt hàng thiết yếu khác. Người Hoa
vốn nổi tiếng là những thương gia tài năng, những người đầu cơ khôn khéo, họ
điều động thị trường có lợi cho họ và có hại cho người dân Việt Nam. Với chính
sách cổ điển “chia để trị”, chính quyền thực dân Pháp luôn luôn ưu đăi người
Hoa, ngược lại quyền lợi của người Việt. Người Hoa được phép kiểm soát nền kinh
tế địa phương mà không cần phải quan tâm tới quyền lợi của dân chúng Việt Nam.
Những quyền ưu tiên và những ưu đăi đặc biệt như vậy được dành cho người Hoa
trong khi người Việt th́ lại không được phép tham gia các hoạt động kinh tế quan
trọng. Người Việt Nam cũng không được giữ những vị trí cao hơn cấp chánh sự vụ
trong ngân hàng, các kỹ sư Việt Nam tốt nghiệp từ những trường kỹ thuật danh giá
nhất của Pháp cũng không được phép thực thi ngành chuyên môn của họ ở Việt Nam
và cũng không kiếm được việc làm trong ngành dưới chế độ thực dân Pháp.
Ông Diệm cố gắng đảo ngược tất cả những điều này và khi các ngân hàng Pháp từ
chối tài trợ việc nhập cảng các mặt hàng chính yếu từ mùa thu 1955, ông quyết
định thành lập một ngân hàng thương mại Việt Nam. Ông gọi tôi vào và yêu cầu tôi
thành lập nó. Ông giao tôi một sắc luật cho phép Ngân hàng Trung ương cấp một
khoản tín dụng là 200 triệu đồng để thành lập một ngân hàng mới. Cầm mảnh giấy
này trên tay tôi đi tới chi nhánh ngân hàng Banque de l’Indochine, lúc ấy đang
bị đóng cửa và thay thế bởi một chi nhánh mới có tên là Pháp Á Ngân hàng (Banque
Francaise d’Asie) để thương lượng việc mua lại trụ sở của nó và tuyển mộ một vài
nhân viên hạng thấp sắp bị ngân hàng Pháp thải hồi. Ngân hàng Banque de
l’Indochine này, mà tổng hành dinh đặt tại Paris, trước đây gồm cả hai loại ngân
hàng trung ương và ngân hàng thương mại của ba nước Đông Dương – Việt Nam, Lào,
Cao Miên. Chúng tôi tách trụ sở chi nhánh ngân hàng Pháp này ra làm hai phần,
một cho trụ sở chính của Ngân hàng Trung ương Việt Nam, phần kia cho Ngân hàng
Thương mại sắp thành lập. Tôi dùng phần này để xây dựng Ngân hàng Việt Nam
Thương tín. Sau đó tôi từ chức ở Ngân hàng Trung ương để dành toàn bộ thời gian
cho việc phát triển ngân hàng thương mại mới. Tôi được Diệm bổ nhiệm làm Tổng
Giám đốc và Chủ tịch Hội đồng Quản trị. Tôi tổ chức cơ quan mới này và bắt đầu
mở cửa vào tháng Giêng năm 1956. Một người Pháp tên Roger Becker, nhân vật số
hai ở Đông Dương Ngân hàng, đă theo tôi về ngân hàng mới và giúp tôi một tay đắc
lực trong việc thiết lập các phương thức hoạt động và điều lệ ngân hàng. Nhiệm
vụ của tôi c̣n được hỗ trợ rất nhiều bởi ba lần nội trú ở ngân hàng tín dụng
Kredit Bank ở Louvain, Bỉ, năm 1948-1950, trước khi được nhận vào trường H.E.C.
Sau 4 năm làm việc miệt mài tôi đă thành công trong việc biến nó trở thành ngân
hàng thương mại lớn nhất nước.
Trong khi tôi bận rộn tổ chức Ngân hàng Thương mại, th́ tháng 9 năm 1956 toàn bộ
hệ thống ngân hàng và cả nước rung chuyển bởi một vụ x́-căng-đan ở Ngân hàng
Quốc gia mà tôi đă rời khỏi trước đó. Người ta khám phá ra rằng những tờ giấy
bạc được đánh dấu để thiêu huỷ đă bị lấy cắp khỏi hầm chứa. Hai trăm năm mươi
triệu đồng, tương đương với tám triệu đô-la lúc đó hoặc vài trăm triệu đô-la
hiện nay, được đánh dấu huỷ, đă biến mất. Người đứng đầu bộ phận kiểm ngân, Vũ
Đ́nh Đa, một chánh sự vụ có quan hệ mật thiết với giới thân cận vị Thống đốc
mới, và viên thủ quỹ chính, một người Pháp tên là André Heurtier, bị bắt và tống
giam. Vũ Đ́nh Đa đă chuẩn bị vụ này trước đây rất lâu, bằng cách cung cấp gái
cho Heurtier và quà cáp cho một số người trong nhóm thân cận ban giám đốc. Y đă
mua chuộc được cảm t́nh và sự đồng loă bằng các món quà cáp và tặng vật. Vậy là
những người có trách nhiệm đă làm ngơ, c̣n ông Thống đốc và ban tham mưu của ông
th́ không hề có kiến thức chuyên môn để có thể kiểm soát chặt chẽ các hoạt động
nên không thể phát hiện được những sự chuẩn bị của Vũ Đ́nh Đa.
Ông Diệm nổi cơn thịnh nộ. Ông gọi tôi vào và nói rằng cảnh sát mật của ông cho
biết là vị Thống đốc mới có dính líu rất nhiều trong vụ này, cảnh sát cũng báo
cáo là Vũ Đ́nh Đa đă chuẩn bị rời khỏi Việt Nam theo đường Lào cùng với viên
Thống đốc, t́nh cờ lúc ấy đang dạy ở Đà Lạt, và Đà Lạt th́ gần biên giới Lào.
Diệm bảo tôi ông sẽ ra lệnh bắt viên Thống đốc. Tôi khuyên ông khoan hành động
vội vă, bởi v́ nếu tin tức cảnh sát không đúng th́ một hành động như vậy sẽ rất
có hại cho Ngân hàng Trung ương và cho cả quốc gia. Diệm nói không những là cảnh
sát báo cáo những chuyện này với ông mà cả viên Tổng thanh tra tài chánh Hà Văn
Vượng cũng nói với ông là tay Thống đốc có dính líu tới vụ ăn cắp và vụ chạy
trốn. Tôi bảo ông đừng quá lo sợ và đừng nên nghe những lời báo cáo dựa trên tin
đồn trước khi một cuộc điều tra sâu hơn chứng tỏ là các báo cáo đó chính xác.
Diệm yêu cầu tôi trở về lại Ngân hàng Trung ương để làm một cuộc điều tra sâu
rộng và tổ chức lại toàn bộ ngân hàng để tránh một tai nạn tương tự trong tương
lai. Đoạn ông kư ngay tại chỗ một sắc lệnh bổ nhiệm tôi một lần nữa làm Tổng
Giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, cùng lúc với chức vụ của tôi ở Việt Nam
Thương tín. Chỉ thị của ông rất rơ ràng: tôi phải xem xét kỹ lưỡng toàn bộ việc
này và xác định trách nhiệm của ban giám đốc trong vụ này về mặt nghề nghiệp, và
nếu có thể th́ cả về mặt h́nh sự, kể cả viên Thống đốc. Tôi phải xem xét lại các
phương thức hoạt động, t́m ra các nhược điểm và tổ chức lại các ban bệ có liên
quan. Tôi phải trực tiếp báo cáo lại với ông – và chỉ với một ḿnh ông – bởi v́
ông ngại rằng những người khác có thể xía vào để kết án ai đó nhằm kiếm điểm và
thăng chức. Diệm biết rằng không có ai trong số những người ông sắp bổ nhiệm để
thay viên Thống đốc hiện nay có kiến thức chuyên môn cần thiết để có thể điều
tra đầy đủ và tổ chức lại ngân hàng.
Hà Văn Vượng, viên tổng thanh tra tài chánh của chính phủ là người chính thức
phụ trách việc kiểm tra tất cả mọi cơ quan tài chánh của chính phủ, nhưng ông
không thể kiểm tra được Ngân hàng Trung ương, v́ ông không hề có kiến thức
chuyên môn trong lănh vực ngân hàng. Ông là một viên quan lại dưới thời thực dân
Pháp, chỉ có một số kiến thức hành chánh. Vượng muốn diệt viên Thống đốc để
giành chức vụ đó cho ông hoặc giành chức Bộ trưởng Tài chánh, v́ vậy ông cung
cấp một lô thông tin không chính xác về vụ ăn cắp và về hành động của Thúc. Mỗi
lần như vậy tôi phải cải chính những điều mà ông ta nói về Thúc. Vượng muốn tự
ḿnh viết lấy báo cáo. Nhưng ông không hiểu ǵ về ngân hàng và các phương thức
hoạt động dẫn tới vụ cắp. Ông tới gặp tôi, nhờ tôi giải thích về toàn bộ vụ việc
và “năn nỉ” xin một bản sao báo cáo của tôi. Tôi từ chối lời yêu cầu của ông và
nói ông ta chỉ có thể có được một bản sao sau khi tôi đă nộp lên cho Tổng thống
Diệm. Ông ta rất tức giận.
Ngang đây, tôi muốn nhân cơ hội đề cập một vấn đề rất nghiêm trọng trong việc bổ
nhiệm nhân viên dân sự ở Việt Nam, cũng như ở các nước đang phát triển trên thế
giới. Các chính phủ, các Tổng thống và các nhà lănh đạo quốc gia khác thường
nhầm lẫn trong việc đánh giá tư cách của các ứng viên và cuối cùng th́ bổ nhiệm
một người chẳng thích hợp ǵ với công việc, dù anh ta có đưa ra những văn bằng
cao cấp. Thay v́ sử dụng năng lực chuyên môn và kiến thức thực tế để đánh giá
các ứng viên, th́ thường họ lại chỉ nh́n vào bằng cấp. Nghĩ rằng bằng Ph.D hay
thạc sĩ là văn bằng cao nhất trong lănh vực giáo dục, họ thường tin rằng một ứng
viên có bằng Ph.D hay thạc sĩ có thể đảm nhiệm bất cứ chức vụ cao nhất nào, ngay
cả trong lănh vực mà anh ta không hề quen thuộc. Ph.D chỉ xác nhận tư cách để
dạy học và nghiên cứu chứ không phải điều hành, trừ phi người ta phải trở lại
học từ đầu trong lănh vực điều hành. Những người có bằng Ph.D chỉ có thể dạy học
hay nghiên cứu trong lănh vực riêng của họ chứ không phải trong những lănh vực
khác, và nhất là họ không thể đảm nhận công việc trong lănh vực điều hành. Ở
Việt Nam chúng ta thường thấy loại nhầm lẫn này khi chính phủ chọn một anh Ph.D
hay thạc sĩ ở ngành luật, hay kinh tế, hay cơ khí để điều hành một Ngân hàng
Trung ương. Anh ta không quen thuộc với cơ chế ngân hàng hay tài chánh, và đương
nhiên không biết cách điều hành và quản trị. Bởi v́ không có kinh nghiệm hoạt
động thực tiễn, anh ta sẽ bị lạc trong những phương thức rối rắm và do đó không
thể phát hiện ra những chỗ sai lầm của nhân viên. Trong một xă hội đă phát triển
th́ thông thường anh ta có thể làm được, bởi thông thường các cơ chế này đă có
sẵn một guồng máy vận hành êm thắm và người có Ph.D chỉ hoạt động một phần rất
nhỏ trong toàn bộ guồng máy. Anh ta có thể hội nhập dần dần vào không mấy khó
khăn nếu anh ta biết học hỏi. Anh ta phải có khả năng hỗ trợ nhân viên dưới
quyền ḿnh, đặc biệt là khi áp dụng những phương thức mới hay những nghiệp vụ
mới. Trong một vài trường hợp, những nhân viên cấp thấp làm việc lâu năm, rành
việc đến tận đầu ngón tay, có thể giăng bẫy xếp của ḿnh (“cho trượt vỏ chuối”)
nếu xếp không am hiểu công việc hay thiếu kinh nghiệm mà lại hách dịch. Tôi đă
chứng kiến nhiều trường hợp như vậy trong các cơ quan mà tôi quản trị. Kinh
nghiệm riêng của tôi là tất cả mọi người, bất luận bằng cấp cao bao nhiêu đi
nữa, đều phải bắt đầu từ bước đầu tiên, nhiều khi phải chấp nhận một công việc
rất đơn giản để khởi sự. Trong sự nghiệp ngân hàng của tôi, tôi luôn luôn đ̣i
hỏi những nhân viên cán sự mới bắt tay vào việc phải đi một ṿng khắp ngân hàng,
kinh qua tất cả các bộ phận, bắt đầu bằng một công việc ở cấp thấp nhất để lần
lần tiến lên những công việc quan trọng hơn.
Bản thân tôi đă có được một lợi thế lớn là đă được nhận vào một khoá thực tập ở
Bỉ với một “chuyến ṿng quanh ngân hàng” suốt ba mùa hè trước khi tôi vào học và
tốt nghiệp trường ngân hàng. Tôi rất may mắn. Khi tôi bắt đầu thực tập ở ngân
hàng Kredit Bank, Louvain, Bỉ, tôi được gặp một viên giám đốc ngân hàng kiểu cũ,
ông đă che chở và d́u dắt tôi suốt con đường nghề nghiệp với rất nhiều kiến thức
đầy quyến rũ. Ông dạy tôi cách hoạt động của ngân hàng truyền thống ngày xưa, và
dạy tôi một môn mà sau này tôi không bao giờ thấy có ở các trường ngân hàng: làm
sao đọc được gương mặt khách hàng để đoán được tư cách của họ liên quan tới
khoản tiền vay. Mỗi năm, suốt ba tháng hè, và trong ba năm liên tiếp, ông đă
kiên nhẫn dạy tôi cách xem tướng mặt. Không sách vở, không lư thuyết, chỉ có một
lô ảnh cỡ lớn mà chúng tôi cùng nhau nh́n ngắm. Ông giải thích các loại nét đặc
trưng trên gương mặt người, và khi chúng tôi đi ra ngoài uống cà phê hay ăn cơm
trưa, ông chỉ gương mặt của những người qua đường và của khách hàng, để đặt câu
hỏi cho tôi, rồi ông sẽ đánh giá và giải thích. Ông cũng là một nhà tâm lư học.
Ông cho tôi biết là ông chưa bao giờ lầm, trừ khi đó là một trường hợp quá phức
tạp với nét mặt bị huỷ hoại hay biến dạng v́ tai nạn. Lần lần tôi cũng học được
môn này và những phỏng đoán hoặc nhận định của tôi càng ngày càng chính xác.
Nhưng chúng tôi không bao giờ cùng xem chung tướng mặt khách hàng của ông, bởi
v́ ông muốn giữ bí mật cho những nhận định riêng của ông. Sau khi tôi về nước và
cầm đầu Ngân hàng Việt Nam Thương tín, tôi bắt đầu áp dụng những lời dạy của
ông, không những đối với khách của ngân hàng mà c̣n đối với bạn bè và những
người cùng làm việc với tôi, dĩ nhiên là bí mật. Tôi giữ những điều tôi khám phá
được cho riêng ḿnh thôi. Kết hợp cách làm việc cổ điển và hiện đại của ngân
hàng, cùng với hệ thống kiến thức của ông, tôi chưa bao giờ bị mắc vào một khoản
cho vay nào bị hỏng hay bị mất với khách hàng của tôi; nhưng sau khi tôi rời
khỏi nhà băng, ban giám đốc mới đă gặp không ít những chuyện nhức đầu với các
khoản cho vay, nhất là khi họ dành ưu tiên đặc biệt cho các nhà chính trị hay
cho đám bạn bè không đáng tin cậy.
Một ngày nọ, viên giám đốc trách nhiệm sở xuất cảng của ngân hàng, đưa một khách
hàng người Pháp đến gặp tôi; tôi nh́n thấy tức khắc là tôi đang có một “ca”
trước mắt. Nhưng v́ đây không phải là chuyện vay tiền mà chỉ là chuyện một hoá
đơn chuyển hàng (bill of lading) nên tôi không từ chối tiếp y. Nhưng khi người
nhân viên của tôi xin lỗi về trước để đi đón con – điều đáng lư không được làm
v́ phận sự chưa xong – và đi ra, th́ tôi gặp rắc rối với tay Pháp này. Sau khi
tôi giải quyết xong hồ sơ và đặt vào trong cái khay “Đi” th́ điện thoại reo: đó
là viên cố vấn kinh tế của toà đại sứ Mỹ, ông ta đề cập lại vấn đề phá giá. Để
dễ bề nói chuyện riêng và mật, tôi đứng dậy bước ra sau ghế ngồi, xây lưng lại
nh́n ra phía cửa sổ. Khi xong câu chuyện tôi quay lại nh́n: tên người Pháp đă
biến mất. Tôi đâm nghi ngờ, nh́n lại cái khay "Đi" th́ thấy y đă đánh cắp tất cả
hồ sơ – nếu người nhân viên của tôi không bỏ ra về trước, th́ đâu có xảy ra câu
chuyện đó được. Tôi gọi người tuỳ phái vào, biểu anh ta đuổi theo người Pháp nọ.
Nhưng y đă mất hút. Với những giấy tờ có trong tay, y có thể tránh được các qui
định bắt buộc hoán đổi ngoại tệ xuất khẩu, và ôm số tiền ngoại tệ ra đi! Tôi gọi
cảnh sát để truy t́m y nhưng không có kết quả.
Một ngày kia người phụ tá đặc biệt của tôi tới gặp tôi với một khách hàng của
anh, một người Mỹ gốc Hoa tên Bill. Khi nh́n thấy gương mặt Bill, tôi nói nhỏ
với người phụ tá là thằng cha này không tin được và v́ vậy tôi không muốn làm ǵ
với y hết. Bill phải ra đi, và người phụ tá của tôi có vẻ không bằng ḷng. Sau
này khi nghe tin người phụ trách văn pḥng kinh doanh Trung Hoa của ngân hàng
tôi, ông Lư Long Thân, người mạnh quyền nhất trong cộng đồng người Hoa, đă mua
nhiều khu đất ở Đài Bắc và ở đảo Guam chung với Bill, tôi có cảnh giác Lư về tay
này. Lư là một người rất dễ thương nhưng cũng là một người rất tự cao, ông ta
nói tôi đừng lo, bởi v́ ông ta là bậc “đàn anh” c̣n Bill th́ chỉ là thứ em út,
chưa tới cỡ phụ tá của ông, không dám làm ǵ đâu. Thế nhưng vài năm sau tôi nghe
nói Lư đă mất tất cả số đầu tư bất động sản ở Đài Bắc và ở đảo Guam, c̣n Bill
th́ trở nên rất giàu có và đă chạy qua đất Saudi Arabia.
Vào cuối những năm 50, tôi có một người bạn người Trung Hoa sống ở Đài Loan lớn
tuổi hơn tôi, nhưng rất thân v́ ông đă nghe những người đồng hương của ông ở Chợ
Lớn kể nhiều về tôi. Ông có một tập đoàn công ty kỹ nghệ lớn hàng thứ ba Đài
Loan; ông là một người rất dễ thương, tính t́nh rộng răi, và chúng tôi thường đi
chơi với nhau mỗi khi tôi tới Đài Bắc. Ông cho tôi hay ông có mở một nhà máy dệt
ở Việt Nam đầu những năm 50, ngay sau khi Việt Nam giành được độc lập. Để chứng
tỏ là công ty này có phần hùn Việt Nam, ông đưa tiền cho một người Việt gốc Hoa
ở Chợ Lớn mua cổ phần trong công ty Sài G̣n của ông, với sự ngầm hiểu rằng số cổ
phần này thuộc về ông và bất cứ khi nào ông cần, ông sẽ cho anh ta 20%, chỉ lấy
lui 80% của ḿnh. Khi ông tới thăm tôi ở Sài G̣n, ông giới thiệu tôi với người
đàn ông kia. Khi tôi nh́n thấy mặt anh ta, tôi nói với ông bạn tôi cùng viên
Tổng Giám đốc của ông, một người Mỹ gốc Hoa, rằng ông sẽ rất khó mà lấy lại
những cổ phần ấy. Ông không tin. Nhưng sau đó chính ông ta kể tôi nghe là khi
ông ta đ̣i lại số cổ phần kia để chuyển qua cho viên Tổng Giám đốc th́ ông không
thu hồi lại được, dù chỉ đề nghị lấy lại 80%.
Lần đầu tiên tôi nh́n thấy Hoàng Khắc Thành, người mà tôi đă ra tay cứu vớt sau
khi bị sa thải ở một ngân hàng khác, tôi đă để ư thấy một nét đặc trưng tương tợ
như vậy trên gương mặt anh ta, giống hệt những ǵ tôi thấy trên gương mặt Âu
Trường Thanh (Thanh là Tổng trưởng Kinh tế khoảng mấy tháng dưới thời Thủ tướng
– chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương – Nguyễn Cao Kỳ), nó cho tôi biết những
người này có thể dễ dàng phản bạn. Đó là những ǵ đă xảy ra với tôi, bởi v́ tôi
đă cứu người này và bảo đảm cho người kia với Kỳ, nhưng cả hai người không ngần
ngại phá tôi.
Trở lại vấn đề tập việc cho những cán sự mới vào ngân hàng, có một lần, có hai
thành viên có bằng tiến sĩ luật bắt đầu công tác ở Ngân hàng Quốc gia. Giống như
tất cả những người tập sự khác, họ được yêu cầu phải đi một ṿng ngân hàng, bắt
đầu ngày làm việc đầu tiên với pḥng kế toán Sở Viện trợ Mỹ. Vài giờ sau họ đến
pḥng tôi than phiền là họ phải làm việc “tay chân” trong lúc họ có bằng tiến
sĩ. Tôi dẫn họ về lại pḥng kế toán, biểu hai người thư kư tránh ra, đặt hai
người tập sự vào đó và nói họ làm việc. Đến cuối ngày họ tới pḥng tôi nói là
công việc không xứng với họ, không xứng với bằng cấp họ, và xin từ chức.
Họ không thể làm được công việc họ phải làm. Sau này tôi nghe nói họ tới Bộ
Ngoại giao và được bổ nhiệm làm giám đốc ngay ngày đầu tiên! Kinh nghiệm của
tôi, là mặc dầu ḿnh có những bằng cấp cao nhất, khi mới bắt đầu vào một công
việc chuyên môn, ḿnh phải bắt đầu học hỏi những công việc thấp bé nhất, rồi dần
dần lên đến các công việc khó hơn, ở nấc cao hơn, th́ đến khi nhận một chức vị
điều hành ở cương vị cao, ḿnh mới có đủ sự hiểu biết để điều hành công việc một
cách hiệu quả và điều khiển những nhân viên dưới quyền của ḿnh một cách chu
đáo. Nhưng buồn thay, các sinh viên Việt Nam có bằng cao, không bao giờ chịu bắt
đầu với một công việc thấp kém để học hỏi – học nghề – nên khi đảm nhận một chức
vị cao, chỉ v́ có bằng cấp cao, họ không thể điều khiển nhân viên của họ và
nhiều khi có thể bị nhân viên cho “trượt vỏ chuối”, và công việc họ làm phần
nhiều là kém phần hữu dụng hay không thành công. Những người “nhảy băng’’ như
vậy sẽ không thể tiến triển được và phần nhiều là phải nhờ thân thế để “thăng
quan tiến chức”. Đó là một tệ nạn tai hại cho đất nước, và là lư do tại sao nước
Việt Nam của ta cứ lẹt đẹt chạy theo các nước láng giềng và thua kém họ 50 năm,
100 năm, mặc dầu dân ta rất thông minh và học giỏi không thua ai, mà có phần hơn
là khác. Họ cũng hay quên một sự thật rất quan trọng, là khi ra làm việc, những
ǵ ta đă học ở trường với những bằng cấp của ta, phần lớn ta không cần đến, và
ta cần những kinh nghiệm ta học mỗi ngày trong công việc ta làm. Nhưng nếu chúng
ta thành thật nh́n lại chung quanh chúng ta, th́ chúng ta thấy chẳng mấy người
đă chọn hai con đường ở trên! Buồn thay cho đất nước Việt Nam của ta! Trong khi
đó ở các nước đi trước ta như Nhật Bản, Đại Hàn họ rất chú trọng đến vấn đề tập
sự và kinh nghiệm, nhiều hơn ta nhiều. Ngay cả ở nước Mỹ khi sinh viên đă có BA,
BS, muốn vào tiếp tục học Master hay Ph.D, các trường danh tiếng thường đ̣i hỏi
sinh viên phải có kinh nghiệm đă làm việc. Ngày nay ở Việt Nam, với những bằng
“giả”, bằng “non”, bằng “chính trị”, tiến sĩ và phó tiến sĩ, với sự nhắm mắt của
chính quyền, vấn đề c̣n tệ hơn nữa và sự tiến triển của đất nước c̣n khó hơn
nữa, V́ vậy mà tôi không quên được một câu phê b́nh của người Pháp đối với dân
Việt Nam: trong mỗi người Việt Nam, đều có một ông quan. Bất kỳ người
Việt Nam nào, khi có một mảnh bằng, dầu nhỏ bé đến đâu, cũng chỉ muốn làm quan.
Không có ai chịu làm dân cả. V́ vậy mà ngay cả trong một chính thể xă hội, ta đă
thấy bao nhiêu bằng giả, bằng non, bằng chính trị, bên cạnh một số bằng thật rất
nhỏ.
Tôi có gặp ba trường hợp tương tợ trong đó hai người, một có bằng thạc sĩ ở Pháp
và một có bằng Ph.D từ Mỹ về, và một kỹ sư tốt nghiệp từ một trường danh tiếng
của Pháp, cả ba được bổ nhiệm những chức vụ số một trong các cơ quan chuyên
ngành mà họ không có đủ tiêu chuẩn chuyên môn: cả ba đều không làm được việc và
bị sa thải sau một thời gian. Những người đứng đầu chính phủ và các nhà lănh đạo
đất nước phải luôn luôn nhớ rằng không thể yêu cầu một người bác sĩ lái một
chiếc tàu thuỷ, hay một sĩ quan tàu ngầm nguyên tử lái máy bay Boeing 747, cũng
như nhà kinh tế tài ba nhất không thể quản lư được một chương tŕnh không gian,
trừ phi họ bắt đầu học lại từ đầu.
Sau khi tôi đă nộp bản báo cáo mô tả các chi tiết của vụ cắp và trách nhiệm của
nhiều thành viên cao cấp trong ban điều hành, nhưng không cáo buộc Thúc một lỗi
nào, ngoại trừ sự chểnh măng và thiếu năng lực, Diệm cách chức anh ta và thay
bằng Trần Hữu Phương, một kỹ sư dân sự không hề có kiến thức căn bản về tiền tệ
hay ngân hàng. Thúc rời ngân hàng cùng với đám bà con bè bạn không một lời chào
từ biệt tôi, rơ ràng anh ta tin rằng v́ tôi mà anh ta bị cách chức. Anh ta không
biết rằng chính tôi đă cứu anh ta khỏi ngồi tù. Tôi không bao giờ nói Thúc biết
là tôi đă giữ cái đầu lại cho anh ta và Thúc vẫn luôn luôn giữ ác cảm với tôi
sau khi bị cách chức.
Phương bước vào ngân hàng đem theo mấy người phụ tá, những người này cũng giống
như thủ trưởng của họ, đều trung thực và làm việc tận tâm nhưng hoàn toàn thiếu
kiến thức và kinh nghiệm trong hoạt động ngân hàng. Phương hết sức cố gắng để
học cái ngành mới này, và cũng bỏ rất nhiều công sức để làm quen với cách vận
hành của một Ngân hàng Trung ương. Nhưng điều này không phải dễ dàng, v́ anh ta
không hề có một cái nền đào tạo nào về tài chánh. Thế là anh ta lo việc quan hệ
với chính phủ và quản lí hành chánh nội bộ, giao việc quản lí chuyên môn về tiền
tệ và ngân hàng cho tôi.
Tôi mất tới sáu tháng làm việc rất dữ cùng một vài quyết định khó khăn mới có
thể hoàn tất việc tổ chức lại Ngân hàng Quốc gia. Và trong khi ấy, tôi phải cùng
một lúc t́m cách mau chóng phát triển Ngân hàng Việt Nam Thương tín mà tôi đă
thành lập và vẫn c̣n đang phụ trách.
Thế rồi Vượng được bổ nhiệm Bộ trưởng Tài chánh để thay thế Phương; ông ta được
thưởng v́ đă tố cáo và buộc tội Thúc đồng loă trong vụ cắp. Các thành viên trong
Hội đồng Tiền tệ Tối cao có nhiều dịp theo dơi một cách thú vị cuộc đối thoại
giữa Vượng và tôi, ông ta thường hỏi những câu hỏi ngớ ngẩn và tôi phải giải
thích thẳng thừng cho ông ta hiểu về các vấn đề tài chánh tiền tệ sơ đẳng nhất.
Những người ngồi sau lưng các thành viên hội đồng cứ cười thầm v́ những câu hỏi
vô nghĩa của ông ta và những câu trả lời châm biếm của tôi.
Vũ Văn Mẫu là Bộ trưởng Ngoại giao và là một giáo sư luật, anh ta đang lo thiết
lập những quan hệ ngoại giao với thế giới thứ ba, chưa bao giờ chịu nh́n thử vào
các vấn đề ngoại tệ và tài chánh hải ngoại của đất nước, có lẽ v́ anh ta chưa
bao giờ chạm đến các vấn đề tài chánh tiền tệ. Với một ê-kíp như vậy, Phương làm
Thống đốc Ngân hàng Quốc gia, Vượng Bộ trưởng Tài chánh, Mẫu Bộ trưởng Ngoại
giao, cùng với phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ phụ trách kinh tế tổng quát, tất
cả đều thiếu kiến thức tài chánh tiền tệ như vậy, tôi phải tự ḿnh nhận lấy
trách nhiệm thiết lập một hệ thống tiền tệ tài chánh mới cho đất nước bằng cách
cắt đứt tất cả những mối quan hệ lâu nay giữa đồng tiền Việt Nam và hệ thống
đồng tiền Pháp, và thương lượng một mối quan hệ tiền tệ mới giữa Pháp và nước
nhà.
Tôi biết rằng đây hầu như là một việc không tài nào thực hiện nổi nếu tự làm một
ḿnh, bởi tôi sẽ không nhận được một sự hỗ trợ nào của các bộ khác trong chính
phủ v́ họ mù tịt về vấn đề hoặc v́ họ sợ dính líu vào một công việc tế nhị và
gánh lấy những trách nhiệm mà họ không muốn. Tôi phải tự làm lấy một ḿnh. Không
ai nhắc nhở, không ai hỏi thăm, kể cả Tổng thống Diệm. Tôi chỉ biết rằng ông ta
sẽ ủng hộ tôi hoàn toàn nếu tôi làm được điều lớn lao cho đất nước. Tôi biết
rằng nếu tôi thành công th́ sẽ không có ai cám ơn, không ai nhớ ơn, mà tất cả
đều ganh tị; c̣n nếu tôi thất bại, mọi người sẽ nhảy xổ lên tôi. Nhưng tôi biết
là rất nhiều vấn đề cốt tử đang đối mặt với xứ sở, và quyền lợi sống c̣n của đất
nước đang đặt ở trên bàn cân. Đối với những ai quan tâm sâu xa tới quyền lợi
chung của đất nước như tôi, th́ đây là cả một cơ hội lớn để phục vụ; làm sao tôi
cưỡng lại được tiếng gọi phải làm một điều thật sự quan trọng cho đất nước. Đâu
có nhiều người trên thế giới này có cơ hội được giao phó các vấn đề cốt yếu như
vậy ngay bước khởi đầu sự nghiệp – và hầu như một ḿnh một ngựa. Những ư nghĩ
này đă giúp tôi quyết định, bất chấp mọi khó khăn và gánh chịu những nguy hiểm
dính liền với một công cuộc như vậy.
[1]Ngân hàng trung ương là tên chung cho một loại ngân hàng đặc biệt, của tất cả các nước. Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là tên riêng của ngân hàng trung ương Việt Nam, cũng như Banque de France là tên của ngân hàng trung ương Pháp và Federal Reserve Bank là ngân hàng trung ương Hoa Kỳ.
Nguồn: Cuốn hồi kư này được tác giả tự xuất bản lần đầu năm 2004 tại California. Ấn bản lần thứ nh́ đăng trên talawas có một số hiệu đính và bổ sung, bản điện tử do tác giả cung cấp.
Nhưng tôi cũng cảm thấy rất cô
đơn, bởi tôi biết ḿnh không thể dựa vào ai khác, và cũng không thể thảo luận
hay trao đổi ư kiến với ai, bởi v́ chẳng có ai trong chính phủ hiểu biết về lănh
vực này. Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam vào lúc đó hầu như chỉ gồm toàn đồng
Phật-lăng “nội địa” thu được từ mặt hàng cao su xuất cảng qua Pháp và gạo xuất
cảng qua các thuộc địa Pháp ở châu Phi. Đồng Phật-lăng của chúng ta không hoán
đổi được; mỗi năm Ngân hàng Quốc gia Pháp (Banque de France) chỉ cho chúng ta
đổi một số lượng nhỏ lấy những đồng tiền hoán đổi được như đồng Đô-la Mỹ, đồng
Bảng Anh, đồng Mác Đức hay đồng Yên Nhật. Nước Pháp đă trải qua một giai đoạn
rối loạn chính trị và bất an xă hội kéo dài, kèm theo những khó khăn rất lớn về
mặt kinh tế tài chánh, và đồng tiền Pháp cứ liên tục giảm giá. Cứ mỗi lần giảm
giá hay chính phủ Pháp phá giá như vậy th́ chúng ta lại mất một tỉ lệ phần trăm
trị giá ngoại tệ dự trữ. Như vậy tuy chúng ta đă giành được độc lập chính trị từ
tay người Pháp năm 1955, nhưng trên b́nh diện tiền tệ th́ chúng ta vẫn c̣n là
một thuộc địa của Pháp. Không ai trong chính phủ tỏ vẻ quan tâm tới sự bất b́nh
đẳng trong hệ thống chi trả với Pháp, tới sự suy yếu của dự trữ ngoại tệ và sự
hao hụt trị giá đồng tiền Việt Nam v́ liên hệ với hệ thống tiền tệ của Pháp. Hơn
thế nữa, số vàng dự trữ của chúng ta (33 tấn rưỡi) mà quân Pháp lấy được từ tay
quân Nhật sau khi Nhật bại trận năm 1945 đă bị chở về Pháp khi lính Pháp rút về
nước năm 1955, và chúng ta không có vàng để hỗ trợ cho đồng tiền quốc gia kể từ
lúc đó.
Tháng 11/1956 sau khi đă hoàn tất việc tổ chức và sắp xếp lại Ngân hàng Quốc
gia, tôi quyết định tiến công vào các vấn đề đă ám ảnh tôi hơn một năm qua: sự
cần thiết phải thương lượng một hiệp định tiền tệ mới với Pháp, sự cần thiết
phải chuyển số dự trữ bằng đồng Phật-lăng Pháp của chúng ta qua các đồng tiền
hoán đổi được để tránh bị hao hụt thêm nữa trị giá dự trữ ngoại tệ của chúng ta,
sự cần thiết phải thu hồi số trữ kim đang nằm ở Ngân hàng Quốc gia Pháp, sự cần
thiết phải đ̣i lại số nợ của Ngân Khố Pháp và sự cần thiết phải cải thiện mối
quan hệ tiền tệ, tài chánh với Pháp để đ̣i hỏi viện trợ kinh tế tài chánh của
họ; đó là những mục đích chính của Việt Nam trong khi đối thoại với nước Pháp.
Sau khi thông báo với Tổng thống Diệm, tôi đă đi Pháp một chuyến để viếng thăm
Ngân hàng Quốc gia Pháp và Quai de Rivoli, tức Bộ Tài chánh Pháp, và bắt đầu
thăm ḍ quan điểm của người Pháp về các vấn đề này. Tôi nghĩ rằng với tư cách là
cố vấn của Tổng thống, với sự am hiểu vấn đề và nhiệt tâm phục vụ đất nước, tôi
có thể đạt được một sự đáp ứng nào đó từ phía nhà cầm quyền Pháp. Tôi đă nhầm.
Tôi cần phải có được sự uỷ quyền của Tổng thống Diệm. Nhà cầm quyền Pháp biết rơ
rằng Diệm tập trung mọi quyền bính trong tay ông, biết tôi là người cố vấn tin
cẩn của ông trong lănh vực kinh tế tài chánh, nhưng họ không được thông báo
chính thức về chuyến viếng thăm và công cán của tôi. Điều này chỉ được thực hiện
về sau qua toà đại sứ Pháp ở Sài G̣n.
Đầu năm 1957 đồng Phật-lăng Pháp lại bị phá giá một lần nữa; và một lần nữa
không ai trong chính phủ tỏ vẻ quan tâm tới những mất mát to lớn trong dự trữ
ngoại tệ do việc đồng tiền Pháp mất giá và phá giá nhiều lần gây nên. Tháng 6
năm 1957, cảm thấy được đồng tiền Pháp sắp sửa bị phá giá một lần nữa, tôi vào
gặp ông Diệm và cảnh giác ông vụ hao hụt mất mát dự trữ ngoại tệ đang lăm le xảy
đến. Tôi khuyên ông nên rời bỏ khu vực đồng Phật-lăng Pháp, có sự thoả thuận hay
không có thoả thuận với Pháp cũng được. Nhưng trước khi dùng tới biện pháp cuối
cùng này, chúng ta nên thương lượng để đạt được một hiệp định mới giữa hai quốc
gia. Tôi nói với ông Diệm rằng ông phải để tôi đi Paris để nêu những vấn đề này
và để bắt đầu thương lượng một thoả ước tiền tệ mới với nước Pháp. Tôi mô tả chi
tiết những vấn đề đang tồn đọng giữa hai quốc gia. Ông Diệm lắng nghe một cách
cẩn thận đoạn bảo tôi khởi hành càng sớm càng tốt để thực hiện cái công việc
khổng lồ như kiểu Hercules trong thần thoại đó. Nhưng nh́n vào mắt ông, tôi có
thể thấy là tận đáy ḷng ông, ông không tin là tôi có thể một ḿnh làm nổi công
việc to tát ấy, không tin tôi có thể gặp một nhân vật nào đó đủ quyền lực và uy
tín chính trị ở Pháp để thực hiện sự nhượng bộ đầu tiên và hết sức quan trọng
cho một nước thuộc địa cũ. May mắn cho đất nước và cho chính tôi, tôi đă gặp
nhân vật ấy ở Bộ trưởng Tài chánh Pháp Antoine Pinay.
Những sự kiện bước đầu chứng tỏ là ông Diệm đă sai lầm, v́ vậy ông ủng hộ tôi
nhiều hơn nữa và tin tôi nhiều hơn nữa khi tôi hoàn toàn lao ḿnh vào các cuộc
thương lượng với các cấp thẩm quyền Pháp, đặc biệt là khi tôi tiếp xúc trực tiếp
và thảo luận trực tiếp với ông Antoine Pinay. Được vũ trang bằng sự uỷ quyền
chính thức của Tổng thống Diệm, và được tăng thêm sức mạnh nhờ ḷng tin cậy của
ông, tôi qua Pháp và viếng thăm nhiều lần Ngân hàng Quốc gia Pháp và Bộ Tài
chánh Pháp. Lần này các viên chức nhà nước Pháp đă nhận được thông báo chính
thức về chuyến viếng thăm của tôi qua toà đại sứ Pháp ở Sài G̣n. Họ tiếp đón tôi
rất nồng hậu, nhưng không có ai trong chính quyền Pháp tỏ vẻ muốn dấn thân vào
những cuộc thảo luận quan trọng như vậy. Đây không phải là một vấn đề kỹ thuật
đơn thuần. Đây là một vấn đề chính trị hết sức phức tạp và hết sức gai góc, bởi
v́ đây sẽ là lần đầu tiên mà nước Pháp thương thuyết về một hiệp ước tiền tệ với
một nước thuộc địa cũ: bất cứ một nhượng bộ nào đối với Việt Nam cũng sẽ bị các
nước thuộc địa cũ và các nước trong Liên hiệp Pháp ganh tị và đ̣i hỏi cho chính
ḿnh, nó đánh dấu bước khởi đầu của những thay đổi lớn lao trong hệ thống tiền
tệ của Pháp. Cần phải có một con người có quyền lực chính trị to lớn và có rất
nhiều can đảm để phát động những bước đi quan trọng như vậy.
Rất may là không bao lâu tôi đă t́m ra con người ấy. Trong thời gian ở Paris,
tôi thường lui tới gặp gỡ bạn bè cũ trong giới ngân hàng, hy vọng sẽ t́m được
một ai đó có thể giới thiệu tôi với một nhân vật chính trị như vậy. Tôi tṛ
chuyện nhiều lần với viên phó Tổng Giám đốc Đông Dương Ngân hàng, ông René
Bousquet, và chúng tôi mau chóng trở thành bạn thân v́ có khá nhiều điểm tương
đồng. René Bousquet đă là Thứ trưởng Bộ Nội vụ khi mới 35 tuổi. Ông đă bắt đầu
một sự nghiệp sáng chói ở cái tuổi mà những chính trị gia và viên chức nhà nước
lăo thành coi là c̣n quá trẻ. Khi ông biết rằng tôi được bổ nhiệm làm Tổng Giám
đốc Ngân hàng Trung ương và Tổng Giám đốc Ngân hàng Việt Nam Thương tín, đồng
thời là cố vấn Tổng thống ở tuổi 31 th́ ông nh́n thấy nơi tôi h́nh ảnh xa xưa
của chính ông những năm 40, và ông cũng thèm muốn được như tôi bởi v́ mọi hoàn
cảnh đều rất thuận tiện cho sự nghiệp của tôi, trong lúc các biến cố năm 1945
lại đột ngột thay đổi sự nghiệp của ông. René Bousquet chỉ quen biết ông Antoine
Pinay một cách gián tiếp, v́ ông thân với hai người phụ tá của Pinay. Ông Pinay
đă được tướng De Gaulle bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Tài chánh vào đầu năm 1957,
nhưng không như các vị Bộ trưởng Tài chánh trước kia, ông tham gia chính phủ với
tiếng tăm lừng lẫy của một con người hết sức trung thực, rất can đảm và đầy
quyền lực, một người mà nước Pháp rất cần để sắp xếp lại nền kinh tế tài chánh
ốm yếu của nó.
René Bousquet lắng nghe bài diễn thuyết chỉ trích dài dằng dặc của tôi về mối
quan hệ tài chánh bất công và bất b́nh đẳng giữa Pháp và Việt Nam và về hệ thống
tiền tệ lỗi thời, không thích hợp, mà nước Pháp đă áp đặt lên đất nước chúng
tôi. Mặc dù các ư tưởng của tôi không hợp với các quyền lợi ích kỷ của Đông
Dương Ngân hàng, lúc bấy giờ vẫn c̣n nắm giữ một phần đáng kể cái quyền lực tài
chánh của nó ở Việt Nam trong thời kỳ thuộc địa, René Bousquet vẫn lắng tai nghe
một cách đầy thiện cảm, bởi v́ vào thời ông, ông cũng đă phục vụ lợi ích của
nhân dân và vẫn c̣n giữ nguyên ư thức chính trị ấy mặc dù ông đang ẩn náu trong
một tổ chức phi chính trị. C̣n tôi th́ có cảm giác rơ rệt rằng ông có thể giúp
đỡ tôi rất nhiều trong công việc thương thuyết, nên tôi yêu cầu Ngân hàng Quốc
gia kư thác một tài khoản mới vào Đông Dương Ngân hàng để tăng thêm uy tín của
ông và để ông có thể giúp đỡ tôi mà không phải tỏ ra đi ngược với quyền lợi cơ
quan của ông một cách quá đáng. René Bousquet hứa sẽ yêu cầu hai người bạn ông
sắp xếp cho tôi một buổi gặp gỡ với ông Antoine Pinay.
Trong khi tôi đang ṃ mẫm ḍ đường trong các hệ thống chính trị và tài chánh rối
rắm của nước Pháp, th́ một người nào đó nói với ông Diệm rằng việc gởi tôi, một
tay Tổng Giám đốc quèn, qua Paris để thực hiện một thoả ước tiền tệ phức tạp với
nước Pháp, chỉ tốn thời gian vô ích, và tôi không thể nào t́m được một nhân vật
Pháp đủ quan trọng và đủ quyền lực để nói chuyện, chứ đừng nói là thương lượng –
sau này tôi biết người đó là vị Bộ trưởng phủ Tổng thống, anh ta đă nói những
lời này với Nhu, em của Tổng thống Diệm. Ông Diệm bèn gởi điện cho toà đại sứ ở
Paris, biểu chuyển cho tôi một thông điệp ra lệnh tôi quay về nước ngay. Nhưng
một người em của ông Diệm, Ngô Đ́nh Luyện, người đang làm đại sứ nước Anh, lúc
ấy t́nh cờ có mặt ở Paris. Tôi tới gặp Luyện và kể cho anh ta nghe tất cả công
việc móc nối của tôi. Luyện khuyên tôi cứ ở lại để tiếp tục công việc và anh sẽ
gọi điện cho Tổng thống Diệm ngay lập tức. Nhưng tôi vẫn cứ rời Paris bay về
nước với ư nghĩ phải đương đầu với Diệm và những kẻ phá rối tôi một lần chót cho
xong.
Khi tôi gặp Diệm ngày hôm sau, và kể cho ông nghe những ǵ tôi đă làm ở Paris,
ông nhận ra rằng ông đă nghe những lời tố cáo phi lư và dối trá sai lệch. Tôi
nói với ông là trong mấy năm qua chúng ta đă mất một số rất lớn trị giá ngoại tệ
dự trữ v́ việc mất giá liên tục của đồng Phật-lăng Pháp. Sự mất mát này có thể
đă lên tới hàng mấy chục triệu Mỹ kim trong những cuộc phá giá đồng Phật-lăng dự
trữ ngoại tệ cuả xứ ta. Và tôi nói thêm rằng một vụ phá giá nữa sắp xảy ra, xét
theo t́nh h́nh của nền kinh tế Pháp trước khi Pinay cải cách tiền tệ. Ông Diệm
rất sung sướng khi thấy tôi t́m ra được một người bạn hết sức quyền lực cho Việt
Nam; ông bảo tôi là ông cũng muốn gặp ông Pinay lúc nào thuận tiện. Tôi hứa với
ông điều này và tôi đă sắp xếp cho ông Diệm gặp ông Pinay vào năm tới, sau một
loạt thảo luận với ông Pinay và chính quyền Pháp. Diệm yêu cầu tôi quay trở lại
Paris càng sớm càng tốt để tiếp tục công việc và ông trao cho tôi thẩm quyền
chính thức để gặp bất cứ người nào tôi muốn và nối lại các cuộc thảo luận giữa
hai quốc gia. Một vài ngày sau, khi tôi đang chuẩn bị chuyến đi Paris sắp tới
th́ đồng Phật-lăng Pháp lại bị phá giá một lần nữa. Diệm gọi tôi vào khen ngợi
lời tiên đoán của tôi và ra lệnh cho tôi đi ngay Paris. Bây giờ th́ ông đă thấy
rơ ràng hơn bao giờ hết sự mất mát dự trữ ngoại tệ, sự cần thiết cấp bách phải
thoát khỏi khu vực đồng Phật-lăng Pháp và đề ra một mối quan hệ tiền tệ mới với
nước Pháp. Đó là một điều mới mẻ mà ông Diệm mới học được, thậm chí ông không
nói cho vị phó Tổng thống của ông biết, càng không nói với các tay Bộ trưởng Tài
chánh, Bộ trưởng Kinh tế và Bộ trưởng Ngoại giao. Đó là cách mà ông Diệm cai trị
đất nước: ông ta xử lư các vấn đề quốc gia giống như là chuyện riêng của ông.
Điều này vừa tốt lại vừa xấu, tốt bởi v́ như vậy ông hoàn toàn chú tâm tới vấn
đề; và xấu v́ ông giữ tất cả mọi chuyện cho riêng ông, không chịu chia sẻ những
thông tin mà tôi đưa cho ông với bất cứ ai trong chính phủ, có lẽ chỉ chỉ hé lộ
đôi chút cho phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ; nhưng ông cũng nói vắn tắt cho Nhu
biết về những ǵ tôi làm ở Paris, việc này giúp tôi khỏi những chuyện rắc rối do
Nhu và Thuần gây ra nữa. Từ nay trở đi tôi được hoàn toàn tự do hành động, điều
này rất có ích cho công tác của tôi; và đó là lư do v́ sao mà sau này tôi thường
nói là những việc làm quan trọng của tôi chẳng bao giờ được chính phủ biết tới,
ngoại trừ các vị Tổng thống, và có lẽ ở một mức độ nào đó, là các vị phó Tổng
thống và Thủ tướng.
Tôi chờ thêm hai tuần nữa mới trở lại Paris, để cho những xáo trộn gây nên bởi
vụ phá giá mới đây được lắng xuống trước khi tôi có thể thảo luận về vấn đề tiền
bạc và dự trữ ngoại tệ với chính quyền Pháp. Lần này được vơ trang bằng sự tin
cậy tuyệt đối của ông Diệm, và được giới thiệu trước bởi một thông điệp của toà
đại sứ Pháp gửi cho Tổng trưởng Ngoại giao Pháp về bản chất chuyến công tác của
tôi cũng như sự ủng hộ mạnh mẽ của Tổng thống Diệm, tôi được nhà cầm quyền Pháp
tiếp đón nồng hậu hơn. Tôi gặp Pierre Sadrin, Giám đốc Tài chánh Hải ngoại Pháp
cùng vị phó Giám đốc của ông, Georges Lapeyre, và tôi có thể thấy trong mắt họ
niềm tin rằng họ đă gặp được người có thể tin tưởng được với tư cách là phát
ngôn viên của nước Việt Nam và của Tổng thống Diệm. Tôi cũng gặp Thống đốc
Baumgartner và phó Thống đốc Calvet của Ngân hàng Quốc gia Pháp. Với sự giúp đỡ
của René Bousquet và các bạn ông, tôi được hội kiến với ông Antoine Pinay. Ông
ta đang bịnh nằm dài trên giường nhưng ông cũng đồng ư tiếp tôi. Tôi được đưa
tới tận giường bệnh của ông, chúng tôi thảo luận một danh sách dài các vấn đề
giữa hai quốc gia, trong đó có vấn đề dự trữ ngoại tệ Việt Nam, hệ thống chi trả
với nước Pháp, số trữ kim của Việt Nam và một số vấn đề khác của Ngân Khố Việt
Nam. Nhưng trên hết, tôi yêu cầu đồng Phật-lăng mà chúng ta thu được từ việc
xuất khẩu qua Pháp và qua các thuộc địa của Pháp, phải hoán đổi được. Đối với
ông Antoine Pinay đây là một điều rất khó khăn và rất nhạy cảm về mặt chính trị,
bởi v́ việc hoán đổi một phần hoặc toàn bộ đồng Phật-lăng Pháp của một thành
viên trong khu vực đồng Phật-lăng Pháp là điều không thể tưởng tượng được vào
lúc đó, về cả mặt chính trị lẫn kỹ thuật. Việc nước Pháp nhượng bộ như vậy cho
Việt Nam sẽ gây nên một cơn địa chấn chính trị chạy suốt khối Liên hiệp Pháp,
bao gồm tất cả các thuộc địa của Pháp và một vài nước thuộc địa cũ đă h́nh thành
nên khu vực đồng Phật-lăng Pháp.
Antoine Pinay yêu cầu tôi đưa cho ông một văn kiện ghi rơ các đề tài thảo luận
và hứa sẽ yêu cầu bộ Tài chánh và Ngân hàng Quốc gia Pháp nghiên cứu. Ông hứa sẽ
trả lời sớm và nhờ tôi chuyển lời hứa của cá nhân ông về cho Tổng thống Diệm:
ông rất muốn giúp đỡ Việt Nam, cho nên ông sẽ vui ḷng kư kết một thoả ước tiền
tệ mới như Việt Nam đề nghị và sẽ viện trợ kinh tế, tài chánh cho Việt Nam.
Nhưng trước đó ông muốn cải thiện mối quan hệ giữa hai nước hiện đang ở mức thấp
nhất kể từ sau vụ truất phế Quốc trưởng Bảo Đại và vụ bắt giam hai người Pháp bị
buộc tội gián điệp đầu năm 1956. Pinay yêu cầu chính phủ Việt Nam trả tự do cho
hai người Pháp như một cử chỉ thiện chí để mở ra một kỷ nguyên quan hệ mới giữa
hai quốc gia. Tôi chuyển lời hứa này cho ông Diệm sau khi trở về nước và khuyến
cáo chính phủ thả hai người Pháp ra, v́ tôi có cảm giác rơ rệt rằng ông Pinay có
rất nhiều cảm t́nh với Việt Nam và ông có đủ quyền lực và tư thế để hỗ trợ được
cho đất nước chúng ta rất nhiều.
Vào thời gian tôi tới Paris th́ Bộ trưởng Tài chánh Tây Đức cũng đang có mặt tại
đó; tôi nghe nói ông Pinay sẽ tiếp tôi ở nhà ông trước khi tiếp vị Bộ trưởng
Đức. Khi những người phụ tá của Pinay hỏi ông tại sao ông không tiếp một vị Bộ
trưởng Tây Đức trước mà lại tiếp một viên Tổng Giám đốc của một quốc gia bé nhỏ,
ông trả lời họ rằng ông không thể quên sự giúp đỡ lớn lao của Việt Nam đă dành
cho Pháp suốt 30 năm qua. Ông muốn ám chỉ tới con số hai mươi ngàn người Việt
Nam – các nhà khoa học, các giáo sư, bác sĩ, nghệ sĩ vân vân… đang sống và làm
việc tại Pháp, và do đó đă giúp cho Pháp bao nhiêu là viện trợ kỹ thuật chuyên
môn. Ông nói với các viên phụ tá của ông rằng tôi là người đại diện cá nhân của
Tổng thống một nước cộng hoà và ông muốn sớm đi tới một thoả ước với Việt Nam.
Tôi chuyển lời ông Diệm mời ông Pinay qua thăm Việt Nam, và trong chuyến gặp gỡ
đầu tiên, hai ông đă thảo luận rất nhiều vấn đề chính trị và rất ít về các vấn
đề tiền tệ, bởi v́ tất cả mọi việc đă được tôi giải quyết ở Paris với chính
quyền Pháp rồi – dưới sự giám sát của Pinay. Pinay hứa sẽ hối thúc việc giải
quyết các vấn đề của Việt Nam và tổ chức viện trợ kinh tế tài chánh cho Việt
Nam; c̣n ông Diệm hứa sẽ thả hai người gián điệp Pháp. Cả hai đều có cảm t́nh và
kính trọng lẫn nhau, nên giữa hai người đă nảy nở một t́nh bạn chặt chẽ, đem lại
nhiều lợi ích cho cả hai nước; quan hệ giữa Việt Nam và Pháp được cải thiện mau
chóng. Chỉ ít lâu sau chuyến thăm của ông Pinay, ông Diệm đă thả hai tay gián
điệp Pháp; và trong suốt một năm, tôi nhiều lần thăm viếng Paris và có nhiều
cuộc gặp gỡ với Pinay, với các phụ tá của ông, các quan chức của bộ Tài chánh và
Ngân hàng Quốc gia Pháp. Sau khi đạt được một thoả ước thử nghiệm tôi khuyên
Tổng thống Diệm nên mời ông Pinay trở lại Sài G̣n lần nữa để kư kết một thoả ước
chính thức về sự hợp tác kinh tế tài chánh giữa hai quốc gia.
Pinay trở lại Sài G̣n lần thứ hai vào cuối năm 1958. Lần này đi trước ông là một
phái đoàn do Georges Lapeyre dẫn đầu để hoàn tất văn bản thoả ước kư kết. Phái
đoàn Việt Nam do Dương Tấn Tài, cựu Thống đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, dẫn
đầu. Hai ông Diệm và Pinay yêu cầu tôi đứng kèm một bên để giải quyết mọi khó
khăn có thể nảy sinh từ các cuộc thảo luận. Mặc dù tất cả các vấn đề quan trọng
đă được giải quyết ở Paris, chỉ c̣n vài chi tiết nhỏ về ngôn từ và h́nh thức,
cuộc thảo luận vẫn kéo dài suốt hai ngày, phần lớn v́ tánh cố chấp của Tài; một
lần nữa ông ta lại bị cuốn vào các chi tiết lặt vặt mà quên những điều chính
yếu. Việc tŕ hoăn này có thể làm xáo trộn chương tŕnh của hai ông Diệm và
Pinay, và vượt quá thời hạn buổi lễ kư kết. Vào ngày thứ hai, sau những cuộc nói
chuyện dài như môn chạy ma-ra-tông từ giờ này qua giờ khác trong khi ngồi chờ
văn bản chính thức, ông Pinay yêu cầu Diệm cho gọi tôi vào, ông nói với tôi ông
không thể chờ lâu hơn nữa và tôi phải bước vào, kết thúc văn bản thoả ước đem ra
cho ông kư trong ṿng một tiếng đồng hồ. Tôi bước vào pḥng họp và thấy Tài đang
tranh luận về một số từ ngữ và dấu chấm câu. Tôi nắm lấy toàn bộ sự vụ, đảm nhận
việc quyết định cuối cùng, ra lệnh đánh máy bản văn chính thức rồi đem ra pḥng
Tổng thống. Hai ông Diệm và Pinay đặt bút xuống kư, đoạn bắt tay nhau và chúc
tụng nhau về một kỷ nguyên hợp tác mới giữa Pháp và Việt Nam.
Sau nhiều năm làm việc chung với tôi v́ lợi ích của hai đất nước, Pinay đă trở
nên một người bạn cố cựu của tôi suốt hơn 30 năm trời. Khi trở thành Thủ tướng
nước Pháp, ông đă dành cho tôi và các bạn bè tôi một sự giúp đỡ hết sức quư giá
và hào phóng. Năm 1975, sau khi miền Nam Việt Nam thất thủ, tôi trở nên người
không có tư cách công dân; tôi không có quốc tịch, cũng chẳng có hộ chiếu. Tôi
vẫn c̣n visa GIV để vào nước Mỹ, v́ tôi vẫn c̣n làm việc cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế
IMF, và tôi vẫn có thể sử dụng giấy thông hành (laissez-passer) của Liên Hiệp
Quốc, nhưng nó chỉ được dùng cho công tác chính thức nên tôi không thể đi lui
tới các nước ngoài cho công việc cá nhân. Tôi viết thư cho Thủ tướng Pinay đề
nghị ông cho tôi nhập quốc tịch Pháp. Pinay chỉ thị cho Bộ Nội vụ Pháp nghiên
cứu lại luật pháp nước Pháp coi có thể cấp quốc tịch Pháp cho một người nước
ngoài không cư trú ở Pháp hay không. Kết quả là, đối với người nước ngoài cư trú
ở Pháp th́ việc nhập quốc tịch Pháp dễ dàng; nhưng với người nước ngoài không cư
trú ở Pháp th́ không được. Đây là một trường hợp mới!
Nhưng rồi sau đó họ khám phá ra rằng chính phủ có thể cấp quốc tịch Pháp cho
những trí thức nước ngoài làm việc trong các tổ chức quốc tế mà nước Pháp là một
thành viên. Họ báo cho tôi biết rằng Bộ Nội vụ sẽ thu xếp trên cơ sở pháp lư ấy
để tôi nhập quốc tịch Pháp. Đồng thời ông Pinay c̣n chỉ thị cho ông quản trị
viên Pháp ở IMF và World Bank mở rộng trường hợp này cho tất cả các nhân viên
Việt Nam thiếu tư cách công dân đang làm việc tại hai tổ chức quốc tế ấy. Một
trong hai điều kiện để được hưởng quy chế đặc biệt ấy là người được cứu xét phải
qua trường lớp đào tạo của nền giáo dục Pháp; ông Pinay biết rằng tôi được đào
tạo trong hệ thống giáo dục của Pháp ngay từ hồi nhỏ, và tôi đă tốt nghiệp
trường Cao đẳng Thương mại Pháp (Hautes Etudes Commerciales) với “titre
francais” (thi đậu như học sinh người Pháp) – Có nhiều sinh viên ngoại quốc tốt
nghiệp trường H.E.C. với tư cách “sinh viên ngoại quốc”, không bắt buộc phải
được đào tạo toàn diện theo nền giáo dục Pháp. Nhưng nếu vị quản trị viên Pháp ở
IMF-IBRD không thẩm tra kỹ lưỡng điểm này th́ một vài người Việt Nam không học
trong hệ thống giáo dục của Pháp có thể nhập quốc tịch Pháp theo lối cửa sau, và
kết quả là sẽ có một vài công dân mới quốc tịch Pháp mà lại không biết nói tiếng
Pháp.
Lúc đó tôi không biết những người Việt Nam làm việc tại tổ chức Liên Hiệp Quốc
có được hưởng quy chế đặc biệt này không. Măi sau này tôi mới được Trần Lê Quang
cho biết là nhân viên Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc và các cơ quan quốc tế khác
không dược hưởng quy chế ấy. Cho nên đó là một sự chiếu cố rất lớn của ông Pinay
đối với tôi; và ông c̣n dang rộng ra tới cả những người Việt Nam khác ở IMF và
World Bank, nhưng những người này không biết đặc ân ấy là do ai và từ đâu tới
nữa. Ngoại trừ một ḿnh tôi ra, không ai cám ơn ông Pinay cả! Nếu tôi biết tất
cả những chuyện này th́ tôi đă yêu cầu ông giúp cho những người Việt Nam làm
việc ở Liên Hiệp Quốc và các cơ quan quốc tế khác nói trên; chắc chắn ông không
từ chối. Ông đă giúp đỡ tôi nhân danh t́nh bạn lâu bền giữa chúng tôi, nhưng ông
cũng giúp những người khác trên nguyên tắc sống mà ông đă cho tôi hay khi chúng
tôi gặp nhau lần đầu tiên trong pḥng ngủ của ông – và ông đang nằm trên giường
bệnh, tại căn nhà ở đại lộ Foch, thủ đô Paris. Ông đă xem 20.000 người Việt Nam,
gồm các nhà khoa học, giáo sư, nhân viên kỹ thuật... lúc ấy đang sống và làm
việc ở Pháp là một sự hỗ trợ kỹ thuật của Việt Nam dành cho nước Pháp kể từ thế
chiến thứ II. Điều này cho thấy ông là một nhà lănh đạo lớn, nh́n xa trông rộng.
Không có một nhà lănh đạo nào ở nước Pháp cũng như các nước khác có một cái nh́n
về thế giới xuất sắc như ông, có tâm hồn cao quư như ông, lúc ấy, bây giờ, và có
lẽ về sau.
Tôi cũng yêu cầu ông Pinay hỗ trợ tôi đưa hai người bạn ra khỏi Việt Nam và cho
họ vào quốc tịch Pháp. Đầu tiên ông can thiệp với chính quyền Hà Nội cho người
bạn thân và phụ tá của tôi là Nguyễn Tăng Kim, và Kim được chính phủ Việt Nam
cho phép di trú sang Pháp. Rồi ông chỉ thị cho cơ quan nhập cư Pháp mau chóng
tiến hành các thủ tục pháp lư và hành chánh cho Kim nhập quốc tịch Pháp. Nhưng
sau đó đối với Vơ Long Triều th́ ông không thành công bởi v́ vào một lúc nào đó,
quan hệ giữa Việt Nam và Pháp trở nên khó khăn hơn do vấn đề mỏ than ở Ḥn Gai.
Măi về sau khi quan hệ Việt - Pháp được cải thiện, và với sự giúp đỡ của những
người bạn học cũ và vị Thủ tướng mới của nước Pháp, Vơ Long Triều mới được thả
ra và sang Pháp.
Sau khi ông rời khỏi cái chức vụ cuối cùng là “Trọng tài Tối cao” (arbitre de la
nation) giữa nhân dân và chính phủ, tôi đă tới thăm ông tại thành phố Saint
Chamond, nơi trước đây ông làm thị trưởng và là nơi phát tích quyền lực chính
trị của ông. Ở cái tuổi 93 ông vẫn c̣n rất khoẻ mạnh. Ông rất vui khi gặp tôi và
nhắc lại những ǵ mà hai chúng tôi đă cùng làm với nhau. T́nh bạn này c̣n kéo
dài sau khi tôi rút khỏi tất cả mọi chức vụ và rời sân khấu quốc tế .
Sau khi bản thoả ước chính thức được kư kết, tôi c̣n phải theo dơi kỹ lưỡng các
điều khoản để chắc chắn được thực hiện đúng đắn, v́ vậy tôi thường qua Paris để
bàn căi các chi tiết với nhà chức trách Pháp. Cuối cùng nước Pháp đă nhượng bộ
Việt Nam nhiều điều khoản vô cùng quan trọng trên mặt kinh tế tài chánh, cũng
như cấp cho chúng ta những khoản viện trợ kinh tế rất quan trọng về sau:
1. Tôi đă đ̣i được đồng Phật-lăng có thể hoán đổi làm đồng tiền chi trả cho mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam qua Pháp; đồng Phật-lăng mới này có thể đổi qua đồng Đô-la Mỹ, đồng Mác Đức, đồng Bảng Anh hay đồng Yên Nhật… và do đó tránh được t́nh trạng hao hụt trị giá dự trữ ngoại tệ của chúng ta trong trường hợp đồng Phật-lăng mất giá hay bị phá gíá. Đây là một nhượng bộ hết sức quan trọng của chính phủ Pháp và một thành công rất lớn lao cho đất nước, v́ điều này sẽ mở đường cho bao nhiêu điều lợi khác trong t́nh h́nh tài chánh hải ngoại cho xứ sở.
2. Với số ngoại tệ có thể hoán đổi được, Việt Nam đương nhiên bước ra khỏi khu vực đồng Phật-lăng Pháp, điều mà tất cả các thuộc địa Pháp rất mong muốn, nhưng cũng rất khó đ̣i hỏi Pháp nhượng bộ. Các nước độc lập mới, thuộc địa cũ cuả Pháp, cũng bắt chước Việt Nam mà đ̣i Pháp cho đồng Phật-lăng hoán đổi nhưng cũng không được chấp nhận dễ dàng. Sau đó Việt Nam đương nhiên gia nhập khu vực đồng Đô-la Mỹ. Và như vậy chúng ta có thể chọn loại ngoại tệ thích hợp cho mặt hàng xuất khẩu, rộng tay hơn trong chính sách xuất nhập khẩu, và có tự do hơn trong vấn đề quản trị dự trữ ngoại tệ quốc gia. Từ đó xứ sở không c̣n mất giá trị dự trữ ngoại tệ mỗi khi chánh phủ Pháp phá giá đồng Phật-lăng nữa, v́ lúc đó, khi Ngân hàng Quốc gia nhận thấy đồng tiền Pháp bị mất giá, th́ chúng tôi hoán đổi ra một tiền ngoại tệ mạnh hơn.
3. Tôi thu hồi được 33 tấn rưỡi vàng dự trữ của Việt Nam, do quân đội Pháp đem về Pháp. Số vàng này đă nằm trong Ngân hàng Trung ương Pháp và sau khi chánh phủ Pháp nhượng bộ điều này số vàng đó đă được kư thác dưới tên Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ở trong hầm chứa của Ngân hàng Quốc gia Pháp. Như vậy chúng ta có thêm nhiều vàng hỗ trợ cho đồng tiền của chúng ta. Đó là một số dự trữ kim ngân khá lớn cho một nước nhỏ bé như Việt Nam. Đây cũng là một sự nhượng bộ rất lớn của Pháp, và chỉ có ông Antoine Pinay, lúc âư đang c̣n là Tổng trưởng Tài chánh mới dám làm, v́ ông có một sức mạnh chánh trị rất lớn lúc đó.
4. Tôi đ̣i lại được số tiền mà Ngân khố Pháp nợ Ngân khố Việt Nam; điều này th́ không lấy ǵ làm khó khăn cho lắm, v́ những sổ sách vẫn c̣n đó và số tiền cũng không lớn lắm đối với xứ Pháp.
5. Tôi tranh thủ được số viện trợ kinh tế mà Thủ tướng Antoine Pinay đă hứa cho Việt Nam, mở đường cho những đợt viện trợ tài chánh sau này của Pháp. Tôi cũng phải công nhận đây là một sự giúp đỡ rất quan trọng và một quyết định rất khó khăn cho ông Pinay, v́ lúc ấy nước Pháp mới bước ra khỏi một thời gian khá dài khó khăn về mặt kinh tế cũng như mặt chính trị và cũng đang c̣n ở trong một t́nh trạng rất éo le về mặt tài chánh. Chỉ có ông Pinay mới dám giúp cho Việt Nam như vậy, v́ sức mạnh chính trị của ông đă tăng lên rất nhiều sau khi ông nhận chức Thủ tướng.
Tất cả những kết quả ấy, thu được trong khoảng thời gian từ 1955-1962, không
phải dễ dàng. Về sau nhiều khi tôi nghĩ đến những ǵ tôi đă thương thuyết được
với chánh phủ Pháp và dành lại cho đất nước lúc đó, tôi cảm thấy ḿnh đă đem lại
cho nước nhà, vừa mới độc lập, bao nhiêu điều quan trọng; vậy mà bên cạnh, không
có một phái đoàn nào giúp đỡ, và sau lưng, ở nước nhà, không có một Bộ trưởng
hay Thống đốc nào, có trách nhiệm về những vấn đề này, có một tí hiểu biết để
giúp. Tôi không khỏi ngạc nhiên khi, quay lưng nh́n lại, thấy ḿnh đă làm được
nhiều như vậy, nhất là lúc phải đương đầu với bao nhiêu nỗi khó khăn về phía
Pháp cũng như bên phía Việt Nam. Nhưng trái lại với lẽ thường t́nh, khó khăn về
phía Việt Nam, nhiều hơn là về phía Pháp! Đáng lư ra, phần khó khăn về phía Pháp
phải nhiều hơn, v́ đây là lần đầu tiên Pháp phải giải quyết những vấn đề hết sức
quan trọng cho một thuộc địa cũ; hơn nữa các vấn đề c̣n có một màu sắc chính trị
rất tế nhị, có thể có hậu quả rất nguy hại cho Pháp trong khuôn khổ nền thuộc
địa c̣n nguyên lúc đó. Không một lời khen, không một lời cảm ơn, ngay cả ông
Diệm cũng vậy, chỉ có ḷng tin hoàn toàn của ông - mặc dầu sau này tôi mất hết
tin tưởng nơi ông… Chỉ có những người khác, ghanh ghét đố kị và phá phách công
việc của tôi mà thôi. Nhưng tôi cũng phải nhận một điều là nếu không có ông
Diệm, tôi đă không bao giờ làm được việc. Cũng như nếu không có ông Pinay, tôi
cũng đành phải bó tay mà thôi.
Về phía Việt Nam các bộ trưởng hay thống đốc các bộ liên hệ không đủ sự hiểu
biết các vấn đề trong ngành tài chánh hải ngoại, dự trữ ngoại tệ, hoán đổi tiền
tệ, nợ bên ngoài, của đất nước, không thể phân tách những sự kiện này, nên nói
chung, không làm ǵ được để giúp đất nước thành một quốc gia độc lập trên mặt
kinh tế và tài chánh và nói riêng, cũng không giúp ǵ cho công việc của tôi
được. Bao nhiêu quan chức của các bộ liên quan ganh tị với sự thành công và uy
tín của tôi, thường hay tạo ra rất nhiều khó khăn cho công việc của tôi. Nhưng
tôi cũng được một phần an uỉ, là các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới
(World Bank) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đang t́m kiếm những người có khả năng,
đă quan sát công việc của tôi ở trong nước một cách kỹ lưỡng khi tôi thiết lập
các tổ chức kinh tế tài chánh mới và hệ thống tài chánh hải ngoại cho Việt Nam;
họ cũng thấy rơ những quyền lợi tối quan trọng trong cuộc thương lượng của tôi
với chính quyền Pháp.
Thật ra, tôi cững không trách những vị đốc phủ sứ, những quan chức Việt Nam, các
vị có bằng cao cấp mà không đúng ngành chuyên môn, v́ dưới chế độ thực dân,
những vấn đề quan trọng của một nước độc lập như tôi kể trên, đều được chánh phủ
“mẫu quốc” lo lắng, nghiên cứu, thi hành và giải quyết ở Paris, và nước thuộc
điạ không được dự vào một phần nào trong việc quản trị và thi hành những chánh
sách đó; ngay cả những quan chức người Pháp ở thuộc điạ cũng không được hoàn
toàn hiểu rơ và chỉ biết thi hành những mệnh lệnh của Paris gởi về mà thôi. Cho
nên khi Tổng thống Diệm đặt những vị đốc phủ hay quan lại hay thạc sĩ, tiến sĩ,
Ph.D vào những địa vị đứng đầu một cơ quan quan trọng mới được thành lập, th́ họ
mù tịt, không biết t́m đâu ra những trách nhiệm của họ và cách thi hành nhiệm
vụ. Tôi được may mắn hơn, là tôi học hỏi đúng ngành, gặp những người Pháp và
ngoại quốc trong nghề, trong khi đi thương thuyết với các phái đoàn chuyên viên,
những vấn đề chánh yếu của đất nước và tôi luôn luôn cố gắng t́m hiểu thêm các
vấn đề khi được chánh khách ngoại quốc thết đăi; đối với tôi một bữa tiệc tôi
mời họ hay họ mời tôi, là một dịp để học thêm, t́m hiểu thêm các vấn đề quan
trọng cho đất nước; cũng như khi đang c̣n đi học đại học, tôi thường dùng những
tháng hè để đi tập sự và học hỏi thêm, chứ không đi chơi hay đi nghỉ mát như
những sinh viên Việt Nam khác. Tôi vừa làm vừa học, và nhờ có căn bản học hành
chuyên môn khá cao, tôi đă tiến lên rất nhanh trong những ngành chuyên môn, lắm
lúc vượt hẳn những quan chức ngoại quốc ngồi đối diện với tôi.
Việt Nam là nước thuộc địa Pháp đầu tiên giành được độc lập, cũng là nước thuộc
địa đầu tiên nhận được những nhượng bộ kinh tế tài chánh từ phía mẫu quốc. Các
nước thuộc địa khác của Pháp và các quốc gia mới dành độc lập sau này cũng theo
dơi công việc của tôi ở Paris rất kỹ; những nhân viên cao cấp của họ đă cố gắng
t́m đến tôi để t́m hiểu những ǵ tôi đă đ̣i hỏi và đă nhận được cho xứ sở. Theo
lệnh của chính phủ Ma-rốc, viên Thống đốc Ngân hàng Trung ương Ma-rốc đă chính
thức viết thư hỏi tôi làm sao có thể thu được nhiều sự nhượng bộ như vậy từ phía
Pháp. Tôi từ chối không trả lời v́ sợ làm Thủ tướng Antoine Pinay không vui khi
đem tiết lộ những cuộc thương thuyết bí mật giữa hai đất nước.
Nhưng trong khi tập trung vào các vấn đề tiền tệ cần giải quyết với Pháp, tôi
vẫn phải tiếp tục làm việc rất nhiều để phát triển Ngân hàng Việt Nam Thương tín
lúc bấy giờ đă trở thành ngân hàng lớn nhất Việt Nam. Đồng thời cũng trong thời
gian này tôi c̣n phải điều hành Ngân hàng Quốc gia mà tôi đă tổ chức lại từ trên
xuống dưới sau vụ x́-căng-đan 1956. Với tư cách là Tổng Giám đốc điều hành dưới
quyền một vị Thống đốc danh nghĩa vốn là một chính trị gia được bổ nhiệm, tôi
hiểu rơ rằng tôi sẽ phải chịu tất cả mọi trách nhiệm nếu có ǵ xảy ra, v́ vậy
tôi rất cẩn thận trong khi thi hành nhiệm vụ và tự ḿnh giám sát tất cả mọi
chuyện. Người ta cảm thấy như có tôi hiện diện ở khắp nơi trong ngân hàng; tôi
cũng đặt cho ḿnh quy luật là phải thăm tất cả các sở của ngân hàng ít nhất là
hai lần mỗi tháng.
Trong thời gian này tôi tranh thủ dùng những chuyến thăm ở nước ngoài để tiếp
xúc với các nhà đầu tư hải ngoại: tôi thành lập công ty Cogido, một công ty giấy
với sự hợp tác tài chánh và kỹ thuật của một nhóm kỹ nghệ gia Ư, và một công ty
bảo hiểm và tái bảo hiểm (VAR) liên doanh với một công ty bảo hiểm của Pháp và
một công ty Thuỵ Sĩ. Như vậy trong suốt khoảng thời gian trước khi rời khỏi
chính quyền năm 1962, tôi phải làm việc rất nhiều giờ mỗi ngày và một tuần làm 6
ngày, t́nh trạng này đă gây nên một số biến cố trong gia đ́nh tôi, rồi các biến
cố này đă tác động không tốt lên sự nghiệp tôi.
Tôi cũng dẫn đầu các cuộc thương thuyết với nước Đồng minh chính của Việt Nam
như Mỹ và tham gia vào các cuộc thảo luận với các nước khác như Nhật và Tây Đức.
Tôi chịu trách nhiệm về tất cả mọi khía cạnh chuyên môn trong quan hệ với các tổ
chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, và sau này với Ngân
hàng Phát triển châu Á, một ngân hàng mà tôi có góp phần sáng lập. Tôi được biết
nhiều trong các giới kinh doanh quốc tế; và tất cả các phái đoàn nước ngoài khi
thăm viếng Việt Nam đều t́m cách gặp tôi, trước khi gặp các bộ trưởng hoặc phái
đoàn có liên quan. Tôi nhận được đủ thứ lời mời từ các chính quyền nước ngoài,
các cơ quan và các tổ chức quốc tế. Tôi c̣n nhớ năm 1963 khi tôi ra nước ngoài
để tránh bị ông Diệm bắt gia nhập vào một chính phủ có thành phần chuyên môn,
trong một buổi họp mặt bạn bè ở Tokyo, một vài người Mỹ và một vài người Nhật đă
hỏi làm sao tôi có thể làm được nhiều việc như vậy, cả ở trong và ngoài nước,
trong một khoảng thời gian chỉ vài năm, tôi đă trả lời là tôi gặp rất nhiều may
mắn. May mắn v́ là người đại diện cho Tổng thống của một nước, điều này mở ra
cho tôi nhiều cánh cửa. May mắn được toàn quyền thương thuyết không cần phải
tham khảo ai – v́ cũng không có ai hiểu biết về lănh vực tôi đang làm – điều này
đă giúp tôi đỡ tốn thời gian rất nhiều. C̣n ở nước ngoài th́ tôi may mắn có rất
nhiều bạn bè đang nắm giữ những chức vụ cao giúp đỡ. Tôi cũng may mắn là không
có ai là thủ trưởng thực sự, như vậy tôi không cần phải báo cáo cho ai hết, v́
đứng trên tôi chỉ có các chính trị gia được bổ nhiệm. Khi tôi qua Paris năm 1965
một vài người bạn Pháp đă hỏi tôi những câu tương tự, và tôi đă nhắc lại những
cuộc thảo luận với Thủ tướng Pinay, người đă làm cho công việc của tôi ở Paris
dễ dàng đi rất nhiều với uy tín chính trị và t́nh thân hữu của ông dành cho đất
nước Việt Nam.
Thế nhưng mải lo cho những vấn đề sống c̣n của một quốc gia mới thành lập, tâm
trí bị thu hút vào chuyện bảo vệ và thúc đẩy các quyền lợi của đất nước, tôi
thường quên mất những mối quan hệ cá nhân trong công việc hàng ngày. Tôi đă tạo
được tên tuổi cho ḿnh cả ở trong lẫn ngoài nước, nhưng tôi cũng đă làm mích
ḷng một số người và tạo ra một số kẻ thù ở trong và ngoài chính quyền. Trừ
những người làm việc gần gũi với tôi và những người hiểu rơ tôi, c̣n th́ người
ta không thích tánh thẳng thắn của tôi, thậm chí không thích cả sự thanh liêm
của tôi và chắc chắn là không thích quyền lực của tôi. Nhưng đa số vẫn phục sự
hiểu biết chuyên môn của tôi và kính trọng tính trung thực của tôi. Đám thương
gia Chợ Lớn nói với nhau rằng có lẽ tôi là người duy nhất trong chính phủ Việt
Nam thực sự lương thiện, nhưng họ cũng nói thêm là khó mà đối phó với tôi và
không ai có thể đánh lừa tôi được; tôi hiểu rơ công việc của ḿnh và không chịu
nhượng bộ dễ dàng.
Xung quanh ông Diệm và anh em của ông có một lô người bám theo kiếm chác. Tôi
thường nhận được lời yêu cầu giúp đỡ họ nhưng tôi thường từ chối bởi v́ cách làm
của họ không chính đáng và những điều họ đề nghị chẳng đúng phương thức làm ăn.
Người đứng đầu của cả nhóm này là Ngô Đ́nh Thục, anh cả của ông Diệm; Diệm rất
thương và kính trọng ông ta. Mặc dù là một giám mục Thiên Chúa giáo, Thục rất
sát trần tục, ông ta dính líu vào một lô chuyện làm ăn dưới cái cớ là gây quỹ để
mở mang trường đại học Đà Lạt, ngôi trường mà ông ta bảo trợ. Một người trong
đám phụ tá của ông ta từng tới gặp tôi nhiều lần để xin vay tiền cho một trong
các công ty của Thục chuyên khai thác lâm sản và xuất khẩu gỗ. Bởi v́ cách hoạt
động của các công ty này cũng không hợp thức cho lắm và nguồn tài chánh của nó
cũng không ổn định nên tôi buộc phải từ chối. H́nh như Thục có than phiền với
Diệm, v́ một ngày nọ ông Diệm bảo tôi nên giúp đỡ cho người anh của ông bởi v́
ông ấy đang cố phát triển giáo dục cho dân chúng. Tôi rất ngạc nhiên khi nghe
điều này, bởi ông Diệm không bao giờ can thiệp vào việc làm ăn của ai và cũng
không bao giờ lên tiếng xin chiếu cố cho ai. Tôi nói với ông Diệm nếu các công
ty của ông Thục làm ăn b́nh thường như các doanh nghiệp khác và tài chánh ổn
định hơn th́ tôi sẽ rất vui ḷng giúp đỡ, bởi v́ Ngân hàng Việt Nam Thương tín
của tôi có nhiệm vụ phải hỗ trợ cho các công ty Việt Nam. Nhưng đám người điều
hành các công ty của Thục lại ưa hoạt động bằng cách đ̣i được đặc ân và quyền ưu
tiên hơn là hoạt động b́nh thường, và v́ vậy tôi bắt buộc phải từ chối. Có lẽ
tôi là người duy nhất dám nói “không” với Diệm; tất cả mọi người đều quỵ luỵ
trước ông ta (có lẽ chỉ trừ Nhu và Thục), không ai dám từ chối ông điều ǵ. Đám
phụ tá của Thục không bao giờ tới gặp tôi nữa. Trong chuyện này tôi có dịp chứng
kiến sự chính trực và liêm khiết của Diệm: kể từ ngày đó ông không nhắc tới
chuyện này nữa. Tôi luôn luôn kính trọng ông Diệm v́ sự thanh liêm của ông,
nhưng sau khi Hoàng Khắc Thành lên thay tôi cầm đầu Ngân hàng Việt Nam Thương
tín, th́ Thục và đám bộ hạ như Nguyễn Văn Bửu đâm ra được nhiều sự dễ dăi khi
xin hỗ trợ của ngân hàng – gần như không giới hạn. Dưới sự điều hành của Thành,
phương thức hoạt động của ngân hàng đă thay đổi một cách triệt để; anh ta sẵn
sàng thoả măn bất cứ yêu cầu nào của những người có quyền thế, không cần biết nó
có chánh đáng hay không.
Thành vốn tốt nghiệp cùng trường với tôi, trường H.E.C., và được tập sự vài năm
ở Đông Dương Ngân hàng. Sau đó anh ta về làm việc ở Ngân hàng Việt Nam Công
thương, một ngân hàng thương mại nhỏ, và được bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc, nhưng
vài tháng sau th́ anh ta bị sa thải, lư do chánh thức đưa ra là v́ thiếu năng
lực. Tôi biết rằng anh ta rất có năng lực nhưng anh ta rất hống hách và tự cao.
Sau đó tôi mới biết anh ta bị sa thải v́ một lư do khác. Anh ta tánh t́nh nóng
nảy, thường nhục mạ nhân viên bằng tiếng Pháp, với một ngôn ngữ rất thô lỗ; ban
giám đốc và nhân viên đă than phiền rất nhiều với hội đồng quản trị, và hội đồng
đành phải sa thải anh ta. Tôi nghĩ rằng Việt Nam c̣n rất thiếu chuyên viên và
người có năng lực, không thể để mất một người như vậy, v́ vậy tôi đă kêu anh ta
vào và cho anh ta làm phụ tá cho tôi, với chức Tổng kiểm soát. Kể từ đó anh ta
không nói năng thô lỗ nữa; và tôi cũng t́m mọi cách để tránh cho anh ta đụng
chạm với nhân viên. Anh ta làm việc lặng lẽ trong văn pḥng, tỏ ra khiêm tốn,
nhưng lại rất khó khăn với khách hàng, họ đều ghét làm việc với anh ta. V́ vậy
hầu như tôi chỉ sử dụng anh ta cho công việc nội bộ và không để anh ta tiếp xúc
nhiều với khách hàng. Anh ta cứ luôn miệng nói sẽ vào một nhà thờ đi tu. Nhưng
sau này khi tôi đă từ chức khỏi Ngân hàng Việt Nam Thương tín và anh ta lên thay
tôi theo lệnh của Nhu vào năm 1961, anh ta hoàn toàn thay đổi phong cách và bắt
đầu chơi tṛ chính trị. Anh ta trở nên nhiều tham vọng; và bắt đầu tán tỉnh
những người có quyền để dễ thăng chức. Anh ta chấp nhận làm bất cứ điều ǵ để
làm vừa ḷng cấp trên. Sau khi tôi rút lui khỏi Ngân hàng Quốc gia cũng đóng tại
cơ sở này, anh ta lại càng được tự do hơn, thay đổi hoàn toàn chính sách của
ngân hàng để có thể đáp ứng yêu cầu đám người có quan hệ với gia đ́nh ông Diệm.
Anh ta cố hết sức để làm vừa ḷng Nhu, người em và là cố vấn chính trị đầy quyền
lực của ông Diệm, và Nguyễn Đ́nh Thuần, Bộ trưởng phủ Tổng thống; thế rồi anh ta
cưới một cô gái do Nhu giới thiệu. Ta có thể thấy tham vọng và danh vọng có thể
thay đổi một con người như thế nào! Từ một con người khiêm tốn luôn miệng nói đi
tu, anh ta bắt đầu chơi tṛ chính trị, xun xoe với cấp trên, rồi sau đó lấy vợ!
Anh ta đi lệch khỏi các chính sách mà tôi đă vạch ra cho ngân hàng, anh ta càng
ngày càng nới rộng các khoản tín dụng cấp cho đám bạn bè ḍng họ của Nhu, những
người mà trước đó tôi đă từ chối không cho vay. Anh ta giúp đỡ Ngô Đ́nh Thục,
cũng lại là người anh của Diệm mà tôi đă từ chối. Tất cả những con người khả
nghi chung quanh Diệm và gia đ́nh ông giờ đây có thể tới xin anh ta vay tiền.
Ngân hàng đă mất đi tính chất ban đầu của nó và càng ngày càng trở nên một chỗ
nương tựa chính trị và tài chánh cho Đảng Cần lao của Nhu và các thành viên
trong gia đ́nh Diệm. Những người tốt trong ban giám đốc ngân hàng rất thất vọng
và than phiền rất dữ, những thành viên có mưu đồ chính trị bắt đầu ngoi lên;
tính chất chuyên môn của ngân hàng mất dần.
Thành dùng đạo Thiên Chúa để cầu cạnh Diệm, Nhu và Thục. Anh ta chính là người
đă làm cho ông Diệm một đôi khi quên mất sự thanh liêm chính trực của ḿnh. Nếu
ông Diệm can thiệp vào để đ̣i đặc ân cho đám bà con, điều này tôi không chắc
lắm, th́ tôi cũng không trách ông Diệm. Tôi chỉ trách Hoàng Khắc Thành, kẻ đă mở
toang cánh cửa tham nhũng cho cả gia đ́nh ông Diệm. Sau khi đă mua chuộc được sự
giúp đỡ của Diệm và Nhu bằng cách đó, anh ta trở nên rất hách dịch, cả ở trong
lẫn ngoài Hội đồng Tiền tệ Tối cao. Một ngày kia phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ,
vốn biết anh ta đă từng làm việc dưới quyền tôi, đă hỏi tôi tại sao anh ta lại
hách dịch như vậy và khi anh ta làm việc với tôi th́ anh ta có hách dịch như vậy
không. Tôi nói với Thơ rằng trước khi anh ta tới ngân hàng tôi, th́ anh ta làm
việc cho một ngân hàng khác và rất hách dịch, v́ vậy anh ta bị đuổi; giờ đây anh
ta chơi tṛ chính trị và đă leo lên một địa vị cao mới, anh ta nghĩ rằng ḿnh đă
thành đạt và đă có thể coi thường thiên hạ. Đó là lư do v́ sao anh ta bị tống vô
tù sau khi Diệm bị lật đổ bởi cuộc đảo chánh 1963, trong lúc Thơ vẫn an toàn và
được các Tướng lănh bầu lên làm Thủ tướng.
Sau khi trốn khỏi Việt Nam, với sự giúp đỡ của một đồn điền cao su Pháp, Thành
đến làm việc ở xứ Côte d’Ivoire, trong chương tŕnh viện trợ kỹ thuật của Pháp.
Tôi nghe nói rằng anh ta rất chua chát và kịch liệt chỉ trích Việt Nam, quê
hương của chính anh ta, v́ đă tống anh ta vào ngục. Tôi luôn luôn coi anh ta là
một tay kỹ thuật giỏi và đất nước chúng ta trong tương lai có thể cần đến những
người như vậy. V́ thế nên mặc dù những điều xấu xa anh ta đă làm với tôi, với
Ngân hàng Việt Nam Thương tín và với ông Diệm, tôi vẫn viết cho anh ta một lá
thư đề nghị anh ta quên hết mọi chuyện không may, bởi v́ tôi vẫn mong một ngày
nào đó anh ta trở về phục vụ đất nước. Anh ta không thèm trả lời. Thật đáng ngạc
nhiên khi thấy tâm tính con người khó sửa đổi đến mức như vậy! Anh ta rơi xuống
vũng bùn. Một người khác ch́a tay ra để kéo lên. Anh ta từ chối. Phải chăng v́
cái "Tôi" quá lớn? Tôi nghe kể lại là khi anh ta nhận được thư tôi, anh ta đă
chửi rủa om ṣm. Một vài người bạn cho tôi biết sở dĩ anh ta nổi giận là v́ vào
năm 1967 tôi đă đóng cửa mỏ than Nông Sơn, vốn do người anh của anh ta là Hoàng
Kính quản lư. Vào một thời gian nào đó trong năm 1957 ông Diệm đă phong Kính làm
Tổng Giám đốc, khi ông quyết định mở lại mỏ than này. Nhưng mọi chuyện đă thay
đổi từ đó tới giờ và cái địa điểm này vốn nằm khuất mịt mùng trong rừng rậm đă
hoàn toàn bị Việt cộng cô lập và chính phủ phải duy tŕ một đồn lính lớn ở đó để
bảo vệ nó. V́ lượng than sản xuất quá nghèo nàn mà việc chuyên chở lại quá bấp
bênh và quá đắt, nên tôi quyết định đóng cửa nó, sau một chuyến thanh tra chớp
nhoáng hết sức nguy hiểm.
Tôi rất vui mừng với vị trí của ḿnh bên cạnh ông Diệm, với việc tôi có thể phục
vụ đất nước mà không để bị dính vào chuyện chính trị như những người khác; nhưng
nó cũng nhiều lần làm tôi phải nhức đầu. Từ năm 1960, những cơn nhức đầu của tôi
trở thành trầm trọng khi ông Diệm càng ngày càng trở nên độc tài với người ngoài
và càng dễ dăi đối với gia đ́nh ông. Con người bí mật Ngô Đ́nh Nhu, người luôn
luôn tạo cho ḿnh một vẻ ngoài huyền bí và được dân chúng khiếp sợ, càng lúc
càng có thêm quyền lực, c̣n người em phóng khoáng hơn của ông Diệm là Ngô Đ́nh
Luyện càng ngày càng yếu thế. Vợ của Nhu, “bà Nhu”, con người tai tiếng và mâu
thuẫn, càng ngày càng bị công chúng thù ghét và sự có mặt của bà ta trong dinh
tổng thống càng ngày càng phủ bóng đen lên ông Diệm. Tôi đă cố gắng cứu ông ra
khỏi ṿng vây của đám phụ tá khúm núm và nịnh bợ, khỏi đám anh em hống hách và
thiếu thực tế của ông đang làm ông bị cô lập với thế giới bên ngoài. Ông Diệm
thật t́nh không biết điều ǵ đang xảy ra ở bên ngoài dinh tổng thống. Tôi cố
gắng thông báo với ông những ǵ đang thực sự xảy ra trên đất nước càng nhiều
càng tốt, nhưng việc ấy không dễ dàng. Ngay cả những lănh tụ lớn như Diệm cũng
chỉ muốn nghe những tin vui và ghét nghe những tin xấu; sự xu nịnh và những lời
khen giả dối thường được chào đón niềm nở hơn là sự thật đơn giản.
Từ năm 1956, Nhu bắt đầu tổ chức chi nhánh Đảng Cần Lao của ḿnh, phát triển nó
vào cơ quan chánh phủ, vào các xí nghiệp của nhà nước; tất cả mọi nhân viên dân
sự và quân sự phải vào đảng (tôi không vào); họ phải trả đảng phí hàng tháng và
phải móc tiền túi ra đóng góp quà cáp cho bọn “chóp bu” trong đảng. Công ty
Đường Quốc gia là một công ty độc quyền nhà nước đă làm lời được một số tiền
khổng lồ. Trương Văn Tố, một trong những tay chân của Nhu điều hành công ty này,
mỗi tháng đóng một số tiền đáng kể cho kỳ bộ Sài G̣n-Chợ Lớn; một người bạn của
tôi làm việc cho công ty Đường đă kể tôi nghe về khoản đóng góp này. Một ngày
kia, sau buổi họp thường lệ với Diệm, tôi kể ông nghe câu chuyện. Mặt ông đỏ
bừng và sắt lại: cơn thịnh nộ nổi tiếng của ông sẵn sàng bùng nổ. Khi tôi kể
xong và chuẩn bị ra về th́ ông Nhu mở cửa bước và – ông ta là người duy nhất có
quyền làm vậy. Diệm xây gương mặt đỏ gay về phía Nhu và hỏi anh ta có thật như
vậy không. Gương mặt Nhu tái như xác chết khi anh ta thấy tôi ở đó, kế bên Diệm.
Anh ta ném cho tôi một cái nh́n hằn học, lẩm bẩm vài tiếng trong miệng nhưng
không trả lời; theo quan niệm thông thường của người Việt Nam và cách tôi học
với ông giám đốc Kredit Bank, th́ những người mặt cắt không ra một giọt máu như
vậy là người rất trí trá; họ sẽ không đánh anh ngay đâu, họ chờ đến lúc anh ít
cảnh giác nhất mới ra tay – đó là trường hợp của những người tôi đă kể ở trước
và sau này nữa. Vào lúc đó tôi đă tự nhủ với ḿnh là anh ta sẽ không quên đâu và
tôi phải coi chừng anh ta t́m cách trả thù mà không hề lộ cho tôi biết!
Diệm hét lên với Nhu: “Tôi không muốn có lối nộp tiền cho đảng như vậy! Chấm dứt
ngay!”. Tôi cảm thấy lúng túng nên chào từ giă. Ngày hôm sau người bạn tôi ở
công ty Đường gọi điện cho tôi hỏi tôi đă làm ǵ với cái tin anh báo với tôi hôm
trước. Tôi cười lớn. Anh ta bèn nói là ở bộ phận kế toán của công ty anh, người
ta đang sửa lại sổ sách lung tung. Hai ngày sau, khi tôi lại gặp Diệm, ông nói
với tôi một cách ngây thơ rằng ai đó đă làm cho tôi hiểu sai về chuyện đóng
tiền. Đó chỉ là chuyện giao dịch làm ăn giữa công ty Đường và hăng kinh doanh
của đảng ở Sài G̣n-Chợ Lớn.
Tôi nói ǵ được? Tôi làm ǵ được? Nó chỉ làm cho tôi thêm thất vọng với Diệm và
chế độ của ông. Ba bốn sự cố như vậy, cùng thái độ hách dịch và cung cách làm ăn
cậy quyền cậy thế của Nhu, những lời đồn đăi không ngớt về chuyện Hoàng Khắc
Thành giúp đỡ đám anh em ḍng họ và tay chân của Diệm, cũng như sự tin tưởng
ngây thơ của ông với đám người xu nịnh bao quanh, lần lần làm tôi nhận ra thấy
sự yếu đuối của ông và sự khó khăn của tôi khi một thân một ḿnh chống lại số
cận thần xu nịnh càng ngày càng đông đang xúm xít quanh ông. Những người giúp
Diệm, phần đông các bộ trưởng và công chức không dám nói sự thật cho ông hay,
hoặc không dám đương đầu với cơn thịnh nộ của ông nếu báo tin xấu. Tất cả bao
vây ông đêm ngày và cô lập ông với thế giới bên ngoài.
Trở thành con người luôn luôn phản kháng mỗi khi nhận định t́nh h́nh và chỉ là
một tiếng nói lẻ loi c̣n chưa bị chi phối bởi quyền lợi riêng tư, tôi càng ngày
càng bực bội và thất vọng trong công việc hàng ngày. Trong lúc đó v́ nhiều cơ
quan quốc tế nh́n thấy kinh nghiệm của tôi, t́m cách tiếp xúc với tôi; tôi bắt
đầu suy nghĩ một cách nghiêm túc về việc từ chức và ra nước ngoài làm việc, để
có thể có một thời gian đánh giá lại t́nh h́nh trong nước, nơi cuộc chiến tranh
đang càng ngày càng trở nên khốc liệt.
Thế rồi th́nh ĺnh một biến cố xảy ra trong gia đ́nh tôi, và tôi mất tất cả mọi
thứ. Thêm vào đó, sự chán nản với chế độ Diệm làm tôi mất hết quyết tâm và nghị
lực. Tôi quyết định từ chức. Ngày hôm sau tôi tới gặp Diệm sau một đêm thức
trắng, suy nghĩ và nh́n thật sâu trong ḷng ḿnh. Diệm miễn cưỡng chấp nhận việc
từ chức của tôi ở Ngân hàng Việt Nam Thương tín, nhưng yêu cầu tôi tạm ở lại
Ngân hàng Trung ương cho tới khi ông t́m ra được người thay thế. Diệm không bao
giờ bao giờ thay thế tôi ở Ngân hàng Trung ương.
Đó là ngày 15/9/1960.
Tôi vẫn tiếp tục nhiệm vụ Tổng giám đốc ở Ngân hàng Trung ương mà ḷng không
vui; ngân hàng này nằm cùng một toà nhà với Việt Nam Thương tín. Tất cả ḷng can
đảm và phấn khởi của tôi đă mất hết. Hoàng Khắc Thành bắt đầu tṛ chính trị của
anh ta, lui tới Ngô Đ́nh Nhu và Nguyễn Đ́nh Thuần để xúc tiến việc thăng chức
nhằm thế chỗ tôi. Tôi cũng chẳng hề quan tâm, trong ḷng tôi chỉ c̣n một ước
muốn điều duy nhất là rời khỏi công việc và chính phủ. Tôi không làm cố vấn kinh
tế tài chánh cho ông Diệm nữa; và tôi cũng không dự các buổi họp của Hội đồng
Tiền tệ Tối cao nữa. Nhưng ngay cả khi tôi c̣n ở đó, c̣n đứng đầu Ngân hàng
Trung ương trong cùng một toà nhà với Thành và chỉ cách văn pḥng anh ta một vài
trăm thước, Thành vẫn cảm thấy đă đủ quyền lực chính trị với sự nâng đỡ của Nhu
và Thuần; anh ta thay đổi hoàn toàn chính sách của Việt Nam Thương tín và bắt
đầu phân phát các khoản tiền vay cho đám bạn bè ḍng họ của Ngô Đ́nh Thục, Ngô
Đ́nh Nhu và Nguyễn Văn Bửu. Anh ta chấp nhận nhiều việc làm ăn mờ ám của họ và
sẵn sàng đối đăi đặc biệt với bất cứ vụ kinh doanh nào có liên quan đến gia đ́nh
của Diệm và Nhu. Tôi ngao ngán đến nỗi tôi quyết định tới gặp Diệm lần thứ hai
để nộp đơn từ chức. Diệm c̣n do dự nhưng Nhu th́ hối ông chấp nhận. Cuối cùng
Diệm cũng miễn cưỡng chấp nhận, nhưng ông ta cấp cho tôi một kỳ nghỉ phép sáu
tháng ở Pháp với đầy đủ lương bổng, coi như là để chữa bịnh, nhưng thật sự là để
cho tôi có thể nghỉ ngơi thoải mái sau một biến cố tâm lư như vậy. Tôi không yêu
cầu được ưu đăi, nhưng dù sao đây cũng là một trường hợp cư xử đặc biệt ở một
con người khắc khổ như Diệm. Tôi đoán ông ta muốn thưởng công cho tôi trong
những việc tôi đă làm để giúp ông và giúp nước mấy năm nay, v́ từ xưa đến nay
tôi chưa hề nhận bất cứ một phần thưởng hay sự đền bù nào cho tất cả những điều
tôi làm. Diệm c̣n bắt tôi hứa là sẽ trở về để giúp phát triển đất nước. Đó là
vào tháng 3/1961, hai năm trước cuộc đảo chánh khi các tướng lănh giết chết ông.
Tôi đi Paris rồi sau một ít thời gian nghỉ ngơi rồi quyết định quay về nhà để
sống với đám con của tôi mà nhiều năm qua tôi đă không thể sống hết thời gian
với chúng, như ḷng tôi mong muốn, bởi v́ chúng thường ở xa cách tôi. Tôi luôn
luôn cưng con bởi v́ tôi rất ít khi gặp chúng, do công việc của tôi quá bận rộn.
Tôi thích chơi với chúng bất cứ khi nào tôi rảnh và mỗi lần từ nước ngoài trở về
nhà tôi đều mua quà và đồ chơi cho chúng. Mấy đứa con tôi nổi tiếng là có những
đồ chơi đẹp nhất thành phố; ngay cả đám trẻ của những gia đ́nh giàu hơn cũng
không sánh được. Bọn trẻ con của những người hàng xóm giàu có thường chạy qua
chơi và trầm trồ khen ngợi những món đồ chơi của con tôi. Tôi mua từ Paris và
New York cho hai đứa con gái tôi là Đạm và Lịch những bộ áo quần đẹp nhất và
những con búp bê đẹp nhất. Tôi vẫn c̣n nhớ ba bộ đồ cao bồi màu đỏ và đen mà tôi
mua từ Washington cho đứa con trai và hai đứa con gái bởi chúng bận vào nh́n rất
dễ thương khi chúng chơi đùa trong cái trang trại nhỏ của chúng tôi gần Đà Lạt.
Một ngày kia tôi ôm từ Paris về cho Hào, đứa con trai tôi, chiếc xe hơi đồ chơi
to nhất của thời bấy giờ, một chiếc xe model Simca mà thằng nhỏ có thể leo vô
ngồi và lái chạy quanh căn hộ rộng lớn của chúng tôi ở tầng trên toà nhà ngân
hàng. Đạm và Lịch thường hay giành nhau đồ chơi và quần áo v́ vậy mà tôi phải
mua mỗi món hai bộ, nhưng hai đứa nhỏ c̣n biết ǵn giữ cẩn thận. C̣n Hào th́ chỉ
chơi được vài giờ là đă bắt đầu phá tan đồ chơi ra từng mảnh. Khi tôi từ cơ quan
làm việc trở về nhà, vợ tôi than phiền thằng nhỏ và tôi đă lấy tay phát lên bộ
mông đầy đặn của cu cậu một phát mạnh. Lúc ấy cha tôi đang ở thăm chúng tôi, ông
đă ôm thằng nhỏ vào ḷng để che cho nó, rầy tôi và chạy giấu thằng nhỏ trong
pḥng. Cha mẹ tôi đều thương Hào, bởi v́ theo truyền thống gia đ́nh, đứa cháu
đích tôn là đứa quan trọng nhất trong đám cháu.
Sau cái biến cố do một người trong gia đ́nh tôi gây nên làm cho chúng tôi hoàn
toàn phá sản, tôi không c̣n đủ tiền để mua áo quần đẹp và những đồ chơi đắt tiền
cho con nữa, vậy là tôi lái xe chở chúng đi chơi, đưa chúng tới bờ sông Sài G̣n
hay ra băi biển câu cá. Tôi lái xe đưa chúng lên cái trang trại nhỏ ở trên cao
nguyên và chơi với chúng. Đó là khoảng thời gian tôi cảm thấy ḿnh gần gũi với
con nhất và tôi thường ôm chúng vào ḷng và hôn chúng, nhiều khi ứa nước mắt
nghĩ tới những lúc chúng phải sống xa tôi. Trong suốt thời gian nghỉ ngơi với
gia đ́nh, được xa cách mọi công việc nhà nước, tôi có nhiều dịp để quan sát
người đời; những ǵ tôi đă học được trong cuộc sống thường nhật và những ǵ tôi
nhận ra được trong cách cư xử của người đời đă làm tôi mở mắt và dạy cho tôi
nhiều bài học. Giữa những điều ấy, tôi nhận ra rằng có một số người, Việt Nam
cũng như ngoại quốc, thường xây lưng lại phía tôi: những người trước đây thường
cúi gập ḿnh khi đứng trước mặt tôi, những người thường từ xa chạy lại để kính
cẩn chào tôi, những người đă cố t́m mọi cách gặp tôi ở bất cứ cơ hội nào, giờ
đây đă cố lơ tôi khi gặp tôi trên đường phố hay trong các bữa tiệc. Họ tin rằng
sự nghiệp tôi thế là chấm dứt và tôi không bao giờ có thể trở lại một vị trí có
quyền thế. Họ lầm. Chỉ một năm sau tôi đă trở lại với những vị trí quan trọng
nhất trong chính phủ, nhưng tôi không bao giờ nghĩ tới chuyện trả thù hay trả
đũa; trái lại bất cứ khi nào những người ấy xin giúp đỡ và bất cứ khi nào có
thể, tôi cũng vui ḷng giúp họ.
IV. Bước
vào khu vực tư
Tháng 9/1961, hết kỳ nghỉ phép tôi về thăm ông Diệm và báo là tôi muốn tham gia
vào khu vực ngân hàng tư, nhưng trong lănh vực mà tôi vẫn c̣n có thể phục vụ lợi
ích chung và giúp ông phát triển kinh tế đất nước: hỗ trợ tài chánh cho nền kỹ
nghệ non trẻ của Việt Nam là một mối quan tâm lớn của ông Diệm. Tôi nói với ông
là tôi sẽ giúp sức thành lập một ngân hàng kỹ nghệ bán công để tài trợ cho việc
phát triển kỹ nghệ Việt Nam. Diệm đồng ư nhưng ông nói hễ khi nào ông cần tôi,
ông sẽ gọi và giao cho tôi một trách nhiệm mới trong chính quyền. Tôi trả lời
vâng nhưng tận trong đáy ḷng tôi không tin cho lắm việc tôi sẽ trở lại dưới
quyền ông bởi v́ tôi biết rằng chế độ ông đă mất ḷng dân và đám tay chân bộ hạ
của ông không những đă làm cho những người đầy thiện chí như tôi mà c̣n làm cho
quần chúng b́nh thường xa lánh. Diệm hứa là sẽ giúp đỡ tận t́nh cho kế hoạch của
tôi. Đó là lần cuối cùng tôi c̣n trông thấy Diệm, trước khi ông bị giết trong
cuộc đảo chánh 1963.
Tôi nói chuyện với Hiệp hội Ngân hàng và phái đoàn viện trợ Hoa Kỳ, USAID, họ
hoan nghênh và hứa sẽ hỗ trợ tối đa. Sau một ṿng tham quan Iran, Ấn Độ,
Pakistan, Thái Lan và Đài Loan để xem các loại ngân hàng phát triển khuyếch
trương, tôi thành lập Công ty Khuyếch trương Kỹ nghệ SOFIDIV (Société Financière
Pour Le Development de L’Industrie Au Vietnam) với sự hùn vốn của tất cả các
ngân hàng mà trong đó ngân hàng cũ của tôi, Ngân hàng Việt Nam Thương tín, có cổ
phần lớn nhất.
Chế độ Diệm đang đương đầu với những rối rắm về xung đột tôn giáo, những cuộc
biểu t́nh chính trị, sự bất an xă hội, và những khó khăn kinh tế nghiêm trọng.
Chính quyền Mỹ muốn Diệm cải cách chính trị để lấy lại ḷng dân. V́ Diệm cứ tŕ
hoăn và chống lại áp lực của Mỹ, nên quan hệ giữa hai nước đồng minh sa sút đi
mau chóng. Diệm được khuyến cáo nhiều lần là phải để cho Nhu rời khỏi chính
quyền và mở rộng chính phủ cho những người ở bên ngoài đám thân cận ông. Diệm
c̣n muốn tŕ hoăn nhưng ông biết rằng Việt Nam không thể tự đánh giặc một ḿnh
mà không được Mỹ trợ giúp. Thỉnh thoảng ông cũng có nghĩ tới việc mở rộng chính
quyền nhưng ông không tin những người đối lập với ông. V́ vậy ông muốn t́m kiếm
những người không có liên hệ chính trị hoặc những người chuyên môn mà chính phủ
Mỹ có thiện cảm. Tên tôi được nhắc tới nhiều lần và Diệm cũng thích nhưng Nhu
phản đối dữ dội. Nghe kể chuyện ấy, tôi đă cố tránh tiếp xúc với Diệm; bất cứ
khi nào nghe tin đồn sắp thành lập lại nội các, th́ không như những người khác
hăm hở muốn có một chỗ trong nội các mới, tôi lại cố t́m cách lánh về vùng nông
thôn dưới đồng bằng sông Cửu Long, hoặc là ra nước ngoài để tránh bị gọi tên vào
danh sách. Tháng 10/1963 khi nghe tin đồn về nội các chính phủ mới, tôi bay qua
Hồng Kông và tránh không ghé thăm một người bạn cũ làm lănh sự Việt Nam ở đó v́
sợ anh ta sẽ báo cho Nhu, Diệm biết. Rồi v́ không cảm thấy an toàn ở Hồng Kông,
tôi bay qua Nhật, ở đó một buổi sáng khi xem TV ở trong pḥng, tôi nghe tin
chính phủ Việt Nam bị lật đổ và vài giờ sau nghe Diệm và Nhu bị giết chết. Đột
nhiên nước mắt tôi chảy dài xuống má. Tôi cảm thấy buồn vô cùng v́ đối với tôi
Diệm là một nhà lănh đạo lớn. Quả là vô cùng tệ hại khi ông cứ cứng đầu không
chịu tự do hoá chế độ của ông. Mọi việc có thể hoàn toàn khác nếu ông để Nhu ra
đi. Cái chết của ông làm tôi cảm thấy đau ḷng suốt nhiều năm và mỗi lần nhớ tới
ông là tôi lại buồn hết sức. Khi tôi nói chuyện với ông Pinay, ông cũng tiếc là
các tướng lănh đă giết chết Diệm thay v́ cho ông ta đi lưu vong.
Trong thời gian đó tôi cố gắng phát triển SOFIDIV và không bao lâu tôi phải t́m
những nguồn tài trợ mới cho các hoạt động càng lúc càng rộng lớn của SOFIDIV.
Một tay cựu nhân viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vừa mới được bổ nhiệm làm
Thống đốc Ngân hàng Trung ương; anh ta là một người tốt nghiệp đại học Harvard
và đă làm việc ở IMF vài ba năm. Nguyễn Xuân Oánh được bổ nhiệm với một chiến
dịch quảng cáo rầm rộ do anh ta tổ chức trên báo chí, ca ngợi cái lư lịch
Harvard và việc làm trước đây ở IMF của anh ta. Oánh là một tay đóng kịch số một
và là một chuyên gia tŕnh diễn trước công chúng: với khuôn mặt đẹp trai và một
nụ cười dễ thương, cử chỉ êm ái, anh ta rất nổi tiếng và nhanh chóng tạo được
tiếng tăm. Anh ta có biệt tài trưng ra những tên tuổi lớn (của những nhận vật
chính trị Mỹ), giỏi vận dụng các phương tiện truyền thông, và không hề làm ǵ để
cải chính những lời đồn đại xung quanh mối liên hệ giữa anh ta với Bộ Ngoại giao
và Bộ Quốc pḥng Mỹ. Anh ta đă gây được ấn tượng ở nơi tôi, ít ra cũng là con
người mà tôi h́nh dung qua báo chí. Tôi nghĩ nhất định anh ta là người tôi cần
cho SOFIDIV bởi v́ anh ta đă ở một trong hai tổ chức song sinh là Ngân hàng Thế
giới (World Bank) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và nhất định phải rất rành cơ cấu
tài trợ các ngân hàng khuyếch trương. Tôi tới gặp Nguyễn Xuân Oánh và bàn về
những Ngân hàng Khuếch trương Kỹ nghệ, về mối quan hệ giữa vốn (equity) hay vốn
tương tự (quasi equity), về nguồn vốn từ các khoản vay dài hạn nước ngoài và vai
tṛ cần thiết của chính phủ trong đ̣n bẩy đối với các tổ chức tài chánh. Tôi rất
ngạc nhiên khi thấy Oánh hoàn toàn không hiểu ǵ hết về vấn đề tài trợ khuyếch
trương và vay vốn nước ngoài. Không những anh ta không hiểu một tí ǵ về tài trợ
khuếch trương mà anh ta cũng không biết ǵ về các hoạt động của World Bank trong
lănh vực này, lại càng không hề biết ǵ về đ̣n bẩy trong việc vay vốn nước
ngoài. Vậy mà IMF là cơ quan sinh đôi của World Bank, và cả hai tổ chức này nằm
ở sát bên nhau, nhân viên của cả hai tổ chức thường làm việc chung với nhau trên
cùng một dự án, trên cùng một quốc gia thành viên và cùng nhau đi ăn trưa mỗi
ngày. Anh ta xin tôi cho anh ta một văn kiện nói rơ về những vấn đề này, tôi
đồng ư; và một tuần sau đó tôi lại đến gặp anh ta. Lần này th́ mối nghi ngại của
tôi là anh ta không hề biết ǵ đến tài trợ ngân hàng khuyếch trương đă được xác
nhận. Tôi hết sức thất vọng v́ với tư cách là Thống đốc Ngân hàng, đáng lư anh
ta phải biết làm thế nào để tài trợ vốn cho một ngân hàng khuyếch trương, việc
này là một nhiệm vụ b́nh thường của một Thống đốc Ngân hàng Trung ương. Mặc dù
anh ta làm việc cho IMF, cơ quan chị em và láng giềng của World Bank, h́nh như
anh ta không biết ǵ hết về World Bank, và nghiêm trọng hơn nữa, không biết ǵ
hết về ngân hàng. Vậy mà anh ta lại được bổ nhiệm Thống đốc một Ngân hàng Trung
ương. Đây là lần thứ ba chính phủ Việt Nam đă lầm v́ bị bằng cấp đánh lừa khi bổ
nhiệm một con người vào một công việc chuyên môn cao cấp, mà không chịu nh́n vào
phẩm chất chuyên môn thật sự cần thiết cho công việc. Tôi trở về gặp ông Nguyễn
Ngọc Thơ và nói cho ông hay cuộc tiếp xúc với Nguyễn Xuân Oánh. Thơ thừa nhận là
ông bị lung lạc bởi bằng Ph.D của Oánh, bởi các mối quan hệ của anh ta khoe
khoang và tiếng tăm đồn đăi về anh ta nên ông đă không nh́n vào khả năng chuyên
môn mà công việc của một vị Thống đốc Ngân hàng Trung ương đ̣i hỏi.
Về sau tôi được biết Nguyễn Xuân Oánh chỉ là một nhân viên kinh tế ở IMF, nơi
anh ta đă bị thuyên chuyển hết ban này qua ban khác. Năm 1964 anh ta có mặt ở
buổi hội thảo thường niên IMF-IBRD ở Tokyo, mỉa mai thay đó cũng là buổi hội
thảo mà World Bank đă phỏng vấn tôi về chức vụ Chánh sự vụ ở IFC (một nhánh của
World Bank). Trong lần gặp gỡ thứ hai với Nguyễn Xuân Oánh, nghe anh ta nói đến
hội thảo thường niên IMF–IBRD, tôi t́nh cờ đề cập tới việc tôi cũng đă tham dự
buổi hội thường niên Quỹ Tiền tệ Quốc tế - Ngân hàng Thế giới (IMF-IBRD) ở Tokyo
đó và đă được World Bank phỏng vấn để nhận chức vụ Chánh sự vụ phụ trách ngân
hàng phát triển ở các quốc gia nói tiếng Pháp. Khi anh ta nghe vậy, anh ta tái
mặt đi, nhưng rồi anh ta nhanh nhẹn mỉm cười với một nụ cười diễn viên, và anh
ta nói một chức vụ như vậy "cũng được"! Thế nhưng chức vụ đó lại cao hơn chức vụ
kinh tế gia của anh ta nhiều bậc. V́ ganh tị nên anh ta không nuốt trôi được sự
kiện này và anh ta bắt đầu có ác cảm với tôi kể từ ngày đó. Sau này tôi được bổ
nhiệm làm phó Quản trị viên Quỹ Tiền tệ Quốc tế, rồi sáu năm sau được bổ nhiệm
Cố vấn Quỹ Tiền tệ Quốc tế; cả hai chức đều cao hơn chức của Oánh nhiều bậc.
Oánh là một người rất tự cao, anh ta không thể nh́n thấy người nào có một điều
ǵ tốt hơn anh ta hoặc nhiều hơn anh ta. Về sau anh ta bị Thủ tướng Nguyễn Cao
Kỳ cách chức, vừa v́ lư do thiếu năng lực chuyên môn ở Ngân hàng Trung ương, vừa
v́ chơi tṛ chính trị nhằm kiếm một chức vụ quan trọng giữa một loạt đảo chánh
và phản đảo chánh khi các tướng lănh lo đánh nhau để giành quyền. Khi tôi được
mời từ Washington về thay thế anh ta ở chức vụ Thống đốc Ngân hàng Trung ương,
anh ta không muốn tin rằng anh ta bị giải nhiệm v́ thiếu năng lực chuyên môn;
anh ta cứ nghĩ là tôi đă vận động tống anh ta đi.
V́ ganh tị với sự nghiệp của tôi, Oánh đă làm hại tôi rất nhiều sau lần về thăm
Việt Nam đầu tiên năm 1991, khi Thủ tướng Vơ Văn Kiệt tiếp đón tôi hết sức nồng
nhiệt, sau khi tôi đă tŕnh bày trong một buổi họp những khó khăn kinh tế lúc đó
của Việt Nam và đề nghị ông những phương án giải quyết các vấn đề này. Khi đến
lúc chia tay, tôi chào từ giă Thủ tướng Kiệt nhưng ông không cho tôi đi, ông cứ
nắm chặt tay tôi và tiếp tục khẩn khoản mời tôi trở về giúp nước, mặc dù ông đă
trễ giờ gặp Tổng bí thư Đỗ Mười năy giờ đang ngồi chờ ông ở nhà bên cạnh hơn nửa
tiếng đồng hồ. Vậy nhưng năm sau, khi tôi trở về Việt Nam lần thứ hai theo lời
yêu cầu của Thủ tướng Kiệt, tôi thấy ông tỏ ra lạnh nhạt; Oánh đă làm xong công
việc của anh ta trong thời gian qua, anh ta đă huỷ hoại mọi tiếng tăm của tôi
trong ḷng Thủ tướng Kiệt. Khi tôi sắp rời Việt Nam, Lâm Vơ Hoàng, người đă từng
làm việc với tôi ở Việt Nam Thương tín, đă khẩn khoản yêu cầu tôi bỏ qua sự ganh
tị của Oánh và hành động xấu xa của anh ta; Hoàng đề nghị tôi tới bắt tay giảng
hoà với Oánh. Tôi không tin là Oánh có đủ can đảm để gặp tôi sau những năm ganh
ghét và bôi nhọ tôi như vậy. Nhưng v́ Hoàng cứ van nài nên tôi đành leo lên xe
gắn máy cùng đi với Hoàng tới văn pḥng Oánh. Chúng tôi đợi 15 phút, rồi thêm 20
phút; Hoàng mất kiên nhẫn, đến gặp cô tiếp tân hỏi chuyện ǵ xảy ra. Cô ta bước
vào pḥng Oánh rồi cho Hoàng hay là Oánh đang bận họp giao ban thường lệ, việc
này thường không lâu bao nhiêu và anh ta sẽ ra ngay. Chúng tôi đợi thêm 15 phút
nữa. Khi Hoàng thấy Oánh không ra sau một thời gian quá lâu như vậy, anh ta bước
tới chỗ tiếp tân và nói lớn: “Một người khách đă đi từ Mỹ tới đây, hết 12 ngàn
cây số để gặp ổng, c̣n ổng th́ chỉ bước có 5 bước để đi ra, vậy mà ổng cũng
không ra! Cái cung cách quái gở ǵ vậy ở một con người chức cao như ổng! Từ rày
trở đi tôi không bao giờ thèm tới đây gặp ổng nữa!” Tôi cảm thấy bối rối nên kéo
Hoàng ra ngoài, trong lúc anh ta vẫn tiếp tục trút cơn thịnh nộ về phía Oánh.
Sau khi tôi đă quay trở về nước Mỹ, vài tháng sau đó, một người bạn kể cho tôi
hay là Oánh đă nói với một người khách từ Mỹ về là tôi “năn nỉ xin” gặp anh ta
nhưng anh ta từ chối tiếp tôi; Oánh kể câu chuyện này với một nụ cười măn
nguyện! Cung cách ǵ vậy ở một giáo sư, một cựu phó Thủ tướng, một cựu Thủ tướng
– dầu chỉ có vài ngày thôi – và là một trong những nhân vật thượng lưu danh
tiếng của xă hội Việt Nam!
Để t́m thêm vốn cho công ty SOFIDIV, tôi cũng phải hướng về Bộ Kinh tế. Tổng
trưởng Kinh tế lúc ấy là Âu Trường Thanh, người rất thông minh và rất nhiều tham
vọng chính trị. Tôi nói chuyện với Thanh khoảng một vài tuần lễ về việc tài trợ
cho SOFIDIV th́ một ngày kia viên chủ tịch hội đồng quản trị của SOFIDIV, Nguyễn
Thành Lập, kể tôi nghe là Thanh đă gọi điện cho ông và yêu cầu ông sa thải tôi
mà không nói lư do. Lập là một người rất dễ thương và rất lịch sự nhưng tánh
t́nh hơi mềm yếu; tuy nhiên ông đă từ chối không tuân lệnh vị Tổng trưởng. Ông
đă nói với Thanh là hội đồng quản trị không thể sa thải tôi bởi v́ tôi là một
giám đốc rất có năng lực và làm việc rất hữu hiệu và tôi không phạm một lỗi nào
cả. Sau đó tôi được biết hành động ấy của Âu Trường Thanh là do vợ của anh ta,
một phụ nữ rất ham mê chức tước; chị ta giận vợ tôi v́ trong một buổi họp mặt
bạn bè (hai người từng là bạn thân của nhau), vợ tôi đă không gọi chị ta là bà
Tổng trưởng! Chồng chị ta vừa mới được bổ nhiệm Tổng trưởng, và ma-đam Thanh vốn
rất tự hào về chức tước của chồng đă muốn rằng tất cả bạn bè gọi chị ta bằng cái
tít "bà Tổng trưởng".
Mỉa mai thay một vài tháng sau tôi lại được yêu cầu giúp đỡ Thanh. Sau khi tôi
trở về Ngân hàng Quốc gia được vài tháng th́ Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ muốn sắp
xếp lại nội các để đưa nhiều người miền Nam vào nhằm cải thiện h́nh ảnh chính
phủ. Chính phủ miền Nam, đang chiến đấu chống lại miền Bắc nên dĩ nhiên phải có
một số thành phần miền Nam hợp lí. Một vài người, trong đó có tôi, đă đề nghị Kỳ
đặt Thanh vào chức vụ Tổng trưởng Kinh tế. Bởi Thanh có một số thủ túc là trí
thức và chuyên viên trẻ tuổi người Nam nên Thanh muốn tham gia nội các Nguyễn
Cao Kỳ, v́ có mộng chánh trị riêng biệt. Nhưng đám mật vụ của tướng Nguyễn Ngọc
Loan lại có hồ sơ về Thanh như là một người thiên tả và có quan hệ với chế độ
miền Bắc. Cha vợ của anh ta là một đảng viên cao cấp và cũng là một thành viên
cao cấp trong chính phủ Hà Nội. Bởi v́ tôi là một trong những người tiến cử
Thanh làm Tổng trưởng Kinh tế nên Kỳ gọi tôi vào, nói tôi nghe về lư lịch của
anh ta do tướng Loan đưa, và hỏi tôi dùng anh ta có mạo hiểm quá hay không. Tôi
nói với Kỳ, Thanh là một người thông minh và có năng lực, anh ta có thể giúp ích
cho chính phủ và Kỳ nên dùng anh ta. Kỳ hỏi tôi có dám bảo đảm cho anh ta nếu Kỳ
dùng anh ta hay không. Tôi nói tôi bằng ḷng bảo đảm và Kỳ đồng ư nhận anh ta,
điều làm cho tướng Loan không bằng ḷng. Loan không bằng ḷng v́ Kỳ đă đưa Thanh
vào nội các và Loan cũng không bằng ḷng tôi v́ đă bảo đảm cho Thanh. Thanh
không bao giờ biết những ǵ tôi đă làm cho anh ta; sự thực th́ tôi làm như vậy
v́ đất nước hơn là v́ anh ta, nhưng dù sao Thanh cũng đạt được điều anh ta mong
muốn. Chúng tôi lại trở thành bạn bè trở lại và nhiều năm sau đó khi tôi làm
việc với Quỹ Tiền tệ Quốc tế, anh ta đă nhờ tôi xin cho anh ta một công việc
trong chương tŕnh hỗ trợ kỹ thuật của IMF; tôi đă t́m ra việc cho anh ta, nhưng
Thanh không trả lời. Và sau này tôi mới hiểu được v́ sao.
Vài tháng sau đó, Thanh đâm sau lưng Kỳ – tôi muốn nói trên phương diện chính
trị – và chứng tỏ là anh ta chỉ có thể phục vụ cho quyền lợi riêng của chính anh
ta chứ không ai khác. Khi một nhóm thành viên trẻ người Nam trong nội các nổi
loạn chống lại Kỳ và đe doạ từ chức, Thanh đă nhảy vào đứng đầu trong đám này và
dẫn họ ra khỏi chính phủ. Trong viễn cảnh cuộc bầu cử Tổng thống sắp tới, đó là
một cơ hội rất tốt không tốn tiền để tạo một h́nh ảnh chính trị cho anh ta.
Thanh vốn là một người Nam, rất nhiều tham vọng, anh ta nghĩ rằng có thể sử dụng
cơ hội này để trở thành người lănh đạo của nhóm Nam bộ nhằm chuẩn bị cho những
mục đích chính trị xa hơn. Khi anh ta cùng rút lui với những thành viên người
Nam ra khỏi chính phủ của Kỳ, tôi thấy ngay tức khắc là anh ta đă có tham vọng
nhắm tới chức Tổng thống, và anh ta đang chuẩn bị nước cờ sắp tới – ứng cử viên
Tổng thống. Nhưng Thanh chơi rất kín, không ai hay biết tham vọng Tổng thống của
anh ta cho tới giây phút cuối cùng. Sau khi đă tŕnh diễn trên cả nước h́nh ảnh
một vị Tổng trưởng Kinh tế, được củng cố thêm bởi sự ủng hộ của nhóm Nam bộ, anh
ta nghĩ đă có thể bắt đầu cuộc chơi riêng tư của anh và tuyên bố muốn tham gia
cuộc tranh cử Tổng thống, nhưng không lộ hết chi tiết. Nhóm Nam bộ trẻ vỗ tay
hoan nghênh lời tuyên bố của anh ta, đinh ninh rằng anh ta sẽ nhận vị trí thứ
hai sau ứng cử viên của họ là Trần Văn Hương, một người nổi tiếng. Trên thực tế
ít lâu sau, khi cuộc vận động đang xả hết tốc lực, anh ta đă qua mặt nhóm miền
Nam và thủ lănh của họ, đăng kư ứng cử viên độc lập vào ngày cuối cùng, ngay
buổi chiều trước thời hạn, mà không cho một ai trong nhóm được biết. Khi nhóm
người miền Nam biết được nước cờ tráo trở của anh ta, họ lên án anh ta đâm sau
lưng họ, họ rút lui sự ủng hộ dành cho anh ta và vận động chống lại anh ta.
Chiến dịch tranh cử của anh ta hoàn toàn thất bại; tất cả những người có ít
nhiều cảm t́nh với anh ta trước kia xây lưng lại anh ta và gọi anh ta là kẻ phản
bội. H́nh như anh ta có biệt tài đâm sau lưng, anh ta đă phản bội Thủ tướng
Nguyễn Cao Kỳ khi ở trong nội các của Kỳ, đă bỏ rơi nhóm miền Nam, và ngay giữa
chiến dịch vận động, bỏ rơi ứng cử viên Tổng thống Trần Văn Hương, người mà anh
ta luôn luôn gọi là thầy và hứa giúp đỡ trong chiến dịch tranh cử. Nhưng những
thủ đoạn của anh ta chưa dừng ngang đây. Có một lần anh ta yêu cầu chính phủ để
anh ta đi một chuyến công tác qua Nhật. Khi anh ta tới nơi, Nguyễn Duy Quang,
Đại sứ Việt Nam ở Tokyo, một trong những người bạn rất thân của tôi, ra đón anh
ta tại phi trường, Thanh yêu cầu Quang sắp xếp một buổi tiếp kiến Nhật hoàng,
nhưng chỉ một ḿnh anh ta chứ không phải với cả phái đoàn Việt Nam như thường
lệ. Thanh có một kế hoạch bí mật ở trong đầu, anh ta muốn có một tấm ảnh chụp
chung với Nhật hoàng. Dĩ nhiên sau này Thanh sẽ dùng tấm ảnh này để tác động với
các công ty lớn của Nhật Bản – người dân Nhật rất tôn sùng Hoàng đế của họ và
sẵn sàng làm tất cả cho ông, thậm chí chỉ cho cái tên của ông – và anh ta đă đạt
được quyền làm đại diện duy nhất cho một sản phẩm nổi tiếng của hăng Sanyo Nhật
Bản trên toàn lănh thổ Pháp. Sau đó khi gặp lại, anh Quang đă kể lại cho tôi tất
cả câu chuyện.
Năm 1962, sau khi đă thành lập SOFIDIV và trả hết nợ gia đ́nh, tôi bắt đầu t́m
kiếm những món đầu tư mới v́ suốt cả thời gian làm việc nhà nước tôi không để
dành được một món tiền nào. Bây giờ tôi muốn gia tăng lợi tức và dành dụm chút
ít cho các đứa con tôi khi chúng tới tuổi vào đại học. Nhưng phải là một món đầu
tư không mâu thuẫn với các vị trí hiện tại cũng như tương lai của tôi, một món
đầu tư không đ̣i hỏi quá nhiều vốn v́ tôi không có, và một món đầu tư không bắt
tôi phải đi vay tiền, điều mà tôi ghét suốt đời. Tôi thương lượng với nhà chức
trách quận Liêng Khàng thuê một nhượng địa rộng 42 mẫu Tây, cạnh phi trường Đà
Lạt (một nhượng địa là một miếng đất cho thuê bắt buộc người thuê phải khai khẩn
đất hoang trong một thời gian nhất định, sau đó vùng đất đă khai hoang sẽ thuộc
về quyền sở hữu của người thuê; trong lúc miếng đất nếu không được khai hoang sẽ
trở lại thuộc quyền nhà nước). Tôi thuê một người quản gia và dựng tạm một ngôi
nhà mái tôn cho anh ta ở, và mỗi cuối tuần chúng tôi sẽ lên đó ở chung với anh
ta. Tôi trồng 3 mẫu cà phê và nuôi một ít gia súc. Cứ mỗi cuối tuần tôi lái xe
đưa cả gia đ́nh lên trang trại, tất cả chúng tôi đều rất thích thú sống những
ngày ở đây mặc dù thiếu tiện nghi, v́ thời tiết và khí hậu ở đây rất tuyệt vời:
ngày nắng trong veo, c̣n đêm th́ trời đầy sao và mát lạnh (Liêng Khàng ở độ cao
chừng 900 mét ). Đạm, Lịch, Hào rất thích đời sống ở trang trại và mỗi khi tới
lúc phải về th́ không đứa nào muốn về. Chúng đóng vai cao bồi với những khẩu
súng tôi mua từ Paris và New York, chúng giành nhau để leo lên đi rong chơi trên
chiếc xe Jeep nhỏ khoảng một nửa chiếc xe Jeep thật mà tôi đă làm từ một chiếc
máy cày cũ cùng với người thợ cơ khí ở nhà băng. Chúng cũng thích cỡi lên lưng
một con ngựa nhỏ mà tôi mua từ một xóm dân tộc; chúng ăn ngon, ngủ ngon và lên
cân đều đặn, làm hai vợ chồng tôi rất sung sướng.
Ban đêm chúng tôi có thể nghe tiếng hổ gầm xa xa, và tôi luôn luôn đi ngủ với
một khẩu súng nạp sẵn đạn, c̣n ban ngày chúng tôi có thể trông thấy một vài
con nai con, thỏ và chim trĩ chạy quanh các bụi cây. Một ngày kia mấy người giúp
việc bắt được một con nai cái nhỏ và chúng tôi đă nuôi nó trong một cái chuồng
gần nhà, chúng tôi đặt tên cho nó là Bambi, và đám trẻ rất thích chơi với nó, nó
trở nên rất thuần tánh, khi mấy đứa con tôi cho nó ê hề thức ăn, rau cải, đường
miếng, và đặc biệt là thuốc lá điếu, món mà nó trở nên nghiện rất mau.
Liêng Khàng không có nước máy, những người giúp việc của chúng tôi phải đi tới
giếng nước của nhà hàng xóm để gánh nước đem về đổ trong những cái chum lớn dùng
cho cả gia đ́nh. Họ bắt đầu t́m cách đào giếng riêng cho trại nhưng không bao
giờ gặp được mạch nước. Rồi một người ở trong làng cho tôi hay là có một người
Nhật thường đi khắp nơi giúp dân chúng t́m chỗ đào giếng, những cái giếng rất
tốt mà không cần phải đào sâu lắm. Tôi lái xe ḷng ṿng đi kiếm ông ta và một
ngày kia tôi đă gặp ông. Ông ta đă chỉ cho chúng tôi coi ông ta t́m mạch nước
ngầm như thế nào. Ông ta cắt một cái cành cây có chạc (nạng), đẽo sạch vỏ và cầm
hai đầu chạc cây đi quanh rà rà cái nạng trên mặt đất, thế rồi ở một địa điểm
đặc biệt, cái nạng rung lên rất mạnh trong tay ông. Ông ta quay lại nói với
chúng tôi bằng thứ tiếng Việt ngượng nghịu rằng dưới địa điểm này nhất định có
một nguồn nước đang chảy chầm chậm như một con suối giữa các tảng đá. Những
người giúp việc trong trang trại của tôi hết sức khích động, họ bắt đầu đào ngay
xuống đất. Ngày hôm sau họ chạm tới mạch nước và chúng tôi có thể nh́n thấy ḍng
nước chảy xuyên qua các tảng đá. Qua bao nhiêu năm cái giếng này vẫn cho thấy nó
có một mạch nước rất mạnh, luôn luôn đầy một thứ nước sạch và trong vắt; suốt cả
mùa hạ nước không bao giờ cạn và mực nước luôn luôn ở mức đều như nhau suốt cả
năm. Chúng tôi tới mời người Nhật dùng cơm với chúng tôi và tôi cố gởi ông một
ít tiền thưởng. Ông ta từ chối. Tôi cứ tự hỏi ông ta sống cách nào khi ông ta cứ
đi khắp nơi để giúp đỡ mọi người và không hề nhận tiền công. Đối với tôi đó là
cả một điều bí mật. Tôi t́m được một bô lăo ở một ngôi làng gần Liêng Khàng biết
rành chữ Hán và do đó có thể nói chuyện với người chuyên viên Nhật Bản. Tôi được
biết là sau khi Nhật bại trận năm 1945 ông không muốn trở về Nhật và đă ở lại
Việt Nam, đi từ làng này qua làng khác trên khắp cao nguyên để giúp dân chúng
đào giếng và trồng trà và cà phê. Ông hiếm khi nhận tiền thưởng cho những việc
ông làm, và tôi không thể h́nh dung được làm sao ông sống mà không có việc làm
cố định và cũng không có lương cố định. Sau đó một vài hôm khi ông trở lại coi
cái giếng có tốt hay không, với một vài tiếng Nhật mà tôi đă học hồi xưa khi
toan đi du học ở Nhật Bản năm 1944 (viên lănh sự Nhật ở Huế sau đó cho tôi hay
là chuyến tàu dự định chở tốp sinh viên Việt Nam thứ hai đă bị phi cơ Đồng minh
bắn ch́m giữa biển), tôi cám ơn ông ta và mời ông ta ở lại sống với chúng tôi.
Tôi sẵn sàng nhường cho ông ta một chỗ ăn ở trong khi ông ta đi đây đó giúp dân
làng, nhưng ông ta từ tạ. Rồi ông ta ra đi và chúng tôi không bao giờ gặp lại
ông nữa. Tôi không biết chuyện ǵ xảy ra với ông về sau. Đối với tôi ông ta là
một con người rất tốt, một trái tim nhân hậu xứng đáng cho chúng ta kính trọng
và yêu mến.
Trong những năm đó tôi đă nhiều lần đi săn thú lớn trên vùng cao nguyên, ở Đà
Lạt, ở Pleiku, v́ sau khi bắn hạ một vài con nai tôi không c̣n thấy thú vị và
tôi quyết định săn những con thú dữ thật sự: cọp, beo, minh và voi. Một người
bạn thân của tôi, Trung tá Nguyễn Văn Luận, là cảnh sát trưởng ở Đà Lạt và tôi
thường cùng nhau đi săn. Khi nào có thể được, anh ta để tôi dùng chiếc xe đi săn
vốn dành riêng cho Ngô Đ́nh Nhu; chiếc xe này được trang bị rất đầy đủ, có một
giàn để đứng bắn và quan sát ban đêm và hai ngọn đèn pha rất mạnh để t́m thú dữ.
Chúng tôi thường đi tới những khu vực săn bắn dành riêng cho Hoàng đế Bảo Đại
hồi trước và Ngô Đ́nh Nhu sau này, nơi có đủ các loại thú dữ. Những chỗ này nằm
rất xa, gần vùng ba biên giới Việt Nam–Lào–Cao Miên. Tôi nhớ lần đầu tiên khi
chúng tôi tới một chỗ như vậy, một ngôi làng Thượng giữa các khu đầm lầy, th́
trời gần sập tối, sau một ngày ngồi trên chiếc xe Jeep luồn lách qua các khu
rừng đầy nguy hiểm. Chúng tôi bước ra khỏi xe để duỗi chân cho đỡ mỏi, trong khi
người hướng đạo của chúng tôi đi vào làng để sắp xếp cho buổi đi săn tối nay.
Tôi nh́n về phía cuối vùng đầm lầy, bật ngọn đèn rọi ở trên trán, và rất ngạc
nhiên khi trông thấy rất nhiều cặp mắt màu xanh rải rác khắp nơi và một vài cặp
mắt màu đỏ ở xa hơn: mắt màu xanh là mắt của lũ hươu nai, c̣n mắt màu đỏ là của
cọp, beo đen hoặc beo gấm. Sau khi đă nh́n thấy những thứ này chúng tôi quyết
định tại chỗ là sẽ tổ chức một buổi săn cọp. Chúng tôi bắn hạ hai con nai, một
con dùng làm mồi nhử cọp, c̣n con kia đem về cho dân làng. Ba người dân làng đă
tới giúp chúng tôi dựng một chỗ để bắn cọp; rồi chúng tôi lựa một nơi thích hợp,
cột con nai chết vào một thân cây mà từ chỗ nấp của chúng tôi cách đó 10 mét có
thể nh́n thấy rất rơ. Dân làng đào một cái hố dưới đất cho hai chúng tôi nấp,
nhưng v́ đất quá cứng nên họ không đào đủ sâu. Chúng tôi phải ngồi trên một vài
cành cây đặt dưới hố nếu muốn nhô đầu lên khỏi miệng hố. Đây là một lối sắp xếp
rất nguy hiểm bởi v́ chúng tôi phải phơi người ra trong trường hợp cọp tấn công.
Chúng tôi xây một tấm màn che bằng cành và lá cây, đoạn trở về làng nghỉ ngơi.
Sau bữa cơm tối, Luận cho tôi mượn người phụ tá của anh, trung sĩ Viên, rồi để
tôi đi tới chỗ nấp để bắn con cọp đầu tiên của tôi; c̣n anh th́ đă hạ được nhiều
cọp rồi trong những lần đi săn với Nhu. Anh ta muốn đi theo một hướng khác cùng
một người hướng đạo Thượng để săn gấu và beo.
Khi chúng tôi đến chỗ săn, chúng tôi nghe những tiếng động sột soạt chung quanh
do cành lá lay động; chúng tôi biết rằng trong bóng tối lũ thú rừng đang theo
dơi chúng tôi, chúng nh́n thấy chúng tôi c̣n chúng tôi th́ không thấy chúng. Một
lúc sau khi chúng tôi ngồi yên vị trong hố, chúng tôi nghe bầy cọp gầm và phóng
quanh chúng tôi, có lẽ muốn doạ cho chúng tôi tránh xa bữa tiệc của chúng. Sau
khoảng 5 phút mà lâu như 5 tiếng đồng hồ, không nghe động tịnh ǵ về phía chúng
tôi, lũ cọp bắt đầu ăn con mồi. Viên nói khẽ bên tai tôi chỉnh lại ngọn đèn đeo
trước trán, và nạp đạn vào cây súng mới của tôi, một khẩu Ithaca 12 mua ở New
York trong chuyến đi Mỹ vừa rồi, chúng tôi nói bằng một ngôn ngữ ngắn gọn đă
được nhất trí trước đây và bổ túc bằng những cú thúc cùi chỏ nhè nhẹ. Chúng tôi
ngồi bất động, chờ cho lũ cọp bị thu hút hoàn toàn vào bữa ăn ngon lành của
chúng. Âm thanh do lũ cọp xé toạc miếng mồi và nhai xương rau ráu rất là đáng
sợ, nó tựa như tiếng xe tăng nghiến trên sỏi đá. Trong bóng tối tôi có cảm giác
như lũ cọp đang ở sát bên ḿnh và chúng có thể chạm vào chúng tôi; chúng gầm gừ
căi cọ và cắn lộn nhau, thấy càng thêm đáng sợ. Tôi bắt đầu đâm nghi ngại không
biết ḿnh có thể bắn hạ chúng không, và tôi cố tưởng tượng việc ǵ sẽ xảy ra nếu
tôi bắn hụt và chúng nhảy xổ lên chúng tôi. Những người đi săn từng trải kể cho
tôi nghe trước đây rằng cọp thường nhảy lên tấn công người khi chúng bị trúng
đạn, ngay cả trong một tích tắc trước khi chúng chết.
Vài phút sau Viên dùng cùi chỏ thúc nhẹ vào sườn trái tôi. Đó là dấu hiệu bắn.
Chúng tôi đă đồng ư với nhau là tôi sẽ bắn trước và anh ta sẽ bắn tiếp hỗ trợ
nếu tôi bắn hụt. Tôi mở chốt an toàn, bật ngọn đèn rọi, nhắm phía lũ cọp và bóp
c̣ súng, tất cả chỉ trong ṿng vài giây đồng hồ. Tiếng nổ xé toang sự yên lặng
của màn đêm và lũ cọp nhảy dựng lên, rống rú và tháo chạy tán loạn, gây nên một
cảnh hỗn độn khủng khiếp trong bóng tối dày đặc của rừng già.
Sau một số phút kéo dài, yên lặng lại bao trùm. Chúng tôi quyết định ḅ ra khỏi
hố xem xét. Một con cọp chết nằm gần bên miếng mồi. Đó là con cọp đầu tiên của
tôi. Nhưng tôi cảm thấy buồn v́ con cọp h́nh như vừa mới lớn chứ chưa phải là
một con cọp trưởng thành như tôi đă hy vọng.
Dân trong làng nghe tiếng nổ đă chạy ra từng tốp; họ cười và nhảy múa khi thấy
con cọp chết, họ sắp có thêm thịt ăn cho cả làng. Hai người đàn ông lực lưỡng
cột hai chân trước và hai chân sau của con cọp lại với nhau rồi dùng một khúc
cây dài và lớn nhấc con cọp lên và đi về làng. Trong ngôi làng Thượng, một người
thợ săn từng trải bắt đầu lột da cọp, rất thận trọng để tránh làm hư bộ da đẫm
máu nhưng rất đẹp. Anh ta đặt bộ da vào trong một cái chum lớn và đổ muối phủ
lên trên. Đoạn anh ta quay lại cắt hết đống thịt cọp, gột sạch các khúc xương và
bỏ vào trong một cái chum khác. Bộ da sẽ được thuộc, và xương sẽ được chùi rửa
sạch sẽ trước khi nấu trong nhiều ngày liền để làm cao hổ cốt, một món thuốc
được coi là rất tốt cho bệnh thấp khớp. Viên tử tế lo giữ bộ da và xương cọp cho
tôi. Tôi thưởng cho dân làng một món tiền lớn rồi ra về.
Có một lần, một tay chủ tịch ngân hàng Mỹ, ngày trước là một viên tướng đánh
giặc ở Thái B́nh Dương với bao nhiêu là huy chương, đến viếng thăm tôi. Ông ta
nghe tôi nói chuyện săn bắn cọp, beo, gấu, minh… nên tỏ ư muốn bắn một con cọp
để lấy da trưng ở pḥng khách và khoe với bạn bè. Tôi tổ chức cho ông ta một
cuộc săn cọp như kiểu trước đây. Chúng tôi đi đến một làng Thượng ở gần vùng ba
biên giới, và đến tối, ông ngồi với tôi trong một hầm rất lớn đào dưới đất. V́
ông ta cao to nên khi ngồi trong hầm, đầu ông cao hơn đầu tôi nhiều, nhô lên
khỏi mặt đất. Đây là một lối săn cọp rất nguy hiểm đối với một người chưa có
kinh nghiệm săn cọp. Tôi cảnh cáo ông nhưng ông ta bảo ông không sợ, ông đă gặp
cảnh chiến tranh nguy hiểm hơn nhiều.
Cũng như lần trước với Viên, viên tướng Mỹ, người thợ săn và tôi định sẵn trước
với nhau lối bật đèn nh́n cọp và bấm c̣. Tôi để người thợ săn đứng bên tay mặt
tôi, viên tướng ở bên trái. Lũ cọp không đến ăn ngay, chúng tôi phải chờ gần hai
tiếng đồng hồ, chúng mới ṃ tới chỗ con mồi. Nhưng lần này chúng tới đông hơn,
và gầm rống, nhảy nhót rất lâu trước khi ăn mồi. Quả thật là đáng sợ. Tôi có cảm
giác như là lũ cọp biết chúng tôi đang ngồi ở đây, và chúng nhảy qua nhảy lại
gần miệng hầm để doạ chúng tôi. Sau một thời gian lâu hơn chuyến trước, lũ cọp
bắt đầu ăn mồi. Nhưng không những gây gổ, đe doạ nhau trong đêm tối, chúng c̣n
thốt ra những tiếng gầm thét rùng rợn, cùng những tiếng nhai xương ghê gớm. Khi
đàn cọp bắt đầu mê ăn, tiếng động, tiếng gầm bớt đi, người thợ săn thúc nhẹ cùi
chỏ cho tôi hay, tôi liền dùng cùi chỏ báo hiệu cho viên tướng hay, v́ tôi muốn
nhường ông bắn trước, để ông quả thật là người hạ được cọp. Nhưng tôi chờ măi
không thấy ông bật đèn lên bắn, nên lại dùng cùi chỏ thúc ông một lần nữa. Vẫn
không thấy ông ta phản ứng.
Tôi lên c̣, mở đèn, bắn. Lũ cọp nhảy dựng lên, gầm thét, tháo chạy hỗn loạn.
Quang cảnh thật rùng rợn. Trong ánh đèn đă bật, tôi nh́n về phía ông ta, th́
thấy mặt ông ta xanh lè, và ông đă tè ướt cả quần. Tôi leo lên, tới nh́n xác con
cọp nằm trên đất. Tôi không dám hỏi ông ta tại sao không nổ súng, v́ tôi biết
ông ta quá sợ khi lũ cọp nhảy nhót gầm thét gần bên. Tuy nhiên tôi vẫn thuộc da
cọp và biếu ông ta, như thể ông đă hạ được cọp.
Sau khi đă tự tay ḿnh hạ được con cọp đầu tiên và thuộc bộ da của nó để làm
chiến lợi phẩm kỷ niệm (bộ da cọp rất đẹp và tôi đă trải nó ở trong pḥng
khách), và giúp ông bạn Mỹ bắn con cọp thứ hai, tôi lại muốn một thách thức lớn
hơn: săn beo. Đây là một loài vật hay rụt rè, nhưng rất thông minh và rất khôn
lanh. Nó nhỏ hơn cọp nhưng đi săn nó th́ nguy hiểm hơn nhiều. Trong khi đang
chuẩn bị cho chuyến đi săn kế tiếp th́ tôi nghe tin một người bạn của tôi, một
người Tây lai, con của một ông cha Pháp và một người mẹ Việt, một tay đi săn
từng trải hơn tôi rất nhiều, mới được đưa vô bệnh viện v́ bị tai nạn trong lúc
đi săn. Tôi chờ vài ngày cho anh ta đỡ được đôi chút đoạn tới thăm anh trong
bệnh viện. Cha anh ta là một tay săn thú lớn cừ khôi và cũng là một người hướng
đạo rất giỏi nhưng rất đắt tiền. Tôi thấy ông ta đang ngồi bên cạnh giường bạn
tôi. Tôi rất sung sướng được gặp cả hai ở đây. Henri muốn ngồi dậy nói chuyện
nhưng cha anh biểu anh nằm xuống nghỉ. Ông đoán là tôi tới thăm con ông nhưng
chắc là cũng muốn nghe câu chuyện, v́ vậy ông nói với Henri rằng ông sẽ kể những
ǵ xảy ra cho tôi nghe. Mười ngày trước, Henri đă đi tới vùng ba biên giới cùng
với hai người bạn và một người hướng đạo Thượng, đó là một đêm rất tối, tốt cho
việc săn bắn. Họ bước đi từ tốn, thận trọng ở phía sau người hướng đạo vào sâu
trong rừng, t́m kiếm hươu nai hay cọp. Th́nh ĺnh Henri trông thấy hai cặp mắt
đỏ. Anh bật đèn rọi lên và thấy một con beo cái ngậm một con hươu nhỏ trong
miệng; nó đang trèo lên cây, theo sau là một con beo con. Henri ra dấu cho mọi
người ngồi xuống nấp sau gốc cây, anh hướng ngọn đèn về phía con beo và kéo c̣.
Khẩu súng là một khẩu Ithaca 12 giống như của tôi. Tiếng nổ xé toang màn đêm và
cả hai mẹ con con beo rớt xuống đất. Con beo mẹ phóng chạy nhưng con beo con run
rẩy kêu la, nó không chạy theo mẹ được v́ hai chân sau của nó đă bị găy. Henri
bồi thêm một phát súng để chấm dứt sự đau đớn của con beo nhỏ, và ra lệnh cho
người hướng đạo giữ con beo con trong khi anh và hai người bạn đuổi theo con beo
mẹ. Sau một hồi t́m kiếm Henri trông thấy một vài giọt máu ở trên đám lá cây.
Anh và hai người bạn nh́n quanh nhưng không thấy một con vật nào cả. Henri quyết
định trở về với xác con hươu và con beo nhỏ để con beo mẹ bị thương lại trong
rừng sáng mai sẽ quay lại t́m. Ngày hôm sau trời đầy sương, nhưng Henri và hai
người bạn cùng người hướng đạo vẫn đi trở lại cái chỗ anh đă bắn hạ con beo đêm
trước. Anh lại trông thấy những giọt máu c̣n tươi trên đám lá và càng đi càng
vào sâu trong rừng; rừng cây càng lúc càng dày và họ phải dùng dao chặt một lối
đi và gỡ những cành cây cản đường, nhưng Henri bị thu hút bởi những vết máu c̣n
tươi trên đám lá không chịu quay lui. Th́nh ĺnh từ sau một bụi rậm, một con beo
phóng ra chồm lên người Henri, nó chộp lấy vai Henri bằng hai chân trước, mặt nó
kề sát mặt Henri, và mọi người trông thấy hai chân con beo đă bị găy đầy cả máu,
tất cả bọn họ biết rằng đó là con beo mẹ bị thương. Nó cà cái miệng bị bể vào
mặt Henri, nhưng Henri không bắn nó được và cũng không thể tự vệ, con beo tuy bị
thương nhưng vẫn c̣n rất mạnh. Không ai dám bắn con beo v́ nó quấn chặt lấy
Henri. Cuối cùng con beo té xuống đất và người hướng đạo bắn vào đầu nó. Trong
lúc bốn người đi với nhau thành hàng một, làm sao con beo biết được ai là người
đă bắn nó và giết chết con của nó đêm trước, làm sao nó có thể nhận ra anh ta và
nhảy xổ lên anh? Đó là trí thông minh hay trực giác hay chỉ đơn giản là t́nh cờ?
Không ai có thể biết chắc được, nhưng những sự cố như vậy không phải là chuyện
quá bất b́nh thường. Một người thợ săn già nhiều kinh nghiệm đă có lần kể tôi
nghe chuyện một con beo bị một tay thợ săn Thượng dùng giáo đâm bị thương, đă đi
tới tận ngôi làng của anh tối hôm sau, gần b́a rừng để t́m người thợ săn và tấn
công anh ta. May mà anh ta được dân làng cứu thoát v́ họ phát hiện ra con beo
kịp thời.
Dù sao câu chuyện này cũng khiến tôi suy nghĩ lại trước khi đi săn beo, và tôi
chuyển qua mục tiêu kế tiếp – Minh, một loại ḅ rừng lớn vô cùng. Minh là
loại thú nguy hiểm nhất, dữ nhất và khó lường nhất trong các loài dă thú, ít
người dám săn chúng và chỉ có những tay thợ săn hết sức từng trải mới có thể săn
được. Có lẽ việc săn minh là một sai lầm lớn của tôi khi tôi có rất ít kinh
nghiệm đi săn. Tôi quả là thiếu khôn ngoan khi đâm đầu đi săn minh sau một kinh
nghiệm quá dễ dàng với nai và cọp. Minh nặng từ 800 tới 900 kí-lô và có thể chạy
với tốc độ 50 tới 60 cây số giờ lên sườn dốc. Chúng sống trên những vùng núi cao
xa xôi nhất, lang thang khắp các thung lũng và đỉnh núi, luôn luôn họp thành đàn
từ 5 tới 10 con. Khi bị thương hoặc khi sống một ḿnh v́ bị đuổi ra khỏi bầy,
chúng thường tấn công người ta. Vào một ngày thứ bảy, trên con đường tới một địa
điểm săn bắn của Nhu gần biên giới Lào, chúng tôi dừng lại ở một ngôi làng
Thượng và được báo là có một đàn minh mà các tay săn Thượng đă thấy không xa
ngôi làng của họ. Chúng tôi quyết định đi t́m. Một người hướng đạo đồng ư đưa
chúng tôi lên đỉnh núi không xa ngôi làng bao nhiêu, nơi đàn minh thường lang
thang quanh quất. Đứng trên chỗ cao để quan sát đàn minh dưới thung lũng để tính
toán cách tấn công th́ an toàn hơn. Suốt hai giờ đồng hồ chúng tôi chật vật t́m
đường lên trên đỉnh qua các bụi cây đầy gai, các tảng đá trơn trợt, và các cành
cây cứ bật ngược vào người, bị lũ côn trùng và vắt bu đầy, những con vắt chỉ nhỏ
như sâu đo, sống trong những khu rừng ẩm ướt. Chúng từ trên cây bắn xuống
người anh khi anh đi sát chúng, ḅ dưới lớp áo quần và lặng lẽ hút máu anh mà
không gây ra một chút đau đớn nào. Anh chỉ phát hiện ra khi chúng đă hút no bụng
và nhả ra, và máu cứ rỉ ướt áo quần anh. Sau khi đă gỡ hết đám vắt, uống một ít
nước giải khát và kiểm tra lại súng, chúng tôi lại tiếp tục đi qua khu rừng rậm
khoảng hai cây số nữa. Khi tới được trên đỉnh núi chúng tôi nh́n xuống dưới
thung lũng và thấy ngay phía trước mắt một đàn gồm năm con minh đă trưởng thành
và một con c̣n nhỏ đang lặng lẽ gặm cỏ trong khi một con minh đực to lớn đứng
gác, canh chừng cọp, beo và người. Chúng tôi từ từ lần xuống dốc núi tiến về
hướng chúng, con minh đực ngẩng đầu lên và nh́n thấy chúng tôi, nó rống lên một
tiếng rất lớn và cả bầy đều ngước đầu lên, thấy chúng tôi và chuẩn bị bỏ chạy.
Trong một tích tắc, tôi đưa khẩu Winchester Magnum 3.75 nhắm vào đầu con ḅ đực
và kéo c̣. Tôi nghĩ rằng ḿnh đă bắn trúng nên rất ngạc nhiên khi thấy chúng
nhảy dựng lên và chạy tán loạn. Theo linh tính tôi chạy theo chúng và khi tới
địa điểm chúng ở hồi năy, tôi nhận thấy có một ít máu vương trên cỏ và trên lá
cây. Sau chừng vài trăm mét th́ tôi mất dấu nên dừng lại nh́n xung quanh. Th́nh
ĺnh tôi nghe một tiếng động sau lưng. Tôi quay lại và thấy ở sau một g̣ mối
cao, một con minh đực với cặp mắt đỏ ngầu, nh́n tôi một cách dữ tợn và sẵn sàng
tấn công. Nó dậm hai chân trước hùng mạnh xuống đất, thở ph́ pḥ qua lỗ mũi đang
bốc hơi, nghiêng đầu qua một bên rồi phóng tới trước. Tôi nâng súng lên và nhắm
vào đầu nó, ngay giữa hai con mắt. Tiếng nổ dội lại rất đanh và con vật rớt
xuống đất, bốn chân c̣n quờ quạng trong không khí. Tôi may mắn đă phát hiện ra
nó trước khi nó tấn công. Minh là loài thú rất thông minh. Khi bị thương, chúng
thường bọc ra phía sau và tấn công anh từ phía sau lưng. Tôi cũng rất may mắn
khi những người dân làng theo tôi không đứng chặn giữa tôi và con vật. Họ rất sợ
hăi nhưng họ cũng rất sung sướng khi thấy con ḅ rừng bị giết, v́ họ sắp sửa có
rất nhiều thịt với con vật to lớn này. Tôi đứng gần con ḅ và sờ vào cái đầu to
lớn của nó với cặp sừng rất đẹp. Tôi tiếc ḿnh đă không đem theo một cái máy ảnh
để ghi h́nh con vật khổng lồ này trước khi nó bị xẻ ra từng mảnh. Dân làng cắt
đầu con minh để dành cho tôi (sau này tôi sẽ đem về thuộc và treo ở Sài G̣n) rồi
cắt tất cả những tảng thịt mà họ có thể đem về làng. Thịt ḅ rừng rất ngon, mềm
và ngọt. Sau đó dân làng dùng thừng lớn cột đầu con minh, đoạn hai người khiêng
tới xe Jeep cho tôi.
Tôi hạ thêm bốn con minh nữa trong những chuyến đi săn tiếp theo, nhưng suưt
chút nữa tôi bị con thứ tư giết chết. Một ngày kia viên cảnh sát trưởng quận
Tùng Nghĩa, nơi có trang trại của tôi, cũng là một tay thợ săn cừ khôi đến rủ
tôi đi săn. Cách uỷ ban quận 40 cây số, một linh mục Thiên chúa giáo trong những
chuyến hành lễ ngày thứ bảy thường gặp một đàn cọp 3 con gần bờ sông vào lúc
chiều tối. Ông cho biết con cọp đực là một con cọp rất oai và đẹp, luôn luôn có
một con cọp cái lớn và một con cọp con đi cùng. Viên cảnh sát trưởng cho một
người Thượng hướng đạo theo tôi và nói tôi hăy đi t́m đàn cọp; anh ta lỡ hứa đi
dự một đám cưới nên không đi với tôi được. Tôi cầm khẩu Ithaca của tôi đưa cho
người hướng đạo, c̣n tôi lấy khẩu Winchester Magnum 3.75 đem theo để pḥng xa.
Sau này tôi biết ḿnh đă quyết định đúng, loại súng săn Ithaca chỉ thích hợp khi
đi săn hươu nai hoặc cọp nhưng đối với những loại thú lớn hơn th́ không đủ sức
mạnh. Một khẩu Winchester Magnum 3.75 mới là vũ khí ngang tầm lũ minh và cả voi
nữa.
Một người lính Thượng xin tôi cho anh ta đi theo v́ anh ta muốn về thăm cha mẹ
tại ngôi làng gần địa điểm mà người linh mục Thiên chúa giáo đă mô tả. Bởi v́
tôi đă có một người bạn ở Sài G̣n lên thăm đang đi cùng nên tôi không muốn nhận
thêm người lính nữa, v́ săn cọp giữa ban ngày rất nhiều trắc trở, đ̣i hỏi phải
xử lí thật nhanh; quá nhiều người có thể cản trở những phản ứng như vậy. Nhưng
người lính cứ nằng nặc đ̣i đi và người hướng đạo cũng ủng hộ anh ta, nói rằng có
thể chúng tôi phải cần thêm người để khiêng xác cọp trở về xe Jeep. Đó có lẽ là
một quyết định sai lầm về phần tôi khi tôi nghe lời anh ta.
Chúng tôi lái xe tới ngôi làng gần sông nằm trên một vùng đất cao; sau khi leo
lên chóp một ngọn núi, chúng tôi nh́n xuống thung lũng, thay v́ cọp chúng tôi
lại thấy một đàn minh ở phía bên này sông. Người bạn tôi quyết định ở lại trên
xe v́ khẩu súng của anh ta không đủ mạnh để bắn minh. Tôi nh́n người hướng đạo,
anh ta nói anh ta sẽ dùng một khẩu súng cũ của quân đội và để khẩu Ithaca lại
trên chiếc xe Jeep. Anh ta đề nghị chúng tôi săn lũ minh này, mặc dù trước đây
chúng tôi dự định là săn bầy cọp mà người linh mục đă chỉ. Tôi do dự bởi v́
chúng tôi không có đủ súng cho một đàn minh nhiều như vậy, nhưng người hướng đạo
đưa mắt nh́n khẩu Winchester Magnum của tôi và hai khẩu súng quân đội, nói rằng
nếu chúng tôi hạ một con minh, cả đàn sẽ bỏ chạy thôi và chúng tôi sẽ không phải
đối diện với nhiều con. Anh ta rất háo thắng.
Chúng tôi kiểm tra lại súng ống và lên đường. Chúng tôi đi xuống thung lũng,
nhưng rừng tre càng lúc càng dày; không dễ ǵ mở một con đường xuyên qua đám
rừng này, lại càng không dễ phát hiện một con thú nào, chúng tôi bèn quyết định
tiến về phía con sông. Tôi thận trọng bước từng bước xuyên qua rừng tre, theo
sau là người hướng đạo rồi đến người lính. Đầu óc tôi rất căng thẳng, v́ cứ sợ
nếu một hay một con cọp xuất hiện, người lính có thể hoảng hồn và bắn chúng tôi
thay v́ bắn thú. Nhưng cũng nguy hiểm không kém nếu để anh ta đi trước, bởi v́
anh ta sẽ không đủ sức tự vệ và có thể làm cả đám chúng tôi lâm nguy nếu có một
con thú lớn tấn công. Tôi đang c̣n đắn đo suy nghĩ nên làm ǵ th́ th́nh ĺnh
nghe một tiếng rống ngay phía trước mặt; ngước mắt lên tôi trông thấy một con
minh khổng lồ từ sau một bụi tre rậm lao ra tấn công. Nó chỉ cách tôi chưa tới
mười mét và tôi không c̣n đủ th́ giờ nâng súng lên nữa. Đầu cúi xuống, cặp sừng
dựng đứng, con vật lao tới tấn công như một tia chớp, những cái chân to lớn của
nó dậm mặt đất nghe như tiếng sấm. Tôi ngă người qua tay phải để tránh và nó cọ
sướt tay áo tôi, và rồi tôi nghe thấy một tiếng động rất lớn phía sau lưng. Tôi
chạy bổ về phía trước và chỉ ngừng khi bị con sông chặn lại. Người hướng đạo
chạy nhào theo tôi và cả hai chúng tôi nhảy ào xuống sông, nấp sau bờ sông,
hướng mũi súng về phía con minh. Chúng tôi chờ một ít lâu, ḷng lo lắng không
biết người lính ra sao v́ măi không thấy anh xuất hiện, và quyết định đi trở lui
t́m anh ta. Cả hai chúng tôi đều ngờ rằng anh ta có thể bị thương với con minh
sau khi nó tấn công hụt hai chúng tôi; cái tiếng động rất lớn hồi năy có thể là
tiếng con minh húc vào người anh ta. Đó là một giây phút cực kỳ đáng sợ. Chúng
tôi bắn nhiều phát đạn lên trời để xua đuổi con minh và đi trở lại chỗ chúng tôi
bị tấn công hồi năy. Quả là một cảnh tượng rùng rợn: người lính nằm sóng sượt
trên mặt đất với một vết thương khủng khiếp ở ngực và một vết thương nữa ở đùi
trái. Anh ta c̣n bị con minh dẫm lên người và máu đang tuôn ra khắp nơi, từ
miệng, mũi, mắt và tai. Người lính nhất định phải chết ngay tức khắc với cú húc
khủng khiếp của hai cái sừng nhọn hoắc vào ngực và đùi, với một vận tốc 60 cây
số giờ và một khối xương thịt nặng cả tấn tống vào người anh. Nh́n thân thể tan
nát của người lính tôi mới nhận thức được một con minh độc thân có thể nguy hiểm
tới chừng nào. Đây phải là một bài học cho những tay thợ săn thiếu kinh nghiệm
như tôi.
Chuyến đi trở về cực kỳ khốn khổ, mưa tầm tă và người hướng đạo cùng tôi phải
khiêng xác người lính trên hai cành cây lên dốc xuống dốc, trượt chân trên những
tảng đá ướt, té xuống bùn lầy, chống chọi với các cành cây và bụi rậm suốt một
khoảng đường bốn, năm cây số để về lại chiếc xe Jeep. Khi chúng tôi về tới trung
tâm quận lị, gia đ́nh của người lính chạy ra kêu khóc không ngớt. Tôi cảm thấy
khốn khổ, ḷng tôi tràn ngập nỗi buồn rầu, thương xót và ân hận. Tôi không thể
tự tha thứ cho ḿnh đă gây nên cái chết của một con người v́ cái thú đi săn. Tôi
gởi một món tiền lớn giúp đỡ gia đ́nh người lính, bày tỏ ḷng tiếc nuối sâu xa
và quyết định ngay tại chỗ sẽ không bao giờ đi săn trở lại. Suốt một tuần lễ đầu
óc tôi hoàn toàn trống rỗng và tôi hầu như không thể lo toan công việc hàng
ngày. Tôi đem tất cả súng đạn cho người cảnh sát trưởng và kể từ ngày ấy tôi
không bao giờ chạm vào một khẩu súng hay đi săn nữa.
Sau khi ông Diệm bị lật đổ và bị giết tháng Mười một 1963, Việt Nam trải qua một
giai đoạn rối loạn chính trị và bất an xă hội. Du kích càng ngày càng mạnh hơn
và t́nh h́nh an ninh đâm ra rất nghiêm trọng. Những cuộc đấu đá giữa các nhóm
quân đội cũng như các cuộc đụng độ tôn giáo giữa Phật tử và tín đồ Thiên chúa
giáo đe doạ sự ổn định của Nam Việt Nam: nhiều người đă tiên đoán một cuộc sụp
đổ toàn diện của miền Nam vào năm 1965. Dây kẽm gai và chướng ngại vật giăng
trên đường phố là chuyện thường ngày. Tinh thần chung của dân chúng rất là u ám.
Những hoạt động nghề nghiệp của tôi cũng chậm lại rất nhiều khi mà t́nh h́nh an
ninh chung không thuận lợi cho việc phát triển kinh tế. Tôi quyết định tạm rời
đất nước để ra nước ngoài làm việc. Cuối năm 1963 Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ đề
nghị bổ nhiệm tôi làm Đại sứ ở Nhật Bản, tôi không phản đối ư kiến này và
Gaimucho, Bộ Ngoại giao Nhật, cũng rất đồng t́nh, nhưng một thành viên trong Hội
đồng Tướng lănh, tướng Kim, người mà tôi đă từ chối không đi theo giúp, đă phản
đối kịch liệt việc bổ nhiệm tôi. Năm 1962 Diệm gởi một phái đoàn do tướng Kim
cầm đầu qua Nhật. Cũng vào lúc đó ông Diệm gởi tôi tới Tokyo để thăm ḍ với
chính quyền Nhật về việc mở rộng hợp tác kinh tế tài chánh. Ông đă phạm một sai
lầm khi không nói cho tướng Kim biết là tôi có một nhiệm vụ riêng biệt. Giống
như những tay lănh đạo quân sự khác, tướng Kim không biết ǵ về lănh vực kinh tế
tài chánh và cứ nghĩ rằng tôi nằm trong phái đoàn của ông. Khi tôi từ chối không
đi cùng với đoàn của ông, ông tức giận và báo cáo lại Diệm, thế nhưng Diệm nói
với ông là tôi có một nhiệm vụ khác và ông ta phải để tôi yên. Đây là cung cách
làm việc đặc trưng của ông Diệm. Ông luôn luôn làm theo ư kiến riêng mà không
chia sẻ với bất cứ ai trong chính phủ.
Rồi vào cuối năm 1962 khi đang ở trên đường tới Pháp và tới Đức nhằm t́m kiếm sự
tài trợ cho Ngân hàng Khuếch trương mà tôi mới thành lập, tôi nhận được tin cha
tôi đột ngột qua đời. Ông đă từ trần trong lúc đang ngủ, trước lúc mẹ tôi tḥ
tay qua tấm mùng để nắm lấy tay ông. Đó nhất định là một cái chết rất êm thắm,
rất đẹp và tôi muốn tôi cũng được như vậy khi rời khỏi cuộc đời này. Tôi vội vă
quay về từ Paris; khi tới phi trường Tân Sơn Nhất tôi được Kim, một người bạn và
là phụ tá thân cận ra đón rồi đưa tôi cùng hai con gái là Đạm và Lịch lên ngay
một chiếc máy bay đă thuê, bay ra Huế. Lúc ấy là mùa mưa và chúng tôi gặp phải
một cơn băo rất xấu suốt quăng đường về Huế. Chuyến bay hết sức khủng khiếp v́
đó là một chiếc máy bay DC3 cũ kỹ. Nó bị lọt vào lỗ không khí và rơi xuống nhiều
lần, hất tung mọi vật ở trong khoang. Đạm và Lịch rất sợ và tôi phải nắm tay
chúng để trấn an suốt thời gian đó. Khi chúng tôi tới Huế th́ máy bay lại không
thể đáp xuống phi trường Phú Bài v́ đă quá khuya và phi trường không đủ trang bị
để đón máy bay đêm, t́nh h́nh an ninh lại rất tệ, nhân viên phải trở về thành
phố trước khi trời tối. Chúng tôi phải quay trở lại Đà Nẵng rồi từ đó mướn một
chiếc xe hơi để tiếp tục cuộc hành tŕnh. Khi tôi tới được nhà cha tôi vào 3 giờ
sáng th́ đă đến lúc bắt đầu những nghi lễ cuối cùng v́ lễ động quan được trù
định lúc 5 giờ sáng. Tôi khóc như một đứa trẻ và cảm thấy buồn khôn xiết v́
không nh́n được mặt cha tôi lần cuối. Những nhà sư Phật giáo đă đọc kinh cầu
siêu suốt ba ngày ba đêm cho cha tôi và hơn 200 người bạn bè và bà con tập họp
trong nhà tôi và trong những ngôi nhà hàng xóm để lo đám tang. Mặc dù hết sức
đau đớn nhưng mẹ tôi vẫn phải tham dự đầy đủ các buổi lễ, phải lo coi sóc mọi
việc chuẩn bị cho tang lễ và đồng thời, theo đúng phong tục, phải tổ chức nơi ăn
chốn ngủ cho một đám bà con bạn bè đông hơn 200 người. Tang lễ hết sức phức tạp
và công việc chuẩn bị bao gồm tất cả mọi thứ như cha tôi đă viết lại đầy đủ mọi
chi tiết trước khi ông mất. Gia đ́nh tôi tuân theo truyền thống rất kỹ và cha
tôi đặc biệt coi trọng mọi nghi thức liên quan tới việc thờ cúng tổ tiên và tỏ
ḷng kính trọng với những người đă khuất. Sau này tôi được biết đám tang cha tôi
là đám tang lớn thứ hai ở Huế trong ṿng 50 năm. Đoàn người dự lễ đưa đám trải
dài 3 cây số với những chiếc xe trang trí các ṿng hoa trắng, những người phu xe
mang các ṿng hoa tang, những công nhân mang cờ phướn, theo sau là hàng ngàn
người thương tiếc. Cha tôi được rất nhiều người tôn trọng và khâm phục trong tất
cả 18 tỉnh thành mà ông đă làm việc trong đời ông. Những người vừa mới biết ông
cũng tới chào một lần cuối hoặc theo tiễn ông tới nơi yên nghỉ cuối cùng. Đám
tang theo đúng truyền thống và lớn đến nỗi viên Giám đốc cơ quan USAID Mỹ đă
phái một toán truyền h́nh tới quay làm phim tài liệu. Tôi đội một cái vành rơm
và một bộ đồ tang làm bằng vải sô may qua loa, rồi cùng với Minh em tôi, chúng
tôi đi thụt lùi ở phía trước quan tài, suốt 7 cây số đường trường từ nhà tôi đến
nghĩa trang (anh có bao giờ thử đi thụt lùi 100 bước chưa, anh hăy làm thử rồi
anh sẽ thấy nó đau cặp gị và nhức mỏi toàn thân như thế nào và hăy tưởng tượng
chúng tôi cảm thấy ra sao suốt một quăng đường 7 cây số sau hai hoặc ba đêm
không ngủ). Dân chúng đứng sắp hàng 2 bên đường nh́n đám tang dài dằng dặc đi
qua trong lúc cảnh sát bận rộn điều khiển sự giao thông đang hỗn loạn. Khi chúng
tôi tới địa điểm chôn cất, th́ mẹ tôi và tôi, với tư cách là trưởng nam, phải
thực hiện nghi lễ cuối cùng trước khi hạ huyệt. Tất cả mọi người trong gia đ́nh
tôi phải quỳ xuống và cúi đầu chạm trán xuống đất để đáp lễ những ai tới lạy cha
tôi lần cuối. Có thể tưởng tượng chúng tôi đă phải quỳ gối cúi đầu và dùng trán
chạm đất tới biết bao nhiêu lần!
Sau khi xong những nghi lễ cuối cùng và mọi người đă cúi đầu trước quan tài cha
tôi, bốn người phu đám tang mặc đồng phục bắt đầu hạ dần quan tài xuống huyệt;
nghi lễ truyền thống bắt buộc quan tài phải tuyệt đối nằm ngang, và nắp quan tài
không được nghiêng một chút; người ta đặt một ly nước đầy trên nắp quan tài và
nước không được tràn ra dù chỉ một giọt trong suốt thời gian quan tài hạ xuống.
Những người phu đám tang sẽ được thưởng nếu họ làm tốt, c̣n nếu nước đổ ra ngoài
hay ly bị ngă th́ gia đ́nh sẽ bị khiển trách. Rồi trước khi nắm đất đầu tiên
được ném xuống mộ, một người bạn và là đồng nghiệp của cha tôi, bác Lâm Toại,
đọc một bài điếu văn dài và cảm động trong đó ông ca ngợi những đức tính của cha
tôi, cuộc sống gương mẫu của ông và tiếng tăm của ông trong và ngoài giới nhà
giáo. Ông nói thêm, và làm mọi người hết sức thán phục, rằng trên chiếc xe đạp
cũ kỹ của ḿnh cha tôi đă đi một quăng đường tương đương 4 lần ṿng quanh trái
đất để thăm viếng các trường học dưới quyền thanh tra của ông. Cái chết của cha
tôi là một cú sốc rất lớn đối với tôi và tôi cảm thấy đau ḷng trong nhiều năm
tiếp theo. Ông đă chấp nhận nhiều hy sinh đối với bản thân ông để cho tất cả
chúng tôi được học hành tử tế hơn ông. Sau khi ông về hưu th́ tôi đă nghĩ tới
chuyện đưa ông qua Pháp du lịch một ṿng, điều mà ông mơ ước suốt đời. Nhưng ông
đă lặng lẽ qua đời trước khi tôi có thể giúp ông thực hiện giấc mơ đó. Tôi luôn
luôn ân hận về điều này và cho tới hôm nay tôi vẫn c̣n cảm thấy có lỗi mỗi khi
nghĩ tới cha tôi. Trong hơn hai mươi năm, mỗi lần tới dịp kỵ giỗ ông hàng năm,
tôi đều khóc. Tôi vẫn thường bày ra cúng vái ông nhiều lần trong năm mặc dù
thông thường chỉ cần mỗi năm một lần thôi. Cha tôi luôn luôn có ảnh hưởng tốt và
sâu đậm trong cách xử thế của tôi, và ảnh hưởng đó c̣n lớn hơn sau khi ông mất.
Mỗi khi tôi muốn làm điều ǵ tôi đều tự hỏi cha tôi có làm vậy hay không, và kư
ức về sự chân thật và chính trực của ông luôn luôn cho tôi can đảm và sức mạnh
để đi đúng đường, bất chấp những khó khăn trong sự nghiệp của tôi.
V. Sự nghiệp quốc tế đầu tiên
Tháng 8/1964 tôi đưa cả gia đ́nh tôi qua Pháp. Sau đó ít lâu tôi được phái đoàn
Ngân hàng Thế giới (World Bank) ở Tokyo phỏng vấn và tuyển dụng làm Chánh sự vụ
ở IFC trong Ngân hàng Thế giới. Tôi rời Việt Nam tháng 2/1965 để nhận công việc
ở World Bank. Gia đ́nh tôi ở Pháp đi theo tôi tới Washington D.C và chúng tôi đă
được sống sung sướng một thời gian. Lợi tức của tôi tăng lên đáng kể với công
việc mới, lương mỗi năm 22.000 đô-la, khỏi thuế, tương đương với 250.000 đô-la
trước thuế – tính theo giá đô-la năm 2004 (vào thời điểm ấy, chiếc xe Mercury
đầy đủ tiện nghi máy móc, tôi mua chỉ với giá 2.000 đô-la thôi, bây giờ phải hơn
25.000 đô-la). Washington cũng đẹp hơn Sài G̣n nhiều. Tôi rất thích công việc
mới này – tôi phụ trách ngân hàng phát triển trong các quốc gia nói tiếng Pháp.
Với những kinh nghiệm cần thiết đă có sẵn và với ḷng nhiệt thành, tôi bắt đầu
công việc ở IFC rất tốt dù dưới quyền một con người rất khó tánh – Tổng giám đốc
điều hành Martin Rosen đă nói và viết ra trên giấy khen khi tôi rời chức vụ.
Nhưng tôi cũng không thoát khỏi một cảm giác mơ hồ là đă rời bỏ quê hương trong
lúc khó khăn. Mỗi khi có một chính phủ mới lên cầm quyền th́ từ Sài G̣n, bạn bè
và quan chức nhà nước đều nhắn tôi trở về phục vụ tổ quốc. Tháng 9/1965 phái
đoàn Việt Nam dự hội nghị thường niên IMF-IBRD đă tiếp xúc với tôi và cho tôi
biết chính phủ đang dự định mời tôi về đứng đầu Ngân hàng Trung ương Việt Nam.
Họ nói tôi phải về phục vụ đất nước v́ chính phủ mới, tỏ ra có năng lực hơn các
chính phủ trước kia và Việt Nam có lẽ sẽ có được một giai đoạn ổn định chính trị
và an ninh xă hội. Họ cho biết viên Thống đốc hiện nay, vốn mới được bổ nhiệm
cách đây vài tháng, đă tỏ ra thiếu năng lực và quan tâm tới chính trị nhiều hơn
là tới công việc ngân hàng.
Tướng Nguyễn Cao Kỳ, người vừa được hội đồng tướng lănh chỉ định làm Thủ tướng
đă sai đại sứ ở Washington Vũ Văn Thái tới gặp tôi và thuyết phục tôi về nước
giúp cho chính phủ mới. Thời gian đó chính quyền Mỹ cũng đặt quyết tâm giành
chiến thắng. Tổng thống Johnson dự định gởi 500 ngàn quân qua chiến trường Việt
Nam. Đại sứ Mỹ ở Sài G̣n nói với ông là Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ cần có một
chuyên viên hàng đầu để điều hành kinh tế nhằm giúp ông ta chỉ tập trung toàn bộ
vào việc chiến đấu. Bộ Ngoại giao Mỹ và những viên phụ tá của Johnson nói với
ông rằng tôi rất nổi tiếng về việc điều hành kinh tế tài chánh ở cả trong lẫn
ngoài nước và tôi có thể đóng vai tṛ của người chuyên viên ấy. Tổng thống
Johnson chỉ thị cho Bộ Ngoại giao và những người phụ tá tiếp xúc tôi và thuyết
phục tôi trở về phục vụ; tôi trả lời là tôi sẽ chỉ về nếu tôi được hứa giúp
những yêu cầu cần thiết – và không giới hạn: để cải thiện t́nh h́nh kinh tế Việt
Nam ngay giữa ḷng chiến tranh, tôi sẽ chỉ phục vụ quyền lợi của đất nước tôi
thôi; tôi phải có kế hoạch ổn định của riêng tôi và được tự do vạch những phương
pháp điều hành độc lập. Tôi cũng nói, chắc họ đă biết tính thẳng thắn, sự nghiêm
nhặt và những phương pháp điều hành cứng rắn của tôi. Đại diện Bộ Ngoại giao Mỹ
Peter Ferguson, và những tay phụ tá toà Bạch Ốc bảo đảm với tôi rằng tôi sẽ được
hoàn toàn tự do làm việc; được hỗ trợ toàn diện từ phía toà Bạch Ốc, và sẽ có
tất cả những tài nguyên cần thiết. Các sứ giả Việt Nam của tướng Kỳ cũng nói là
tôi sẽ được toàn quyền hành động trong lănh vực của tôi và chính phủ sẽ hỗ trợ
toàn diện.
Cùng lúc đó toà Bạch Ốc đă nhắn vị Chủ tịch Ngân hàng Thế giới, ông Wood, yêu
cầu để tôi đi, nhưng tôi vẫn thấy ḷng do dự bởi tôi có cảm giác tướng Kỳ là một
tay cao bồi và tôi thấy ḿnh không đủ kính trọng ông ta để làm việc dưới quyền
của ông. Đối với tôi Kỳ là một vị tướng tánh t́nh sôi nổi, một người mới bắt đầu
vào làng chính trị và một nhà lănh đạo chưa có ư thức tổng quát về các vấn đề
kinh tế mà những nguyên thủ quốc gia bắt buộc phải có. Tôi không muốn cột sự
nghiệp của ḿnh trong thời điểm khó khăn như thế này vào một chính phủ có thể
không đứng vững; tôi cần phải được thuyết phục rơ ràng là với chính phủ của Kỳ
tôi có thể làm được việc để phục vụ đất nước.
Mặc dù rất thương yêu đất nước, tôi vẫn phân vân không biết miền Nam có sống qua
được cuộc chiến tranh. Trở về nước trong một giờ phút nguy kịch như thế này là
một việc rất phiêu lưu và rất nguy hiểm và tôi không thể biết chắc là với những
sự hỗ trợ của cả hai chính phủ Việt Nam và Mỹ như vậy có làm thay đổi được ǵ
trong bầu không khí ảm đạm và đầy thất vọng của dân chúng; những cuộc tấn công
của du kích quân xảy ra hầu như mỗi ngày, càng lúc càng táo bạo và càng gây
nhiều thương vong, mặc dù Mỹ đă tăng cường rất nhiều nỗ lực chiến tranh. Trong
đầu tôi diễn ra một cuộc xung đột giữa ư thức về trách nhiệm và ư thức về thực
tế, giữa t́nh yêu đất nước và mối bận tâm về t́nh thế, giữa trách nhiệm đối với
gia đ́nh và những đứa con nhỏ của tôi, với ước muốn phụng sự đất nước
và giúp đỡ dân chúng.
Quả là rất khó khăn cho tôi để quyết định. Tôi bị giằng xé giữa biết bao nhiêu
điều suy tính, tất cả đều chánh đáng như nhau. Trong lúc đó Kỳ chỉ thị cho các
sứ giả của ông mời tôi về làm một ṿng quan sát để thuyết phục tôi. Tôi chấp
nhận ư kiến này; để tôi có thể nhận định về toàn bộ t́nh h́nh cùng đánh giá năng
lực lănh đạo của Kỳ. Tôi về thăm Việt Nam và có một buổi nói chuyện rất lâu với
Kỳ. Tôi phải nói rằng mặc dù những điều không vừa ư trước kia, tôi vẫn rất có ấn
tượng về ḷng tận tuỵ chân thật của Kỳ đối với đất nước, sự thông minh và đầu óc
cởi mở của ông ta đối với các vấn đề kinh tế tài chánh. Ông ta nói với tôi là đă
nghe nhiều về khả năng chuyên môn của tôi cũng như sự liêm khiết và thẳng thắn
của tôi, không những từ phía Việt Nam mà từ cả phía người Mỹ, ông ta hoàn toàn
tin tưởng nơi tôi và trông cậy vào khả năng của tôi để thực hiện những điều tốt
đẹp cho đất nước vào giai đoạn khó khăn này. Tôi phải nói rằng sau này ông ta
vẫn luôn luôn giữ lời hứa.
Sau nhiều đêm không ngủ và tham khảo ư kiến với vợ tôi, tôi quyết định về nước.
Tháng 11/1965 sau khi đưa gia đ́nh tới thành phố Nice ở Pháp, tôi bay về Việt
Nam. Tôi được trả 600 USD mỗi tháng để cấp dưỡng cho gia đ́nh ở Pháp, trong khi
chờ đợi tôi trở về Mỹ tiếp tục công việc ở Washington. Tôi hạ cánh xuống Sài G̣n
vào một ngày nắng đẹp, và khi tôi bước ra khỏi máy bay, tôi thấy toàn bộ nhân
viên cao và trung cấp của Ngân hàng Trung ương đang chờ đón tôi ở trong pḥng
khách VIP. Khi nh́n thấy lại quang cảnh quen thuộc bao quanh phi trường, ḷng
tôi đầy xúc động và tôi cảm thấy dâng lên một ư thức trách nhiệm sâu sắc. Nguyễn
Xuân Oánh, viên Thống đốc cũ đă rời ngân hàng không bàn giao công việc,
không một lời từ giă, cũng giống như cung cách của Thúc năm 1956 khi anh ta bị
Diệm sa thải. Tại sao những con người có học như Oánh và Thúc lại có thể xử sự
như vậy được. Anh ta đă để lại cho ngân hàng một đống hỗn độn. V́ đă hưởng mùi
vị quyền lực một vài ngày khi các viên tướng đang lo đánh nhau đưa anh ta lên
làm Thủ tướng tạm thời, anh ta cũng đâm ra ưa thích chính trị và có rất nhiều
tham vọng. Nhưng công việc ngân hàng th́ h́nh như chẳng hấp dẫn ǵ đối với anh
ta, và dĩ nhiên sự thiếu hiểu biết cũng như thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực
ngân hàng làm anh ta khó ḷng quản lư Ngân hàng Trung ương, sự hỗn độn trong
ngân hàng là từ đó mà ra.
Oánh điều hành Ngân hàng Trung ương như là một cơ quan tiếp tân ngoại giao
(public relations agency) và dùng nó làm một bàn đạp cho các tham vọng chính
trị. Trước khi rời ngân hàng, vào phút cuối cùng, anh ta đặt một văn pḥng đại
diện ở Paris để quản lư dự trữ ngoại tệ – làm cho nhân viên cao cấp của ngân
hàng sửng sốt – rồi anh ta giao văn pḥng này cho người bạn thân anh ta phụ
trách. Đây là một hành động rất bất thường, v́ để ở trung ương mà quản lư th́ ít
tốn kém hơn, dễ dàng hơn và hợp lư hơn. Thành lập một văn pḥng ở Paris chỉ để
làm việc này là chuyện phi lư, trừ khi anh ta và bạn anh ta có một động cơ nào
khác không nói ra được, nhất là khi tất cả các sở ở trung ương đều phải có nhân
viên đại diện của sở tổng kiểm soát, mà văn pḥng Paris không có kiểm soát viên,
nên nhiều người nghi ngờ rằng việc đầu tư dự trữ ngoại tệ cho đất nước không
phải là mục đích chính của họ. Nói ǵ th́ nói, văn pḥng này làm cho ngân hàng
tốn kém rất nhiều vừa về phương diện bố trí nhân viên vừa về vấn đề tiền bạc bố
trí văn pḥng. V́ vậy với sự đồng ư của hội đồng quản trị, tôi quyết định đóng
cửa. Người ta cho tôi hay là cả Oánh và bạn anh ta, đều căm tức quyết định này.
Oánh th́ đă sẵn ác cảm với tôi sau hai lần gặp trước đây v́ ganh ghét với sự
nghiệp của tôi, và bạn anh ta cũng chẳng mấy thiện cảm sau một thời gian ngắn
làm việc dưới quyền của tôi tại Ngân hàng Việt Nam Thương tín. Khi Ernest
Lederer tới Việt Nam để thu thập dư luận, lượm lặt những tin tức đồn đại, những
chuyện ngồi lê đôi mách ở các quán bar và các tiệm cà phê – nơi những người
chống chiến tranh và phe phái đối lập gặp gỡ nhau hàng ngày – để viết một cuốn
sách nhằm làm mất uy tín chính sách Việt Nam của Tổng thống Johnson, th́ Oánh và
Lê Phát Đạt, một nhân viên cũ của ngân hàng đă gặp anh ta và buộc tội tôi gian
lận trong việc xử lí dự trữ ngoại tệ, điều mà đúng ra, lại là chính mục đích
thầm kín của họ khi mở văn pḥng đại diện ở Paris! Ai lại không tin một cựu
Thống đốc, và một Nghị sĩ, nhân viên cũ của ngân hàng? Nhưng cả hai người này
đều cùng nuôi ḷng đố kỵ tôi, một người v́ ganh tị vấn đề nghề nghiệp và người
thứ hai th́ v́ công việc kém, nhưng rất hống hách nên phải ra đi.
Lê Phát Đạt đă từng làm việc dưới quyền tôi, phụ trách sở ngoại vụ tại ngân
hàng. Anh ta làm việc không giỏi, anh ta thường mang hồ sơ tới gặp tôi để xin
chỉ thị và hướng dẫn cách giải quyết công việc của anh ta. Anh ta chưa bao giờ
được đào tạo về ngân hàng. Nhưng anh ta rất hống hách, đặc biệt đối với nhân
viên dưới quyền, đến nỗi một nhân viên đă cạo đầu như các nhà sư để phản đối
cách cư xử hách dịch của anh ta. Người này đi khắp ngân hàng, tới tất cả các nơi
có nhân viên tụ họp, tŕnh diện cái đầu trọc để nhắc toàn thể nhân viên về
sự hống hách của Đạt, làm không ai nhịn cười được khi nh́n thấy một nạn nhân bị
cạo sạch đầu của Lê Phát Đạt! Mặc dù thiếu năng lực về ngân hàng, Đạt rất nhiều
tham vọng và muốn được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc, v́ hai vợ chồng anh ta đă
từng là bạn thân với vợ tôi; nhưng đối với tôi, bạn hay không bạn, khi một nhân
viên không đủ năng lực, tôi không thể thăng chức.
Sau đó Đạt vào được quốc hội. Vào lúc đó ở Nam Việt Nam không có nền dân chủ
thật sự v́ dân chủ thật sự đ̣i hỏi một tŕnh độ ư thức chính trị trưởng thành ở
trong dân chúng mà người Việt Nam chưa có. V́ vậy mà Thiệu đă đưa một hệ thống
bầu cử được áp dụng ở Nam Mỹ về dùng. Không có bầu "một người một phiếu, một ứng
cử viên một phiếu" như trong một cơ cấu dân chủ thật sự. Hệ thống được Thiệu áp
dụng dựa trên một liên danh ứng cử 10 người, mà đứng đầu thường là một chính trị
gia tên tuổi. Cử tri không cần biết từng người một trên danh sách liên danh và
sẽ bầu cho cả liên danh khi họ bỏ phiếu cho người đứng đầu. V́ vậy mà người dân
đi bầu thường chỉ chọn liên danh này hay liên danh kia v́ họ biết người đứng
đầu, chứ họ không nhắm bầu cho chín người c̣n lại v́ họ không biết; nhưng khi
người đứng đầu danh sách được bầu th́ chín người kia cũng theo ông ta mà vào
quốc hội. Nếu họ đều là những người đàng hoàng th́ liên danh này có thể chấp
nhận được và quốc hội sẽ có những thành viên khả dĩ. Nếu không th́ chúng ta có
thể thấy chất lượng của các nghị sĩ cũng như quốc hội kém cỏi như thế nào.
Thường người ta vào trong một liên danh ứng cử không phải v́ các chủ trương hay
lư thuyết chính trị. Người ta vào v́ tiền, v́ quyền lực, v́ uy tín, v́ tham vọng
và thường th́ v́ có cơ hội làm ăn; ít khi người ta vào để phục vụ đất nước.
Trong trường hợp của Lê Phát Đạt th́ được cha vợ của anh ta là người rất xứng
đáng, đứng đầu danh sách, c̣n Đạt là chính trị gia chưa tập sự. Cử tri đă bỏ
phiếu bầu cho cha vợ anh ta là người có tiếng tăm và anh ta cùng mấy người kia,
như một cái đuôi theo ông vào trong ngành lập pháp. Nhưng anh ta rất tự cao và
luôn luôn khoe khoang trước công chúng hay trong các nhóm riêng. Anh ta hống
hách đến nỗi anh ta trở về ngân hàng đ̣i hưởng quyền mua một căn nhà dành cho
các thành viên lâu năm, cái quyền không c̣n thuộc về anh ta nữa v́ anh ta đă từ
chức! Anh ta cũng đ̣i được sáp nhập trở lại vào danh sách hưu bổng của ngân hàng
mà tôi đă thành lập cho các nhân viên với những điều kiện rất hậu hĩnh, mà anh
đă rút ra khỏi khi từ chức. Anh ta cứ nghĩ rằng v́ là bạn của gia đ́nh, anh ta
sẽ được ưu đăi đặc biệt. Không có một lư do nào chính đáng nào trong các đ̣i hỏi
của anh ta và tôi rất ngạc nhiên là anh ta dám đ̣i những đặc quyền như vậy. Tuy
nhiên đối với tôi, th́ bạn hay không bạn, khi không có tư cách để hưởng quyền
lợi, th́ đ̣i hỏi vô ích. Dĩ nhiên là chính tôi từ chối bởi v́ người phụ trách
phần việc, viên Giám đốc hành chánh, không dám từ chối anh ta, ngại cái tít Nghị
sĩ và tính hống hách của anh ta. Và dĩ nhiên là anh ta rất tức giận và công khai
chỉ trích tôi bất cứ khi nào có cơ hội, mặc dầu quan điểm của anh ta hoàn toàn
trái luật. Một ngày kia khi anh ta biết tin là tôi đang gởi thơ lên Tổng thống
Thiệu xin từ chức để trở về lại Ngân hàng Thế giới (World Bank), anh ta lên diễn
đàn quốc hội và trước sự sững sờ của các nghị sĩ, tố cáo việc quản lí của tôi ở
ngân hàng, kê ra nào là bán nhà tự do cho nhân viên, trợ cấp hưu bổng rộng răi
và bảo hiểm y tế rất hậu cho nhân viên, buộc tội tôi là quản lư sai dự trữ ngoại
tệ và tài sản ngân hàng. Tất cả các nghị sĩ đều sửng sốt. Rất nhiều người tuy
không yêu thương ǵ tôi nhưng kính trọng năng lực và sự liêm khiết của tôi; họ
cũng đều biết công tác kém cỏi của Đạt trong ngân hàng ngày trước. Cha vợ của
anh ta bị sốc đến nỗi ông đă bỏ ra khỏi pḥng họp, rồi sau đó nói cho anh ta hay
là ông xấu hổ v́ Đạt đă chỉ trích một cách bất công và xấu xa một người bạn; tôi
cũng được nghe một số bạn bè chung kể là vợ anh ta cũng giận anh ta đến nỗi cô
đă doạ ly dị. Tôi gọi ông già vợ anh và cho ông hay cuộc viếng thăm của Đạt tại
ngân hàng và những sự đ̣i hỏi vô lư của anh ta. Tôi doạ sẽ viết thư cho Chủ tịch
Thượng nghị viện về các sự đ̣i hỏi hống hách của Đạt; ông già vợ anh ta xin lỗi
tôi, nên tôi bỏ qua chuyện gởi thư cho Chủ tịch Thượng viện. Đạt rất nể gia đ́nh
vợ v́ chính họ tạo cho anh ta công ăn việc làm; sau đó anh ta có nép ḿnh đi đôi
chút. Nhưng anh ta rất sung sướng khi gặp Ernest Lederer để cùng với Nguyễn Xuân
Oánh phá hại tôi. Sau khi trốn thoát được qua Mỹ, với cái chết của cha vợ và căn
bệnh nặng của người vợ, anh ta lại chỉ trích tôi dữ dằn hơn trước, bất cứ dịp
nào, bất cứ lúc nào.
Với việc tái tổ chức lại ngân hàng lần thứ hai từ trên xuống dưới, tôi khôi phục
lại được uy tín và cải thiện được tư thế của nó; đặc biệt là tôi đă nâng cao vai
tṛ của nó trong việc lập chính sách kinh tế tài chánh cho chính phủ. Từ đây trở
đi cho tới ngày tôi từ chức năm 1968 để trở về Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng
Quốc gia Việt Nam đă trở nên một người cố vấn rất quan trọng đối với chính phủ
và là một tác nhân hàng đầu trong chính sách tổng quát của chính phủ trên các
lănh vực kinh tế tài chánh, nhiều khi c̣n vượt cả phạm vi hoạt động và ảnh hưởng
của ngân hàng. Điều này cũng có nghĩa là tăng thêm rất nhiều hoạt động cho ngân
hàng và tăng mạnh các công việc của tôi, nhưng tôi không ngại phải làm việc
nhiều hơn và nhận nhiều trách nhiệm hơn v́ ích lợi của ngân hàng và quyền lợi
của quần chúng. Nói cho cùng tôi đă chấp nhận những thiệt tḥi lớn về tài chánh
khi trở về làm việc giúp đất nước, th́ tôi không ngại ǵ mà làm việc ngày đêm.
Trong suốt thời gian này tôi được Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ mời tham dự các buổi
họp nội các bàn về các vấn đề kinh tế tài chánh. Tôi cũng thường được Kỳ và các
Tổng trưởng liên quan yêu cầu cho ư kiến và đề nghị chánh sách và phương án giải
quyết những vấn đề khó khăn; chính phủ thường chấp nhận các ư kiến và các đề
nghị của tôi. V́ lư do đó tôi rất thận trọng khi làm việc và hợp tác chặt chẽ
với Trần Văn Kiện, Tổng trưởng Tài chánh, và Trương Thái Tôn, Tổng trưởng Kinh
tế. Kiện là một người rất tốt và rất dễ thương, nhưng lại quá dễ dăi. Anh ta là
người của đảng Đại Việt và được Phan Huy Quát, thủ lănh đảng Đại Việt đưa vào
chính phủ Kỳ. Tôn là một kỹ sư nông nghiệp cũng là một người dễ thương và lịch
thiệp, có quan hệ ngoại giao rộng nhưng cũng không phải là nhà kinh tế giỏi; anh
ta có thể quán xuyến công việc thường lệ nhưng không thể hoạch định những vấn đề
chính sách. Tôi giúp Kiện và Tôn bằng mọi cách, nhiều nhất là trong việc nghiên
cứu và vạch chính sách cho họ. Đóng một vai tṛ tích cực trong việc hoạch định
chính sách và dành một vị trí ưu thế cho ngân hàng, tôi đă góp phần ấn định một
phương hướng tổng quát cho nền kinh tế tài chánh của đất nước.
Tôi cũng hợp tác chặt chẽ với Giám đốc cơ quan USAID Mỹ (U.S. Aid Agency) Donald
Mc Donald và Cố vấn Kinh tế của toà đại sứ Mỹ, Roy Wherlee. Họ thích xử lư với
tôi các vấn đề kinh tế tài chánh mà lẽ ra là phải được Tôn và Kiên xử lư, bởi v́
họ biết rơ ảnh hưởng của tôi đối với nội các và các vị Tổng trưởng liên quan.
Nhưng trên hết họ đánh giá cao cách làm việc của tôi bởi v́ công việc của họ
được giải quyết hay quyết định dứt khoát, mau lẹ trong khi họ không thể dễ dàng
làm được như vậy với các Tổng trưởng thường hay ngập ngừng do dự.
Để công việc được dễ dàng và thu được nhiều kết quả tốt hơn khi hợp tác với họ,
tôi duy tŕ sự tiếp xúc thường xuyên với các Đại sứ Mỹ, Pháp, Úc, Nhật và Trung
Hoa, chiêu đăi họ rất thịnh soạn. Về phía người Mỹ, tôi thường chiêu đăi tại nhà
tôi đại sứ Ellsworth Bunker cùng bà Bunker vợ ông – bà ta là Đại sứ Mỹ tại
Nepal. Hai ông bà Bunker cũng thường mời tôi cùng họ đi thăm xứ sở Nepal bằng
máy bay riêng của họ, nhưng tôi không có đủ thời gian cho việc này. Về sau tôi
cứ tiếc đă để mất cơ hội thăm một quốc gia mà sau này tôi sẽ đại diện tại hội
đồng quản trị Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Cùng với Đại sứ Bunker tôi cũng thường mời
Robert Komer, phó Đại sứ Mỹ đặc trách chương tŕnh b́nh định và là người đại
diện không chính thức của toà Bạch Ốc ở Sài G̣n, tướng Westmoreland, tổng tư
lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam và sau này người kế nhiệm ông, tướng Abrams. Pḥng
ăn của tôi nổi tiếng những thức ăn ngon và điều này giúp tôi rất nhiều trong các
mối quan hệ ngoại giao. Tôi cũng thường chơi tennis với Robert Komer, nhưng tôi
không t́m ra ai để cùng tôi chơi trượt ván nước.
Tôi thường nói với những người đối tác bên phía Mỹ và bộ chỉ huy quân sự Mỹ rằng
500 ngàn du khách (đó là con số lính Mỹ tại Việt Nam) lương mỗi tháng 600 USD
mỗi người, là một gánh quá nặng đối với một nền kinh tế bé nhỏ như Việt Nam nếu
họ được phép tiêu xài thả cửa trên thị trường bản địa; điều đó sẽ tạo ra một áp
lực khổng lồ trên mặt cung ứng sản phẩm và tỉ lệ lạm phát sẽ bùng nổ theo một
chiều hướng tệ hại. Tôi cực lực yêu cầu những người lính Mỹ chỉ được tiêu xài
trong phạm vi căn cứ của họ, và phải được cách li khỏi nền kinh tế Việt Nam.
Việc lính Mỹ xài quá nhiều tiền trong khi sống giữa một khối dân chúng nghèo
khổ, cùng với việc họ công tác bên cạnh những người lính Việt Nam sống một đời
cực nhọc nguy hiểm mà lương mỗi tháng chỉ 20 USD cho cả nhà gồm có tới chín,
mười người sẽ gây nên một vấn đề xă hội, chính trị hết sức đáng quan ngại. Trong
những chuyến đi thị sát ở thôn quê, tôi thường nghe lính tráng Việt Nam so sánh
đời sống của lính Mỹ với lính Việt, về việc lính Mỹ ngoài 600 USD mỗi tháng c̣n
có tất cả mọi tiện nghi khác như được tắm ngay trong rừng sau trận đánh, ăn thịt
ngỗng trong ngày lễ Tạ Ơn, bánh ngọt trong dịp lễ Giáng Sinh. Đó rơ ràng là
không công bằng đối với người lính Việt Nam và họ thường nói với nhau cứ để bọn
Mỹ đi đánh nhau và chết thay cho họ! Điều này là một vấn đề chính trị kinh tế xă
hội rất quan trọng, phải được chính Thủ tướng và các Tổng trưởng có liên quan
lưu tâm tới. Nhưng v́ không ai muốn gánh lấy trách nhiệm nên tôi phải gánh luôn
cái gánh nặng giải quyết và đưa ra những phương án hợp lí cho mỗi cơ quan. Điều
này không phải dễ dàng, đôi khi tôi bị mắc kẹt giữa các phe phái đối nghịch
nhau.
Quân đội Mỹ và những nhân viên dân sự làm việc cho họ nhận tiền lương bằng loại
tiền MPC mà người Tàu và người Việt gọi là đô-la đỏ; họ được
khuyến cáo để những đồng đô-la xanh ở nhà, chỉ dùng đồng MPC trong các căn cứ
của họ. Việc lưu hành đồng đô-la đỏ được giới hạn trong các căn cứ Mỹ và tại các
khu quân tiếp vụ, nơi cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho lính Mỹ; nhưng chúng tôi
không thể ngăn chặn được đồng đô-la đỏ tràn vào nền kinh tế Việt Nam qua những
cô gái bán bar và đám người làm ăn với Mỹ. Lẽ tự nhiên điều này tạo ra một khối
lượng khổng lồ nạn chợ đen, đầu cơ và làm bạc giả. Phải ngăn chặn t́nh trạng
này. V́ vậy mặc dù có sự phản đối của binh lính Mỹ và những nhân viên dân sự Mỹ,
tôi vẫn nói với bộ tư lệnh quân sự Mỹ nên thỉnh thoảng đổi đồng MPC một cách bất
ngờ, không báo trước. Bộ tư lệnh Mỹ tuy thường hay ngần ngại nhưng đôi khi cũng
đồng ư và tổ chức những đợt đổi tiền đô-la đỏ chớp nhoáng. Đám chợ đen, đầu cơ
và kinh doanh bất hợp pháp thường bị chưng hửng trong khi làm ăn và có thể mất
một số tiền lớn. Đó là h́nh phạt mà tôi muốn dùng để dân chợ đen, chợ đỏ sợ mà
tránh xa thị trường buôn bán đô-la đỏ.
Đánh hơi thấy một cơ hội lớn để kinh doanh trong một cộng đồng đông đúc người Mỹ
như vậy, một số lớn những tay kinh doanh Mỹ đă tới Việt Nam và làm giàu bằng
cách cung cấp dịch vụ cho đám lính GI Mỹ. Nhiều người trong bọn họ cung cấp hàng
chợ đen, các cuộc giải trí bất hợp pháp (thoát y vũ, mại dâm, ma tuư) bán đồng
đô-la xanh, mua đô-la đỏ và tiền Việt Nam trong các thị trường đổi tiền bất hợp
pháp; họ giàu lên rất lẹ và đồng thời gây nên nhiều xáo trộn trong thị
trường hoán đổi tiền tệ. Toà đại sứ Mỹ không thể làm ǵ được để ngăn chặn những
hành động bất hợp pháp tai hại như vậy. Họ nói với tôi rằng nhân viên toà đại sứ
đă trao đổi với Bộ Nội vụ, Bộ chỉ huy Cảnh sát Quốc gia Việt Nam nhưng không bao
giờ được trả lời. Nhân viên chính phủ Việt Nam không muốn bị dính líu vào những
chuyện này, có lẽ v́ họ không hiểu bao nhiêu về ảnh hưởng đối với nền kinh tế
đất nước và cũng v́ họ không muốn đụng tới công việc của người Mỹ, điều có thể
gây rắc rối cho đời sống và công việc của họ mà không lợi lộc ǵ. Cơ quan Điều
tra H́nh sự (CID) của toà đại sứ Mỹ cung cấp cho tôi một danh sách những người
Mỹ và công dân các nước thứ ba có dính líu vào các hoạt động bất hợp pháp cùng
thông tin về các hoạt động của họ. Theo lệnh của Đại sứ Mỹ, cơ quan CID đă cấp
cho tôi rất nhiều thông tin hữu ích, và rất nhiều lần, về các hoạt động mua bán
ma tuư; thậm chí họ – cơ quan CID – c̣n mua cho tôi cả những bản kê các trương
mục bí mật ở các ngân hàng Thuỵ Sĩ và cho tôi thông tin về số tài khoản của một
vài thành viên trong chính phủ Việt Nam. Có một Bộ trưởng bị dính vào với một
trương mục thật lớn ở Thuỵ Sỹ; tôi định đưa cho toà án để giải quyết tương tự
như một người Trung Hoa ở Chợ Lớn cũng bị bắt và đang ngồi tù. Nhưng Kỳ sợ tai
tiếng cho chánh phủ, nên bảo tôi phạt thật nặng là đủ. Tôi đưa hồ sơ cho Viện
Hối đoái và anh ta bị phạt 300 %.
Sau đó cứ mỗi tháng toà đại sứ lại cung cấp cho tôi cả danh sách của những người
Mỹ t́nh nghi phạm tội. Khi tôi đă có đủ thông tin chắc chắn để thành lập một cáo
trạng, tôi kư một văn bản yêu cầu trục xuất những người Mỹ và những công dân các
nước thứ ba, và viên Giám đốc cảnh sát Sài G̣n-Chợ Lớn, một người bạn quen biết
từ lâu, sẵn ḷng trục xuất cho tôi. Công việc này không phải của tôi, của chánh
phủ, của Bộ Nội vụ và của cảnh sát, nhưng buồn thay, không một ai dám làm v́ sợ
đụng chạm đến người Mỹ, rất nguy hiểm. Nhưng đối với tôi bảo vệ nền kinh tế của
đất nước là một vấn đề rất quan trọng, tôi phải làm.
Tất cả những người bị trả lại về nước, thường không dám quay lại Việt Nam;
họ tiếp tục việc làm ăn của họ từ Hồng Kông, Singapore hay Băng Cốc, nhưng cũng
có một vài người trở lại trên những chiếc máy bay quân sự đưa những người lính
GI Mỹ từ các chương tŕnh nghỉ ngơi giải trí trở về. Một người đặc biệt ĺ lợm
cũng trở lại Việt Nam theo cách này qua Pleiku và tới Sài G̣n. Y tới văn pḥng
người phụ tá đặc biệt của tôi, cô Kiều Dung, một người phụ tá tuyệt vời trong
ban tham mưu của tôi; trong khi tôi đang bận tiếp khách; y đe doạ đạp cửa xông
vào giết tôi. Y hơi "xỉn" v́ vậy Kiều Dung báo động được ngay cho người phụ
trách an ninh ngân hàng; người này lên tóm y giao cho Đại tá Nguyễn Văn Luận,
Giám đốc cảnh sát Sài G̣n-Chợ Lớn, một người bạn thân và bạn đi săn của tôi. Đại
tá Luận tống anh ta lên chuyến máy bay đầu tiên rời khỏi Việt Nam và bảo anh ta
đừng có bao giờ trở lại; nếu không anh ta sẽ bị tống vô ngục. Sau sự cố này, tôi
gọi điện cho toà đại sứ Mỹ yêu cầu ra lệnh cho tất cả các chuyến bay quân sự vào
Việt Nam không được nhận hành khách không có giấy tờ hợp lệ.
Đối với các vấn đề kỷ luật tài chánh và quản lí kinh tế như vậy, tôi được sự hỗ
trợ hoàn toàn của toà đại sứ Mỹ và bộ tư lệnh quân sự Mỹ, nhưng thái độ thẳng
thắn và việc bảo vệ các quyền lợi quốc gia một cách kiên quyết của tôi đă làm
bực bội một số viên chức Mỹ và thỉnh thoảng tôi có chuyện khó khăn với họ cũng
nhiều khi như họ có chuyện với tôi. Họ thường nói với nhau tôi là một tên khốn
kiếp (son of bitch – một lối nói quen thuộc của người Mỹ) rất dai, rất ĺ, nhưng
cũng là một người rất tận tuỵ, một tay chuyên môn và một tay hành động có cỡ
(doer); chẳng thà làm việc với y (tức là tôi) với sự cứng rắn và hiệu quả của y
c̣n hơn làm việc với những người khác mềm mỏng hơn nhưng kém hiệu quả hơn nhiều.
Trong con mắt của các quan chức Mỹ tôi là một trong số ít quan chức cao cấp của
Việt Nam có khả năng quyết định mau chóng và hiệu quả, và họ luôn luôn tới tôi
bất cứ khi nào họ cần câu trả lời hoặc một quyết định mau lẹ, ngay cả trong
những trường hợp hơi ngoài quyền hạn của tôi.
Tôi cần người Mỹ hỗ trợ trong công việc bởi v́ Việt Nam cần sự trợ giúp của Mỹ
để ổn định và phát triển kinh tế khi đang theo đuổi chiến tranh; nhưng tôi là
một người Việt Nam tự hào về tổ quốc ḿnh nên tôi không chấp nhận bất cứ ai xen
vào phương thức làm việc của tôi và vi phạm pháp luật Việt Nam. Tôi có quan điểm
của tôi về quyền lợi của đất nước và tôi sẽ bảo vệ quyền lợi ấy một cách quyết
liệt. Tôi rất kiên định trong những điều mà tôi tin tưởng là tốt cho dân và đất
nước tôi và tôi chỉ đề nghị hoặc chấp nhận những biện pháp mà tôi thấy ích lợi
nhất. Những nguyên tắc không khoan nhượng này đă làm nhiều người bạn Mỹ của tôi
nổi giận. Charlie Mann là một người bạn cũ từ giai đoạn đầu tiên của chương
tŕnh viện trợ Mỹ ở Việt Nam, đầu những năm 50. Anh ta là Giám đốc phái đoàn
USAID khi tôi trở về Việt Nam năm 1965. Chúng tôi cùng nhau làm việc trong một
bầu không khí thân thiện, nhưng Charlie không có năng lực trong lănh vực tiền
tệ; anh thường không thích những quan điểm của tôi, nhất là quan điểm chống phá
giá đồng Việt Nam của tôi, nhưng tôi không chịu nhượng bộ v́ tôi tin rằng anh ta
đương nhiên quan tâm tới quyền lợi của Mỹ hơn quyền lợi Việt Nam. Một ngày kia
anh ta tới pḥng tôi và khẩn khoản yêu cầu một điểm mà tôi đă từ chối nhiều lần
trước đó. Anh ta rất giận và đă phạm sai lầm là nói ra cái mà có lẽ anh ta luôn
luôn nghĩ trong đầu: “bọn Việt Nam lúc nào cũng cứng đầu”. Tôi đứng dậy bước về
phía cửa và mời anh ta ra ngoài, không nói một tiếng. Rồi tôi gọi điện cho phó
Đại sứ Mỹ là Alexis Johnson nói rằng từ nay trở đi tôi không muốn làm việc với
Charlie Mann nữa và tôi giải thích lư do v́ sao. Tôi không bao giờ nói chuyện
trở lại với Charlie; một tháng sau anh ta được thuyên chuyển về Mỹ. Về sau khi
tôi trở lại Mỹ làm việc cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF tôi cố t́m Charlie Mann để
nối lại t́nh bạn ngày xưa nhưng anh ta đă được thuyên chuyển qua một nước châu
Phi và tôi không bao giờ gặp lại anh nữa. Đối với tôi công việc là công việc và
t́nh bạn là t́nh bạn, không thể lẫn lộn với nhau được. Một khi đă giải quyết
xong vấn đề quan điểm, th́ không nên để công việc xen vào mối quan hệ giữa người
và người.
Một câu chuyện tương tự cũng xảy ra với Roy Wherlee sau đó ít lâu. Roy là Cố vấn
kinh tế của toà đại sứ Mỹ. Chúng tôi làm việc chung với nhau rất hợp, nhưng một
ngày kia khó chịu v́ tôi cứ không chịu tán đồng quan điểm của Mỹ, anh ta đă nói
một vài lời xấc xược về chính sách của nhà nước Việt Nam. Tôi cám ơn anh ta,
chào từ biệt và nói anh ta đừng bao giờ gọi điện cho tôi hay gặp tôi nữa. Sau đó
không lâu Roy được thuyên chuyển về lại Washington và rời khỏi Bộ Ngoại giao.
Sau khi tôi trở về Mỹ để tiếp tục sự nghiệp ở nước ngoài chúng tôi lại chơi
với nhau trở lại. Đối với tôi khi bảo vệ quyền lợi của quốc gia th́ chúng ta
phải đứng thẳng nhưng sau khi xong công việc th́ chúng ta phải trở lại bạn bè,
đó luôn luôn là cách làm việc của tôi; nhưng nhiều người không thể tách rời công
việc khỏi t́nh bạn, và đôi khi họ mất một người bạn hoặc một mối quan hệ tốt v́
không đồng ư về những vấn đề hoặc nguyên tắc quan trọng. Chúng ta hay có thói
quen coi bất cứ sự khác biệt quan điểm nào như là một sự đối đầu cá nhân hay sự
sỉ nhục, và nh́n người trước mặt như kẻ thù trọn đời.
Robert Komer, phó Đại sứ Mỹ phụ trách b́nh định và cũng là người đại diện bán
chính thức của toà Bạch Ốc ở Sài G̣n, cũng làm việc rất mật thiết với tôi; nhờ
sự hỗ trợ của anh ta mà tôi đă đạt được một vài nhượng bộ lớn mà phía Mỹ đă hứa
trước khi tôi trở lại Việt Nam (tổng số viện trợ, chương tŕnh viện trợ đặc
biệt...). Anh ta rất thích ăn ở nhà tôi, cùng đi chơi với tôi và cũng hay đánh
tennis với tôi. Cứ mỗi năm chúng tôi lại thảo luận về chương tŕnh viện trợ kinh
tế tài chánh thường niên, và một vài điều trở nên rất khó đồng ư với nhau, một
trong những điều ấy là mức dự trữ ngoại tệ của Việt Nam. Quốc hội Mỹ muốn hạ nó
xuống c̣n 200 triệu USD, lấy cớ là chương tŕnh viện trợ cho Việt Nam vào thời
điểm đó đă quá lớn rồi. Chính quyền Mỹ và toà Bạch Ốc làm áp lực rất mạnh với
chính phủ Việt Nam để giảm nó xuống mức 250 triệu USD. Tôi thường nói cho Quốc
trưởng (Chủ tịch Uỷ ban lănh đạo quốc gia) Nguyễn Văn Thiệu và Thủ tướng (Chủ
tịch Uỷ ban hành pháp trung ương) Nguyễn Cao Kỳ biết rơ, nước nhà cần phải có ít
nhất là 300 triệu Mỹ kim để có thể giữ cho Việt Nam được một khoảng đệm trong số
dự trữ ngoại tệ và để chánh phủ có thể có một chánh sách độc lập khi có sự khác
biệt với quan điểm của Mỹ; v́ những lư do chính trị, Thiệu lẫn Kỳ đều dễ dàng
nhượng bộ về điểm này, nhưng tôi nhất định giữ vững quan điểm của tôi và từ chối
điều chỉnh chính sách của Ngân hàng Quốc gia để hạ xuống số dự trữ như chánh phủ
Hoa Kỳ muốn.
Tôi cũng đ̣i chương tŕnh PL480, vốn là một phần của toàn bộ chương tŕnh viện
trợ, phải được hoàn toàn dành riêng cho chính phủ Việt Nam sử dụng vào việc phát
triển kinh tế thay v́ để cho chính phủ Mỹ dùng cho các mục đích quân sự hay
chính trị. Hai điều này cùng với một số điều khác ít phức tạp hơn đă là đề tài
của nhiều cuộc tranh luận giữa Robert Komer và tôi tại toà Bạch Ốc trong chuyến
tôi qua thăm Washington, và cuối cùng không thể giải quyết bởi v́ tôi “giữ chặt
khẩu súng" của ḿnh.
Trong một chuyến đi Washington như vậy, chúng tôi đă tới thảo luận một lần với
Tổng thống Lyndon Johnson. Tôi rất ấn tượng về sự hiểu biết của ông đối với các
vấn đề bàn căi và vẻ uy quyền toát ra từ con người ông, nhưng tôi vẫn giữ vững
quan điểm của tôi và không chịu nhượng bộ một khoản nào hết. Chúng tôi chấm dứt
buổi thảo luận ở đó và khi tôi đứng dậy từ giă Tổng thống Johnson, Bob Komer nói
với ông nửa đùa nửa thật: “Thống đốc Hanh rất tử tế nhưng cũng rất cứng rắn. Mỗi
khi chúng tôi thương thuyết với nhau là ổng làm cho tôi mất quần”.
Một tuần sau tôi trở lại Sài G̣n và nhận được qua Bộ Ngoại giao một công hàm của
Bùi Diễm, Đại sứ Việt Nam tại Washington, chuyển một văn kiện do Robert Komer
gởi, với tiêu đề của toà Bạch Ốc ở phía trên, đề cập những điểm đă thảo luận tại
toà Bạch Ốc. Lá thư của Bùi Diễm ủng hộ quan điểm của Bob Komer và bày tỏ sự bất
măn về quan điểm của tôi. Tôi biết rằng anh ta cũng gởi một công hàm như vậy tới
Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ, đổ trách nhiệm việc cuộc thương thuyết bị tắt nghẽn cho
sự cố chấp của tôi.
H́nh như Bob Komer đă trông vào cái oai và uy tín của Tổng thống Johnson để ép
tôi nhượng bộ, nên anh ta rất thất vọng với thái độ không khoan nhượng của tôi.
Bây giờ anh ta lại định dùng áp lực cấp trên của tôi nhằm làm mềm yếu thái độ
của tôi. Anh ta không hiểu ǵ tôi cả! Các quan điểm và ư kiến của tôi đâu có
nghiêng ngửa dễ dàng như vậy được. Tôi gởi lại cho Bob Komer một bức thư cũng
mạnh mẽ không kém, thông qua toà Bạch Ốc và Bộ Ngoại giao Việt Nam. Trong một lá
thư gởi cho Đại sứ Việt Nam, tôi xác định lại niềm tin của ḿnh trong việc bảo
vệ quyền lợi đất nước và lấy làm tiếc cho quan điểm mềm yếu của ông ta và việc
ông ta đứng về phía chính quyền Mỹ. Sau đó tôi được biết Bùi Diễm đă gọi điện
cho Kỳ than phiền quan điểm và thái độ cứng rắn của tôi. Nhưng Kỳ không bao giờ
nói ǵ với tôi cả, cũng không than phiền thái độ của tôi.
Bây giờ tôi mới hiểu tại sao viên Đại sứ này được chính phủ Mỹ giúp, ngay cả sau
khi Nam Việt Nam bị mất. Và tôi mới hiểu được tại sao một số quan chức Mỹ đă t́m
cách ngăn chặn IMF thâu nhận tôi làm Cố vấn sau khi tôi trở lại Washington.
Chánh phủ Mỹ h́nh như biết rơ họ cần dùng ai, không cần dùng ai, mua được ai,
không mua được ai. Một cựu Tổng trưởng, thích mị dân, một thời gian trước khi
miền Nam thất thủ, đă có một vài tuyên bố nảy lửa chống lại người Mỹ để tạo
tiếng tăm chống Mỹ trong ḷng công chúng Việt Nam thời đó. Thế nhưng khi anh ta
qua Mỹ, anh ta đă nhận được sự hỗ trợ tích cực từ giới chức Mỹ khi đi t́m việc
làm. Tôi đoán được những ǵ đă xảy ra lúc trước chỉ là một tṛ diễn kịch. Trong
khi anh ta được người của USAID quan tâm nhiều như vậy th́ các viên chức Bộ
Ngoại giao Mỹ và những đối tác của tôi bên phía Mỹ, cũng như bạn bè người Mỹ của
tôi ở Việt Nam, đă xây lưng lại tôi sau khi Sài G̣n thất thủ. Một phó Tổng lănh
sự Mỹ đă từ chối không cấp visa nhập cảnh cho tôi vào Mỹ, sau chuyến tôi về thăm
Sài G̣n tháng 4/1975, ngay trước lúc Việt Nam sụp đổ – Thiệu đă yêu cầu tôi trở
về để xem có thể làm ǵ cho đất nước vào một thời kỳ nguy cấp như vậy không.
Viên phó lănh sự này tên là Oh, gốc Đại Hàn, đă nói với tôi rằng toà đại sứ
không biết tôi là ai.
Tôi mong sao Đại sứ Durbrow, Đại sứ Ellsworth Bunker, các phó Đại sứ Alexis
Johnson, Palmer, Robert Komer, các Cố vấn như Roy Wherlee, Giám đốc USAID Donald
Mc Donald v.v… có thể nghe được câu trả lời ngắn ngủi này. Sau nhiều năm làm
việc với toà Bạch Ốc, các Đại sứ, phó Đại sứ Mỹ và các Cố vấn đủ hạng ở toà đại
sứ, đây quả là một câu trả lời khôi hài – đó là nói ít nhất, nó giải thích tại
sao thế giới luôn luôn nh́n các nhà ngoại giao và chính sách ngoại giao của Mỹ
một cách nghi ngờ và không thiện cảm. Họ nghĩ rằng những nhà ngoại giao Mỹ chỉ
là những con người không t́nh cảm và chính sách ngoại giao của Mỹ rất ngạo mạn.
Các nhà ngoại giao Mỹ không thật sự đại diện cho dân chúng Mỹ. Mọi người trên
thế giới đều yêu mến và kính trọng người dân Mỹ khi họ có dịp hiểu hoặc sống
cùng, bởi v́ người dân Mỹ tốt bụng và rộng răi; bất hạnh thay, người dân Mỹ cũng
bị ghét v́ họ chỉ được biết tới qua các nhà ngoại giao Mỹ. Thế giới bên ngoài
nước Mỹ xem chính sách ngoại giao của Mỹ, như chính sách của Tổng thống Bush
chẳng hạn, là ngạo mạn và hống hách. Và chính cách đó đă đem lại cho nhân dân Mỹ
bao nhiêu điều khó khăn thảm trạng ngày nay.
Tôi phải dùng tới giấy thông hành ngoại giao của Liên Hiệp Quốc do IMF cấp để
vào nước Mỹ. Trước khi tôi rời Washington để về thăm Việt Nam trong chuyến đi
cuối cùng ấy, tôi đă nói chuyện với nha hành chánh IMF rằng tôi sắp về nước theo
lời mời của Tổng thống Thiệu, và IMF đă cho phép tôi sử dụng giấy thông hành của
Liên Hiệp Quốc bất cứ khi nào cần thiết v́ họ liệu trước rằng miền Nam Việt Nam
có thể thất thủ và một t́nh trạng hỗn loạn cực kỳ có thể sẽ kéo theo sau sự sụp
đổ của chính quyền Việt Nam. Hành động này của IMF đă giúp tôi thoát khỏi rất
nhiều khó khăn trở ngại.
Trở lại công việc tháng 10/1967, Nguyễn Cao Kỳ đă mời tôi vào chính phủ và yêu
cầu tôi phụ trách toàn bộ các lănh vực kinh tế, tài chánh, thương mại và kỹ
nghệ, trong lúc vẫn điều hành Ngân hàng Quốc gia và Ngân hàng Việt Nam Thương
tín; ông ta muốn tôi đảm nhiệm luôn chức chủ tịch Hội đồng Tối cao Tiền tệ, vốn
lâu nay do phó Tổng thống hoặc Thủ tướng phụ trách. Tôi sẽ nắm trong tay 4 bộ,
với 4 Tổng trưởng dưới quyền giám sát của tôi, cùng với Ngân hàng Quốc gia, Ngân
hàng Việt Nam Thương tín và kiêm luôn cả chức chủ tịch Hội đồng Tối cao Tiền tệ.
Đó là trách nhiệm của một phó Thủ tướng phụ trách kinh tế tài chánh. Ông ta muốn
tôi phụ trách toàn bộ các vấn đề kinh tế tài chánh của chính phủ để ông có thể
tập trung tất cả thời gian vào cuộc tranh cử Tổng thống sắp tới.
Tôi từ chối.
Tôi không bao giờ muốn dính líu tới chính trị v́ tôi luôn luôn biết rằng tôi
không đủ các tính tốt cũng như tính xấu để có thể làm một chính trị gia giỏi.
Ngoài những phẩm chất về đạo đức và chính trị, chính trị gia c̣n phải có những
tính xấu như có thể nói láo, có thể đóng kịch và những điều mà tánh t́nh của tôi
không chấp nhận được. Nhưng Kỳ cứ khẩn khoản yêu cầu tôi chấp nhận, và khi tôi
vẫn từ chối ông ta doạ “sẽ trưng dụng tôi như một người lính". Cuối cùng tôi
đành chấp nhận với hai điều kiện: tôi phải được hoàn toàn rộng tay trong việc
dọn dẹp sạch sẽ những khu vực kinh tế tài chánh cần thiết, ông ta phải ủng hộ
tôi một trăm phần trăm; và tôi sẽ từ chức ngay sau khi kết thúc cuộc bầu cử.
Trong nhiệm vụ mới, tôi phải làm việc thường xuyên hơn và sâu rộng hơn với giới
chức Mỹ; họ đều cảm thấy bằng ḷng với cách sắp xếp này, bởi v́ họ chỉ làm việc
với một người thôi trong các lănh vực phi quân sự và chính trị.
Một thời gian sau khi tôi đáp lại công hàm của Bob Komer, tôi được toà đại sứ Mỹ
thông báo là anh ta sắp trở lại Sài G̣n để tiếp tục những cuộc thảo luận về các
điểm tranh căi trước đây tại toà Bạch Ốc. Trước khi anh ta tới, tôi xuống vùng
châu thổ sông Cửu Long để khảo sát vụ lúa mùa và việc cung cấp thực phẩm cho Sài
G̣n, thời gian này đang trở nên càng lúc càng khó khăn với sự gia tăng các hoạt
động du kích. Trên thực tế tôi không muốn gặp Bob Komer và muốn để chính Kỳ xử
lư vấn đề dự trữ ngoại tệ. Nếu v́ những lư do chính trị mà Kỳ muốn nhượng bộ
Komer, tôi không muốn dự phần vào đó. Ngày hôm sau, khi tôi đang lái xe dọc theo
các cánh đồng ở gần Châu Đốc, viên Tỉnh trưởng đă phóng xe rượt theo tôi để trao
tận tay một thông điệp của Kỳ: trở về Sài G̣n ngay lập tức, công việc rất quan
trọng. Tôi biết việc quái ǵ rồi nhưng tôi cũng phải tuân hành. Kỳ cấp cho tôi
một chiếc máy bay nhỏ và tôi bay trở về lại Sài G̣n. Khi máy bay bay qua các
cánh đồng lầy, tôi nghe tiếng súng trường và súng tiểu liên rộ lên từ phía dưới
đất nhưng may mắn máy bay không trúng đạn. Kỳ gởi một chiếc xe hơi tới ngay phi
trường để đón tôi về văn pḥng Thủ tướng ngay lập tức. Kỳ và Komer đang ở đó chờ
tôi. Kỳ dẫn tôi vào một pḥng khác và đề nghị tôi nhượng bộ v́ những lư do chính
trị quan trọng, có lẽ để tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ trong cuộc bầu cử sắp tới.
Ông ta muốn tôi chịu giảm mức dự trữ ngoại tệ xuống c̣n 250 triệu USD. Tôi nói
với Kỳ là tôi không muốn nhận trách nhiệm về một quyết định như vậy và chính ông
ta phải kư bản thoả ước với Bob Komer. Tôi sẽ không công khai phản đối, nếu như
ông chịu để cho tôi đi Washington để bàn căi lại khoản này và đ̣i lại những ǵ
sẽ mất.
Một tuần sau tôi trở lại Washington và giải quyết vấn đề thoả đáng như ư tôi
muốn, bằng một đường lối êm thắm hơn: tôi kư một thoả ước kinh tế tài chánh trọn
gói trong đó Việt Nam được cấp thêm một khoản viện trợ để lập Quỹ tái thiết và
phát triển hậu chiến là 50 triệu đô-la; đó là một nước cờ kỹ thuật để gỡ lại
thoả ước của Kỳ với mức 250 triệu đô-la. Như vậy mức dự trữ ngoại tệ của Việt
Nam được nâng lên một cách gián tiếp tới 300 triệu đô-la. Trên thực tế trong sổ
sách của Ngân hàng Trung ương, mức dự trữ ngoại tệ vẫn không thay đổi v́ Quỹ
phát triển hậu chiến sẽ nằm ở trương mục dự trữ ngoại tệ trong sổ sách ngân
hàng.
Khi tôi đang ở Washington th́ lời đồn đại và tin tức báo chí lan truyền ở Sài
G̣n nhắc đến tên tôi như một người có thể được chọn làm Thủ tướng cầm đầu một
nội các gồm các chuyên gia. Tôi hiểu rằng một vài quan chức cao cấp của Mỹ ở
trong toà đại sứ, vốn quan tâm đến việc điều hành kinh tế nhiều hơn là chính
trị, đă đề nghị tên tôi với Đại sứ Bunker và Đại sứ Bunker đă gợi ư với Kỳ và
Thiệu mà không hỏi ư kiến tôi. Về phía Việt Nam, nhiều chính trị gia đă ngán tới
tận cổ cách điều hành nhà nước kiểu quân đội, muốn có một nội các gồm các chuyên
viên nếu như đám Tướng lănh vẫn không chấp nhận một nội các dân sự. Tổng thống
Thiệu đă từng biết khả năng xử lí kinh tế của tôi, không phản đối ư kiến này,
nhất là từ khi ông ta chấp nhận nhường cho phó Tổng thống Kỳ lựa chọn nội các
đầu tiên. Kỳ cũng ủng hộ đề nghị của đại sứ Bunker nhưng ông ta bị đám bạn bè bà
con tác động; những người này rất có ác cảm với tôi bởi v́ tôi đă dẹp vụ nhập
cảng lậu thuế xe Fatima và bởi v́ những hành động quyết liệt của tôi chống lại
việc buôn bán ma tuư mà có lẽ một vài người trong họ dính tới. Bạn của Kỳ, Bùi
Diễm, mặc dù đă bị đẩy qua Washington làm Đại sứ v́ không được ḷng quần chúng,
vẫn c̣n mơ mộng được người bạn hẩu của ḿnh đưa lên làm Thủ tướng: anh ta
nh́n thấy ở tôi một đối thủ tiềm tàng rất đáng ngại và sẳn sàng làm những ǵ để
phá hoại sự tiến triển của tôi, nếu có.
C̣n về phía Mỹ, những người nh́n thấy ở tôi một con người hoạt động và một
chuyên viên đầy năng lực th́ ủng hộ mạnh mẽ ư kiến này. Giới quân sự Mỹ v́ đă
từng làm việc với tôi về các vấn đề kinh tế tài chánh (như đồng tiền MPC cho
lính Mỹ, các vấn đề kinh tế địa phương trong các vùng chiến thuật như mỏ than
Nông Sơn chẳng hạn) đều ủng hộ tôi. Nhưng những viên chức Mỹ có liên quan tới
chính trị Việt Nam hoặc có giao hảo với Bùi Diễm như Phil Habib th́ chống lại.
Nhưng v́ không thích thú ǵ chính trị nên tôi nói với Thiệu, Kỳ và Bunker rằng
tôi hoàn toàn không quan tâm tới chuyện này và tôi chỉ thích trở về làm việc ở
World Bank sau cuộc bầu cử.
Trong thời gian giữ chức vụ Thống đốc Ngân hàng Trung ương, tôi đă có nhiều đồng
minh quan trọng trong chính quyền Việt Nam bởi v́ họ đánh giá cao năng lực
chuyên môn cũng như sự trung thực của tôi, sự làm việc tận tuỵ v́ quyền lợi
chung, một điều mà họ hiếm thấy ở những người phục vụ công ích lúc đó, ngay giữa
ḷng một cuộc chiến tranh với biết bao nhiêu là đau khổ điêu tàn, nhưng đồng
thời cũng với biết bao nhiêu cơ hội làm giàu hợp pháp và bất hợp pháp. Nhưng tôi
cũng có một số kẻ thù đố kỵ v́ tính thẳng thắn không chịu thoả hiệp, sự tuân thủ
pháp luật một cách cứng rắn của tôi… Giữa đám người này có cả bạn bè và bà con
của tôi v́ khi thực hiện theo đúng pháp luật, tôi coi bạn bè, kẻ thù, người
quen, kẻ lạ như nhau; nhiều người bà con ghét tôi v́ tôi không cho họ việc làm
nếu họ không đủ năng lực.
Sau khi Thiệu được bầu làm Tổng thống và Kỳ làm phó Tổng thống, một buổi lễ long
trọng được tổ chức. Tổng thống Lyndon Johnson cử phó Tổng thống Hubert Humphrey
sang dự với tư cách đại diện chính thức của chính phủ Mỹ.
Khi ông ta tới phi trường Tân Sơn Nhất với chiếc Air Force Two, toàn thể nội các
được điều động ra đón tiếp. Tôi nghĩ điều này hơi lố bịch nhưng Kỳ không chịu
nghe. Tất cả các Tổng trưởng và các Tướng lănh đứng thành hàng từ cửa pḥng
khách VIP trải thảm đỏ. Hubert Humphrey, người tôi đă có hai lần tiếp xúc ngắn
ngủi ở toà Bạch Ốc, đi vào trong pḥng tiếp tân dành cho VIP, sau lưng là Đại sứ
Bunker, tướng Westmoreland và các viên chức cao cấp của toà đại sứ. Ông lần lượt
bắt tay từng người, nhưng ngang tôi th́ ông dừng lại, gọi tôi là Thống đốc Hanh
và nói một vài lời chúc tụng. Có lẽ ai đó đă nói nhỏ tên tôi với ông, Đại sứ
Bunker hay một người phụ tá nào đó. Đây rơ ràng là một màn tŕnh diễn và quảng
cáo có tính chất ngoại giao, nhưng mọi người đều ngạc nhiên là tôi quen biết
Humphrey và người ta có thể thấy một thoáng ganh tị trong ánh mắt của nhiều
thành viên nội các và tướng lănh – họ chỉ nhận được một cái bắt tay. Sau này tôi
được biết là thái độ thân thiết của phó Tổng thống Humphrey đă làm tăng thêm
những lời đồn đăi trong thành phố là tôi sẽ trở thành Thủ tướng.
Tháng 11, Thiệu và Kỳ yêu cầu tôi đại diện Việt Nam tham dự lễ đăng quang của
Tổng thống Đại Hàn Phác Chánh Hy. Sau này khi tôi đại diện Trung Hoa, Đại Hàn và
Việt Nam tại hội đồng quản trị Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tôi lại thường gặp ông ta
trong những chuyến viếng thăm Seoul, và tôi rất kính phục ông. Ông ta tỏ ra là
một Tổng thống rất giỏi, rất biết việc, mỗi khi tôi gặp ông để thảo luận công
việc giữa Hàn Quốc và IMF. Những cuộc gặp này cho thấy ông ta đă lo chuẩn bị
trước rất chu đáo mọi chuyện, mặc dù tôi chắc chắn là ông ta có rất nhiều việc
quan trọng phải làm. Ông ta rất thông minh và rất thông hiểu vấn đề mỗi khi thảo
luận và đặt những câu hỏi rất sâu sắc. Ông ta chứng tỏ là một nhà lănh đạo rất
có năng lực và thật là một điều đáng buồn khi ông ta bị ám sát sớm như vậy về
sau. Trong khi tôi thăm viếng Seoul th́ những lời đồn đại ở quê nhà lại nổi lên
một lần nữa về việc tôi sắp sửa được bổ nhiệm làm Thủ tướng. Tên tôi xuất hiện
trên nhiều tờ báo như là người có nhiều khả năng được chỉ định làm Thủ tướng
nhất trong đợt cải tổ nội các sắp tới. Đó là "nụ hôn của Thần Chết" – nói như
lời Phạm Kim Ngọc, một người bạn lâu năm, và sau này được Thiệu đề cử làm Tổng
trưởng Kinh tế; bởi v́ cái thông tin được tính toán rất kỹ này đă gợi lên rất
nhiều sự ghen tuông và đố kỵ không những từ các ứng cử viên bị thua cuộc mà từ
các Tướng lănh và viên chức cao cấp nhận ra rằng họ sẽ khó mà nhét cho đầy túi
họ v́ sự cứng rắn của tôi. Khi tôi về lại Việt Nam tôi nói với Kỳ tôi không thấy
thích thú ǵ trở thành Thủ tướng, mà ngược lại ông ta phải để cho tôi rời khỏi
chính phủ như ông ta đă hứa; để cho tôi tập trung vào việc điều hành hai ngân
hàng và dành thời gian cho những vấn đề tài chánh quan trọng hơn. Tôi cũng nói
với Đại sứ Bunker tôi không thích việc một vài giới chức Mỹ tự coi ḿnh có quyền
thảy những quả bóng thăm ḍ mà không hỏi ư tôi.
Sau khi Thiệu và Kỳ nhậm chức, Tổng thống Johnson đă kêu gọi mở những cuộc họp
thượng đỉnh giữa Mỹ và các Đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam như Đại
Hàn, Trung Hoa (lúc ấy là Đài Loan), Phi Luật Tân, Úc, Tân Tây Lan. Tôi được
Thiệu và Kỳ yêu cầu tham dự tất cả các buổi họp này ở Manila và ở Guam. Tôi
chẳng có việc ǵ để làm cho lắm bởi v́ những cuộc họp này chủ yếu bàn về các vấn
đề quân sự chính trị và rất ít bàn tới việc phát triển kinh tế. Trong những
chuyến bay đường dài ra nước ngoài hay quay về nước, những viên chức cao cấp
cũng như các tướng lănh Việt Nam và Mỹ ngồi chơi bài x́ phé trong khi các phu
nhân của họ th́ lo bàn chuyện phiếm hay khoe nhau nữ trang, xe hơi và nhà cửa.
Lần đầu tiên tôi nhận thức được các vị tướng lănh của chúng ta và các bà vợ của
họ thuộc về loại ǵ. Những cảnh tượng như thế này chẳng đẹp mắt ǵ và cũng chẳng
thú vị ǵ; v́ vậy tôi che mắt lại giả bộ ngủ. Rồi thỉnh thoảng tôi nghe một vị
phu nhân nào đó nói lớn, có lẽ muốn cho tôi nghe: “cái ông Hanh này lúc nào cũng
ngủ; cứ mỗi lần leo lên máy bay là ổng ngủ.” Đúng vậy, nếu có thể được, tôi muốn
ngủ hơn là nh́n thấy cảnh tượng trước mắt vừa chẳng hấp dẫn vừa không đẹp đẽ tí
nào, cho cả đôi mắt và đôi tai tôi.
Trong nhiều tháng trời tôi rất thất vọng v́ sự tranh chấp giữa Thiệu và Kỳ,
những cuộc đấu đá nội bộ giữa các nhóm chính trị và quân sự, sự thiếu vắng động
cơ và ḷng ham muốn chiến đấu trong các cấp lănh đạo quân sự, sự tham nhũng
trong chính phủ và trong quân đội, và sự nản ḷng của toàn thể dân chúng. Ngày
nào tôi cũng nghe có người nói về những vụ x́-căng-đan dính tới các tướng lănh
và mấy bà vợ của họ trong đám thân cận Thiệu về việc mua bán giấy phép cho sinh
viên đi du học nước ngoài. Người ta cũng kể tôi nghe việc mua bán các chức vụ
Quận trưởng, Cảnh sát trưởng, những chức vụ sẽ đem lại một số tiền hối lộ tuỳ
theo mức anh bóp cổ được bao nhiêu từ đám thương gia Trung Hoa hoặc từ dân
chúng. Người ta kể tôi nghe chuyện các viên đại tá như vầy như vầy, phụ trách
tiếp liệu đang bán dây kẽm gai và vật liệu xây dựng ngoài chợ trời, hay bán gạo
và thuốc men cho Việt cộng qua trung gian của đám thương gia Tàu.
Trong nhiều năm quan sát t́nh h́nh tại nước Mỹ, tôi đă chứng kiến sự gia tăng
mau lẹ của phong trào chống chiến tranh giờ đây đă chiếm được sự ủng hộ của một
phần lớn dân chúng Mỹ. Quốc hội Mỹ lần lần bị ảnh hưởng bởi phong trào chống
chiến tranh Việt Nam; các Thượng nghị sĩ và Dân biểu quốc hội bắt đầu lảng xa
dần chính sách của chính quyền Johnson. Viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam
bị mất dần sự ủng hộ trong quốc hội Mỹ, và chính phủ Mỹ mỗi ngày mỗi thấy khó
khăn để đ̣i hỏi quốc hội thông qua các chương tŕnh viện trợ. Khi mà chiều hướng
mới này cứ tăng dần trong những đợt tôi viếng thăm nước Mỹ, tôi nói với những
người bạn tôi ở quê nhà rằng nếu sự việc không được cải thiện, th́ quyết tâm của
người Mỹ giúp Việt Nam sẽ yếu đi rất nhanh và chúng ta sẽ phải đối diện với một
sự cắt giảm mạnh mẽ số viện trợ quân sự và kinh tế. Điều này sẽ gây nên một trở
ngại nghiêm trọng cho việc chiến đấu chống lại một kẻ thù kiên cường và đầy
quyết tâm. Không có thể làm ǵ nhiều để đảo ngược chiều hướng này nếu như không
có một sự thay đổi toàn diện về phía chúng ta; nhưng hầu hết các người bạn tôi
cũng như quần chúng b́nh thường đều ngây thơ tin rằng người Mỹ sẽ không bao giờ
bỏ rơi Việt Nam; v́ vậy họ cho rằng tôi là một người bi quan. Rất ít người bạn
và không có nhà lănh đạo chính trị nào coi lời cảnh cáo của tôi là nghiêm túc.
Đa số những người c̣n lại th́ tin rằng chẳng qua đó là một lư lẽ để tôi rút lui
khỏi chính phủ và trở về làm việc với World Bank.
Cuộc tấn công Tết Mậu Thân đầu năm 1968 của Bắc Việt đă giáng một đ̣n điếng
người vào sự lạc quan ngây thơ ấy. Nó đă làm suy yếu thêm quyết tâm của người Mỹ
khi phải chiến đấu trong một cuộc chiến tranh đầy mâu thuẫn cách xa bờ biển họ
tới hai mươi ngàn dặm. Nhân dịp Tết âm lịch, tôi lái một chiếc thuyền nhỏ từ Sài
G̣n đến băi biển Vũng Tàu cách đó khoảng 100 cây số trên bờ Thái B́nh Dương để
nghỉ ngơi. Tôi đem theo một người lính cận vệ và xuôi ḍng sông Sài G̣n trong
một buổi chiều mưa băo và Việt cộng phục kích dọc khắp con đường. Nghe tin
chuyến đi của tôi, vị Đô đốc Mỹ phụ trách vùng biển phía Nam đă gởi cho tôi hai
viên đại uư thuỷ quân lục chiến trẻ tuổi theo hộ tống. Đó là một chuyến đi rất
mệt, nhưng chúng tôi đều sung sướng thưởng thức cuộc hành tŕnh ngược gió từ cửa
sông Sài G̣n tới băi biển Vũng Tàu. Khi chúng tôi tới nơi th́ trời đă chiều tối,
chúng tôi thả neo ở trước ngôi nhà của một người bạn mà tôi đă mượn rồi cả đám
chúng tôi đi ra ngoài kiếm một bữa ăn tối hải sản rất ngon. Giữa đêm khuya chúng
tôi bị đánh thức bởi những tiếng nổ dữ dội của súng đại bác, súng tiểu liên và
súng cối không xa vi-la của chúng tôi bao nhiêu. Qua ra-đi-ô, chúng tôi được
biết quân đội Bắc Việt và Việt cộng đă phát động một cuộc tấn công lớn nhất từ
trước tới nay trên toàn lănh thổ miền Nam. Tất cả chúng tôi đều rất sợ, kể cả
hai chàng đại uư thuỷ quân lục chiến Mỹ, họ không liên lạc được với bộ chỉ huy
của họ.
Rồi chúng tôi được biết là có hai thành viên khác của nội các cũng đang đi nghỉ
Tết. Viên trưởng ban tham mưu của Thiệu gọi điện cho tôi thông báo là Tổng thống
đă gởi một chiếc trực thăng để đưa chúng tôi trở lại Sài G̣n. Chuyến bay trở lại
Sài G̣n thật là đáng sợ. Từ trên cao chúng tôi có thể nh́n thấy cuộc chiến đấu
ác liệt ở dưới đất và bất cứ lúc nào chiếc trực thăng của chúng tôi cũng có thể
lănh một tràng tiểu liên hay một phát súng ba-zô-ka. Chúng tôi hạ cánh ngay trên
nóc dinh Độc Lập và Thiệu sai xe Jeep nhà binh đưa chúng tôi về nhà. Chuyến đi
về chỗ tôi ở chỉ cách đó 6 khu nhà cũng cực kỳ nguy hiểm bởi v́ các trận đánh
cũng đang rộ ra trên các khu đường chúng tôi đi. Chúng tôi thấy ở không xa trên
đại lộ Thống Nhất, toà đại sứ Mỹ đang bị du kích quân bao vây và chúng tôi nghe
tiếng nổ gịn giă của tiểu liên và đại bác.
Cuộc tấn công Tết và phản ứng của người Mỹ đă xác nhận niềm tin của tôi và tôi
quyết định từ chức để trở về công việc ở World Bank. Tôi móc nối với Bill
Diamond, người cấp trên của tôi trước đây và ông cho biết ông rất vui mừng có
tôi trở lại IFC, chỗ của tôi đang trống. Vào tháng 3/1968 sau khi cuộc chiến đă
tạm lắng, tôi gọi điện cho Thiệu và thông báo với ông ta ư muốn từ chức khỏi
Ngân hàng Trung ương Việt Nam. Thiệu hỏi ư kiến của Kỳ và cả hai đều từ chối.
Khi tôi khẩn khoản nhiều lần th́ ông ta chấp nhận trên nguyên tắc nhưng cứ lề mề
cù cưa mấy tháng, nói là ông ta không t́m ra được người thay tôi. Tôi cố t́m
cách đề cử người phó của tôi là Nguyễn Văn Dơng nhưng tên của Dơng không được
chấp nhận và tới tháng 8/1968 khi cuối cùng tôi nhất quyết từ chức, th́ Thiệu
chỉ chịu bổ nhiệm Dơng làm quyền Thống đốc. Vài tháng sau ông ta bổ nhiệm Lê
Quang Uyển, một người cháu của ông ta làm Thống đốc Ngân hàng Trung ương. Uyển
vừa mới tốt nghiệp ở trường học cũ của tôi một thời gian ngắn trước đó và anh ta
chỉ mới có thời gian ngắn giúp việc cho Ngân hàng Đông Dương, một ngân hàng
thương mại ở Paris. Chủ nghĩa bà con bầu bạn và quan hệ gia đ́nh luôn luôn đóng
một vai tṛ quan trọng ngay giữa ḷng những t́nh thế khó khăn và Dơng vẫn cứ chỉ
là phó.
Nguồn: Cuốn hồi kư này được tác giả tự xuất bản lần đầu năm 2004 tại California. Ấn bản lần thứ nh́ đăng trên talawas có một số hiệu đính và bổ sung, bản điện tử do tác giả cung cấp.
Hồi kư
VI. Tận tuỵ trong công việc:
Không phần thưởng, chỉ có niềm vui
Ngồi ghế Thống đốc và làm việc tận tuỵ trong thời chiến với tất cả những sự tàn
phá và những khó khăn kinh tế tài chánh, đă là khó vô cùng rồi; c̣n khó hơn nữa
và có thể đến mức không chịu đựng nổi, khi mà ngoài Ngân hàng Trung ương, c̣n
phải điều hành toàn bộ nền kinh tế tài chánh của một quốc gia bị lọt vào giữa
ṿng tham nhũng, đầu cơ, chợ đen, cùng những thiếu thốn v́ biến động chính trị
và bất an xă hội. Trong ṿng một năm từ 1967 tới 1968, ngoài Ngân hàng Trung
ương, tôi c̣n phải ôm trong tay Bộ Tài chánh, Bộ Kinh tế, Bộ Thương mại và Bộ Kỹ
nghệ, bốn bộ này tạo thành một Tổng uỷ Kinh tế Tài chánh, thông thường nằm dưới
dự giám sát của một phó Thủ tướng và bốn Tổng trưởng. Tôi đă từ chối chức phó
Thủ tướng mà Kỳ đề nghị, bởi v́ tôi luôn luôn ghét chính trị và chỉ muốn phục vụ
đất nước như một chuyên viên. Đây quả là một lượng công việc khổng lồ và một
lănh vực hoạt động hết sức rộng lớn. Tôi làm việc tận lực và đă tàn phá sức khoẻ
của ḿnh với hàng giờ liền ngồi miệt mài làm việc tại văn pḥng và cả ở nhà,
theo sau đó là những hoạt động xă hội kiệt sức mà các nhiệm vụ khác nhau của tôi
đ̣i hỏi, dù tôi vẫn tập luyện thể dục hàng ngày. Thế nhưng tôi cũng đă được giúp
sức rất nhiều bởi những người phụ tá đầy năng lực và hết sức tận tuỵ, như anh
Đoàn Thêm, cô Vũ Gia Kiều Dung, Trần Cự Uông và ba người thư kư hết sức tín cẩn,
cô Cúc, chị Bảy và anh Long, những người đă muốn làm việc với tôi ở Ngân hàng
Trung ương hơn là nhận những chức vụ cao hơn ở các bộ khác dù vẫn do tôi đứng
đầu. Tôi cũng c̣n được rất nhiều sự giúp đỡ của các nhân viên cấp thấp hơn tại
Ngân hàng Trung ương, những người mà tôi hết sức thương yêu, và họ cũng hết ḷng
tận tuỵ với tôi. Tôi tự bắt buộc ḿnh mỗi tháng phải mời cơm trưa các nhóm đông
nhân viên của tôi từ những cấp thấp nhất như là kiểm ngân viên, cho tới những
cấp cao nhất, tán gẫu với họ, thăm hỏi công việc và đời sống gia đ́nh họ. Trong
một đất nước mà sự phân biệt giai cấp vẫn c̣n là chuyện tự nhiên th́ đây là một
không khí mới mẻ tạo nên sự hợp tác chân thành giữa tất cả các cấp. Tôi cũng hết
sức quan tâm tới vấn đề phúc lợi của nhân viên ở cả hai ngân hàng: tôi đă thiết
lập một kế hoạch hưu bổng phóng khoáng nhất nước, cải thiện hệ thống bảo hiểm xă
hội, xây dựng những khu nhà ở thoáng rộng để cho nhân viên ở, hoặc bán chịu dài
hạn cho các nhân viên ngân hàng mọi cấp. Việc này thường bị các cơ quan nhà nước
khác ganh tị và chỉ trích kịch liệt, nhưng được các nhân viên ngân hàng hết sức
tán thưởng; rồi không bao lâu nó cũng được các cơ quan nhà nước khác bắt chước,
nhưng việc làm của họ thường bị giới hạn bởi thiếu kinh phí hay thiếu quyết tâm
của các cấp lănh đạo của họ. Tôi rất sung sướng khi nhận thấy vẻ hạnh phúc và
vừa ḷng trên gương mặt của những người phụ tá và nhân viên của tôi. Sống trong
sự thiếu vắng những người thân trong gia đ́nh hiện vẫn đang ở nước ngoài, tôi
coi họ như là những người thân trong gia đ́nh lớn và chia sẻ t́nh cảm cũng như
thời gian rảnh rỗi của tôi với họ.
Tôi cũng yêu mến công việc của ḿnh và rất chú tâm để có thể hoàn thành nhiệm vụ
(tất cả sáu chức năng); nhưng trách nhiệm tôi phải gánh vác quá lớn và tôi
thường phải lấy hết can đảm mới làm nổi. Động cơ duy nhất là phục vụ đất nước và
hạnh phúc của người dân. Về sau này có nhiều người hiểu tôi, đă chê tôi ngu ngốc
không biết lợi dụng vị thế của ḿnh để làm giàu hay ít nhất là dành dụm một cái
ǵ để pḥng những ngày mưa gió. Tôi phải nói rất thành thật rằng trong suốt thời
gian đó tiền là mối quan tâm ít nhất của tôi. Tôi được trả một số ngoại tệ tối
thiểu để lo cho gia đ́nh ở nước ngoài, và biết rằng cái ngày mà tôi quyết định
từ chức, tôi có thể trở về công việc lương bổng hậu hĩnh ở World Bank. V́ vậy mà
ḷng tôi yên ổn và tôi không cần phải bận tâm về việc riêng khi thi hành nhiệm
vụ. Ngoài ra, tôi c̣n phải thú nhận rằng dù tôi có muốn làm giàu cho bản thân,
th́ tôi cũng không biết phải làm như thế nào để gợi ư hay nhận tiền hối lộ. V́
vậy tôi cảm thấy rất là tự do để thi hành những quyết định cứng rắn và đôi khi
gây mích ḷng nếu tôi thấy điều đó làm lợi cho đất nước hay dân chúng. Điều này
giải thích cho những khía cạnh hoạt động của tôi suốt thời gian ấy.
Trong khi chúng tôi đang theo đuổi chiến tranh th́ nền kinh tế phải chịu một áp
lực rất lớn và t́nh trạng lạm phát trở nên mỗi ngày một tồi tệ hơn. Lượng tiền
cung ứng tăng nhanh bởi những chi phí quân sự phục vụ chiến tranh không có giới
hạn, trong khi lượng cung cấp thực phẩm và các mặt hàng thiết yếu đi lết bết ở
phía sau v́ mùa màng bị cứ phá hoại và giao thông vận tải cứ bị gián đoạn. Giá
cả có khuynh hướng tăng rất nhanh mặc dù chính quyền đă cố hết sức để ổn định
nó. Điều này đến phiên nó lại tạo nên một sự khan hiếm giả tạo làm cho nạn chợ
đen phát triển mạnh. Hối suất hoán đổi đồng tiền quốc gia, đồng bạc Việt Nam, cứ
lần lượt bị trụt giảm trên thị trường chợ đen, và dân chúng có xu hướng coi tỉ
giá này là giá trị thật của đồng bạc.
Sau khi tôi trở về Việt Nam tháng 11/1965, tôi thấy cần phải cải cách tiền tệ,
nhưng phá giá đồng bạc là một vấn đề hết sức nhạy cảm đối với quần chúng; muốn
tiến hành một cuộc cải cách tiền tệ đ̣i hỏi một ḷng can đảm rất lớn. Dính liền
với các vấn đề tiền tệ là các hậu quả xă hội và chính trị nên các chính phủ bao
giờ cũng rất miễn cưỡng khi phải ôm ấp một ư kiến như vậy. Nhưng càng cố tránh
vấn đề chừng nào th́ nó càng thêm nghiêm trọng chừng nấy, và các hành động cứu
chữa về sau càng trở nên khó khăn hơn. Tôi đă thấy rất rơ ràng rằng nếu như
không có cải cách kịp thời, nền kinh tế sẽ bị tổn thương nghiêm trọng và đời
sống khó khăn cơ cực của người dân sẽ khó ḷng chịu đựng nổi.
Tháng 6/1966, tôi chuẩn bị phát động một cuộc cải cách tiền tệ. Bộ trưởng Kinh
tế, Âu Trường Thanh, cũng biết rằng một cuộc cải cách là không thể tránh được.
Vấn đề này thuộc về trách nhiệm của anh ta và phải được đặt thù lù trên gối anh
ta, nhưng v́ là một chính trị gia khôn khéo, đang nuôi tham vọng làm Tổng thống,
anh ta không muốn bị dính líu vào nó, hay ít nhất cũng không công khai dính vào.
Tướng Kỳ can đảm hơn; tôi đă giải thích với ông về sự phức tạp của chiến dịch
cần tiến hành với tất cả những hệ luận kinh tế tài chánh của nó, sự cần thiết
phải cải cách, những hậu quả chính trị bất lợi ngắn hạn, và những lợi ích dài
hạn cho nền kinh tế và đặc biệt cho phúc lợi tương lai của dân chúng. Là một nhà
lănh đạo thông minh, ông ta hiểu ngay vấn đề, đồng ư với tôi, nói ông ta hoàn
toàn ủng hộ tôi và tôi cứ việc tiến hành, Âu Trường Thanh có đồng ư hay không
cũng được. Nếu Thanh không kư sắc lệnh th́ ông ta sẽ kư.
Thế là tôi bắt đầu các bước chuẩn bị, nhưng một cách lặng lẽ, chỉ có những người
phụ tá rất thân cận với tôi mới biết (ngay cả Thanh tôi cũng không cho biết, măi
cho tới phút cuối cùng). Tôi nói chuyện với Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tranh thủ được
sự đồng t́nh và hỗ trợ của họ. Tôi tham khảo cơ quan USAID để xin thêm viện trợ
cho dự án và cấp thêm chương tŕnh viện trợ PL480 để có một khối lượng lớn cung
cấp cho thị trường các mặt hàng chủ yếu như gạo, bột ḿ, đường, sữa. Tôi nói
chuyện với toà Bạch Ốc để có một sự chấp thuận đặc biệt, cho phép bán vàng cho
dân chúng vào thời gian hạ giá đồng bạc để kềm bớt giá vàng, tạo một điều kiện
tâm lư thích hợp và ổn định tỷ giá hối đoái. Tôi yêu cầu Quỹ Tiền tệ Quốc tế bật
đèn xanh cho việc mua bán vàng, đó là chế độ ưu đăi đặc biệt cho một nước hội
viên của họ vào lúc ấy, hỗ trợ hoàn toàn về phương diện kỹ thuật cho việc chuẩn
bị cải cách kinh tế. Bản thân tôi và bốn người phụ tá thân cận cùng ba thư kư
rất tin cẩn là Đoàn Thêm, Kiều Dung, Trần Cự Uông, cô Cúc, chị Bảy và anh Long
làm việc đêm ngày cho chương tŕnh cải cách. Tôi muốn nhân đây bày tỏ ḷng cám
ơn chân thành đến tất cả bọn họ – họ đă cùng tôi duy tŕ sự bí mật tuyệt đối của
kế hoạch trong hơn 2 tuần lễ. Gia đ́nh của họ, chồng hoặc vợ của họ nhất định
rất ngạc nhiên và bối rối trước những giờ giấc làm việc lạ kỳ và những gương mặt
mệt mỏi của họ; họ đă giữ kín sự bí mật này, sự bí mật mà nếu họ tiết lộ ra có
thể kiếm được rất nhiều tiền; nếu bất cứ ai trong họ quyết định phản bội tôi,
người đó có thể làm giàu bằng cách đưa tin cho các thương gia Trung Hoa, cho đám
chợ đen hay cho những người buôn tiền.
Trần Cự Uông là người phụ tá đặc biệt của tôi, mặc dù chỉ học ở trong nước anh
lại viết tiếng Anh rất giỏi, c̣n giỏi hơn rất nhiều một vài tay có bằng Ph.D hay
bằng MBA từ các trường đại học Mỹ. Anh thường hay viết các bài diễn văn và bản
ghi nhớ cho tôi; tôi vẫn đem anh theo trong tất cả mọi cuộc họp về kinh tế hay
tài chánh ở nước ngoài. Một ngày kia, viên cố vấn chính trị của toà đại sứ Mỹ
tới gặp tôi và nói Uông là một nhân viên của Bắc Việt và họ muốn tôi sa thải anh
ta để CIA có thể điều tra sâu hơn. Tôi sắp sửa bổ nhiệm Uông làm Thứ trưởng Kinh
tế: v́ vậy việc này trở nên một vấn đề chính trị khá tế nhị khi Uông sắp sửa
tham dự phiên họp nội các sắp tới. Tôi nói với viên cố vấn Mỹ rằng tôi không tin
điều đó, Uông là một người vui sống, một người thích cuộc sống tiện nghi và xa
hoa. Như vậy anh ta không thể nào chấp nhận các tư tưởng thiên tả, và tôi biết
anh ta có một lư tưởng quốc gia và một ḷng yêu nước mạnh mẽ. Viên cố vấn Mỹ bảo
tôi là CIA đă theo dơi anh ta khi anh ta ra nước ngoài trong những chuyến công
tác với tôi và họ đă thấy anh ta nói chuyện với các nhân viên Bắc Việt. Tôi nói
với tay cố vấn, những người ấy có thể là bà con của anh ta từ miền Bắc t́nh cờ
gặp anh ta trong khi họ cũng đang đi công tác ở nước ngoài; và tôi không hề tin
anh ta phản bội tôi với những người bà con đó; trừ phi CIA có bằng chứng rành
rành là những cuộc tiếp xúc đó không mang tính chất gia đ́nh, c̣n không th́ tôi
sẽ không sa thải Uông, và nếu anh ta phải rời chức vụ th́ tôi cũng sẽ đi. Sau đó
tôi nói chuyện thẳng với Uông, anh ta thề trên đầu đám con của anh là anh ta
không hề tiếp xúc với nhân viên Bắc Việt, đó có lẽ là một vài người bà con ở Hà
Nội mà anh ta t́nh cờ gặp ở Hồng Kông. Câu chuyện này kéo dài một vài tháng và
phía Mỹ cũng không thuyết phục được tôi hay cho tôi một bằng chứng nào rơ rệt.
Uông hơi mất kiên nhẫn, anh nói với tôi rằng nếu CIA không làm phiền anh nữa,
anh sẵn ḷng bỏ chức vị sắp tới, anh sẽ từ chức và qua làm việc ở Cophavina, một
công ty dược rất lớn liên doanh với một người bạn của Thiệu. Tôi nói lại với
viên cố vấn chính trị Mỹ và chúng tôi đồng ư bỏ qua vụ này, để Uông gia nhập khu
vực kinh tế tư, ở đó anh ta kiếm tiền c̣n nhiều hơn trước rất nhiều.
Trở lại sự chuẩn bị cho việc thay đổi tỷ giá hối đoái vào ngày N tháng 6/1966,
tôi tŕnh toàn bộ kế hoạch lên Kỳ và Thanh để cùng kư vào phút cuối cùng, và
cuộc cải cách tiền tệ được thông báo vào sáng ngày hôm sau, một ngày chủ nhật,
khi các ngân hàng và các tổ chức kinh tài đóng cửa. Dân chúng cũng như giới tài
chánh và kinh doanh bị bất ngờ và những hậu quả tiêu cực ngắn hạn được giới hạn
ở mức tối thiểu. Đồng thời tôi cũng cho phép các ngân hàng thương mại và các cửa
hiệu vàng bạc mua vàng từ Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và bán vàng cho dân chúng:
đây quả là một sự ngạc nhiên rất lớn cho tất cả mọi người bởi v́ vàng là mặt
hàng được đánh giá cao nhất và được mọi người chuộng nhất vào lúc đó; người Việt
Nam cũng như bất cứ người dân phương Đông nào, luôn luôn muốn giữ vàng dưới lớp
nệm, chiếu của họ hoặc chôn giấu dưới đất.
Các tin tức về việc bán vàng cho dân chúng đă có một ảnh hưởng khổng lồ về mặt
tâm lư đối với dân chúng và đă góp phần làm giảm đáng kể những hiệu quả không
tốt của việc hạ giá đồng tiền đối với dư luận quần chúng. Đây là một chiến dịch
tài chánh thành công hết sức lớn.
Tuy nhiên việc cải cách tiền tệ này đă gây ra một làn sóng ồn ào trong dư luận
và các tờ báo đối lập đă in những tít lớn và giật gân để chỉ trích chính phủ
kịch liệt. Kỳ và Thanh nấp đằng sau tư thế chính trị của họ và để tôi gánh tất
cả mọi lời chỉ trích, thế nhưng Quỹ Tiền tệ Quốc tế lại khen ngợi không tiếc lời
sự thành công của chiến dịch và lấy nó dẫn chứng như là một trong những chiến
dịch tài chánh thành công nhất xưa nay. Chính phủ Mỹ cũng ca ngợi sự thành công
của chương tŕnh cải cách và khen ngợi sự khôn khéo và can đảm của tôi. Tôi lại
có thêm tiếng tăm trong cộng đồng tài chánh quốc tế.
Nhưng báo chí đối lập lại tặng cho tôi danh hiệu “vua phá giá” và tôi phải sống
với danh hiệu đó một thời gian dài. Lần lần người ta hiểu rơ hơn ư nghĩa của
việc phá giá, những hậu quả ích lợi trên đời sống họ về lâu dài; từ từ họ nhận
ra được giá trị của việc tôi làm, rồi sau nhiều năm trôi qua, người ta mới nhận
ra được rằng trong khi đang lâm vào một cuộc chiến tranh tàn phá nặng nề, Nam
Việt Nam vẫn thành công trong việc giữ cho tỷ lệ lạm phát ở mức 36% mỗi năm, một
tỷ lệ rất đáng nể trong một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, khi mà những nước ở châu
Mỹ La Tinh và ở Nam Á đă kinh qua những tỷ lệ lạm phát cao tới từ 600% tới 1200%
trong những năm 50 và 60 dù họ đang sống trong hoà b́nh. Đợt cải cách được tôi
phát động năm 66 sau này được tiếp tục bởi nhiều lần phá giá khác. Phản ứng với
người dân mỗi lúc mỗi dịu đi, nhưng báo chí vẫn cứ nghi ngờ tôi là người chủ
mưu, hoặc nói đúng hơn, tôi là “kẻ xấu” đứng đằng sau các cuộc cải cách.
Không bao lâu sau đó tôi được biết rằng sau vụ phá giá đồng bạc, giữa bốn bức
tường của một cuộc họp nội các, Thanh tự nhận ḿnh là người thực hiện cuộc cải
cách tiền tệ ấy. Người ta kể lại là Kỳ, người biết rơ sự thật, đă ném một cái
nh́n khinh bỉ về phía Thanh, và nở một nụ cười miệt thị dưới hàm râu kẽm của
ông. Thanh chỉ dám nói vậy trong pḥng kín, nhưng không bao giờ dám thốt một lời
trước công chúng về vai tṛ của anh ta trong vụ phá giá đồng tiền, v́ anh ta
hiểu rơ rằng dân chúng biết ai là người đứng sau vụ cải cách tiền tệ và ai là
người lẩn tránh nó.
Gạo là món ăn chủ yếu của dân Việt Nam. Người Việt Nam có thể không có thứ ǵ
cũng được, thiếu thứ ǵ cũng được, trừ gạo. Mặc dù Việt Nam thường xuất khẩu cả
1 triệu tấn gạo trước chiến tranh (và v́ vậy năm 1936, một đồng bạc Đông Dương
ăn 3,6 đô-la Mỹ ở Thượng Hải), nhưng những sự tàn phá và thiệt hại do chiến
tranh gây nên đă làm giảm các vụ lúa mùa thê thảm đến nỗi trong các thập niên 60
và 70 chúng tôi phải nhập 200 tới 300 ngàn tấn gạo mỗi năm để sống. Từ lúc tướng
Kỳ nắm chính quyền đă có hai lần thiếu gạo nghiêm trọng gây nên xáo trộn lớn
trong t́nh h́nh xă hội và chính trị. Mọi người đều biết rằng những thương gia
Trung Hoa ở Chợ Lớn kiểm soát hoàn toàn thị trường gạo, không chỉ ở Việt Nam mà
c̣n các quốc gia Đông Nam Á khác, từ ngày gieo mạ cho đến ngày gặt lúa, xay xát,
kinh doanh và phân phối, qua một hệ thống vay vốn có thể siết cổ bất cứ ai muốn
thoát khỏi ṿng trói buộc của họ. Họ kiểm soát việc kinh doanh lúa gạo rất chặt;
sử dụng những biện pháp rất đáng trách để làm giàu mau chóng như đầu cơ tích
trữ, tạo sự khan hiếm giả tạo và những tṛ ma mănh khác trên thị trường. Có một
lúc Kỳ đă kết án tử h́nh một thương gia Trung Hoa và đưa ông ta ra bắn ngay
trước công chúng để làm gương. Vụ này được coi như một bài học cảnh cáo, thế
nhưng v́ lợi nhuận chợ đen quá cao, quá hấp dẫn nên nạn đầu cơ và buôn gian bán
lận vẫn tiếp tục trở lại sau vụ xử bắn. Không bao lâu sau khi tôi bị Kỳ ép giữ
Bộ Kinh tế, gạo lại thiếu và giá tăng vọt lên, mặc dù chính phủ vừa kêu gọi vừa
đe doạ. Kỳ gọi tôi vào, yêu cầu tôi nhanh chóng giải quyết vụ khủng hoảng này v́
ông ta sắp sửa phải đối diện với cử tri; Kỳ sợ rằng cuộc khủng hoảng kéo dài có
thể làm ông ta thất bại trong cuộc bầu cử tới đây. Tôi hứa sẽ cố hết sức ổn định
thị trường mà không cần dùng tới những biện pháp mạnh. Tôi gọi người phụ tá của
tôi là Phạm Kim Ngọc, một người rất có năng lực, sau này sẽ trở nên một Bộ
trưởng Kinh tế dưới thời Tổng thống Thiệu; chúng tôi vạch một kế hoạch nhằm đối
phó với đám con buôn kinh doanh gạo và nhằm kéo giá gạo hạ xuống. Ngọc và tôi đă
từng đối phó với đám thương gia buôn bán gạo khi tôi c̣n ở Ngân hàng Việt Nam
Thương tín. Chúng tôi biết tất cả bọn họ và các phương pháp của họ. Ngọc làm một
cuộc điều tra chớp nhoáng và báo với tôi hiện chỉ c̣n khoảng 6.000 tấn gạo trong
các kho của chính phủ ở Sài G̣n-Chợ Lớn, nơi mỗi tháng tiêu thụ hết 25.000 tấn
gạo. Tôi gọi McDonald, giám đốc USAID và Roy Wherlee, Cố vấn Kinh tế toà đại sứ
Mỹ, yêu cầu họ cho một số tàu đang chở gạo trong chương tŕnh PL480 tới một số
nước được viện trợ quay mũi ngay lập tức hướng về Việt Nam, coi như là một khoản
vay của chính phủ. Cùng lúc đó tôi mượn bên quân đội 200 chiếc xe nhà binh để
chở gạo đi bán ở tất cả các ngả đường trong thành phố. Tôi lên đài truyền h́nh
và đài phát thanh thông báo là chính phủ sẽ bán gạo trực tiếp cho dân với giá
chính thức, và hiện nay 100 ngàn tấn gạo mượn chính phủ Mỹ đang được điều khẩn
cấp tới Sài G̣n và chuyến tàu đầu tiên chở 30 ngàn tấn sẽ cập bến trong một, hai
ngày nữa. Không một lời đe doạ đối với đám chợ đen và đầu cơ, không một lời về
các toà án đặc biệt để xử những kẻ buôn bán bất hợp pháp.
H́nh ảnh hàng trăm chiếc xe vận tải nhà binh chở đầy gạo chạy khắp thành phố, và
cảnh gạo được bán với giá chính thức ở trên mọi ngă tư đường đă trấn an ḷng dân
và giá gạo trên thị trường hạ xuống ngay tức khắc. Đám thương gia Trung Hoa đầu
cơ gạo, vừa sợ bị bắt, vừa sợ sẽ lỗ nặng với sự tụt giá gạo, đă tuôn gạo tích
trữ lâu nay ra thị trường bán. Họ không biết rằng chúng tôi chỉ c̣n đủ gạo tồn
kho cho một tuần lễ. Nếu họ cố thủ thêm một hoặc hai tuần nữa th́ chúng tôi đă
thua trận này và kết quả sẽ rất là khủng khiếp! Đó là một ván bài x́-phé mà Ngọc
và tôi đă chơi, và thắng.
Tướng Kỳ luôn miệng tuyên bố rằng chính quyền của ông là một chính quyền trung
thực, một chính quyền của người nghèo và ông ta sẽ nhổ sạch tận gốc mọi tham
nhũng đang bám rễ trong chính phủ và trong quân đội. Nhớ lại những ǵ ông ta đă
hứa trong chuyến tôi về thăm để nhận công việc, tôi tin vào sự thành thật của
ông ta và tôi quyết định thử nghiệm quyết tâm của ông. Đầu tiên tôi quyết định
đánh vào bọn mua bán ma tuư.
Tôi yêu cầu chính phủ Mỹ cho tôi tất cả mọi thông tin họ đă thu lượm được về
chuyện mua bán ma tuư. Một ngày kia tôi được cơ quan CID (cơ quan điều tra h́nh
sự, một bộ phận của CIA) mật báo là có một chiếc xe tải chở đầy thuốc phiện đă
bị nổ lốp và đang nằm ở một con đường rất đông người trong thành phố, đường Phan
Đ́nh Phùng, gần cơ quan mà tôi bắt đầu sự nghiệp năm 1953 (Ngân Hàng ba nước
Đông Dương). Tôi gọi tướng Nguyễn Ngọc Loan, một người bạn từ thuở nhỏ – sau này
nổi tiếng v́ bị một phóng viên của báo Time chộp được cảnh anh ta kê súng
bắn vào đầu một chiến binh Việt cộng, hai tay bị trói quặt sau lưng, đang đứng
trên đường phố trong cuộc tổng công kích Mậu Thân – yêu cầu anh ta điều tra ngay
lập tức và cho bắt ngay tội phạm nếu cần. Trong lúc đang phấn khởi tôi quên rằng
những hành động như vậy có thể làm tôi mất mạng v́ bọn tội phạm ở ngoài và cả
trong quân đội có dính líu đến buôn bán ma tuư có thể dễ dàng siết c̣ súng nhắm
vào bất cứ ai cản đường chúng. Tạ ơn Trời Đất! Thật vậy, chiếc xe tải chở một số
lượng lớn thuốc phiện và hai gă tài xế là hai tên lính cải trang. Có vẻ như là
lượng thuốc phiện này thuộc về một vị tướng nào đó trên Tây Nguyên. Loan sửng
sốt v́ tôi có những lượng thông tin giá trị như vậy, và anh ta vẫn cứ làm việc
b́nh thường; thế nhưng tôi nghe nói là chiếc xe tải này được đưa về bộ tư lệnh
cảnh sát (Loan là chỉ huy trưởng lực lượng công an, cảnh sát toàn quốc). Tôi
phản đối và yêu cầu chiếc xe cùng số thuốc phiện phải được đưa về toà án để làm
bằng chứng. Tôi sợ rằng thuốc phiện sẽ bị biến mất nếu như nó không nằm trong
tay ngành tư pháp. Không may thay những mối nghi ngờ của tôi được chứng tỏ là
đúng và tôi nghe nói là khi chiếc xe được chuyển tới toà án th́ phần lớn ma tuư
trên đó đă biến mất và trong công-ten-nơ hầu như trống rỗng! Tôi không bao giờ
biết được điều ǵ đă xảy ra, Kỳ và Loan không ai trả lời tôi cả. Tôi cũng không
dám nói chắc là Kỳ và Loan có đứng về phía luật pháp hay không nếu như có ai đó
đủ phương tiện để đẩy cuộc điều tra cho đến cùng. Trong ḷng tôi đă bắt đầu có
một vài ngờ vực về quyết tâm chống tham nhũng của Kỳ, về việc ông ta có dám chịu
hay không dám chịu mất một vài sự hỗ trợ chính trị của bạn bè ông ta trong quân
đội v́ quyết tâm đó.
Ngang đây tôi muốn làm rơ một điều về Thiệu và Kỳ. Người Việt Nam, cũng giống
như nhiều người phương Đông khác, thích lượm lặt những câu chuyện giật gân và
thêu dệt thành sách từ những lời đồn đăi, chẳng hạn như việc Thiệu lấy 7 tấn
vàng của Ngân hàng Trung ương Việt Nam và Kỳ dính líu tới buôn bán ma tuư. Nhiều
người thường tới hỏi tôi xác nhận chuyện này bởi họ thấy tôi biết rất nhiều
chuyện bí mật. Tôi nói với họ rằng dù có muốn, Thiệu cũng không thể lấy vàng ra
khỏi Ngân hàng Quốc gia được, trừ phi ông ta tổ chức một vụ đảo chánh để đánh
cướp Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và cuỗm đi số vàng ấy. Đương nhiên là ông ta
không thể làm như vậy. Khi người Mỹ bắt đầu ngừng viện trợ quân sự cho Nam Việt
Nam nhằm đưa Nam Việt tới bàn hội nghị, chớ không chịu cung cấp thêm súng đạn
nữa, Thiệu đă nghĩ một cách ngây thơ rằng ông ta có thể gởi số vàng ở Ngân hàng
Quốc gia qua châu Âu để bán đi mà mua vũ khí. Ông ta quên rằng trong thời chiến
các công ty bảo hiểm sẽ không chịu kư các hợp đồng bảo hiểm. Không có hợp đồng
bảo hiểm th́ không ai có thể gởi vàng đi được; v́ vậy câu chuyện này chỉ là một
lời cáo buộc vô căn cứ của những người không biết chuyện. C̣n về số vàng mà ông
ta có thể mang theo với ḿnh khi chạy trốn qua Đài Loan như người ta nói th́ tôi
không biết. Đây nữa, một vị nguyên phó Thủ tướng, người đă ở lại Việt Nam để làm
việc cho chính quyền mới, h́nh như đă tuyên bố rằng chính ông ta đă bảo vệ số
vàng ở Ngân hàng Trung ương chống lại mọi nỗ lực của Thiệu nhằm đem vàng đi; đó
là một lời khẳng định sai lầm, và những ai tin lời nói ấy dù ở trong hay ngoài
chính quyền cũng đều hết sức ngây thơ. Cũng như chuyện Kỳ buôn thuốc phiện.
Người ta nói xấu Kỳ và kết án ông ta dính líu vào việc buôn bán ma tuư. Tôi chưa
bao giờ có một chứng cứ hay bằng cớ rơ rệt nào về chuyện này và cơ quan CID cũng
chưa bao giờ nói với tôi một điều ǵ tương tự như vậy cả, trừ phi chính phủ Mỹ
ém nhẹm tin đó – mà điều này th́ rất khó có khả năng xảy ra. Tôi muốn chúng ta
phải thật sự công bằng và tôi không muốn tin những lời đồn đăi nhảm nhí (đại
loại như những câu chuyện do Ernest Lederer dựng lên) vốn nảy nở rất dễ dàng ở
Việt Nam vào thời đó – trừ phi tôi có bằng chứng chắc chắn.
Trở lại câu chuyện chiếc xe chở thuốc phiện và quyết tâm của Kỳ chống tham
nhũng; những mối nghi ngờ của tôi không bao lâu được xác nhận với vụ x́-căng-đan
“xe hơi Fatima”. Hồi đó xe hơi nhập cảng bị đánh thuế lên tới 250% giá mua và
chỉ có những hăng buôn xe hơi có giấy phép do Bộ Kinh tế cấp mới được nhập xe
hơi. Không một cá nhân nào được phép nhập xe hơi, dù không cần phải hoán đổi
ngoại tệ chính phủ để trả cho hăng cung cấp xe. Tuy nhiên một sắc lệnh sai lầm
và vô ư thức đă được áp dụng năm 1964 bởi một chính phủ trước đó mà Thủ tướng là
một người Thiên chúa giáo, đă cho phép bất cứ ai đi hành hương Fatima (một địa
điểm ở Bồ Đào Nha) khi trở về được đem theo một chiếc xe hơi đă qua sử dụng
(second hand). Bởi v́ thuế nhập cảng rất cao, nên việc xác nhận một chiếc xe đă
qua sử dụng hay chưa, và số tuổi của xe bao nhiêu, được thực hiện rất là lỏng
lẻo nên đă mở đường cho cả một khối chuyện gian lận. Có rất ít xe hơi phải trả
thuế, hoặc là trả một số thuế chẳng nghĩa lư ǵ. Số tiền lời có thể thu khi bán
xe ra, hết sức lớn, nên có người dám nhập luôn cả loại xe tay lái bên phải từ
Hồng Kông và Thái Lan về (trong khi ở Việt Nam người ta lái xe ở bên lề tay mặt
và bánh tay lái của xe nằm bên tay trái). Tháng 9/1967 số lượng lớn các cuộc
hành hương Fatima và số xe trở về không đóng thuế đă làm tôi chú ư, và tôi quyết
định dẹp cái thủ đoạn lợi dụng này bằng cách băi bỏ sắc lệnh nhập cảng đặc biệt
và định sẵn số tiền thuế phải trả cho đám xe c̣n chờ giải quyết. Tôi tới gặp Kỳ
hỏi ông ta có hỗ trợ tôi trong trường hợp thực thi pháp luật tế nhị này không,
một việc có thể làm cho nhiều chính trị gia phải đau đầu. Kỳ nh́n tôi và nói:
“Dĩ nhiên là ủng hộ. Chính phủ này là chính phủ chống tham nhũng. Anh cứ làm.”
Ông ta không nhận thức được rằng việc “cứ làm” sẽ làm ông ta nhức đầu nhiều lắm.
Tôi ra lệnh cho Tổng giám đốc Quan thuế lập một danh sách tất cả những người có
xe hơi Fatima nhập cảng đang nằm chờ giải quyết. Khi tôi nhận được bản danh sách
dài tới 150 tên, tôi sững sờ nhận thấy có đủ hạng người trong đó: lănh đạo chính
trị, lănh đạo tôn giáo, tướng lănh, vân vân... Không phải mọi chiếc xe đều từ Bồ
Đào Nha tới, nơi được coi là đích đến của các đoàn hành hương Fatima. Một số xe
từ Pháp và một số khác từ Hồng Kông chở về, mặc dầu Pháp và Hồng Kông không phải
là nơi hành hương Fatima (ở Hồng Kông, không giống như ở Việt Nam, người ta lái
xe bên lề trái). Những người đem xe các nơi khác về, không phải là những người
mộ đạo đi hành hương, họ đi đâu cũng được, miển là có thể mua xe đem về được để
bán lấy lời thôi .
Tôi tới gặp Kỳ, đưa ông ta coi danh sách và hỏi ông có c̣n muốn giữ vững quyết
định của ḿnh và “chộp” những người có tên trong danh sách không. Ông ta xem rất
kỹ lưỡng, dựa lui vào thành ghế và yên lặng một hồi. Tôi có thể tưởng tượng
những ǵ đang diễn ra trong đầu ông. Cuối cùng ông ta nói: “Ôi trời! Cái này rắc
rối dữ! Thôi được! Anh cứ làm cái ǵ thấy cần làm, nhưng đừng kéo tôi vào trong
đó!”. “V́ cuộc bầu cử sắp tới!”, ông ta nói thêm. Rơ ràng ông ta sợ những cái
tên trong danh sách. Tôi quay trở về văn pḥng của ḿnh, mời vị Bộ trưởng Bộ
Thương mại, một người bạn và một nhân viên cũ ở Ngân hàng Việt Nam Thương tín mà
tôi đă đặt vào Bộ Thương mại, và yêu cầu anh ta kư một sắc lệnh xoá tất cả mọi
điều khoản nhập khẩu đặc biệt và đánh thuế b́nh thường lên tất cả những chiếc xe
đang chờ thủ tục quan thuế. Tôi nhấn mạnh rằng tôi sẽ chịu toàn bộ trách nhiệm
trong vụ này. Anh ta nh́n vào danh sách và tôi thấy gương mặt anh ta bỗng đỏ
bừng lên. Anh ta có vẻ rất bối rối và lầm bầm vài tiếng ǵ đó; tôi thấy rơ ràng
là anh ta không muốn kư sắc lệnh ấy, mặc dù anh ta biết rất rơ đó là nhiệm vụ
của anh ta. Tôi bèn bảo anh ta hăy chuẩn bị sắc lệnh cho tôi kư. Việc công bố
sắc lệnh này đă gây nên một sự náo động lớn trong giới báo chí và trong dân
chúng. Một số người hiểu biết vấn đề th́ thán phục ḷng can đảm và quyết tâm của
tôi, gọi điện cho tôi để hoan nghênh, nhưng những người có tên trong danh sách
và những người đang chuẩn bị đi những chuyến hành hương sắp tới để kiếm chác,
liền tung tin ra là tôi ăn tiền các hăng buôn bán xe hơi. Trong mấy ngày sau đó
tôi hết sức ngao ngán cho quần chúng và đất nước của tôi; và rất thất vọng về
Kỳ. Đây là một trong những lư do khiến tôi xin từ chức năm 1968. Nhưng không bao
lâu sau đó, tôi lấy lại được ḷng hăng hái của ḿnh và quyết tâm tiếp tục đi
tới.
Đại Hàn là đồng minh của chúng ta trong chiến tranh; chính phủ Seoul đă gởi một
lực lượng viễn chinh hơn 100.000 người qua giúp Việt Nam. Nhưng đồng thời Đại
Hàn cũng được hưởng những lợi ích to lớn từ nền kinh tế chiến tranh của Việt
Nam, khi họ phục vụ các lực lượng Mỹ và Việt Nam trong các lănh vực xây dựng,
tiếp tế và dịch vụ đủ loại. Trong khi dân Việt Nam đang bận chiến đấu th́ những
công dân Đại Hàn ồ ạt tới đây, cạnh tranh với thương gia Trung Hoa và công dân
các nước thứ ba trong lănh vực kinh doanh và dịch vụ, giành chỗ của người Việt.
Việt Nam đă đóng góp rất nhiều vào việc phát triển của Đại Hàn khi quốc gia này
bắt đầu bước vào thế giới hiện đại. Chính phủ Đại Hàn hỗ trợ cho công dân của họ
hết ḿnh và t́m cách tạo cơ hội dễ dàng cho sự xâm nhập vào Việt Nam bằng cách
thiết lập các ngân hàng riêng và công ty kinh doanh riêng của họ. Kỳ đă tới
viếng thăm Seoul và được tiếp đăi bằng thảm đỏ cực kỳ long trọng. Sau khi đă
được chiêu đăi hết sức thịnh soạn, được giải khuây và tặng quà ngập đầu, Kỳ đă
dễ dàng kư một thoả ước cho phép một ngân hàng thương mại và một công ty kinh
doanh của Đại Hàn mở một chi nhánh ở Việt Nam mà không hỏi ư kiến chính phủ ở
nhà. Tôi được biết thoả ước này qua báo chí ngày hôm sau. Tôi hết sức tức giận.
Tại sao Kỳ lại có thể tặng một món quà ưu ái như vậy mà không tham khảo ư kiến
chúng tôi, làm sao ông có thể nhường một mảnh quyền tối thượng của quốc gia mà
không đ̣i hỏi bên kia phải đền đáp lại? Khi Kỳ vừa trở về, tôi đến gặp ông và
bày tỏ ư kiến của ḿnh. Tôi nói với ông ta không một ngân hàng nào được phép mở
tại Việt Nam mà không đi qua một loạt thẩm tra pháp luật và không có giấy phép
do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cấp; vả lại, cấp một giấy phép như vậy cho một
ngân hàng Đại Hàn (mà lại là một Ngân hàng Nhà nước) và không đ̣i một điều khoản
nào đáp lại cho tương xứng th́ đó là một sai lầm lớn. Vốn là một người đàng
hoàng ngay thẳng, Kỳ nhận ngay sai lầm của ḿnh và yêu cầu tôi giải quyết toàn
bộ vấn đề với giới chức Đại Hàn. Khi ngân hàng Đại Hàn nộp đơn xin cấp giấy phép
để mở một chi nhánh ở Sài G̣n, tôi cho họ biết sẽ không có giấy phép nào được
cấp nếu không có một văn kiện thành văn của chính phủ và Ngân hàng Quốc gia Đại
Hàn cam kết sẽ cấp giấy phép tương tự khi có một ngân hàng Việt Nam đủ tư cách
nạp đơn xin mở chi nhánh tại Đại Hàn. Viên Thống đốc ngân hàng Đại Hàn, một
người bạn của tôi, đành phải tuân theo, trước khi tôi kư giấy phép cho chi nhánh
Sài G̣n của ngân hàng Đại Hàn.
Công ty kinh doanh Đại Hàn có tên là Kotraco cũng phải được Bộ Thương mại cấp
giấy phép, và việc này cũng không thể giải quyết mà không có một số khó khăn tuy
ít hơn. Cũng giống như tất cả công ty kinh doanh, dù trong nước hay nước ngoài,
Kotraco cũng phải tuân theo luật pháp Việt Nam và các điều lệ ngoại thương. Rơ
ràng muốn lợi dụng việc họ giúp đỡ cho Việt Nam, công ty này định giành một vị
trí đặc biệt trên thị trường của chúng ta ngay từ buổi đầu tiên. Phái đoàn Đại
Hàn tới gặp tôi, nói rằng ông Kỳ đă chấp nhận một danh sách nhập cảng dài ở
Seoul. Tôi nói rằng chỉ có Bộ Thương mại mới có thể chấp thuận một danh sách các
mặt hàng nhập cảng. Và tôi gọt lại danh sách này chỉ c̣n một số tối thiểu rồi
gởi xuống cho Bộ Thương mại. Sau này tôi nghe kể lại là chính quyền Đại Hàn rất
tức giận về hành động của tôi. Sau khi tôi đă rời các chức vụ trong nội các, tôi
nhận thấy các nhà ngoại giao Đại Hàn và các viên chức cao cấp trước đây từng cúi
ḿnh rất thấp khi gặp tôi nay quay lưng đi và giả bộ không nh́n thấy tôi.
Trong những năm ấy, Nam Việt Nam là một cái bánh lớn và các nước láng giềng như
Hồng Kông, Singapore, Thái Lan, Phi Luật Tân, Indonesia, và Đại Hàn đều muốn một
phần miếng bánh mà nhân dân Việt Nam gánh việc trả tiền; một vài người này tham
lam hơn những người kia, nhưng Đại Hàn là kẻ tham lam nhất. Công dân của những
nước đồng minh với Mỹ trong chiến tranh như Đại Hàn, Phi Luật Tân, Đài Loan và
Thái Lan, v́ có được quy chế ưu tiên dành cho người không cư trú dài hạn, và nấp
đằng sau cái khiên che của lực lượng quân đội Mỹ, đă như đàn chim mồi sà xuống
kiếm chác trên thị trường và nền kinh tế Việt Nam. Tôi đă phải ngăn chặn rất
nhiều vụ mưu toan xâm nhập để lợi dụng và tôi đă phá hỏng nhiều thủ đoạn tham
lam của họ để bảo vệ nền kinh tế Việt Nam và cuộc sống b́nh an của người dân. Đó
không phải là một công việc dễ dàng bởi v́ các đường dây ngoại giao, các cơ sở
quân sự và sự đồng loă v́ tham lam của một số người Việt Nam cấu kết với đám
thương gia Chợ Lớn đă mở ra một lô đường dây buôn bán và tôi đă phải t́m mọi
cách để chặn lại.
Không may cho tôi, là không có được bao nhiêu đồng nghiệp và quan chức chính phủ
sẵn ḷng chọn thái độ ấy và đứng lên chống lại những việc xấu như vậy, v́ thiếu
sáng kiến, thiếu can đảm, thiếu trung thực, v́ lười biếng và thái độ làm việc
xính xái cho qua. Rất thường khi chỉ có một ḿnh tôi trong trận đánh, và tôi bị
bỏ rơi giữa đàn sói mà không có được bao nhiêu hỗ trợ. Chiến đấu đơn độc như
vậy, tôi bắt buộc phải mạnh tay; thế nên tôi đă giẫm lên chân rất nhiều bạn bè
cũng như kẻ thù. Điều này không làm cho tôi chiếm được nhiều cảm t́nh trong các
giới người Việt và người ngoại quốc. Chỉ có một vài người tận tuỵ có ḷng, mới
ủng hộ và tán thưởng hành động của tôi. Và bởi v́ quá bận rộn với bao nhiêu công
việc đ̣i hỏi, tôi đă phạm cái sai lầm là không giải thích trước công chúng, biện
minh cho việc làm của ḿnh; tôi không chú ư đủ mức đến khía cạnh cần thiết của
quan hệ “ngoại giao”. Giờ đây nh́n lại, tôi mong sao hồi đó tôi có được nhiều
thời gian và nhiều can đảm hơn để tŕnh bày trước công chúng những vấn đề, những
mối lo toan và hành động của tôi. Có lẽ đó là lư do mà tôi được người ta biết
tới ở nước ngoài nhiều hơn là ở trong nước.
Ở Pháp tôi thường xuyên tiếp xúc với Thủ tướng Antoine Pinay, người rất thân với
tôi suốt một thời gian dài, ngay cả sau khi ông và tôi cả hai cùng về hưu. Tôi
đă có những cuộc thảo luận thường xuyên với Thống đốc Baumgartner và Thống đốc
Calvet của Ngân hàng Quốc gia Pháp và các vị Tổng giám đốc của tất cả các Ngân
hàng Nhà nước khác. Ở Mỹ tôi thường gặp và làm việc với Tổng thống Lyndon
Johnson, Bộ trưởng Mc Namara, tướng Westmoreland, tướng Abrams; và tôi cũng có
tiếp xúc với phó Tổng thống Hubert Humphrey. Ở Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy và Thuỵ
Điển, tôi quen biết tất cả các vị Thống đốc Ngân hàng Quốc gia. Ở vương quốc
Anh, Tây Đức, Ư và Thuỵ Sĩ, tôi quen biết hầu hết các nhân vật trong các Ngân
hàng Trung ương và trong các ngân hàng thương mại lớn nhất của họ, v́ Ngân hàng
Quốc gia Việt Nam và Ngân hàng Việt Nam Thương tín vẫn thường giao dịch với họ.
Ở châu Á, đương nhiên là tôi quen một số c̣n đông hơn nữa các nhân vật trong
chính phủ và trong các Ngân hàng Trung ương, nhà nước cũng như tư nhân. Hai quốc
gia tôi thích hơn cả và nơi tôi gặp nhiều nhân vật quan trọng hơn cả là Nhật Bản
và Đài Loan. Trong những năm tôi giữ chức Thống đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam,
Tổng giám đốc Ngân hàng Việt Nam Thương tín, và Tổng uỷ viên Kinh tế Tài chánh,
với vị trí dẫn đầu các phái đoàn thương thuyết Việt Nam, tôi nhiều lần gặp gỡ Bộ
Ngoại giao Nhật (tiếng Nhật là Gaimucho), Bộ Kinh tế và Thương mại (Miti), gặp
gỡ Thống đốc Ngân hàng Nhật Bản và các vị Tổng giám đốc của 5 ngân hàng thương
mại lớn nhất Nhật Bản; vị Chủ tịch của Liên hiệp Công đoàn Kaidanren hùng mạnh
(tổng liên đoàn thương mại kỹ nghệ toàn nước Nhật, tổ chức tài trợ cho tất cả
các cuộc bầu cử), ông Uemura; Tổng thư kư của họ, ông Sengha; ông Kubota, Chủ
tịch xí nghiệp Nippon Koei, xí nghiệp tư vấn kỹ nghệ lớn nhất của Nhật và một
trong những xí nghiệp lớn nhất thế giới, và quen biết với nhiều vị Chủ tịch của
Quỹ Phát triển Hải ngoại Nhật Bản ODA. Sau khi tôi trở về Việt Nam với tư cách
Thống đốc Ngân hàng Quốc gia và Tổng uỷ viên Kinh tế Tài chánh, tôi thường dẫn
đầu nhiều phái đoàn qua Nhật dự các buổi hội thảo kinh tế thường niên khối Đông
Nam Á mà chủ toạ là Bộ trưởng Bộ Kinh tế và Thương mại; tôi cũng có những cuộc
tiếp xúc cá nhân với các Bộ trưởng của Nhật Bản như Miki, Fukuda và Okita. Ở Đài
Loan tôi quan hệ thân thiết với ông K.T.Li, một thành viên thường trực của chính
phủ Trung Hoa và là Bộ trưởng Kinh tế Tài chánh trong hơn 25 năm, ông P.I. Tsu,
Thống đốc Ngân hàng Trung ương và ông Kuo Hwa Yu, cũng là Thống đốc Ngân hàng
Trung ương và sau này là Thủ tướng Đài Loan, người luôn luôn tiếp đăi tôi nồng
hậu, sau khi tôi đă về hưu, mỗi khi tôi tới thăm Đài Bắc suốt một thời gian dài
cho tới khi ông qua đời; Bác sĩ I.S.Sun, nguyên Bí thư của Tổng thống Tưởng Giới
Thạch, vốn là phó Thống đốc lúc ấy, và sau này lần lượt làm Chủ tịch Ngân hàng
Giao thông Vận tải, Ngân hàng Đài Loan, Ngân hàng Trung Hoa và Ngân hàng Exim. Ở
Thái Lan, tôi rất thân với Thống đốc Puey và sau đó với Thống đốc Bishudi của
Ngân hàng Trung ương Thái Lan. Ở Phi Luật Tân, Mă Lai, Singapore và Indonesia,
tôi đều gặp và quen biết nhiều vị Thống đốc của các Ngân hàng Trung ương như
Likaros, Michel Wong cùng nhiều Bộ trưởng Tài chánh khác.
Nguồn: Cuốn hồi kư này được tác giả tự xuất bản lần đầu năm 2004 tại California. Ấn bản lần thứ nh́ đăng trên talawas có một số hiệu đính và bổ sung, bản điện tử do tác giả cung cấp.
VII. Sự
nghiệp quốc tế lần thứ hai
Sau khi rời khỏi chính phủ và Ngân hàng Trung ương cùng Ngân hàng Thương tín,
tôi được đề nghị hai việc làm: William Diamond, cấp trên của tôi tại Ngân hàng
Thế giới và đang là Giám đốc Cơ quan Phát triển Tài chánh IFC, World Bank, rất
vui khi biết tôi đă quyết định trở về Washington để làm việc. Ông gởi lời nhắn
là tôi sẽ được hoan nghênh trong bộ phận của ông với chức vụ Chánh sự vụ Bắc Phi
và các nước nói tiếng Pháp (việc trước đây của tôi năm 1965). Tôi cũng được mời
nhận chức vụ Quản trị viên dự khuyết trong hội đồng quản trị Quỹ Tiền tệ Quốc tế
IMF, phụ trách các nước Trung Hoa (tức Đài Loan), Đại Hàn, Việt Nam. Chính phủ
Việt Nam đề nghị tôi chấp nhận công việc thứ hai v́ nó sẽ cho phép tôi tiếp tục
phục vụ đất nước và về thăm Sài G̣n bốn hoặc năm lần một năm để giúp cho Ngân
hàng Trung ương và chính phủ – vị trí Thống đốc Ngân hàng Trung ương vẫn c̣n để
trống suốt gần hai năm. Và Thiệu muốn tôi tiếp tục làm Cố vấn Kinh tế Tài chánh
cho chính phủ.
Tháng 8/1968, tôi rời Sài G̣n bay sang Pháp để đem gia đ́nh đi Washington nhận
công việc mới. Chúng tôi mua một căn nhà xinh xắn ở vùng Tây Bắc Washington và
đám con tôi bắt đầu đi học ở các trường học ở Mỹ. Công việc của tôi rất thú vị
bởi v́ cấp trên của tôi, ông Bue Tan, một vị con cưng của Tổng thống Tưởng Giới
Thạch, không thích công việc của ḿnh v́ không được đào tạo trong ngành kinh tế
tài chánh, nên tôi được hoàn toàn tự do tổ chức văn pḥng và công việc với hội
đồng quản trị. Thế giới phương Tây lúc ấy đang trải qua một giai đoạn khủng
hoảng tiền tệ, và cơ quan IMF được giao trách nhiệm rà soát lại hệ thống tổ chức
của Bretton Woods (địa điểm đă thấy World Bank và IMF ra đời) và cải cách lại hệ
thống tiền tệ thế giới. Sau thế chiến thứ II, Hội nghị Bretton Woods đă sáng lập
hai tổ chức, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và cơ quan chị em của nó là IBRD (International
Bank for Reconstruction and Development – Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát
triển, thường được gọi là Ngân hàng Thế giới). Những cuộc thảo luận ở trong hội
đồng quản trị giữa các nước châu Âu, Mỹ, Nhật, Trung Hoa… hết sức là thú vị và
tôi học được rất nhiều, vừa cho bản thân tôi vừa cho lợi ích của đất nước tôi.
V́ đă từng tham gia vào việc phát triển hệ thống tiền tệ thế giới với tư cách là
Thống đốc của một Ngân hàng Trung ương và Tổng giám đốc của một Ngân hàng Thương
tín lớn trong nhiều năm trời, tôi muốn dùng kinh nghiệm thực tiễn của ḿnh trong
lănh vực ngân hàng quốc tế để giúp IMF định h́nh cho hệ thống tiền tệ thế giới
mới, nhưng tôi đă sớm nhận ra rằng ngay cả tổ chức quốc tế thanh thế nhất này
cũng có điểm yếu của nó, đơn giản chỉ v́ các vị chuyên môn trong ban điều hành,
gồm toàn những người học rộng và tinh tế, đôi khi cũng sai lầm bởi v́ thiếu kinh
nghiệm hoạt động thực tiễn. Họ đều là những nhà lư thuyết sáng chói, đôi khi rất
nổi tiếng, nhưng quá kiêu hănh nên không chịu nhận những lời khuyên ích lợi từ
kinh nghiệm thực tiễn của người có sự đào tạo khác họ.
Bắt đầu các năm 70, thế giới lâm vào một cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài hết sức
nghiêm trọng, làm rung chuyển cả nền tảng của hệ thống tiền tệ thế giới, với
những hậu quả tai hại trong sự thất thoát tài sản giữa các nước đă phát triển và
các nước đang phát triển, điều này đến lượt nó lại gây một ảnh hưởng tai hại
trên nền kinh tế và sự ổn định của các nước kém phát triển. Cuối năm 1982 tổng
số tiền nợ nước ngoài của các nước đang phát triển lên tới con số kinh hoàng là
1.703 tỉ đô-la, hoàn toàn bất cân xứng với tổng sản lượng quốc gia của họ. Các
nước ở vùng Nam sa mạc Sahara chẳng hạn đă nợ tới mức 183,5 tỉ đô-la so với
168,5 tỉ tổng lợi tức quốc dân (!) với những hậu quả tai hại về việc sút giảm
nhập cảng và chi tiêu công cộng. Tính trung b́nh th́ số lượng nhập cảng bị giảm
15%, xuất cảng giảm 4,2%, đầu tư giảm 20%, lợi tức đầu người giảm trên 2%.
Vào năm 1969, dĩ nhiên là tôi không thể tiên đoán được tai hoạ này, nhưng những
kinh nghiệm trước năm 1968 của tôi về việc phát triển ồ ạt số lượng cho vay của
các ngân hàng thương mại đă cho tôi cái cảm giác rằng một tai hoạ đang dần dần
h́nh thành cho hệ thống tiền tệ thế giới. Khi ngồi ở văn pḥng của ḿnh ở Sài
G̣n với tư cách là Thống đốc Ngân hàng Trung ương và chủ tịch Tổng giám đốc Ngân
hàng Việt Nam Thương tín, tôi đă nh́n thấy từng đoàn đại diện các ngân hàng
thương mại của Mỹ, theo sau là các đoàn đại diện ngân hàng châu Âu đi qua đi lại
cánh cửa quay của văn pḥng tôi để đề nghị đủ các món cho vay, điều mà may mắn
thay, tôi luôn luôn từ chối, v́ muốn tránh những khó khăn tiền tệ cho đất nước
trong tương lai.
Năm 1969 tôi tới gặp viên phó Giám đốc Sở châu Á của IMF để tả cho ông nghe việc
các ngân hàng thương mại quốc tế đổ xô đi mời mọc các quốc gia đang phát triển
vay mượn, và nói với ông rằng v́ có trách nhiệm đối với sự vững mạnh của hệ
thống tiền tệ thế giới, IMF phải chấm dứt ngay chiều hướng này hay ít nhất cũng
kềm bớt nó lại. Vị phó Giám đốc, một người quốc tịch Canada với một lô bằng Ph.D
kinh tế, bảo tôi đó không phải là việc của IMF! Thiệt là thiển cận! Tôi đă thử
nói thêm với một vài nhân viên cao cấp khác của IMF nhưng chẳng đi tới đâu. V́
vậy tôi rất nản ḷng và không đề cập tới chuyện này nữa. Không bao lâu sau, nợ
nước ngoài của các nước đang phát triển rơi vào một ṿng xoáy chóng mặt và cuộc
khủng hoảng nghiêm trọng trong hệ thống tiền tệ thế giới bùng nổ làm cho IMF
phải rà xét lại và cải tổ lại hệ thống tiền tệ thế giới.
Vấn đề các lư thuyết gia xuất sắc, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, thiếu kinh
nghiệm thực tiễn, là một điều rơ ràng rất dễ thấy, nhưng các nhà lănh đạo không
bao giờ thấy, v́ thiển cận và thiếu nh́n xa trông rộng. Tôi hy vọng rằng các
chính phủ quốc gia và các tổ chức quốc tế sẽ đưa thêm những người chuyên môn có
kinh nghiệm thực tiễn thêm vào số các lư thuyết gia sách vở có rất nhiều bằng
cấp nhưng không có kinh nghiệm và tầm nh́n. Và tôi hy vọng các chính phủ và các
tổ chức ấy khuyên nhủ họ nên khiêm tốn hơn và bớt hách dịch.
Nhưng không bao lâu tôi trải qua một cơn khủng hoảng nghiêm trọng, ảnh hưởng sâu
xa tới sức khoẻ thể chất và tinh thần của tôi, suưt chút nữa lấy đi cả sinh mạng
tôi. Vào một ngày đầu năm 1969, tôi được một người bạn cho biết là có một ông
Ernest Lederer nào đó đă viết một cuốn sách về chiến tranh Việt Nam với tựa đề
Những kẻ thù tệ hại nhất của chúng ta. Ernest Lederer là một người theo
Đảng Dân chủ Mỹ nhưng lại chống chính sách Việt Nam của Tổng thống Johnson. Anh
ta là một cây bút không tên tuổi, nhưng anh ta quyết định viết một cuốn sách về
các sai lầm của Johnson ở Việt Nam. Cuốn sách chỉ là một mớ những câu chuyện về
tham nhũng, một vài chuyện được xây dựng trên những sự kiện có thật, nhưng hầu
hết là trên các lời đồn đại và “nghe nói” góp nhặt trong một chuyến viếng thăm
ngắn ngủi Việt Nam, không hề có một cuộc nghiên cứu hay điều tra nào cả. Theo
một vài nguồn tin th́ cuốn sách này nhắm làm mất uy tín của Johnson và chính
sách Việt Nam của ông ta, nhưng nó không bán chạy và cũng không gây được một ảnh
hưởng thật sự nào đối với chính sách của Johnson. Trong một đoạn ngắn anh ta
buộc tội tôi ăn hoa hồng trên một số tiền kư thác ở các ngân hàng Mỹ và một số
tiền “lại quả” từ các hăng in tiền. Đây là một cú sốc khủng khiếp cho tôi bởi v́
tôi luôn luôn coi ḷng trung thực và liêm khiết nghề nghiệp là những nguyên tắc
chính trong đời. Cú sốc này đă làm tôi xuất huyết nội và tôi phải vào bệnh viện
để giải phẫu. May mắn thay sức khoẻ của tôi rất tốt, và các bác sĩ bảo rằng sở
dĩ tôi không chết là do sức khoẻ tuyệt vời của tôi. Tôi hồi phục nhanh chóng và
rời bệnh viện 5 ngày sau đó.
Sau này tôi được biết là trong chuyến ghé thăm Sài G̣n Lederer đă gặp Nguyễn
Xuân Oánh, cựu Thống đốc Ngân hàng Trung ương, người đă bị Nguyễn Cao Kỳ sa thải
và bị hội đồng tướng lănh gạt ra khỏi chính phủ. Khi Kỳ mời tôi về thay thế anh
ta, anh ta đă tưởng rằng tôi vận động để đuổi anh ta. Oánh đă làm phó Thủ tướng
trong vài tháng và quyền Thủ tướng trong vài ngày nhờ các cuộc tranh chấp nội bộ
giữa các thành viên hội đồng tướng lănh. Kỳ đă sa thải Oánh một cách không hề nể
nang ǵ, v́ ông ta rất ghét Oánh và coi Oánh vừa thiếu năng lực chuyên môn vừa
có quá nhiều tham vọng chính trị. Sau khi tôi trở về ngân hàng, Oánh một lần nữa
lại thù ghét tôi v́ đă đóng cửa văn pḥng Paris mà anh ta vừa mới thành lập khá
tốn kém trước khi ra đi, và v́ tôi đă sa thải người bạn thân của anh phụ trách
văn pḥng ấy. Việc làm này của tôi là do những nguyên nhân kinh tế tài chánh và
phù hợp với phương thức hoạt động của Ngân hàng Trung ương; có lẽ nó đă làm hỏng
một kế hoạch thầm kín nào đó của họ. Khi Lederer gặp Lê Phát Đạt, vị nghị sĩ
quốc hội mới và Giám đốc sở ngoại vụ cũ của tôi, Đạt rất là sung sướng để đóng
góp phần ḿnh vào câu chuyện dựng đứng ấy với ư đồ cho tôi một đ̣n đích đáng để
trả thù việc tôi đă không thăng chức cho anh ta và từ chối không cho anh ta
hưởng các quyền lợi mà anh ta không có quyền hưởng. C̣n Lederer th́ dĩ nhiên là
sung sướng có thêm một lời cáo buộc mới vào trong cuốn sách của ḿnh, nhưng anh
ta lại cẩu thả không chịu kiểm tra lại sự việc với các ngân hàng Mỹ đang giữ số
tiền kư thác của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và với các công ty in tiền ngân
hàng của Anh và Mỹ. Nếu anh ta kiểm tra lại th́ anh ta đă biết được sự thật, đă
tránh được những lời cáo buộc không đúng và tránh bị kiện ra toà về tội vu khống
và nhục mạ. Cái khôi hài của chuyện này là số tiền kư thác ở các ngân hàng
thương mại ngoại quốc là do sở ngoại vụ trước kia của Đạt quản lí và sự chọn lựa
các hợp đồng in tiền là do một hội đồng gồm sáu thành viên kỳ cựu của Ngân hàng
Quốc gia.
Tôi liên lạc với các ngân hàng thương mại và các công ty in tiền và thông báo
với họ là tôi sẽ kiện Lederer và nhà xuất bản của anh ta về tội vu khống, cáo
buộc gian và nhục mạ. Họ đều đồng ư sẽ ra toà làm chứng cho tôi, và tôi thuê một
luật sư ở Washington có liên hệ với một công ty luật ở New York v́ Lederer và
nhà xuất bản của anh ta là những công dân New York. Tại Việt Nam, Ngân hàng
Trung ương ủng hộ việc làm của tôi và hứa sẽ chịu những phí tổn hợp pháp theo
đúng các điều lệ được ghi trong luật của ngân hàng. Ngay sau khi các thủ tục tố
tụng bắt đầu, Lederer đă tiếp xúc với luật sư của tôi, họ gặp nhau nhiều lần ở
New York, Lederer vẫn giữ lập trường là anh ta nghe câu chuyện này từ các nguồn
tin cao cấp ở Sài G̣n, nhưng thừa nhận rằng anh ta đă không kiểm tra lại với
ngân hàng và công ty in tiền.
Quả thật không may cho tôi là anh ta đă gặp hai con người này: ai lại không tin
một cựu Thống đốc ngân hàng và một nghị sĩ quốc hội, cựu nhân viên của ngân
hàng. Lần gặp mặt thứ tư, luật sư của Lederer đưa ra một thoả hiệp: Lederer sẽ
viết và nhà xuất bản sẽ in một lời đính chính đưa vào trong tất cả các cuốn sách
đă phát hành và các ấn bản trong tương lai, nhấn mạnh rằng anh ta chưa kiểm tra
các lời cáo buộc với các ngân hàng thương mại và các công ty in tiền. Tôi từ
chối, đ̣i phải cải chính một trăm phần trăm sự vu cáo. Tuy nhiên sau một số lần
thương lượng nữa, luật sư của tôi đề nghị tôi nên chấp nhận thoả hiệp: vào thời
gian đó, toà án Mỹ v́ cuộc chiến tranh đầy mâu thuẫn ở Việt Nam không muốn đề
cập tới chuyện vu khống các nhân viên chính quyền Việt Nam và họ quan niệm rằng
khi nhận một trách nhiệm lớn trong chính phủ th́ người ta phải chấp nhận việc bị
phê b́nh dù đúng hay sai; sự phát triển của các phong trào chống chiến tranh đă
tạo nên một không khí thiếu thiện cảm đối với bất cứ ǵ hay bất cứ ai dính líu
tới Nam Việt Nam, và vị quan toà xử vụ này có thể là có cảm t́nh với phong trào
chống chiến tranh. Xét những điều bất trắc ấy và số tiền phí tổn đă lên tới một
con số khá lớn, tôi quyết định chấp nhận thoả hiệp sau khi đă suy nghĩ và tự vấn
rất nhiều. Lời đính chính được in và gởi tới tất cả các thư viện, các tiệm sách
và những ai có sách. Tôi bước ra khỏi cuộc khủng hoảng này với một tâm trạng đầy
ngao ngán, mất ḷng tin, và một cái nh́n ảm đạm đối với chính trị và công luận.
Trong khi làm nhiệm vụ Quản trị viên dự khuyết trong Hội đồng quản trị IMF tôi
đảm nhiệm vai tṛ liên lạc giữa IMF, World Bank và chính phủ Việt Nam; tôi cũng
tiếp tục làm Cố vấn Kinh tế Tài chánh không chính thức cho chính phủ Việt Nam.
Tôi vẫn tiếp tục được hỏi ư kiến về các vấn đề kinh tế tài chánh quan trọng, hỗ
trợ việc cải cách các vấn đề tiền tệ và các chương tŕnh phát triển kinh tế. V́
vậy tôi dính líu nhiều và cũng góp phần vào tất cả các chương tŕnh kinh tế tài
chánh thực hiện trong thời gian 1969-1974. Báo chí vẫn tiếp tục viết về những
toa thuốc đắng tôi kê để chữa các khó khăn kinh tế tài chánh của đất nước và vẫn
gọi tôi bằng cái tên “vua phá giá”. Nhưng càng ngày tôi càng thu được sự kính
trọng và cảm t́nh của các nhà báo khi họ hiểu tôi rơ hơn. Rất ít người chỉ trích
tôi mà không có một lời nói t́nh cảm, và rất nhiều người, đặc biệt là trong các
tờ báo đối lập (Đại Dân Tộc chẳng hạn…) thường khen tôi v́ khả năng
chuyên môn và tính thẳng thắn của tôi.
Tôi đặc biệt có quan hệ thân hữu với Vơ Long Triều, gương mặt chính đối lập với
chính phủ Thiệu, người đứng đầu tờ báo có số in lớn nhất lúc đó là tờ Đại Dân
Tộc. Triều có rất nhiều chuyện rắc rối với Thiệu nhưng chưa bao giờ bị bỏ
tù. Anh ta chỉ vào tù dưới chế độ mới và ở một thời gian trong khám Chí Hoà. Tôi
đă nhờ Thủ tướng Antoine Pinay can thiệp với chính phủ Hà Nội cho anh ta đi
Pháp. H́nh như ông Pinay cũng không thu được kết quả và Triều phải đợi một thời
gian lâu trước khi được thả. Ở Paris anh ta đă cố vực dậy tờ báo cũ của anh
nhưng anh ta lại bị lôi cuốn vào một tṛ chơi tai hại và mất tất cả mọi thứ, kể
cả sự ủng hộ của các bạn bè cũ người Pháp và người Việt. Tôi mất dấu của anh ta
từ đó.
Từ năm 1969 tới 1975 Triều và viên chủ bút của anh đă viết nhiều bài viết quan
trọng về tôi trong đó có cả “tiểu sử” của tôi trong một số báo đặc biệt chứa
đựng nhiều sai lầm rất mắc cười (ví dụ người vợ đầu của tôi là con gái của một
nhà ngoại giao danh tiếng người Pháp!). Cứ mỗi lần tôi về Sài G̣n anh ta lại
phỏng vấn tôi về t́nh h́nh kinh tế Việt Nam. Anh ta thường dùng những câu trả
lời thành thật không che giấu của tôi cũng như tư cách chuyên viên quốc tế của
tôi để chỉ trích Thiệu. Đồng thời đài phát thanh Giải Phóng của Việt cộng trong
chiến khu cũng đă trích nhiều lời tuyên bố của tôi về kinh tế Nam Việt Nam để
phát, nhằm công kích chính phủ Sài G̣n. Đó là lời của Trần Dương, Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam năm 1978, kể tôi nghe khi ông ta tới thăm tôi ở
Washington. Triều ca ngợi tài năng của tôi để làm cho người đọc thấy rơ thêm sự
yếu kém và bất lực của chính phủ. Anh ta ủng hộ tôi nhưng cũng dùng tôi cho mục
đích riêng của anh ta. Tôi ủng hộ anh ta và tôi cũng dùng anh ta cùng tờ báo anh
ta để tŕnh bày những ư kiến thẳng thắn của ḿnh tới quần chúng.
Tháng 8/1973 tiếp theo sau cuộc hội đàm Paris nhằm giải quyết vấn đề hoà b́nh,
Hà Xuân Trừng lúc ấy là Bộ trưởng Tài chánh Việt Nam, tổ chức một khoá hội thảo
về phát triển Việt Nam sau chiến tranh. Các nhà kinh tế và các giáo sư nổi tiếng
ở Đông Nam Á, Mỹ, Úc và Pháp được mời tham dự, và tôi là một trong bốn người
phát biểu chính, tôi sẽ lên diễn đàn phát biểu trong phiên họp cuối cùng. Ngày
tôi lên đọc diễn văn th́ hội trường đầy ắp người và điều làm cho cử toạ ngạc
nhiên nhất là có một số lớn phụ nữ ở cả giới kinh doanh và không kinh doanh đến
dự. Nh́n xuống dưới cử toạ tôi thấy rất nhiều gương mặt phụ nữ xinh đẹp với
những chiếc áo dài đủ màu lộng lẫy, và một số khuôn mặt quen thuộc. Tôi nghe nói
rằng trong những phiên họp trước đó không hề có phụ nữ. Lần này là lần đầu tiên
phiên họp được bao nhiêu là phụ nữ đến dự. Bài diễn văn của tôi là về vấn đề
tài trợ cho việc phát triển Việt Nam thời hậu chiến. Tôi đă bỏ nhiều tháng để
nghiên cứu và phân tích các sai lầm của các nước thuộc thế giới thứ ba, cứ chộp
lấy tất cả các loại viện trợ tài chánh và chấp nhận tất cả các khoản vay, mà
không xem xét tới giá phải trả ngày mai và ảnh hưởng của hai vấn đề đó trên vấn
đề nợ nước ngoài trong tương lai. V́ đă chứng kiến việc cho vay hỗn độn của các
ngân hàng thương mại quốc tế trong thời gian đứng đầu Ngân hàng Quốc gia Việt
Nam và Ngân hàng Việt Nam Thương tín, tôi nhận ra những dấu hiệu cho thấy t́nh
thế khó khăn nghiêm trọng của các nước đang phát triển, trên khoản nợ nước
ngoài. Sau khi nghiên cứu t́m hiểu kỹ lưỡng, tôi đưa bài diễn văn cho vài người
đồng nghiệp quan trọng ở IMF, cơ quan có trách nhiệm về sự vững mạnh của hệ
thống tiền tệ thế giới. Tôi quan niệm IMF phải kiểm soát gắt gao hơn việc vay
mượn của các nước thành viên, phải yêu cầu các ngân hàng thương mại thận trọng
hơn trong việc cho vay; và nhất là đặc biệt chú ư đến t́nh cảnh nợ rối ren của
thế giới thứ ba. Những người đồng nghiệp của tôi, v́ thiếu kinh nghiệm thực hành
ngân hàng và v́ không hiểu sự thiển cận của các ngân hàng thương mại quốc tế, đă
nói với tôi rằng việc các ngân hàng thương mại cho các quốc gia thành viên vay
“không phải là công việc của chúng ta ở Quỹ Tiền tệ Quốc tế” và tôi không nên lo
lắng về việc đó – tôi cũng ṭ ṃ muốn biết họ sẽ nghĩ thế nào, khi sau đó, số
các ngân hàng thương mại cho những nước thành viên vay đă lên mức quá cao và đă
bùng nổ, tạo nên một cơn khủng hoảng rất nghiêm trọng cho hệ thống tiền tệ thế
giới trong các năm 1970 và 80! Rất thất vọng v́ thái độ vô trách nhiệm của chính
cơ quan ḿnh đang làm việc, tôi càng quyết tâm hơn bao giờ hết bảo vệ đất nước
Việt Nam của tôi khỏi những sai lầm này. Trong bài diễn văn, tôi nhấn mạnh đến
hậu quả của việc vay mượn quá nhiều đối với vấn đề trả nợ trong tương lai, tôi
phân tích hoàn cảnh thê lương của một số nước vay mượn hoặc nhận viện trợ không
đáng, quá nhiều, và khuyến cáo Việt Nam hăy chọn lựa thật cẩn thận những khoản
vay và những khoản tài trợ cho việc phát triển hậu chiến để tránh những khó khăn
mà nhiều nước hiện nay đang mắc phải. Để kết luận, tôi đă đọc một lời kêu gọi
đầy xúc động tới chính phủ và nhân dân Việt Nam, nói rằng viện trợ nước ngoài và
hỗ trợ tài chánh là những viên thuốc đắng bọc đường, và có lẽ đắng nhiều hơn
ngọt… và tôi khuyến cáo Việt Nam nên sử dụng viện trợ nước ngoài một cách hữu
hiệu hơn để có kết quả tối đa nhằm mau chóng thoát khỏi giai đoạn ngửa tay xin
viện trợ nước ngoài và giành lại sự độc lập cho ḿnh. Cử toạ vỗ tay cuồng nhiệt
và phiên họp cuối cùng được đặc biệt đánh giá cao. Ngày hôm sau tất cả các tờ
báo ở thủ đô Sài G̣n đă trích dẫn bài diễn văn của tôi ngay trên trang đầu với
một loạt lời khen ngợi và tờ Đại Dân Tộc th́ đăng toàn bộ bài diễn văn.
Báo chí đối lập đă dùng lời kết thúc của tôi để công kích chính sách của chính
phủ. Trong buổi tiếp tân sau đó, rất nhiều nhà kinh tế Việt Nam và nước ngoài đă
đến nói với tôi rằng đó là bài diễn văn hay nhất và bài nghiên cứu sâu sắc nhất
trong suốt một tuần lễ của khoá hội thảo. Trong bài diễn văn, khi nói về những
khoản vay quá “mắc”, với lăi suất mà Việt Nam không thể nào trả nổi, tôi có ám
chỉ đến khoản vay đang được thương lượng với Pháp về việc phát triển nhà máy
xi-măng Hà Tiên. Vài ngày sau tôi được một quan chức cao cấp trong Bộ Tài chánh
Pháp là ông Fieve đến thăm. Fieve phản đối lời khẳng định của tôi cho rằng khoản
cho vay của Pháp không thể chấp nhận được đối với Việt Nam v́ lăi suất cao quá.
Fieve là một Thanh tra tài chánh Pháp và là một người bạn cũ của tôi, tôi rất
trọng các quan điểm của ông nhưng tôi vẫn giữ vững ư kiến của ḿnh.
Trong khi làm việc với tư cách là Uỷ viên dự khuyết của Hội đồng Quản trị IMF,
tôi cũng đảm nhận trách nhiệm liên lạc giữa hai cơ quan chị em song sinh của
Bretton Woods là IMF và World Bank với chính phủ Việt Nam. Tôi tham dự tất cả
các buổi tham khảo giữa IMF và Việt Nam và tất cả các cuộc thảo luận giữa Việt
Nam với World Bank. Lần lần tôi hết ảo tưởng với hai tổ chức này. Cả hai đều
mang tính chất chính trị nhiều hơn là chuyên môn và cả hai đều mang một thái độ
mập mờ và sai lệch đối với Việt Nam; trong lúc theo lời tôi khuyến cáo, Việt Nam
lại luôn luôn hoàn thành trách nhiệm thành viên của ḿnh và thi hành đúng những
sự đ̣i hỏi của IMF và World Bank. Mặc dù những lời hứa được lặp đi lặp lại, Việt
Nam chưa bao giờ nhận được một khoản viện trợ nào từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế hay từ
Ngân hàng Thế giới. McNamara, Chủ tịch Ngân hàng Thế giới, người trước đây là Bộ
trưởng Quốc pḥng dưới thời Tổng thống Johnson nên có liên quan chặt chẽ với
cuộc chiến tranh Việt Nam: ông ta luôn luôn sợ các nhóm chống chiến tranh lên án
là thân Việt Nam. Trong hội đồng quản trị Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), những người
đại diện cho các quốc gia trung lập luôn luôn có cảm t́nh với miền Bắc Việt Nam
và do đó có khuynh hướng ác cảm với miền Nam Việt Nam. Những phái đoàn IMF và
World Bank thăm viếng Việt Nam luôn luôn được đón tiếp bằng thảm đỏ ở Sài G̣n và
các thành viên của họ luôn luôn được Ngân hàng Quốc gia Việt Nam chiêu đăi thịnh
soạn. Một vài người trong phái đoàn đă lợi dụng ḷng hiếu khách của chúng tôi và
đă xài một lượng lớn khác thường các loại rượu ngon luôn luôn đầy đủ cho họ
thưởng thức. V́ những lư do an ninh, chúng tôi mời họ về ở trong những căn hộ
lộng lẫy phía trên Ngân hàng Quốc gia, mỗi căn rộng hơn 500 mét vuông, và chúng
tôi mời họ mỗi ngày ba bữa cơm thịnh soạn, họ không phải tốn một xu trong khi
vẫn được cơ quan của họ trả lương và phụ cấp công cán đầy đủ. Thế nhưng tôi rất
ngao ngán v́ thái độ của hầu hết bọn họ năm 1975 sau khi Nam Việt Nam thất thủ;
họ đă trở bộ quay qua tán tỉnh Hà Nội, làm tất cả mọi điều có thể được để vui
ḷng Hà Nội. Ngay sau khi miền Nam sụp đổ họ đă đổ xô về Hà Nội để hỗ trợ tài
chánh mặc dù, theo như lời họ nói, Hà Nội luôn luôn từ chối thực hiện những
nghĩa vụ của một thành viên và không chịu thông báo các số liệu thống kê mà họ
yêu cầu. Các nhân viên của các tổ chức Bretton Woods là những nhân viên dân sự
quốc tế, được coi là không mang tính chính trị trong thái độ đối với các nước
thành viên, nhưng hầu hết bọn họ không cưỡng lại được sự cám dỗ thiên về xu
hướng chính trị riêng tư của ḿnh, và xu hướng này thường bị tác động bởi chính
phủ của họ ở quê nhà.
Sự kính trọng của tôi đối với Quỹ Tiền tệ Quốc tế, IMF, đă bị xói ṃn nghiêm
trọng sau khi tôi tham dự những cuộc thảo luận giữa các phái đoàn IMF và các
quốc gia thành viên. Nhân viên IMF chỉ được đào tạo lư thuyết trường ốc và thiếu
kinh nghiệm thực tiễn trong các lănh vực liên quan, họ giỏi về lư thuyết nhưng
bất lực trong thực hành và lúc nào cũng hách dịch. Sống trong cảnh giàu sang của
quốc gia phát triển nhất thế giới là Mỹ, và được trả một loại lương cao hàng đầu
thế giới, làm việc trong những trung tâm hiện đại nhất và tiện nghi nhất, tắm
trong ánh hào quang và uy tín của những tổ chức quốc tế, họ hoàn toàn không biết
đến cuộc sống khó nhọc ở các nước thế giới thứ ba. Ngay cả những nhà kinh tế trẻ
tuổi đến từ các nước đang phát triển cũng thường bị uốn nắn theo khuôn khổ này
bởi họ thường xuất thân từ những gia đ́nh giàu có, rời quê hương ra đi rất sớm
để học tại châu Âu hay Mỹ; họ chưa bao giờ bị phơi ra thực tế khắc nghiệt của
quê hương họ. Các nhân viên IMF có nhiều quyền lực bởi v́ các nước thành viên
luôn luôn sợ bị họ trừng phạt; họ thường có những yêu cầu rất lư thuyết mà không
hề đếm xỉa ǵ đến ảnh hưởng của viên thuốc đắng ấy đối với đời sống chính trị xă
hội trong đất nước mà họ thăm viếng; họ liệt kê những điều kiện của họ rồi bỏ về
Washington, đôi khi để lại đằng sau ḿnh những cuộc nổi loạn hay phản kháng ở
tầm mức quốc gia gây nên bởi những chuyến công tác của họ; có nhiều chính phủ đă
sụp đổ, hoặc rơi vào cảnh khó khăn nghiêm trọng với dân chúng sau một chuyến
viếng thăm của một phái đoàn IMF.
Ở Phi Luật Tân năm 1971, trong khi những bất ổn xă hội và những rối loạn chính
trị đang hoành hành đất nước, và ngay giữa ḷng một cuộc khủng hoảng kinh tế
nghiêm trọng, trong khi thu nhập b́nh quân của tầng lớp thấp tại thủ đô Manila
chỉ có 50 xu (tiền Mỹ) một ngày, trong khi đất nước đang bị phá sản và số dự trữ
ngoại tệ đă gần như hoàn toàn biến mất, th́ phái đoàn IMF lại nằng nặc đ̣i chính
quyền hạ giá đồng bạc và xoá bỏ mọi hạn chế về kinh doanh để cho phép nhập cảng
các loại xe hơi đắt tiền và các món hàng xa xỉ phẩm nhân danh tự do kinh doanh.
Về mặt chính trị và xă hội th́ đây là một điều cực kỳ phi lư, nhưng chính phủ
Phi Luật Tân phải nghe theo v́ sợ bị từ chối viện trợ tài chánh. Tương tự như
vậy tại nhiều thời điểm khác nhau ở Chi-lê, ở Pê-ru, ở Tanzania, ở Sri Lanka,
Colombia, Nigeria và các nước thành viên khác, các chính phủ đều cảm thấy cay
đắng trước thói hách dịch, sự thiếu quan tâm đối với con người và hoàn cảnh
chính trị của các nhân viên IMF, khi họ áp đặt những biện pháp cải cách.
Khi tôi c̣n là một thành viên của hội đồng quản trị IMF, tôi được nghe một số
quan chức trong chính phủ của vài quốc gia thành viên kể về những chuyện tham
nhũng và mất tư cách của một số nhân viên IMF có địa vị cao khi đi công tác: một
vị giám đốc một sở của IMF, mê gái nổi tiếng, trong một chuyến công tác qua một
nước Á châu, sau một chầu ăn tối thịnh soạn, đă bảo với nhân viên liên lạc là
ông ta muốn được cấp một chiếc xe Cadillac để đi chơi và chiếc xe đó phải có
người xinh đẹp “ngồi ở trong”. Một thành viên khác trong một chuyến quá cảnh
ngang qua Singapore đă lấy làm phiền ḷng v́ không có ai đại diện chính phủ ra
đón tiếp anh ta tại phi trường, đă có một lời “phiền trách chính thức” đối với
chính quyền sở tại. Tôi được nghe các quan chức của một quốc gia kể lại là một
vị phó Giám đốc sở của IMF, vốn là một tay nghiện rượu, trong một chuyến viếng
thăm đă đ̣i hỏi pḥng anh ta ở phải chất đầy rượu Johnnie Walker Black Label, và
chỉ nhăn hiệu Black Label mới chịu. Sau này chính mắt tôi thấy nhiều nhân viên
cao cấp tổ chức những chuyến công tác riêng cho ḿnh để có thể ghé thăm quê nhà
thường xuyên hoặc để các chính quyền sở tại chiêu đăi, ngoài ra không có mục
đích thật sự, không có lư do chính đáng.
Nh́n lại thời kỳ mà Nam Việt Nam là thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và
Ngân hàng Thế giới (World Bank), bây giờ tôi nhận ra là việc nghiêm chỉnh thi
hành điều lệ, những cuộc chiêu đăi ngoại giao thịnh soạn, mồ hôi và sự quan tâm
của chúng tôi đối với các phái đoàn IMF viếng thăm chỉ là một sự phí phạm vô
ích; điều duy nhất mà IMF đem lại cho nền kinh tế và cải cách tiền tệ Việt Nam
chỉ là cái danh của IMF, để làm cho dân chúng Việt Nam bớt một phần cay đắng. Đó
là tất cả những ǵ chúng tôi đă thu được từ IMF. Giờ đây tôi cảm thấy ḿnh có
trách nhiệm về tất cả các việc này v́ từ ngày đầu tiên cho tới ngày cuối cùng
Việt Nam gia nhập IMF (1955-1975) tôi luôn luôn đ̣i hỏi phía ḿnh giữ đúng điều
lệ và trải thảm đỏ đón tiếp các phái đoàn khảo sát của IMF. Việc tuân thủ các
quy định của nước thành viên là một cuộc thực tập có ích cho nhân viên Ngân hàng
Quốc gia và nhân viên Bộ Tài chánh, những cuộc thảo luận quanh vấn đề khảo sát
cũng giúp hiểu biết thêm nền kinh tế và tiền tệ Việt Nam; nhưng việc trải thảm
đỏ và những vụ tiếp tân thịnh soạn chỉ là điều hoàn toàn phí phạm; một vài nhân
viên của IMF đă lợi dụng ḷng hiếu khách rộng răi của chúng tôi và sự đón tiếp
nồng hậu của chúng tôi nhưng để đền đáp lại, họ không hề tỏ một chút quan tâm
nào đối với các khó khăn kinh tế do chiến tranh gây ra hay một chút cảm t́nh nào
đối với các khó khăn chính trị và xă hội do những toa thuốc của họ kê ra ngay
giữa ḷng cuộc chiến.
Cuối tháng 11/1974, tôi quyết định về Sài G̣n để quan sát t́nh h́nh, thu thập
các sự kiện và thông tin để quyết định. Tôi gặp Thiệu, một lần nữa ông ta yêu
cầu tôi trở về giúp cho chính phủ. Tôi nói với Thiệu rằng t́nh h́nh kinh tế cũng
như chính trị rất là nghiêm trọng và theo tôi, chính phủ cần có tất cả sự ủng
hộ của dân chúng mới có thể tiếp tục chiến đấu được, và chánh phủ cần phải quét
sạch mọi tham nhũng và bất lực ra khỏi chính quyền, để cho dân chúng có một niềm
tin và hy vọng; bước cụ thể đầu tiên là loại bỏ tất cả những con người tham
nhũng trong đám cận thần ông ta, đặc biệt là viên tướng tham nhũng nổi tiếng
nhất, cánh tay phải của ông ta, một bước đi sẽ làm cho đa số quần chúng hoan
nghênh. Thiệu không nói một lời về đề tài này, và như vậy đă làm tôi tin rằng
chính ông ta cũng dính sâu hay ít nhất cũng có trách nhiệm trong các hoạt động
bất chính này. Cuối buổi họp, Thiệu thử thách ḷng yêu nước của tôi và yêu cầu
tôi hăy chứng tỏ là tôi sẵn sàng phục vụ đất nước nếu các “điều kiện” thích hợp.
Ông ta yêu cầu tôi hăy quay về nước trước đă, rồi sẽ bàn với ông ta các điều
kiện làm việc mà tôi yêu cầu.
Tôi quay về Washington với quyết tâm làm ǵ đó cho đất nước vào giờ phút nguy
kịch này. Tôi dự định quay trở lại Sài G̣n với một số vật dụng gia đ́nh để tỏ
cho Thiệu thấy là tôi sẵn sàng về nước phục vụ nếu các điều kiện mà tôi yêu cầu
được đáp ứng. Trong lúc đó Bắc Việt bắt đầu thăm ḍ sức chống cự của miền Nam để
mở một cuộc tấn công tổng lực; họ được khuyến khích bởi thái độ thay đổi của
quốc hội Mỹ và áp lực khổng lồ đè lên chính quyền Nixon do các phong trào chống
chiến tranh càng ngày càng lan rộng tạo ra. Sau một sai lầm vụng về trong việc
dùng binh của Thiệu và các tướng lănh của ông ta, Bắc Việt tiến quân vào miền
Nam và mau chóng gia tăng thế lực nhằm tấn công xuống phía Nam. Tôi đáp máy bay
xuống Sài G̣n đầu tháng Ba 1975 và gặp Thiệu nhưng Thiệu đang lo lắng về cuộc
tấn công của miền Bắc và sự sống c̣n của bản thân hơn là cải thiện h́nh ảnh
chính phủ của ông. Tuy nhiên ông ta vẫn nói tôi tham gia chính phủ để phục vụ;
nhưng tôi tin rằng việc tham gia chính quyền Thiệu vào giờ phút trễ tràng này là
một điều hết sức vô ích, khi chính bản thân ông ta từ chối những biện pháp quyết
liệt để được ḷng dân chúng. Có lẽ trong những trường hợp tuyệt vọng như thế
này, cơ hội duy nhất để tránh một thảm hoạ cho miền Nam là cố gắng vào giây phút
chót thương thuyết với Hà Nội. Giờ đây khi tôi đă về lại Sài G̣n và không c̣n
được “bao nhiêu ánh sáng ở cuối đường hầm”, có lẽ tôi nên cố thử làm một điều ǵ
đó trước khi buông xuôi tất cả. Tôi nói với Thiệu rằng đối diện với quyết tâm
của Hà Nội muốn mở một cuộc tổng tấn công cuối cùng, cách duy nhất mà tôi có thể
giúp là chấp nhận vị trí Bộ trưởng Ngoại giao với một mục tiêu đặc biệt: thương
thuyết với Hà Nội và cố gắng đi đến một sự thông cảm để tránh chiến tranh và đau
khổ cho dân Việt Nam trước khi quá trễ. Thiệu hỏi tôi làm sao tôi có thể thành
công khi mà Kissinger đă thất bại; tôi trả lời Thiệu là dù Kissinger có giỏi bao
nhiêu đi nữa nhưng ông ta cũng không phải là người Việt Nam; hơn nữa tôi luôn
luôn có cảm giác ngay từ lúc đầu là ông Kissinger chỉ lo đến quyền lợi của Hoa
Kỳ, và trong ḷng ông, không bao giờ ông thật ḷng đếm xỉa đến số phận của miền
Nam Việt Nam. Tôi tin rằng ngay từ lúc đầu, khi bắt đầu thương thuyết với Bắc
Việt, ông đă có trong ḷng ư nghĩ riêng tư, chỉ lo việc chánh là rút quân Mỹ ra
khỏi Việt Nam, với bất kỳ với một giá nào, kể cả việc hy sinh miền Nam Việt Nam.
Vào giờ phút cuối cùng này, chỉ c̣n một hy vọng rất mong manh là người Việt Nam
ngồi nói chuyện với nhau, có thể đồng ư được về một sự dàn xếp nào đó mà một
người Mỹ nói chuyện với người Việt Nam không thể làm được. Thiệu nói ông ta ông
ta không muốn thương thuyết mà chỉ muốn tranh đấu cho đến người cuối cùng. Sau
này mỗi lần tôi nhớ đến câu nói này của ông ta, tôi không khỏi nghĩ đến sự sai
lầm quá trầm trọng cho đất nước khi ông cho lệnh quân đội rút khỏi miền Kontum,
Pleiku – buồn cười thay, so với ư chí chiến đấu đến cùng – để cho quân đội và
hàng trăm ngàn thường dân bị địch quân tiêu diệt trên đường rút lui. Khi nghe
câu đó của ông, tôi không khỏi nghĩ ngay là, dĩ nhiên ông ta nói vậy để rồi chạy
trốn. Nhưng nh́n lại cuộc thảm hại kinh hoàng chiến tranh đă để lại, về cả mặt
chính trị lẫn xă hội, khi Sài G̣n thất thủ, người ta có thể nghĩ rằng nếu Thiệu
ráng thử ư kiến thương thuyết trước khi quá trễ, th́ ông ta có thể tránh được
biết bao nhiêu tổn thất và đau khổ cho toàn dân Việt Nam, miền Nam cũng như miền
Bắc.
Tôi quyết định từ bỏ cái ư tưởng tham gia chính quyền, khi chứng kiến những nỗi
cực khổ khủng khiếp của làn sóng người khổng lồ chạy trốn chiến tranh từ Huế và
Đà Nẵng. Thay v́ ra đi, tôi quyết định ở lại để giúp tổ chức có trật tự hơn các
làn sóng người tị nạn, nhằm giảm bớt sự đau khổ của dân chúng bỏ nhà bỏ cửa mà
ra đi, sau khi nghe Thiệu cho lệnh rút quân. Tôi bàn với Yves Prunier, một người
bạn trong ngành vận tải đường biển; và chúng tôi đă nhận được lời hứa của một
tay trùm ngành vận tải đường biển ở Hồng Kông cho chúng tôi mượn hai chiếc tàu
chở khách, mỗi chiếc có thể chở 70.000 người tị nạn. Tôi móc nối với phó Thủ
tướng Phan Quang Đán đang phụ trách vấn đề tị nạn nhưng Đán lề mề suốt 10 ngày
mặc dù tôi gọi điện thúc giục liên tiếp, và cuối cùng th́ Đán lịch sự từ chối.
Tôi được những người phụ tá của Thiệu và Đán cho biết sự thật, chính phủ không
muốn đưa biển người chạy nạn vào Nam v́ sợ họ sẽ gây nên những khó khăn rất lớn
cho chính phủ. Lẽ ra họ phải nói cho tôi biết trước để tôi khỏi phí thời gian
quư báu và để cho tôi có thể tổ chức một cuộc giúp đỡ khác để phụ giúp những
người tị nạn quá khốn khổ. Dù sao đi nữa th́ quân đội Bắc Việt cũng tiến quá
nhanh và việc di tản hàng triệu con người tị nạn là một công việc không thể thực
hiện được.
Thế rồi tôi nảy ra cái ư nghĩ là làm sao cho thế giới bên ngoài biết nỗi khổ của
người tị nạn Việt Nam để có thể được tài trợ tiền bạc hay vật dụng giúp họ. Với
sự giúp đỡ của một vài người bạn khá giả, tôi gởi một toán ca-mê-ra vào vùng
chiến sự để quay phim cảnh đoàn người chạy trốn cùng tất cả nỗi khổ của họ. Tôi
gởi một cuốn phim như vậy qua Hồng Kông, trên đường tới nước Mỹ nhưng cuốn phim
không bao giờ tới được đích v́ quân đội Bắc Việt tiến quá nhanh và sự hoảng loạn
trong dân chúng làm cho tất cả dịch vụ công cộng đều bị rối beng. Cảm thấy rằng
không c̣n ǵ nữa để giúp xứ sở và dân chúng, tôi quyết định ra đi trước khi quá
trễ. Tôi thu xếp để đưa được một vài người bạn ra khỏi Việt Nam cùng với các
chuyến di tản của cộng đồng người Mỹ.
Tôi gọi điện cho Vơ Long Triều và khuyên anh ta nên rời đất nước; tôi sẽ giúp
anh ta bằng mọi cách v́ tôi biết anh ta không có đủ liên hệ cần thiết với người
Mỹ để đưa cả gia đ́nh ra đi. Tôi không nghĩ rằng Triều sẽ nhảy xổ tới chộp lời
đề nghị của tôi, nhưng anh ta cũng không chống đối ư kiến này. V́ là một gương
mặt đối lập chính với chế độ Thiệu, đương nhiên là anh ta tin rằng chế độ mới ít
nhất cũng để yên cho anh. Rất nhiều người lănh đạo phe đối lập cũng tin rằng v́
họ đă từng chống đối mạnh mẽ chế độ của Thiệu, họ sẽ được chế độ mới hoan nghênh
hay ít nhất cũng coi họ là “trung lập” và cuối cùng họ có thể thu xếp để sống
yên b́nh. Có nhiều người trong bọn họ tin rằng miền Bắc sẽ nhớ ơn họ v́ đă chống
Diệm và Thiệu và gây nên những rối loạn ở Sài G̣n. Rơ ràng họ không biết rằng
những nhà lănh đạo mới có ư kiến riêng của họ. Vơ Long Triều có lẽ cũng nghĩ như
những người kia, nhưng anh ta cũng đủ thông minh để gởi một người phụ tá tên là
Nam Đ́nh, một người có khuynh hướng thiên tả và là một cán bộ nằm vùng – sau này
chúng tôi mới biết – vào rừng để ḍ hỏi những người chỉ huy Việt cộng xem anh ta
có được chế độ mới đối xử tử tế hay không. Phía Việt cộng trả lời rằng họ đánh
giá cao thái độ can đảm của anh trong những năm sau này, tuy nhiên họ cần phải
xem xét trường hợp của anh sau khi họ nắm chính quyền. Triều cũng đủ thông minh
để nhận ra rằng anh ta không phải là một thần tượng của họ. Anh ta gởi lời nhắn
tôi là anh ta chấp nhận lời đề nghị của tôi để đưa anh và gia đ́nh anh di tản.
Không may thay, anh bị Thiệu đặt vào chế độ quản thúc tại gia và bị canh giữ đêm
ngày bởi một lực lượng cảnh sát 12 người.
Anh ta không thể gọi điện cho tôi, và tôi rời khỏi Sài G̣n ngày 7 tháng 4 trên
một trong những chuyến bay thương mại cuối cùng ra khỏi Việt Nam. Sau khi chế độ
mới lên cầm quyền, anh được thoát khỏi chế độ quản thúc nhưng không lâu sau đó
lại bị bắt giam ở khám Chí Hoà. Sức khoẻ của anh xuống dốc nhanh chóng v́ các
điều kiện giam cầm. Tôi đă nhờ Thủ tướng Antoine Pinay can thiệp giúp anh, nhưng
Hà Nội làm ngơ lời yêu cầu của chính quyền Pháp.
Trước khi rời Việt Nam tới Hồng Kông, tôi tới toà lănh sự Mỹ để xin cấp visa vào
Mỹ mặc dù tôi đă có một giấy thông hành ngoại giao của Liên Hiệp Quốc – một hành
động thận trọng của IMF – để tôi tạm sử dụng cho đến khi tôi quyết định dứt
khoát trở về IMF hay rời khỏi cơ quan này; đó là một biện pháp tạm thời để bảo
vệ tôi trong chuyến về thăm Việt Nam. Tôi sẽ luôn luôn nhớ thái độ hống hách của
viên phó lănh sự Oh, một người Mỹ gốc Đại Hàn trả lời rằng anh ta (tức là toà
lănh sự Mỹ) không biết tôi! Câu trả lời quả là kỳ dị đối với một người đă từng
làm việc nhiều với toà Bạch Ốc và tất cả các viên đại sứ Mỹ ở Sài G̣n suốt 20
năm qua. Đại sứ Ellsworth Bunker, người mà tôi quen rất nhiều đă rời Sài G̣n,
c̣n tôi th́ chưa tiếp xúc với viên đại sứ mới, ông Martin.
Về Washington, tôi ngồi xem trên truyền h́nh những ngày cuối cùng của miền Nam
Việt Nam, khi những cảnh tan ră của đất nước mở ra lần lần trước mắt tôi trên
màn ảnh, tôi cảm thấy một nỗi buồn sâu đậm và một cảm giác tức giận và xấu hổ.
Làm sao chúng tôi có thể để mất một mảnh đất đẹp đẽ như vậy, một đất nước đáng
thương yêu như vậy? Tin tức về việc các tướng lănh và các vị lănh đạo chính trị
tới các trại tị nạn với những túi xách và vali đầy tiền làm tôi tức giận hơn
nữa. Truyền h́nh và báo chí tường thuật rằng khi tướng Kỳ được bà Ford phỏng vấn
ở trại tị nạn, Kỳ đă nói với bà là ông ta chỉ có 30 đồng trong túi! Làm sao ông
ta có thể mua được một căn nhà và hai chiếc xe hơi ở bang Virginia không lâu sau
đó và làm sao ông ta có thể mua được một cái tiệm rượu, và bà vợ của ông ta có
thể cúng biết bao nhiêu là tiền trong các ṣng bạc, như báo chí đă đưa tin?
Một vài tháng sau tôi nhận được nhiều cú gọi liên tiếp của một nghị sĩ quốc hội
Canada và một giáo sư đại học ở Montreal nói cho tôi biết là họ đang cố trục
xuất hai vị lănh đạo Việt Nam nổi tiếng tham nhũng, bởi v́ một nhân viên di trú
Canada đă sai lầm khi cho phép họ nhập cư, trong khi không có một quốc gia nào
chịu nhận hai người này. Họ nói với tôi rằng họ muốn tống cổ ra khỏi Canada một
viên tướng hết sức tham nhũng vốn là cánh tay phải của Thiệu và là một tay kinh
doanh mà ai cũng biết đă từng phỗng tay trên một ngân hàng ở Sài G̣n bằng những
biện pháp bất chánh. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy viên nghị sĩ Canada có thông
tin hết sức chính xác về hai người này, nhưng ông ta cũng muốn thêm thông tin từ
một viên Thống đốc Ngân hàng Trung ương để lập thành một cáo trạng đúng luật
chống họ. Tôi không cho một thông tin nào thêm cả, nhưng vị nghị sĩ và vị giáo
sư nói với tôi là họ sẽ tŕnh một đạo luật lên quốc hội Canada để tống cổ hai
người kia ra khỏi nước họ. Không may thay cho vị nghị sĩ Canada, không một nước
nào muốn nhận hai người đó cả và v́ vậy theo luật pháp của Canada, chính quyền
không thể đuổi họ.
Nguồn: Cuốn hồi kư này được tác giả tự xuất bản lần đầu năm 2004 tại California. Ấn bản lần thứ nh́ đăng trên talawas có một số hiệu đính và bổ sung, bản điện tử do tác giả cung cấp.
VIII. Sự
nghiệp quốc tế thứ ba
Khi tôi trở lại Washington vào tháng 4/1975, tôi vẫn phân vân lưỡng lự giữa hai
khả năng: hoặc quay lại World Bank làm việc với Bill Diamond, hoặc về IMF với
Ian Mladeck, người đă đề nghị tôi gia nhập Sở Ngân hàng Trung ương (CBS) làm
việc với ông, sau khi tôi rời chức vụ trong hội đồng quản trị. Tôi chọn công
việc thứ hai; tôi được mời giữ chức vụ Cố vấn, thích hợp với kiến thức chuyên
môn và nguyện vọng của tôi hơn. Tôi bắt đầu vào CBS tháng 5/1975; công việc của
tôi là hỗ trợ kỹ thuật cho những quốc gia đang phát triển trong lănh vực ngân
hàng thương mại và ngân hàng trung ương; công việc rất thú vị và tôi rất thích
việc ḿnh đang làm. Nhưng không bao lâu tôi khám phá ra là IMF c̣n thiên về
chính trị nhiều hơn cả World Bank, và chính trị đóng một vai tṛ rất lớn trong
các quyết định của họ. Tôi rất ngạc nhiên khi biết rằng kinh nghiệm chuyên môn
và sự thạo nghề không phải là những khía cạnh quan trọng nhất của một sự nghiệp
đối với các nhân viên IMF; rằng người ta cần phải chú ư tới những chuyện chính
trị, những tṛ tranh giành quyền lực, những mưu mô và những mối liên hệ quốc gia
hay “bộ tộc”, hơn là thông hiểu kỹ thuật và có tài trong nghề nghiệp. Những nhân
viên trong ban điều hành sở tôi đều có những bằng cấp cao, danh giá lớn, gây ấn
tượng rất lớn đối với các chính phủ hội viên, nhưng lại thiếu kinh nghiệm thực
tiễn hoặc kiến thức về ngân hàng tại các nước đang phát triển. Chỉ có hai người
trong họ là xuất thân từ các lănh vực thực hành và nghiệp vụ ngành Ngân hàng
Trung ương, nơi họ làm việc trước khi gia nhập vào Sở Ngân hàng Trung ương ở
IMF. Phần lớn những người khác chỉ có kinh nghiệm hành chánh hay chính trị trong
những cơ quan cũ của họ trước kia. Và không có một ai được đào tạo về ngân hàng
thương mại, chỉ một ḿnh tôi là người có kinh nghiệm lâu năm, hoạt động trong
các Ngân hàng Trung ương, ngân hàng thương mại và Ngân hàng Khuếch trương Kỹ
nghệ. V́ vậy mà công việc trợ giúp kỹ thuật thật sự phải dựa vào các “chuyên
viên” mà họ tuyển mộ và gởi tới các nước đang phát triển cần giúp đỡ kỹ thuật;
trong lúc đó các nhân viên cao cấp th́ ở lại trung ương để lo về phương diện
hành chánh của chương tŕnh như tuyển mộ chuyên viên, thương thuyết về thời hạn
và điều kiện bổ nhiệm, liên lạc với chính quyền các nước nhận viện trợ, tổ chức
phái đoàn thăm viếng v.v… V́ vậy bất cứ khi nào họ nhận được một công tác hỗ trợ
kỹ thuật hay nghiên cứu một vấn đề kỹ thuật ngân hàng theo lời yêu cầu của một
nước thành viên, họ rất lo lắng, nhất là những người chỉ có kinh nghiệm hành
chánh.
Những văn kiện họ viết cho chính phủ các nước thành viên phần nhiều chỉ đề cập
các khía cạnh lư thuyết và ít khi nói tới khía cạnh kỹ thuật và thực hành của
vấn đề. Cơ quan CBS có một pḥng nghiên cứu đầy kinh tế gia; những tài liệu họ
đưa ra đều có chất lượng rất tốt nhưng lại không có ích lợi bao nhiêu cho các
nước đang phát triển v́ các tài liệu này hầu hết đều mang tính lư thuyết và chỉ
đề cập tới những vấn đề ngân hàng của các nước đă phát triển hơn là của các nước
đang phát triển. V́ vậy mà các nước thành viên IMF cần sự hỗ trợ kỹ thuật, không
được giúp đỡ một cách cụ thể bao nhiêu. Việc thiếu kinh nghiệm thực hành và sự
kém hiểu biết những vấn đề ở các nước đang phát triển, đôi khi đă làm cho những
nhân viên cao cấp phạm những sự sai lầm buồn cười. Những lời đề nghị hoặc khuyến
cáo của họ dĩ nhiên là rất tinh tế, rất lư thuyết, nhưng hoàn toàn không áp dụng
được trong các điều kiện của những quốc gia họ muốn giúp đỡ. Ví dụ như một viên
nhân viên cao cấp xuất thân từ Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ (Federal Reserve), có
kinh nghiệm chủ yếu về ngành hành chánh, đă có một lần đề nghị một hệ thống máy
vi tính để “xác định” người đến đổi tiền cũ ra tiền mới, trong một chương tŕnh
thay đổi tiền tệ của một Ngân hàng Trung ương (để tránh khách hàng đổi tiền
nhiều lần) cho một nước vừa mới thoát khỏi cuộc nội chiến tàn khốc kéo dài và bị
tàn phá nặng nề, với mọi tiện ích công cộng cũng như phương tiện giao thông đều
bị phá huỷ - xứ Uganda. Đó là chưa nói tới việc không có nhân viên có tay nghề
và các chuyên viên kỹ thuật được đào tạo hẳn hoi để vận hành và bảo quản những
trang thiết bị tinh tế như vậy. Một vị cố vấn khác đă dựa trên hệ thống kiểm
tiền tốc độ cao của Mỹ (với nhân viên kiểm ngân dùng máy đếm tiền tốc độ rất
cao) để dùng tổ chức một chương tŕnh hoán đổi tiền tệ cho một Ngân hàng Trung
ương, nơi mà các kiểm ngân viên đều chỉ dùng tay để đếm. Một vị cố vấn thứ ba
khi được giao nhiệm vụ tổ chức lại hệ thống kế toán dự trữ ngoại tệ đă đưa ra
những lời khuyến cáo về thị trường hối đoái rất hay, nhưng lại không hề quan tâm
đến việc kết hợp sổ sách ngân hàng với các trương mục ngoại tệ ở nước ngoài; kết
quả là trong nhiều năm, ngay cả vị Thống đốc của Ngân hàng Trung ương và vị
nguyên thủ quốc gia cũng không bao giờ dám chắc chắn rằng những tấm ngân phiếu
tính bằng đô-la của họ viết ra có được các ngân hàng liên quan ở nước ngoài
thanh toán hay không.
Không bao lâu tôi lại khám phá ra trong các hồ sơ của CBS có một tài liệu nghiên
cứu về các điều luật Ngân hàng Trung ương được IMF soạn thảo cho một số nước
thành viên, có chứa một sự lầm rất lớn; những nhân viên ban điều hành soạn thảo
các điều luật này, đă đề nghị một cơ cấu hết sức phức tạp trong việc tái định
giá dự trữ ngoại tệ bằng một công thức sai lầm; vừa mới nh́n qua tôi đă cảm thấy
có một điều ǵ sai lầm trong công thức này và khi tôi áp dụng nó vào những
trường hợp cụ thể được căn cứ trên các con số thống kê do IMF đă chánh tức thu
thập ở nước đó, th́ không những công thức này không thể dùng được, mà nó c̣n dẫn
đến cái t́nh trạng mà công thức này được lập ra để tránh. Chín trong hai mươi
mốt điều luật Ngân hàng Trung ương IMF đă soạn thảo cho các nước thành viên nằm
trong chương tŕnh hỗ trợ kỹ thuật đều có chứa công thức sai lầm này. Các điều
luật này đă được quốc hội các nước thành viên bỏ phiếu thông qua. Tôi viết một
bản phân tích được minh hoạ bằng những trường hợp cụ thể có liên quan tới vấn
đề, căn cứ trên số liệu thống kê của các nước thành viên mà IMF đă xuất bản,
nhấn mạnh sự sai lầm của công thức ấy. Tôi đề nghị IMF t́m cách để sửa chữa sự
sai lầm. Cấp trên của tôi và nhiều nhân viên cao cấp trong ban điều hành đă sững
sờ khi nh́n thấy những sự sai lầm này. Trong suốt hai năm họ cứ yêu cầu tôi viết
đi viết lại nhiều lần tờ tŕnh phân tích của tôi, để bắt tôi tŕnh bày vấn đề
một cách tổng quát hơn, làm cho loăng bớt sự sai lầm của công thức; nhưng họ
tuyệt nhiên từ chối không chịu sửa đổi. Đối với họ, cơ quan IMF và nhân viên ban
điều hành CBS không thể thú nhận rằng ḿnh đă sai lầm, nhất là khi sai lầm này
nằm trong các điều luật mà chính IMF đă đề nghị và đă được các nước thành viên
bỏ phiếu thông qua. Vấn đề sĩ diện mà!
Theo như tôi biết, chín điều luật của chín quốc gia thành viên này từ đó đến nay
vẫn chưa hề được sửa đổi.
Cơ quan CBS thường được yêu cầu nghiên cứu toàn bộ hệ thống ngân hàng của một
quốc gia và cung cấp các đề nghị để tái tổ chức hay hiện đại hoá hệ thống này.
V́ các nhân viên trong ban điều hành không hề có kiến thức căn bản về ngân hàng
thương mại, ngoài tôi ra, nên họ thường thuê những tay cố vấn ở bên ngoài giúp
đỡ công việc, nhưng thường khi người đứng đầu các phái đoàn công tác lại thiếu
kiến thức tối thiểu cần thiết để thảo luận nên họ thường chấp nhận lời đề nghị
của các chuyên viên thuê bên ngoài mà không tranh luận bao nhiêu. Có một lần
theo lời yêu cầu của một nước châu Mỹ La Tinh (Chi-lê) tôi đă viết một luận án
về những điều thuận lợi và bất lợi của hệ thống ngân hàng universal banking
(ngân hàng nghiệp vụ tổng quát) trong thế giới thứ ba, với căn bản dựa trên đặc
điểm và điều kiện đặc thù của quốc gia này (universal banking là ngân
hàng làm tất cả các nghiệp vụ, không trừ một thứ nào, khác hẳn với các ngân hàng
đầu tư, canh nông, khuyếch trương, thương mại, vv...). Bản luận án này rất dễ
hiểu và rất thực tế; những quan chức chính phủ của nước này khi được đưa coi bản
thảo một cách không chính thức, đă công nhận nó rất hợp lư và rất hữu ích; nhưng
người cấp trên của tôi, cũng chính là con người chưa bao giờ có kinh nghiệm ngân
hàng thương mại, người đă xuất thân từ một chức vụ hành chánh trong Ngân hàng
Trung ương, th́ lại không thích nó, bởi v́ một số hoàn cảnh thực tiễn và vài vấn
đề thảo luận trong bản luận án rất mới mẻ đối với ông ta – đó là nói ít nhất.
Ông ta viết một bản luận án khác, hoàn toàn lư thuyết và triết học, không hề đề
cập tới những vấn đề cụ thể được chính phủ nước sở tại nêu lên, ví dụ như sự
thuận tiện và bất tiện của ngành ngân hàng nghiệp vụ tổng quát trong một nước
đang phát triển. Đó là một bản luận án kém chất lượng, nhưng v́ ông ta đă tuyên
bố không chấp nhận bản luận án của tôi, ông ta đưa bản luận án của ông cho chính
phủ nước kia, và những người này lặng lẽ, t́m đến tôi để xin lại bản luận án của
tôi.
Thời gian trôi qua, càng lúc tôi càng khám phá thêm nhiều sai lầm nữa, và tôi
càng cảm thấy thất vọng và buồn giận bởi v́ không những tôi không được phép sửa
chữa những sai lầm này mà tôi c̣n bị buộc vào cái tội là không phải “một thành
phần của ban”, “thành phần” có nghĩa là phải chấp nhận tất cả mọi điều được sở
CBS gợi ư hay đề nghị, không cần biết đúng hay sai. Lần lần tôi mất dần ảo tưởng
với sở và với cả IMF bởi v́ chất lượng kém cỏi của sở cũng phản ảnh lại trên uy
tín của IMF. Ví dụ như có một đại diện IMF ở một nước Trung Mỹ được giao cho
nhiệm vụ đầy quyền thế là kiểm soát t́nh trạng rối ren của hệ thống tiền tệ, đă
không bao giờ nhận ra được rằng đồng tiền quốc gia ở đó có chứa đựng một điều
khoản quan trọng in trên mỗi tờ giấy bạc là đồng tiền này được hoán đổi qua đồng
đô-la Mỹ theo một tỷ suất cố định. Đây là một điều kiện rất nguy hiểm và đầy bất
trắc bởi v́ đồng bạc ấy đă sụt giá nhiều rồi, đă trở nên rất quá yếu và có thể
bị phá giá bất cứ lúc nào; trong trường hợp đó dân chúng có quyền đ̣i hỏi một
cách hợp pháp, chính quyền đổi tiền của họ ra tiền đô-la Mỹ với tỷ giá hối đoái
cố định cũ. Khi tôi vạch rơ sự nguy hiểm này cho chính phủ sở tại, họ đều bị
chấn động; thể theo lời yêu cầu của họ, tôi đề nghị xoá điều khoản ấy một cách
kín đáo và huỷ bỏ điều cam kết; bằng cách lặng lẽ in các đồng bạc mới nhưng
không có điều khoản nguy hiểm trên và thay dần cho những đồng tiền cũ. Nhưng vị
đại diện IMF rất không bằng ḷng với sự khám phá của tôi về điều khoản nguy hiểm
này trên giây bạc Haiti, v́ ông không bao giờ để ư đến điều đó – và sau này đă
tạo đủ thứ khó khăn cho tôi ở sở CBS và cơ quan IMF. Trong những lần thảo luận
với các cấp chính quyền nước sở tại, tôi đă phát hiện ra thêm nhiều điểm thiếu
sót và yếu kém trong hệ thống tiền tệ và tất cả các Bộ trưởng đều đi tới kết
luận là các vị đại diện IMF lâu nay đóng đô trong nước họ không phải là những
người có năng lực nhất thế giới như họ đă tưởng lầm. Tôi không đề cập tới chuyện
này trong báo cáo gởi về cho CBS v́ đó không phải là nhiệm vụ của tôi; nếu nhắc
tới nó, chắc chắn là tôi phải rơi xuống địa ngục! Đó là trách nhiệm của sở phụ
trách vùng Nam Mỹ và họ không tha thứ đâu. Về chuyện tôi đề nghị chính quyền
Haiti lặng lẽ xoá bỏ điều khoản cam kết trên tờ giấy bạc cũng vậy. Tôi không
biết chắc từ ấy đến nay đề nghị của tôi đă được thực hiện hay chưa. Nếu độc giả
nào t́nh cờ đi qua Haiti, th́ xin nh́n coi đồng bạc hiện nay có c̣n mang điều
khoản ấy nữa hay không.
Việc thiếu một nền tảng đào tạo thích hợp và kinh nghiệm thực hành nghiệp vụ đă
dẫn tới nhiều trường hợp lúng túng và thường gây ra những vấn đề nội bộ nghiêm
trọng cho IMF. Bị thúc đẩy bởi cách đối xử khác biệt trong các ban ngành và các
sở khác nhau và với ư muốn cho mọi nhân viên biết qua tất cả mọi khía cạnh hoạt
động của Quỹ, ban giám đốc đ̣i hỏi một sự cơ động rất lớn, cho phép chuyển từ sở
này qua sở khác, hai hay ba năm một lần, mà không hề chú ư đến các hoạt động đặc
thù của mỗi sở. Làm sao mà một nhà kinh tế không hề được đào tạo ngành ngân hàng
có thể đặt vào sở Ngân hàng Trung ương và nhận nhiệm vụ hỗ trợ kỹ thuật cho các
nước thành viên trong lănh vực Ngân hàng Trung ương và ngân hàng thương mại
được. Mặt khác, làm sao một tay ngân hàng chỉ được đào tạo và có kinh nghiệm về
ngân hàng thôi có thể làm việc như một nhà kinh tế ở một sở khu vực (geographic
department) được. Sự cơ động này thường gây ra những trường hợp khôi hài và đă
mở đường cho rất nhiều tṛ lạm dụng; khi tôi rời khỏi IMF th́ vị phó Tổng giám
đốc của Sở Ngân hàng Trung ương lại là một nhà kinh tế không hề có kiến thức
ngân hàng. Vào thời gian ấy toàn bộ Sở Ngân hàng Trung ương của IMF chỉ có một
hoặc hai thành viên là có kiến thức thật sự về nghiệp vụ hoạt động ngân hàng;
vậy làm sao IMF có thể hỗ trợ kỹ thuật một cách cụ thể và đích thực trong lănh
vực Ngân hàng Trung ương và ngân hàng thương mại cho các nước đang phát triển?
V́ thất vọng với sự kiện này, tôi quyết định xin về hưu sớm năm 1981. Trong thời
gian đó mối liên hệ giữa tôi và đất nước Việt Nam được nối lại, và điều hết sức
ngạc nhiên lại là từ phía bên kia. Sau khi Nam Việt Nam thất thủ, tôi gột sạch
khỏi đầu ḿnh tất cả mọi ư nghĩ trở về quê nhà hay làm việc ở đất nước. Bất ngờ
vào một ngày cuối năm 1975 tôi nhận được một lá thư từ ban giám đốc Ngân hàng
Trung ương Việt Nam, với cái tên mới là Ngân hàng Nhà nước, do La Văn Liếm, một
nhân viên cũ của Ngân hàng Đông Dương và là đội trưởng một đội ám sát của khu
Sài G̣n–Chợ Lớn. Bằng một giọng thân hữu anh ta nhờ tôi t́m cho anh một viên
chức cũ của Ngân hàng Trung ương thời trước mà anh ta muốn giúp đỡ; anh cũng đề
nghị tôi cứ giữ liên lạc với ban giám đốc mới của ngân hàng, v́ họ có thể cần
tới sự giúp đỡ của tôi. Tôi đi t́m người viên chức kia cho anh ta, và trả lời là
tôi rất vui ḷng giữ liên lạc với họ và giúp đỡ họ. Năm 1976 Hội nghị thường
niên IMF-IBRD được tổ chức tại Manila, Phi Luật Tân; những người đồng nghiệp của
tôi tham dự hội nghị, kể lại với tôi là người trưởng phái đoàn Việt Nam hỏi thăm
tôi, tưởng rằng tôi cũng tới dự hội nghị. Năm 1977 tại hội nghị thường niên ở
Washington th́ ông Trần Dương, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Bộ trưởng Ngân hàng
và Ủy viên Bộ Chính trị, t́m tôi và sau đó gặp tôi nhiều lần. Lần đầu tiên gặp
tôi ông nói: “Có lẽ anh không biết tôi nhưng tôi biết anh, v́ hồi ở trong rừng
chúng tôi thường trích dẫn anh trên đài phát thanh Giải Phóng.” Lúc tôi c̣n ở
Việt Nam trước năm 1975 có nhiều người bạn nói với tôi là đài phát thanh Việt
cộng thường trích dẫn tôi trong những nhận định về t́nh h́nh kinh tế miền Nam,
họ dùng nó để công kích Thiệu và chính sách của ông ta. Trần Dương đề nghị tôi
giúp đỡ ông trong việc thảo luận với Quỹ và Ngân hàng.
Dĩ nhiên là tôi không xuất hiện trong hội nghị, nhưng ông tham khảo ư kiến của
tôi về tất cả mọi đề tài thảo luận với hai tổ chức trên. Ông không hề được đào
tạo về tài chánh ngân hàng, v́ đă chiến đấu suốt 30 năm trong rừng từ 1945 tới
1975, nhưng ông rất muốn học hỏi. Tôi rất ấn tượng về những quan điểm thẳng thắn
của ông và ngạc nhiên bởi sự chân thật của ông trong khi chúng tôi thảo luận với
nhau. Ông ta nói với tôi rằng trong hệ thống tư bản ở miền Nam th́ quy hoạch
trung ương chả ra ǵ, nhưng việc quản lư kinh doanh th́ tốt, trong khi ở hệ
thống xă hội chủ nghĩa của miền Bắc, th́ quy hoạch trung ương tốt hơn nhưng việc
quản lư kinh doanh không giỏi. Ông nhờ tôi mua một số sách về quản lư trong kinh
doanh để dạy ông và giúp đỡ chính phủ ở quê nhà cải thiện việc điều hành. Ông
mời tôi về thăm Việt Nam một chuyến để xem những ǵ chính phủ đă làm được trong
lănh vực y tế và giáo dục công cộng mà ông rất đỗi tự hào. Ông tặng tôi một chai
rượu nếp do hăng rượu Nam Điển Hà Nội sản xuất như một món quà của chính phủ.
Một ngày kia khi cả phái đoàn chen chúc vào trong chiếc xe của tôi để về nhà
dùng bữa cơm tối tôi chiêu đăi, tôi mở một băng nhạc gồm các bài ca ở miền Nam
và xin lỗi v́ chỉ có loại nhạc “vàng” chớ không c̣n ǵ khác. Thật là ngạc nhiên,
Trần Dương nói với tôi rằng bọn họ cũng thích “nhạc vàng” miền Nam nhưng họ đă
đổi lời hát. Ông cho tôi hay là ban nhạc của Ngân hàng Nhà nước cũng thường chơi
những bài nhạc này và ông sẽ gởi cho tôi một vài cuộn băng ghi những bài này với
lời ca mới do ban nhạc của ngân hàng thực hiện.
Năm 1981 tôi xin về hưu sớm khỏi cơ quan IMF và hợp tác với Dennis Baron thành
lập một công ty riêng của tôi để kinh doanh dầu hoả trên thị trường dầu hoả thế
giới. Chúng tôi đă thành công khi kư một hợp đồng với một số tiền hoa hồng khá
lớn nhưng lại bị một tay con buôn người Pháp ở Dubai đoạt mất. V́ việc kiện tụng
rất tốn tiền, rất mất thời gian và cũng không chắc có kết quả tốt cho ḿnh, nên
chúng tôi quyết định không thưa kiện. Khi thị trường dầu hoả bắt đầu lắng xuống
và ổn định trở lại, chúng tôi quyết định đóng cửa văn pḥng ở New Jersey, thay
đổi kế hoạch hoạt động. Cùng với William Taylor, một cựu kỹ sư thuộc Kỹ sư đoàn
danh tiếng của Mỹ và một người bạn nữa tên là Charles Welbert, một nhân viên
ngoại giao của Bộ Ngoại giao Mỹ về hưu đang ở Casablanca, Ma-rốc, chúng tôi
thành lập một công ty tư vấn để giúp những công ty xây dựng Mỹ trong việc liên
doanh với các công ty lớn ở nước ngoài. Chúng tôi đă làm việc với các công ty
Bechtel, Raymon International, Morisson, Knussen…, đă thuê công ty xây dựng lớn
nhất của Ma-rốc làm một số việc trong các phi trường ở Bắc Phi. Sau khi những
cuộc thương lượng đầu tiên hoàn tất, xí nghiệp Ma-rốc thông báo cho chúng tôi
hay là cơ quan kiểm soát ngoại hối không cho phép họ chuyển tiền thù lao cho
chúng tôi; họ nhận rằng họ nợ chúng tôi số tiền ấy nhưng không có cách nào khác
để trả. Trong thời gian ấy th́ Charles Welbert qua đời, William Taylor và tôi
quyết định đóng cửa công ty tư vấn.
Việc này kết thúc các hoạt động kinh doanh tư nhân của tôi. Đó là số phận của
tôi, nếu quả có một số phận mà tôi có thể tin được. Tôi có thể làm ra tiền cho
chính phủ hoặc cho ngân hàng nhưng tôi không thể làm ra tiền cho chính bản thân
tôi. Tôi có thể phục vụ công chúng và tôi có thể phục vụ đất nước, nhưng tôi
không thể lo toan cho chính ḿnh được. Nếu như tôi làm ra được một đồng nào
trong các hoạt động kinh doanh riêng tư của ḿnh, th́ luôn luôn sẽ có một tên
trộm hay một tên lừa đảo nào đó cuỗm mất của tôi.
Vào thời gian đó tôi nhận được nhiều lời đề nghị tư vấn. Liên Hiệp Quốc dự định
gởi một phái đoàn tới Việt Nam để hỗ trợ kỹ thuật nhằm tổ chức lại hệ thống ngân
hàng. Họ mời tôi tham dự phái đoàn này. Một người bạn của tôi trước đây là Giám
đốc của một văn pḥng địa phương của Ngân hàng Thế giới ở châu Phi, cũng được
World Bank chỉ định dẫn một phái đoàn đi Việt Nam với một công tác như vậy. Anh
ta không hề có một kinh nghiệm nào về Ngân hàng Trung ương và ngân hàng thương
mại. Biết rằng tôi đă đóng vai chánh trong việc thiết lập toàn bộ hệ thống ngân
hàng cho Nam Việt Nam từ Ngân hàng Trung ương, ngân hàng thương mại lớn nhất
nước, tới Ngân hàng Khuếch trương, anh ta muốn tôi tham gia vào phái đoàn của
anh. Nhưng tôi đă từng có kinh nghiệm với các phái đoàn hỗ trợ kỹ thuật của IMF
và World Bank, trong đó có vài phái đoàn tôi tham gia và vài phái đoàn tôi đă
dẫn đầu. Tôi hiểu rơ tinh thần và tâm lư của những phái đoàn công tác này. Tôi
có thể chấp nhận làm việc với họ nếu công tác thuộc về những đất nước khác, c̣n
đối với đất nước tôi th́ tôi không thể làm việc cho các phái đoàn ấy được, bởi
v́ tôi có những ư kiến riêng của ḿnh về hệ thống ngân hàng của đất nước tôi;
tôi đă lập ra ba ngân hàng và với danh nghĩa Thống đốc Ngân hàng Trung ương, tôi
đă hoạt động với tất cả các ngân hàng từ những ngày đầu tiên. V́ vậy tôi từ chối
cả hai phái đoàn mặc dù tôi biết ḿnh sẽ được IMF và World Bank trả một số tiền
đáng kể, hàng chục ngàn Mỹ kim; trong lúc tôi cũng sẽ làm công việc ấy mà bằng
túi tiền của ḿnh nếu tôi chấp nhận giúp đỡ đất nước – một điều mà sau này tôi
sẽ làm. Khi tôi đang ở Sài G̣n năm 1991 và giúp đỡ chính quyền theo lời yêu cầu
của Thủ tướng Vơ Văn Kiệt, th́ văn pḥng Liên Hiệp Quốc ở Hà Nội gọi điện vào
cho tôi, cố thuyết phục tôi ra tham gia phái đoàn của họ ở Hà Nội, nhưng tôi vẫn
từ chối.
Trước đó một công ty tư vấn ở New York làm việc với USAID cũng đă gọi điện cho
tôi mời tôi làm việc ở châu Phi với tư cách là cố vấn ngân hàng địa phương cho
một số quốc gia ở Tây Phi, với một số lương rất lớn và một lô bổng lộc. V́ đă
từng công tác nhiều lần cho IMF ở châu Phi, nơi tôi đă trải qua những kinh
nghiệm không tốt cho sức khoẻ của ḿnh nên tôi cũng từ chối mặc dù công việc và
tiền lương rất hấp dẫn. Tôi không phải là người bị tiền cám dỗ. Đó cũng là số
phận của tôi!
Năm 1991, một người bạn của tôi là cha Phan Khắc Từ, một linh mục Thiên chúa
giáo và là một đại biểu Quốc hội, đă gởi cho tôi một bản fax cho biết Thủ tướng
Vơ Văn Kiệt muốn mời tôi viếng thăm Việt Nam để xem xét t́nh h́nh kinh tế khó
khăn của đất nước và đề nghị phương thuốc cứu chữa. Cùng lúc đó tôi nhận được
thư của bạn tôi, Lâm Vơ Hoàng, người từng làm việc với tôi ở Việt Nam Thương
tín, xác nhận lời mời của Thủ tướng Kiệt. Tôi hơi do dự bởi v́ tôi vẫn c̣n ngại
đường lối cứng rắn của chính phủ đối với những người có liên hệ với chính quyền
Sài G̣n, nhưng cha Phan Khắc Từ và Lâm Vơ Hoàng cứ nài nỉ măi.
Tháng 11/1991 tôi bay về Sài G̣n và gặp Thủ tướng Vơ Văn Kiệt đúng vào ngày cuối
cùng trước khi ông đi Singapore và tôi quay trở về Mỹ.
Tôi tŕnh bày những khó khăn kinh tế tài chánh của đất nước cho ông rất lâu,
trong lúc hai phụ tá của ông Kiệt ngồi ghi chép. Ông nói với tôi là ông rất có
ấn tượng về những ǵ tôi tŕnh bày, và ông ngồi nghe rất chăm chú. Khi đến lúc
ông phải đi để gặp Tổng bí thư Đỗ Mười lúc ấy đang ngồi chờ ông ở căn nhà kế cận
hơn 45 phút, tôi chào từ giă nhưng ra tới cửa, ông nắm tay tôi thật chặt không
muốn để tôi đi. Ông khẩn khoản yêu cầu tôi trở về lại để giúp đỡ, rơ ràng là ông
rất quan tâm tới điều tôi tŕnh bày và những giải pháp tôi đề nghị. Tôi nói với
ông là tôi không thể quay về nhiều lần để giúp, bởi v́ có một số các đầu nóng
chống cộng bên Mỹ chắc chắn sẽ không chịu hiểu ḷng muốn giúp đỡ nhân dân của
tôi, và chắc chắn sẽ làm hại tôi. Ông bèn đề nghị là nếu tôi không về Việt Nam
để giúp ông, th́ ông mong rằng bất cứ khi nào ông ra nước ngoài, ông sẽ báo tôi
biết và tôi tới gặp ông để thảo luận những vấn đề cùng ông và những người phụ
tá. Tôi nói rằng như vậy th́ dễ bị người ta nh́n thấy quá nên tôi chỉ muốn là có
dịp thỉnh thoảng về nước để nghiên cứu các vấn đề kinh tế tài chánh của đất nước
và vạch chương tŕnh phát triển kinh tế, nhằm giúp đỡ nhân dân Việt Nam vốn đă
chịu quá nhiều đau khổ cơ cực.
Nhưng khi tôi trở về lần thứ hai vào tháng 4/1992 tôi nhận thấy vị Thủ tướng
lạnh nhạt, thái độ hoàn toàn thay đổi. Tôi chán nản, nên tôi nói với linh mục
Phan Khắc Từ là tôi sẽ không trở về nữa. Tôi hiểu rằng trong thời gian vừa qua,
khi Thủ tướng Kiệt trao đổi về chuyến viếng thăm của tôi với Nguyễn Xuân Oánh,
th́ Oánh với bao nhiêu nỗi ganh tức chồng chất trước kia, đă huỷ hoại tiếng tăm
của tôi với Thủ tướng Kiệt. V́ ganh ghét với những chức vụ tôi ở World Bank và
IMF cao hơn chức vụ cuả Oánh ở IMF, v́ ganh ghét với sự nghiệp ở Ngân hàng Trung
ương Việt Nam lâu dài và thành công của tôi, so với sự nghiệp ngắn ngủi và thất
bại của anh ta, sự dính líu của anh ta trong vụ tôi đưa Lederer ra toà v.v…,
Oánh đă chôn vùi tên tuổi tôi với Thủ tướng Kiệt. Nếu Thủ tướng Vơ Văn Kiệt thẩm
tra lại những lời vu cáo này và biết được sự thật th́ tôi đă có thể làm được rất
nhiều để giúp đất nước và nhân dân, nhiều hơn những ǵ tôi đă làm giữa các năm
91 tới 94. Và tất cả những điều này bằng chi phí của chính tôi, không chút cầu
mong đền bù từ phía chính phủ hay một cơ quan quốc tế nào: tôi chỉ muốn phục vụ
Tổ Quốc và Nhân Dân tôi. Thế thôi, không c̣n một lư do ǵ khác.
Thật là tệ hại! Đôi khi một h́nh dong chải chuốt với một cái lưỡi rắn và một
trái tim hổ rừng có thể gây rất nhiều tai hại cho rất nhiều người.
Nhưng linh mục Từ cứ thuyết phục tôi về nghĩa vụ đối với đất nước và khẩn khoản
yêu cầu tôi trở lại Sài G̣n, và tôi đă về thêm hai lần nữa trong năm 93 và 94.
Từ năm 91 tới năm 94 tôi đă viết rất nhiều bài viết về các vấn đề kinh tế tài
chánh Việt Nam và những phương án giải quyết mà tôi xuất bản ở Paris và luôn
luôn gởi một bản sao cho Thủ tướng Kiệt qua linh mục Từ. Trong chuyến đi cuối
cùng năm 94, tôi trao cho Thủ tướng Kiệt, phó Thủ tướng Phan Văn Khải, các Bộ
trưởng có liên quan và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, một chương tŕnh phát triển
đặc biệt cho Việt Nam, trong đó tôi gói gọn những chương tŕnh đặc điểm lúc đó
đang giúp sự phát triển các quốc gia láng giềng, cũng như các nước khác đang
phát triển rất nhanh trên thế giới; tôi đă làm việc này sau hai chuyến qua Paris
và New York để nghiên cứu, tại đó tôi đă trao đổi rất nhiều với các chuyên gia
đă làm việc tại những quốc gia này và với các ngân hàng đă tài trợ cho những
biện pháp nói trên.
Nhưng tôi vẫn không thấy có phản ứng thuận lợi từ các nhà chức trách Hà Nội và
tôi nhận thấy bầu không khí lúc đó ở nước nhà không thích hợp cho việc thực hiện
chương tŕnh phát triển của tôi. Tôi rất buồn khi thấy sự hy sinh và ḷng cố
gắng cuả tôi không đem lại được những kết quả tôi mong muốn cho dân tôi, nên tôi
đành bỏ cuộc nữa đường, không muốn tiếp tục nữa.
Ngày nay tôi vẫn không biết chính quyền đă sử dụng những điều tôi đề nghị được
bao nhiêu, và chương tŕnh của tôi đă giúp đỡ được bao nhiêu cho nhân dân tôi,
người dân Việt.
IX. Chánh sách ngoại giao Hoa Kỳ
Đầu thập niên 50, khi tôi bắt đầu tiếp xúc với những ngân hàng lớn của nước Mỹ ở
New York, như ngân hàng America, ngân hàng City Bank, ngân hàng Chase Manhattan
Bank, ngân hàng Hannover Bank, tôi đă gặp khá nhiều nhân viên trẻ trong ban điều
hành, trước đây đă từng làm việc ở các cơ quan OSS (Office of Security Service),
tiền thân của CIA trước và trong cuộc thế Chiến thứ II; họ đă được gởi tới Trùng
Khánh ở miền Nam Trung Quốc và tới miền Bắc Việt Nam để quan sát t́nh h́nh quân
sự và chính trị tại các vùng này, cũng như mối quan hệ giữa lănh tụ quốc gia
Tưởng Giới Thạch, lănh tụ Trung cộng Mao Trạch Đông, phong trào Việt Minh. Chúng
tôi thường nói chuyện với nhau rất thân mật và rất lâu trong đêm khuya, trong
ánh sáng mờ mờ của một căn pḥng ấm cúng tại một tiệm ăn ở New York, nơi đó
những người như McClelland, Hank Sperry, John De Loin… kể tôi nghe về những ngày
tháng họ sống trong rừng giữa những người du kích… Chúng tôi rất sung sướng khi
gặp nhau và nói chuyện với nhau, bởi v́ họ chưa hề gặp lại một người Việt Nam
nào từ khi họ ra khỏi những vùng rừng núi xa xôi ấy; và tôi cũng chưa hề gặp một
người nào đă từng trải qua những rối rắm khôn xiết về chính trị ở những vùng này
trong cuộc chiến tranh. Một vài người trong bọn họ đă kể tôi nghe mối quan hệ
của họ với các du kích quân Việt Nam của nhóm cộng sản cũng như của nhóm quốc
gia, cuộc sống gian khổ của người du kích, những nỗi thống khổ cay đắng của họ,
những sự hy sinh to lớn của họ cho đất nước; những người Mỹ trẻ tuổi này đă
thường thảo luận rất nhiều với các cán bộ của quân du kích, về những lời yêu cầu
được giúp đỡ thuốc men và lương thực. Những cán bộ của quân du kích đă hỏi những
người bạn Mỹ của tôi tại sao chính phủ Mỹ không chịu giúp đỡ các nhà lănh đạo
của họ, chiến đấu chống lại người Pháp, trong khi ai cũng biết dân Mỹ luôn luôn
chống lại chế độ thực dân và sự thống trị của nước ngoài. Những người bạn Mỹ của
tôi cho tôi biết là họ đă gởi rất nhiều báo cáo về Washington, ủng hộ việc đối
thoại và giúp đỡ các nhóm Việt Nam chống Pháp. Nhưng Tổng thống Eisenhower vẫn
lo ngại Việt Nam sẽ quá gần gũi với một nước Trung Hoa đang có nguy cơ trở thành
cộng sản, hơn là bận tâm tới chính sách chống thực dân của Hoa Kỳ. Vào lúc đó
chánh phủ Mỹ đâu có biết được sự ḱnh địch sau này giữa Trung Quốc và Liên Xô và
họ sợ nước Mỹ có thể sẽ phải đương đầu với hai cường quốc nếu như Mỹ nhúng tay
vào Việt Nam.
V́ đă từng nghe những sự hy sinh của các chiến sĩ du kích trong cuộc chiến đấu
chống lại quân đội thực dân Pháp và về sự nghiệp chống ách thống trị Pháp suốt
mấy chục năm của dân tộc Việt Nam, tôi không thể nào tránh khỏi cái cảm giác
rằng cả tôi nữa, lẽ ra cũng phải tham gia cuộc chiến đấu ấy như tôi đă làm trong
các năm 1945 – 1946 ở Việt Nam.
Nhưng những người bạn ấy, những nhân viên ngân hàng đă từng sống trong rừng với
các chiến sĩ du kích lúc ấy, lần lần biến mất bởi phong trào chống cộng McCarthy
ở nước Mỹ trong những năm 50, hoặc bởi họ đă thay đổi nghề nghiệp, chỉ trừ một
người mà trong một khoảng thời gian sau đó vẫn luôn luôn giúp tôi gởi thư và
tiền về Việt Nam cho những người bà con của tôi, nhanh hơn là cách gởi b́nh
thường vốn phải mất tới 2 hoặc 3 tháng mới tới nơi.
Ông Foster Dulles, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ lúc đó, là người chống cộng kịch
liệt, rất cứng rắn, không khoan nhượng. Ông ta không bao giờ chịu thoả hiệp hay
nhân nhượng; đó cũng chính là đường lối ngoại giao của nước Mỹ, ngay từ lúc đó
và về sau. Người dân Mỹ vốn có ḷng tốt và thẳng thắn, tính chất này cũng được
thể hiện trong quan niệm ngoại giao của Mỹ. Nhưng bởi v́ người Mỹ rất thẳng
thắn, tánh t́nh rất cứng rắn, không hay thay đổi, nên chính sách ngoại giao của
Mỹ cũng vậy. Qua nhiều thập niên, nước Mỹ trở thành nước phát triển nhất, thịnh
vượng nhất thế giới, người dân Mỹ cũng trở nên tự hào và chính sách của nước Mỹ
cũng trở nên chính sách kiêu ngạo nhất thế giới. Khác với chính sách của châu
Âu, chính sách ngoại giao của Mỹ có một lư lịch và một lịch sử ngắn hơn nhiều.
Điều này cũng là một trở ngại cho sự mềm dẻo uyển chuyển. Lịch sử của nước Mỹ
không có những truyền thống lâu dài về ngoại giao như ở châu Âu với Metternich,
Richelieu, Bismarck … nếu không th́ với một chút linh hoạt trong chính sách và
nền ngoại giao, nước Mỹ đă có thể dẫn Việt Nam tới hoàn cảnh như Nam Tư của
Tito, Ba Lan của Walessa và Tiệp Khắc của Havel. Việt Nam bị kẹt cứng giữa hai
khối cường quốc và không ai trên sân khấu thế giới có đủ quyền lực và đủ quan
tâm để thay đổi t́nh thế cho Việt Nam, mở ra một con đường giải quyết mới có thể
đem lợi ích cho Việt Nam và cho nhiều quốc gia khác… Năm 1954 khi nước Pháp sắp
sửa bị đánh bại ở Điện Biên Phủ, Pháp đă yêu cầu Mỹ sử dụng bom nguyên tử để
đánh bạt quân đội Bắc Việt đang bao vây Điện Biên Phủ, nhưng Eisenhower từ chối,
v́ sợ Pháp tái chiếm lại thuộc địa, nhiều hơn là quan tâm tới tính mạng con
người. Cho nên đôi khi một sự thay đổi nhỏ và một hành động tích cực hơn có thể
tạo ra một bản đồ chính trị mới có thể thay đổi vận mệnh của Việt Nam. Nhưng tôi
không thể biết chắc là lúc đó miền Nam Việt Nam có thể dàn xếp được với miền Bắc
một lối sống chung có thể tồn tại được lâu dài như Nam và Bắc Triều Tiên sau Bàn
Môn Điếm hay không.
Từ tháng 10/1965, khi Tổng thống Johnson quyết định dốc toàn lực cho cuộc chiến
tranh, th́ chiến lược trên cả hai mặt trận ngoại giao và quốc pḥng đều sanh ra
do dự, và việc chỉ đạo chiến tranh trở nên lúng túng, không lường trước được. Dù
không phải là một nhà chiến lược quân sự, tôi cũng có thể tưởng tượng được là
anh không thể chiến đấu với hai tay bị trói quặt sau lưng. Chính sách Việt Nam
của nước Mỹ không được thực hiện chỉ ở toà Bạch Ốc hay ở Bộ Ngoại giao. Có rất
nhiều cơ quan tham dự vào việc định h́nh một chính sách và người ta có thể thấy
rằng nếu có một chính sách chủ yếu th́ cũng có nhiều ư kiến khác chen chân vào
chánh sách đối xử với Việt Nam.
Bây giờ nếu ta nh́n khắp thế giới, có bao nhiêu quốc gia ưa thích chính sách
ngoại giao của Mỹ, và bao nhiêu người dân Mỹ được thế giới ưa thích. Và trong
chính quyền Mỹ có bao nhiêu nhà lănh đạo, ngoài Clinton và Carter, được nổi
tiếng ở ngoài nước Mỹ? C̣n trong quốc hội Mỹ th́ có thể tỉ lệ này khá hơn nhưng
chắc cũng không bao nhiêu. Ở bên ngoài người ta biết người dân Mỹ chính thống
rộng răi và dễ thương, nhưng “người Mỹ” được đại diện qua các nhà ngoại giao ưa
phô trương, khinh miệt người khác, không được thế giới bên ngoài thương yêu. Một
số chính phủ Mỹ hống hách ngạo mạn như chính phủ Bush chẳng hạn, chỉ có thể thu
được sự khinh miệt của thế giới bên ngoài, dù Mỹ là quốc gia hùng mạnh nhất thế
giới, có ḷng rộng răi giúp đỡ viện trợ nhất và một quốc gia dân chủ nhất.
Một điểm đặc biệt nữa cũng cần phải chú ư: những nhà ngoại giao Mỹ gốc thế giới
thứ ba như Đại Hàn, Trung Quốc, Nhật Bản, Phi Châu… thường tự cao và hống hách
hơn cả người Mỹ chính thống, v́ họ muốn tỏ ra họ “Mỹ” hơn cả người Mỹ. Điều này
không phải chỉ có ở ngành ngoại giao Mỹ, nó cũng đúng với những nhà ngoại giao
Pháp, với chính quyền thực dân Pháp hay những chính quyền thực dân Bỉ, Anh Quốc
hoặc Hà Lan. Tôi đă quan sát thấy t́nh trạng đó trong thời kỳ Việt Nam c̣n là
thuộc điạ của Pháp và sau này, ở Indonesia, ở vùng biển Ca-ri-bê, ở Phi châu.
Khi một chánh phủ bố trí nhân viên ngoại giao có gốc gác từ các nước đang phát
triển, th́ những các cơ quan ngoại giao Âu Mỹ nghĩ rằng dân chúng địa phương sẽ
thích họ. Nhưng đó là một quan niệm sai lầm. Chánh sách ngoại giao không thể nào
thành công khi chánh phủ gởi những nhân viên này ra nước ngoài để làm một công
việc đ̣i hỏi sự tiếp xúc nhiều với dân chúng địa phương, trừ khi họ đă được huấn
luyện trước về mặt tâm lư và tinh thần liên quan đến thói mặc cảm tự tôn của họ.
Cho nên bây giờ, mặc dầu Hoa Kỳ là nước phát triển nhất, mạnh nhất thế giới,
người Mỹ không thể mong nước họ được ḷng người hay được yêu thương nhất trên
thế giới. Họ chỉ có thể mong rằng Hoa Kỳ được thế giới biết đến nhiều nhất v́
nước Mỹ hiện đại hơn những nước khác; văn hoá và lối sống Mỹ cũng có rất nhiều
ảnh hưởng ở nước ngoài; và thế giới bên ngoài thường có khuynh hướng hay bắt
chước những ǵ mang tính chất Mỹ (kẹo sing-gôm, Coca Cola, hăm-bơ-gơ, bánh
rán…). Thế nhưng chính sách Mỹ ở Trung Đông và ở Iraq th́ không được ḷng người
bên ngoài nước Mỹ, đặc biệt là tại các nước Ả Rập, thế giới Hồi giáo và ngay cả
ở Âu châu và Á châu. Luôn luôn đó là một điểm kẹt trong quan hệ của nước Mỹ với
thế giới bên ngoài. Mới đây theo một cuộc thăm ḍ dư luận th́ ở các quốc gia Ả
Rập và ở thế giới Hồi giáo, 90% dân chúng ghét Mỹ. Ta đừng nên quên Hồi giáo là
khối tôn giáo lớn nhất trên thế giới và cũng là khối tôn giáo tăng nhanh nhất.
Đó là điều mà người Mỹ luôn luôn phải nhớ trong đầu, và tất cả mọi chính quyền
dù là Cộng hoà hay Dân chủ đừng bao giờ quên rằng đó có thể là hạt giống hay mầm
mống cho cuộc chiến thế giới thứ ba ngày mai.
Có một điểm mà nhân dân, chính phủ và các nhà ngoại giao Mỹ phải luôn luôn ghi
nhớ, một sự thật muôn đời mà chúng ta không được phép quên: “Không một dân tộc
nào trên thế giới, dù văn minh hay không văn minh, dù c̣n hoang dă tới đâu hay
hiện đại tới đâu, giàu nhất hay nghèo nhất, lại muốn đất nước ḿnh bị xâm lược
và chiếm đóng, dù ư chí của kẻ đến chiếm đóng có tốt bao nhiêu đi nữa.”
Nếu chúng ta có thể tổ chức một cuộc trưng cầu dân ư rộng khắp thế giới, chúng
ta sẽ thấy rằng 100% dân chúng sẽ chống lại việc xâm lược và chiếm đóng của một
dân tộc khác, đặc biệt là dân da trắng từ châu Âu và Mỹ. Nhật Bản đă học được
bài học này với những nước láng giềng ở châu Á, mặc dù họ đă chọn ngọn cờ “Khối
Thịnh vượng chung châu Á” trong những năm 40. Từ những thời đại xa xưa nhất, từ
thời nguyên thuỷ của loài người, không ai ưa bị xâm lược và chiếm đóng. Hăy nh́n
lại lịch sử nhân loại và ta sẽ thấy sự thật muôn đời này. Chủ nghĩa thực dân và
sự chiếm đóng của nước ngoài luôn luôn để lại một vị cay đắng trong miệng con
người, và một chất độc chết người ở trong đầu óc họ. Những dân tộc bị xâm lược
và chiếm đóng luôn luôn nghi ngờ rằng những kẻ chiếm đóng có ư định đen tối: t́m
kiếm tài sản báu vật, khai thác tài nguyên đất nước, t́m kiếm dầu và quặng mỏ là
nền tảng của chủ nghĩa thực dân…
Đừng nói chuyện tự do, đừng nói chuyện tự quyết, đừng nói chuyện truyền bá văn
minh. Đừng nói chuyện dân chủ. Không ai tin anh đâu. Họ biết rằng anh chỉ được
cái miệng.
Nước Mỹ luôn luôn rêu rao nó không hề có ư định thực dân, nhưng Mỹ luôn luôn
quên mất sự thật muôn thuở ấy, bởi v́ nước Mỹ nhiều khi bị lănh đạo bởi những
chính trị gia tham lam ngông cuồng hoặc các chánh phủ kiêu ngạo và hống hách.
Người Mỹ phải tự hỏi lấy chính ḿnh: “Chúng ta có muốn bị xâm lược không? Chúng
ta có muốn bị chiếm đóng không? Nếu chúng ta không muốn, th́ tại sao chúng ta
lại xâm lược những đất nước khác, chiếm đóng những quốc gia khác? Nếu chúng ta
không muốn vậy tại sao chúng ta lại chia trái đất ra làm hai, một cho chúng ta
và một cho thế giới bên ngoài?”.
Khi chánh phủ Bush đánh vào và chiếm đóng Iraq, một ḿnh hay gần như một ḿnh,
mặc dầu các nước Đồng minh Âu châu chống đối, và Liên Hiệp Quốc không đồng ư,
th́ có phải đây là một chánh sách ngoại giao ngạo mạn, kiêu ngạo không? Rồi sau
khi đă mất vào chiến tranh hàng trăm tỷ Mỹ kim với hàng ngàn binh sĩ bị tử vong
và hàng trăm ngàn dân Iraq bị giết, chánh phủ Bush phải kêu gọi cầu cứu Liên
Hiệp Quốc và đồng minh Âu châu vào giúp, th́ Hoa Kỳ có mất mặt không? Các nhà
lănh đạo Mỹ đă quên lịch sử và số phận của đoàn quân viễn chinh đế quốc Anh Cát
Lợi hồi trước sao? Sau khi đánh vào và chiếm đóng Iraq 15 năm, và mất hàng ngàn
binh sĩ bị tử vong, chánh phủ Anh phải rút quân về và Thủ tướng Winston
Churchill năm 1945 phải thốt ra lời than thở: “Tôi rất hối hận đă cho quân vào
chiếm đóng Iraq”. Với số binh sĩ tử vong hàng ngàn và dân chúng Iraq bị tiêu
diệt hàng trăm ngàn, Hoa Kỳ đang đi theo số phận của Anh Cát Lợi trước đây.
Và chúng ta không nên quên một quy luật của thiên nhiên được thừa nhận và tôn
trọng bởi tất cả các tôn giáo trên thế giới: “Không có một vụ giết người nào là
không phải trả giá, không có một vụ ám sát nào được quyền làm, không có một vụ
diệt chủng nào mà khỏi chịu tội. Những ai làm những chuyện này đều sẽ phải trả,
không bằng cách này th́ bằng cách khác; nếu họ chưa kịp trả th́ con cái họ hay
cháu chắt họ phải trả; nếu thế hệ hiện tại chưa trả, th́ thế hệ kế tiếp và những
thế hệ trong tương lai sẽ phải trả.”
Nhưng trong chính trị, vấn đề nhức nhối là nếu ta xét một khoảng thời gian chừng
một thế kỷ so với vĩnh cửu th́ chỉ là khoảnh khắc của một giây đồng hồ, th́
thường thường kẻ tội phạm không trả nhưng những người vô tội nối tiếp về sau lại
phải trả!
Kết
Sau 30 năm làm việc cho dân tộc và phụng sự đất nước, ngày nay, tôi không khỏỉ
ngồi ngẫm nghĩ lại những ǵ tôi đă gặp trong khi thi hành phận sự ở trong và
ngoà́ nước.
Tôi đă được nuôi dưỡng bằng những giá trị truyền thống kết tinh qua bao nhiêu
thế kỷ hào hùng, và nhân hậu của tổ tiên, trên nền tảng của những tư tưởng vĩ
đại của phương Đông, và t́nh thương vô tận của dân tộc.
Trong câu chuyện kể lại quăng đời đă trải qua, biết bao nhiêu lần tôi buồn rầu
trông thấy những giá trị ấy hầu như biến mất, không c̣n dấu vết ở một số người,
đặc biệt ở những con người được coi là thuộc tầng lớp thượng lưu, tinh hoa nhất
của xă hội, trong lúc tính trung hậu thuỷ chung lại chỉ c̣n được t́m thấy ở nơi
dân nghèo, chất phác ở thôn quê.
Trên trường quốc tế, tôi cũng chán nản, nh́n thấy bao nhiêu sự lầm lẫn của công
chức người ngoại quốc, ở những địa vị cao cấp nhất, đại diện cho những xă hội ưu
tú nhất của thế giới, đă có những tư cách và hành động kém cỏi, không khác ǵ
những viên chức các nước hậu tiến, chỉ v́ tham lam tranh nhau quyền lợi cá nhân,
riêng tư, ít khi nghĩ đến quyền lợi chung của nhân loại.
Tất cả đạo giáo trên thế giới đều có mục đích cao xa, thay đổi con người, đào
tạo ra một con người có t́nh thương nhiều hơn, có đức hạnh cao hơn. Nhưng qua
những năm 47, tôi vào đại học và chen chúc với xă hội Pháp, rồi đến các năm 50,
qua Mỹ để học hỏi “đời sống dân chúng Mỹ” – the American Way of Life – và
lăn lộn bao nhiêu năm với xă hội Mỹ, tôi thấy rơ, xă hội ở Âu châu, ở Mỹ châu,
cũng như ở nước nhà, đă thay đổi nhiều từ đó và bây giờ tư cách con người bất cứ
ở xă hội nào cũng kém thua ngày xưa nhiều.
Tôi không khỏi tự hỏi loài người sẽ đi đến đâu?
N.H.H.
Santa Barabara, Tháng Năm 2004
Lời ghi chú
Toàn bộ tiền bán sách Câu chuyện đời tôi (ấn bản đầu) đều được đóng góp
vào quỹ của Hội Việt học. Tuy nhiên, xin lưu ư độc giả sách được xuất bản từ đầu
năm 2004, nên có hơi khác với sách trên mạng talawas, nhưng không bao nhiêu. Xin
liên lạc với ông Lân Minh Lê 15355 Brookhurst St, Suite 222. Westminster, CA
92683, USA. Email:
Bandieuhanhvvh@yahoo.com.
Phụ lục
Ảnh tư liệu chọn lọc
|
|
|
H́nh tác giả Nguyễn Hữu Hanh trên b́a cuốn hồi kư, bản tiếng Anh và bản tiếng Việt |
|
|
|
Hội nghị Tổng trưởng Kinh tế châu Á Thái B́nh Dương tại Manila, 1957 |
|
|
|
Hội nghị Thống đốc các Ngân hàng Trung ương Đông Nam Á (ông Nguyễn Hữu Hanh là người ngồi ngoài cùng, bên phải) |
|
|
|
Hội nghị thường niên Quỹ Tiền tệ Quốc tế - Ngân hàng Thế giới, 1960 |
|
|