30 tháng 4 — Đi t́m thời
gian đánh mất (III)
Ngày:
27-04-2006
30/4/1975
30/4/1976
30/4/2006
Nguyễn Văn Lục
27/5/1975, bộ mặt thứ tư của Sài G̣n sau Ngày Giải Phóng: Sự sợ hăi.
Đài phát
thanh thành phố ra lệnh phải thu nộp tất cả các sách vở, báo chí, phim ảnh, tài
liệu in ấn trước ngày 30 tháng tư được coi là đồi trụy? Chỉ một lệnh này thôi đủ
làm dân thành phố đau ruột. Nhà nào chả có sách vở, nhà nào mà chả có chữ nghĩa.
H́nh như chế độ tạo cho mọi người dân “mặc cảm tội lỗi” đến làm ǵ cũng sợ. Làm
việc ǵ, nói điều ǵ, phát biểu điều ǵ cũng phải ḍm trước, ḍm sau, uốn lưỡi
bảy lần mới nói. Cái tâm trạng đó biến nhân cách con người thành thiếu trung
thực, nghĩ một đằng làm một nẻo. Sống như thế kể là đáng buồn. Sợ bóng, sợ gió,
sợ đủ thứ. Trước đây c̣n trẻ sợ ma, sợ người chết, nay bắt đầu sợ người sống.
Nhất là sợ chế độ.
Chế độ mới quản lư con người bằng cách đẩy họ đến tâm trạng sợ hăi bằng cảnh cáo,
bằng hù dọa, bằng học tập, bằng lư lịch, bằng bản tự kiểm mà biểu tượng là các
vị công an phường khóm với những h́nh thức chế tài, kiểm soát, chế độ xin cho.
Như ở Ba Lan thời cộng sản, 65% dân chúng có hồ sơ của mật vụ Ba Lan. Thế th́
sống luôn luôn trong sự sợ hăi và bất an thường trực. Thân phận lưu đầy ở đây là
cảm thức ḿnh là kẻ tội phạm. Cảm thức này phải sống trong ḷng chế độ mới biết
được. Mới đây, tôi về Việt Nam (VN), ra Hà Nội, đến các khu vực "cấm thành" dọc
theo đường Hoàng Diệu, khu Ba Đ́nh, tự nhiên cảm giác bất an, lo sợ tự nhiên dấy
lên trong tôi. Sau 30 năm trở lại, tưởng nó chết rồi, nó c̣n đó trong vô thức
ngóc đầu trở lại. Tôi vội vă rời khỏi khu vực đó..
Đó là một thứ phong kiến kiểu cộng sản.
Cái khốn khổ dằn vặt con người không phải là đă phạm tội ǵ mà vận dụng hết cách
như trí nhớ, sự khôn ngoan, trí thông minh nghĩ ra, tưởng tượng ra tội phạm.
Cái cảm nghiệm này đối với những người theo Thiên Chúa giáo (TCG) thật sự không
xa lạ ǵ. Khi c̣n nhỏ tuổi, người theo TCG cũng thường rơi vào mặc cảm ḿnh
lúc nào cũng tội lỗi, một ngày ít lắm cũng phạm tội đến 7 lần. Trẻ con mà có tội
ǵ? Vậy mà mỗi tuần mỗi xưng tội. Mỗi tuần ngồi thần ra để đẻ ra tội, đẻ càng
nhiều càng tốt. Có ǵ khác nhau giữa người Thiên Chúa giáo và người Cộng Sản?
Người miền Nam sinh ra ngờ vực, cái ǵ cũng có cảm giác ḿnh bị lừa.
Chủ nhật 1/6/1975
Quân bài mạt chược cũng
biết đóng kịch và người tử tế không c̣n nữa.
Đă một tháng trôi qua, đă có rất nhiều thay đổi. Mọi người đều cố gắng vận dụng
khả năng thích ứng, sao cho thích hợp với hoàn cảnh mới. Thật cũng không dễ dàng
ǵ. Trước 1975, tôi có thú giải trí xoa mạt chược cuối tuần. Đă một tháng hầu
như quên lăng. Nay chợt nhớ lại. Thời gian như đă từ lâu chưa chơi lần nào.
Lần đầu tiên, tôi lén lút đi xoa mạt chược cho đỡ ghiền. Nhưng 160 quân bài mạt
chược nay cũng phải mặc thêm bộ áo che chắn như người để khỏi gây ra tiếng động
khi xoa bài. Chủ nhà đă nghĩ ra được sáng kiến đến lạ. Ông tốn kém đi mua một
lốp săm xe đạp, cắt ra thành từng khúc vuông nhỏ, rộng nửa đốt ngón tay, rồi
quấn ngoài quân mạt chược. V́ thế quân bài xoa va vào nhau không phát ra tiếng
kêu, tránh cho hàng xóm khỏi nghe thấy. Nhưng từ nay, mỗi lần đánh quân bài ra,
nó nhảy tưng tửng đến là buồn cười. Không ngờ, nó đóng kịch cũng hay.
Đi ra đi vô phải ra lần lượt từng người một để tránh sự ḍm ngó của người chung
quanh.
Niềm vui nho nhỏ, giải trí cũng đă sứt sẹo, mất vui.
Trên đường về nhà, từ chỗ đánh mạt chược ở khu Hàng Xanh, nhất là vùng Thị Nghè,
đường Nguyễn Huệ, bờ sông Sài G̣n, người ta bán đủ thứ do ăn cắp, hôi của từ các
kho hàng, các hăng xưởng. Có thể t́m thấy đủ thứ ở các nơi đó. Nạn con buôn chạy
hàng, manh múm, nạn chợ đen, giá cả mỗi nơi mỗi khác thay đổi từng ngày. Hàng
thùng thuốc lá của các hăng Bastos, hăng thuốc lá M.I.C, thùng bia của hăng
B.G.I. được đem ra bán. Xăng được bán lẻ từng chai ở mọi chỗ với cái chai không
được bày ra đường làm dấu hiệu. Xăng này do bộ đội bán ra, v́ các cây xăng bị
đóng cửa. Giá cả từ 1.000 đồng đến 2.000 đồng một chai.
Sau này, tôi cũng nhập vào ḍng chảy buôn bán xuôi ngược này. Nhiều nguồn, nhiều
cách buôn lắm. Tôi mua lại những chai thuốc viên Aspirine từ Hànội mang vào. Mua
cả lố hàng 2, 3 chục ngàn viên. Tôi đem đến bán cho một hai cơ sở bào chế.. Họ
nghiền, tán thuốc Aspirine Hà Nội rồi cho máy chạy ép ra thuốc Aspro trong Nam,
có vỉ nhựa bọc. Viên thuốc cứng nhắc, tŕnh bầy đẹp, in ấn đẹp, viên thuốc không
mềm nhũn như thuốc Hà Nội mà giá đắt gấp 3, 4 lần hơn. Chưa biết là có pha thêm
bột không? Bào chế xong, tôi lại đến mua lại cho một số hiệu thuốc quen và bán
lại cho những người bán lẻ, có thể họ bán lại cho chính anh cán bộ đă bán
Aspirine Hà Nội.
Thật là một ṿng xoay đến buồn cười. Thật ra đó chỉ là vấn đề thương hiệu, vấn
đề tên nhăn thuốc.
Nói chung, mọi người từ trong Nam đến ngoài Bắc đều “có vẻ tin tưởng” vào
những sản phẩm trong Nam hơn. Thuốc ngoài Bắc, người ta gọi là “thuốc rởm”. Đây
là lúc người ta so sánh nhiều thứ lắm. Ngoài Bắc thế này, trong Nam thế kia. Mà
bao giờ kẻ thắng trận cũng thành kẻ thua.
Tôi là người gốc Bắc, nhưng do sự tiếp xúc thường xuyên với người cán bộ, tôi
cảm thấy tôi có chất Nam nhiều hơn chất Bắc. Chất Nam Kỳ làm tôi có cảm tưởng
không giống chút nào với những người mới vô nữa. Tôi khác họ. Trước đây, có thể
có kỳ thị Nam Bắc. Nay có thể có kỳ thị Bắc-Bắc, Bắc 54 với Bắc 75.
Nếu cần tổng kết một tháng trôi qua th́ phải nói đă ló dạng nạn buôn bán, mánh
mung, nạn chợ đen, tham nhũng, nạn chụp giựt lừa đảo bắt đầu. Một xă hội đen,
một xă hội bên lề đă thành h́nh. Đó cũng là đặc trưng của Sài G̣n sau 30
tháng tư. Có những người trước đây tử tế như thế nay sinh gian tham, mánh mung,
lừa đảo. Đă thấy xuất hiện những người tử tế không c̣n tử tế nữa. Người thật thà
trở thành gian manh.
Người ăn nói trung thực trở thành nói láo khoét. Con người sống trung thực bắt
đầu biết đóng kịch. Chủ nghĩa bất đắc dĩ đă sản sinh ra những người vợ trung
chinh nay bắt đầu thay ḷng đổi dạ. Học tṛ siêng năng trở thành lười biếng.
Thanh niên ngưỡng vọng cao vời bắt đầu mất lư tưởng.
Đó là điều mà Dương Thu Hương cho là một nghịch lư: “Một dân tộc dũng cảm
biết bao trong chiến tranh và hèn mọn biết bao trong cuộc sống thời b́nh’’.
Chiến tranh đă cướp đi tất cả những ǵ là cao quư, trong sáng chỉ c̣n để lại bọn
khôn ngoan cơ hội, bọn trục lợi, bọn ăn may theo tŕnh tự: Trong chiến tranh,
người trẻ chết trước người già, người nghèo cùng khổ bán máu chết thay cho bọn
giầu có quyền, có chức. Người ít học chết thay cho bọn có học, chết thay cho bọn
đầu cơ chính trị.
Người bắt đầu không ra người. Cái ǵ đă làm dổi thay cá tính con người
như vậy. Những mánh khóe lừa đảo đủ loại ra đời mà không sách vở nào dạy hết
được. Chính bản thân tôi cũng bị lừa vài lần đến đau điếng. Tại sao xă hội lại
thay đổi như vậy? Trước đây, cũng không thiếu tầng lớp người nghèo xác xơ, tại
sao cảnh đó lại không xảy ra?
Trục xuất Khâm sứ Toà
thánh và hủy bỏ việc bổ nhiệm Giám Mục (GM) Nguyễn Văn Thuận làm phó Tổng GM (TGM).
Trong thời
gian này, có xảy ra vụ trục xuất Khâm sứ Toà Thánh và phản đối việc bổ nhiệm GM
Nguyễn Văn Thuận làm phó Tổng GM có quyền thay thế. Việc trục xuất do sự phát
động của một số 20 Linh mục (LM) cấp tiến Triều và Ḍng, trong đó có LM Thanh
Lăng, giáo sư đại học Văn Khoa.
Ngoài Thanh Lăng c̣n phải kể đến Nguyễn Quang Lăm, Vương Đ́nh Bích, Trương Bá
Cần, Trần Viết Thọ, Nguyễn Văn Trinh, Phan Khắc Từ, Hoàng Kim, Nguyễn Thới Ḥa,
Nguyễn Văn Huệ, Nguyễn Nghị, Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Huỳnh Công Minh, Nguyễn
Thiện Toàn, Đinh B́nh Định. Nhiều tin đồn và dư luận xôn xao và đă có xáo trộn
trong đám giáo dân. Một nhóm sinh viên căng biểu ngữ trước ṭa TGM Sài G̣n vào
ngày 13/5/1975 phản đối việc bổ nhiệm Đức cha Nguyễn Văn Thuận.
Theo như lời phỏng vấn ông Nguyễn Văn Hanh trên tờ Sàig̣n Giải Phóng th́: “Do
đó đă xảy ra xôn xao và xáo trộn, thậm chí có chết người trong cuộc xô xát đêm
3/6/1975, gần cầu Trương Minh Giảng’’. Phần LM Thanh Lăng, người cổ xúy cho
việc này th́ đă viết một bài: “Tạm tổng kết vụ Giám Mục Nguyễn Văn thuận”. Nhân
đó ông Nguyễn Văn Hanh đă không quên thừa dịp này đề cao LM Thanh Lăng là:
“là nhà văn và là nghiên cứu có tiếng là trí thức và ôn hoà…” Trong khi đó
th́ lại có một tiếng nói khác của LM Trần Du, đăng trên tờ Đứng Dậy, số 72,
trang 46 như sau:
“Quyết định bắt Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận rời Sài G̣n
không thể thi hành được. Hai triệu dân công giáo không chấp nhận. Đức Giám Mục
Nguyễn Văn Thuận không có quyền từ chức. Vậy th́ chính quyền có thể giết ngài,
có thể giết cả tôi, có thể bỏ tù Ngài hay bỏ tù tôi.. Nhưng không thể tự ư trục
xuất Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận ra khỏi Sài G̣n”.
Phần TGM Nguyễn Văn B́nh trong một lá thư gửi LM, tu sĩ, giáo dân ngày 7/6/1975
đă xác định:
-Việc bổ nhiệm là hợp với nhu cầu mục vụ
-Chính tôi đă đồng ư hoàn toàn việc bổ nhiệm này.
-Mấy tổ chức mệnh danh công giáo chỉ là thiểu số.
-Những tội danh gán buộc cho Đức khâm sứ Henri Lemaitre và Đức TGM Nguyễn Văn
Thuận hoàn toàn thất thiệt.
-Chấm dứt các chiến dịch bôi nhọ, vu cáo.
-Chận đứng các chiến dịch vận động phi pháp trục xuất TGM Nguyễn Văn Thuận.
Bất chấp kháng thư của Tổng GM Nguyễn Văn B́nh, hai tháng sau, ngày 15/8/1975,
Ủy ban MTDTGP TP. HCM và Ủy ban quân quản tŕnh bày vụ TGM Nguyễn Văn Thuận tại
Nhà hát thành phố (trụ sở Hạ Nghị Viện cũ), ông Phó chủ tịch Mai Chí Thọ tuyên
bố: “đưa giám mục Nguyễn Văn Thuận về lại Nha Trang, v́ Giám Mục Thuận được
chuyển đến Sài G̣n không phù hợp với t́nh h́nh mới.” Cũng trong ngày ấy, tức
15/8, Ủy Ban quân quản mời Đức Cha B́nh và Thuận đến “làm việc” tại dinh Thống
Nhất (dinh Độc lập), giữ cha Thuận lại, đưa xe bít bùng chở đi câu lưu tại Cây
Vông, thuộc tỉnh Khánh Hoà, sau đó chuyển ra Bắc, bị tù 13 năm, trong đó có 9
năm biệt giam, cho tới ngày 23/11/1988.
Xin ghi lại đây mấy ḍng nhật kư của TGM Nguyễn Văn Thuận: Ngày 1 tháng 12,
năm 1976, lúc 9 giờ tối, bất th́nh ĺnh, tôi bị gọi đi cùng với vài tù nhân khác.
Chúng tôi bị xích người này với người kia từng hai người một và được đẩy lên xe
cam nhông... Chúng tôi bị đưa lên tàu, chở ra miền Bắc - một cuộc hải hành dài
1.700 cây số. Dĩ nhiên trong điều kiện như một đàn súc vật người chen chúc,
thiếu ánh sáng, thức ăn và không khí, nhưng đầy ắp những tiếng uất ức nói không
nên lời. Trong 9 năm biệt giam cơ cực, có lúc tôi bị giam trong một xà lim không
có cửa sổ. Có khi đèn điện bật sáng từ ngày này qua ngày khác. Trong thời gian,
tôi bị biệt giam, tôi được giao cho 5 người canh gác. Họ thay phiên nhau luôn
luôn có hai người ở với tôi… Khi tôi bị quản thúc tại làng Giang Xá, cách Hà Nội
khoảng 20 cây số, người canh giữ tôi là một tín hữu công giáo.
Vụ việc này xảy ra chỉ không đầy hai tháng sau khi “chỉ thị của Thủ Tướng Chính
phủ về các hoạt động tôn giáo”
Thứ bảy, 7/6/1975, thân phận
một nữ sinh viên tranh đấu trước 75.
Trong giới
sinh viên, nhiều người biết đến Cao thị Quế Hương như một người tranh đấu điển
h́nh, nhất là trong giới Phật tử. Cuộc biểu t́nh, tuyệt thực nào mà không có cô.
Ra tù, ra khám như chơi. Nổi tiếng tranh đấu như thế, chắc hẳn vào tù không khỏi
bị các quản ngục làm nhục cách này, cách khác. Báo chí nhắc đến cô với ngưỡng
phục v́ ḷng can đảm, v́ nhiệt t́nh hăng say. Vào những giờ phút chót của VNCH
th́ cô vẫn đang ngồi tù ở Biên Ḥa. Ở một nơi nào, trong một trại giam biệt lập,
mà ít người biết.
Hôm nay, cô Cao Thị Quế Hương từ Đà Lạt về mỗi năm để làm giỗ cho anh Nguyễn
Ngọc Phương và để gặp lại bạn bè tranh đấu thời trước. Cao thị Quế Hương là một
khuôn mặt nổi bật trong giới sinh viên tranh đấu trước 1975. Nhắc lại cái thời
kỳ ấy, có một số các bà, đặc biệt có chị Yến và một bà người Tàu chuyên nấu bếp
ở chùa Ấn Quang Họ thường tổ chức nấu ăn, tiếp tế tương chao cho tù nhân ở nhà
giam Tân Hiệp Biên Hoà. Đám giỗ Phương đă được tổ chức ở Tịnh Xá Ngọc Phương của
cố ni sư trưởng Huỳnh Liên. Mỗi lần giỗ như thế th́ có đông các ni sư, ni cô và
các bà Sài G̣n tụ tập lại. Lẽ dĩ nhiên là thường ăn đồ chay.
Trong thời kỳ đó, toà án mặt trận vùng 3 chiến thuật xử lần thứ nhất tạm phóng
thích khoảng 10 sinh viên, trong đó có cô Cao Thị Quế Hương, Nguyễn Ngọc Phương,
tự Ba Triết, Dương Văn Đầy và Huỳnh Tấn Mẫm. Mẫm nguyên là chủ tịch Sinh Viên
1970, lănh đạo thành đoàn Ṭa xử lần 2. Mẫm và Đầy và một sinh viên được thả, số
c̣n lại bị giữ cho đến ngày được trao trả. Trừ Nguyễn Ngọc Phương.
Cuối năm 1972, Nguyễn Ngọc Phương và một số tù Chí Hoà nhịn ăn để chống lại đại
tá Vệ, giám đốc nhà tù Chí Hoà. Phương đuối sức, được đưa vào bệnh viện Sài G̣n.
Đến đầu 1973, Phương chết. Sau này Lê Văn Nuôi, chủ tịch thành đoàn, chủ bút báo
Tuổi Trẻ thường nhắc lại kỷ niệm về Phương: Phương chưa kịp mừng Hiệp Định Hoà
B́nh ra đi th́ đă mất.
Đám ma Phương được nhiều dân biểu, nghị sĩ đối lập như các dân biểu Kiều Mộng
Thu, Phan Xuân Huy, Hồ Ngọc Nhuận v.v... đến nhà ở đường Cao Bá Nhạ phúng điếu.
Sau đám tang Nguyễn Ngọc Phương, Cao Thị Quế Hương bị bắt lại và bị giam ở trại
Chiêu Hồi Đức Tu Biên Ḥa cho đến trước ngày giải phóng. Cao Thị Quế Hương trốn
khỏi trại trước ngày giải phóng và ra ở nhà chị Dậu, một phụ nữ đấu tranh nổi
tiếng ở Vũng Tàu, đến tháng 5-75 mới về lại Sài G̣n.
Cuộc đời của Cao Thị Quế Hương sau đó củng ch́m lỉm vô danh như nhiều người khác.
Cô về sống với mẹ ở Đà Lạt như một người quy ẩn. Nói quy ẩn cũng không đúng hẳn.
Cô giữ chức chủ tịch Hội Liên Hiệp phụ nữ tỉnh Lâm Đồng, Đà Lạt.
Đó là những bóng người như những bóng đêm câm lặng nhường chỗ cho những bọn múa
rối ra đời và sắp ra đời, tuỳ theo mỗi thời kỳ... Thoạt đầu là những Trí thức
yêu nước, sau này là trí thức hải ngoại t́m về v.v...
Đến có thể nói một điều chua chát như thế này. Rất nhiều người đă “nổi’’ nhờ chế
dộ độc tài Nguyễn Văn Thiệu miền Nam như: Cao thị Quế Hương, Huỳnh Tấn Mẫm, Lư
Quư Chung, Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, các quư vị đi theo Mặt trận Giải phóng
miền Nam (MTGPMN). Sau giải phóng, thay v́ nổi th́ họ ch́m.
Sài G̣n của tin đồn thất
thiệt.
Nay thành phố giới nghiêm từ 10 giờ tối. Dù không có giới nghiêm th́ cũng không
ai muốn ra khỏi nhà vào cái giờ ấy. Có nhiều tiếng nổ lớn ở phía Bắc thành phố
vào lúc 3 giờ... Có tiếng c̣i hụ của xe cứu hỏa, người ta đồn với nhau là tiếng
nổ do Plastic gài vào xe của của bộ đội. Cũng có hai bộ đội bị đâm chết ngay
cạnh rạp ciné Mini-Rex, đường Lê Lợi. Nhiều người c̣n kháo với nhau có mảnh giấy
ghim trên ngực người chết ghi “chúng tôi không muốn cuộc cách Mạng của các ông’’.
Thật sự th́ đă có ai nh́n thấy mảnh giầy ghim trên ngực đó không? Chắc là không.
Chỉ đồn, chỉ bịa, chỉ tưởng tượng đủ thứ. Tôi không tin có mảnh giấy đó.
Mảnh giấy đó chỉ nằm trong đầu người ta mà thôi.
Thay v́ nghe đài phát thanh th́ nay dân chúng đă có “Radio Catinat”, mỗi ngày
phát thanh tin đồn thất thiệt hai mươi bốn trên hai mươi bốn.
Sài G̣n không có thông tin, nên nẩy ra rất nhiều tin đồn để lấp chỗ trống đó.
Càng cấm, tin đồn càng nhiều. Có những tin đồn đến hoang đường, đến không tưởng
mà người ta vẫn kháo nhau cho là thật. Tin đồn được tung ra từ các đám người đấm
bóp thời cuộc, ngồi ở cà phê đầu đường tán dóc cho qua th́ giờ.
Bà Ngô bá Thành trong một cuộc phỏng vấn đă nhận xét: “Radio-Catinat
là một lực lượng đáng kể ở thành phố Hồ Chí Minh. Nó vượt qua dễ dàng những
phương tiện truyền thông chính thức của chúng tôi”.
Hôm nay. Hôm nay là hôm nào? Hôm nào cũng được, miễn là ngày của chúng
tôi. Một số đồng nghiệp trẻ tổ chức ăn với nhau tại nhà một cô giáo bên Khánh
Hội.
Không khí đầm ấm, nhớ đời. Cuộc sống của chúng tôi chỉ có ư nghĩa thực sự ở
những lúc này.
Chúng tôi gần nhau hơn, chia sẻ nhiều hơn, mặc dầu bữa nhậu dù cố gắng lắm cũng
rất đạm bạc. Ăn xong, một số các em nữ giáo viên trẻ đàn hát nhạc cũ. Hát nhỏ
thôi. Hát lén thôi. Nhưng chính ở chỗ hát lén mà nó đậm đà, mà nó cảm động. Ăn
trộm, ăn vụng đă ngon, lần đầu tiên hát lén cũng thấy hay không thể chê được.
Nhiều em gái, dơm dớm nước mắt. Chúng tôi chia tay, trong ḷng ai cũng muốn có
những bữa ăn như thế nữa.
Thứ ba, 10/6/1975, đại sứ Pháp Merillon ra đi.
Chuyến máy bay thứ ba ra nước ngài chở theo tất cả những nhà ngoại giao c̣n sót
lại. Trong số này, có ông đại sứ Pháp Mérillon, nổi tiếng vào những câu chuyện
giờ thứ 25 của Sài G̣n. Ông ôm gói ra đi trong một t́nh trạng bị đối xử thật tồi
tệ đối với đại diện một cường quốc như nước Pháp. Hà Nội h́nh như muốn khép tất
cả các cánh cửa ra ngoài. Với sự ra đi của ông Đại Sứ Pháp... hầu như mọi liên
lạc với thế giới tư bản bị cắt đứt. Hà Nội h́nh như muốn đóng cửa để dễ làm việc,
giải quyết những chuyện nội bộ cho xong. Sau này, tại hải ngoại đă có cuốn sách
dựng đứng việc Đại Sứ Mérillon thương lượng với chính quyền giải phóng về một
giải pháp bị thất bại. Lại một chuyện hoang tưởng nữa, mất công ông Đại Sứ viết
bài báo cải chính cũng không xong.
Thứ năm, 12/6/1975, tŕnh diện học tập cải tạo
Ngày đánh
dấu một thay đổi lớn với tất cả những nhân viên, sĩ quan trong chế độ cũ. Guồng
máy chính trị chế độ bắt đầu chạy, bắt đầu xiết. Thông cáo cho hay, các sĩ quan
và viên chức chính phủ cũ sẽ phải đi học tập cải tạo tối thiểu một tháng đối với
Sĩ quan quân đội và cảnh sát ngụy, những người làm chính trị, dân biểu, bộ
trưởng, nghị sĩ. Họ phải tŕnh diện trong ngày mai và chỉ được mang theo quần áo
mặc thay đổi và c̣n nói rơ mang theo 1.3610 đồng để trả tiền ăn trong một tháng.
Đối với các Hạ sĩ quan trở xuống, chỉ phải tŕnh diện học tập ba ngày. Tờ Sài
G̣n Giải Phóng giải thích: “Họ có phần trách nhiệm của họ v́ đă cầm súng đánh
giặc cho kẻ thù, hoặc đă làm việc cho kẻ thù”.
Chắc nhiều người nay ở Hải ngoại đă hẳn không quên được cái ngày lịch sử này đối
với đời sống c̣n lại của họ.
Tôi gọi đó là ngày mà chính quyền dựng lên một bức tường ô nhục phân biệt
giữa kẻ thắng, người thua. Sau 30 tháng tư, nhiều bức tường ô nhục đă được dựng
lên như thế.
Tiện nơi đây, xin trích dẫn những con số khác nhau về số những người đă phải đi
học tập cải tạo. Dư luận dân chúng th́ đưa ra con số là 80 vạn người tù học tập
cải tạo. Năm 1976, P. de Beer đưa ra con số 200.000. J. Lacouture, vào tháng 5,
1976 đưa ra con số 300.000. Những người có khuynh hướng thân CS th́ đưa ra những
con số như sau: Tháng tư, 1978, Chanda cho có 50.000, tháng tư 1978. RP.
Paringaux cũng 50.000. tháng 6, 1979, F. Nivolon, trên tờ Le Figaro, thiên tả,
đưa ra con số 50.000.
Trong truyện đi học tập, có một số cựu viên chức miền Nam đă được miễn như các
trường hợp kể sau đây: Trong Hồi kư không tên, Lư Quư Chung có ghi lại như sau,
khi ông nhận được một phong b́ giao tận tay: giao cho nguyên Tổng Trưởng
Thông Tin, nguyên dân biểu đối lập ngụy quyền, Lư Quư Chung, thông báo được miễn
học tập tập trung. Kư tên: Cao Đăng Chiếm. Phó chủ tịch Ủy Ban Quân Quản.
Khi nói rằng Lư Quư Chung được miễn học tập cải tạo tập trung th́ có nghĩa là
ông được miễn khỏi phải vào các trại tập trung như cô nhi viện Long Thành. Nhưng
ông vẫn phải tham dự các khóa học tập tại chỗ, tổ chức nhiều nơi và nhiều ngày
trong thành phố Sài G̣n lúc bấy giờ.
Chẳng hạn, hơn một ngàn giáo sư trung học cả công cả tư trong thành phố cũng
được miễn đi học tập tập trung. Nhưng họ vẫn phải tham dự các khóa học tập ngắn
ngày trong thời gian liên tiếp ba tuần lễ.
Một trường hợp điển h́nh khác là ông Lư Chánh Trung, đă từng được đưa vào bưng
để tiếp xúc với những lănh đạo MTGPMN. Khi giải phóng xong, dù sau nay dược là
dân biểu, được tiếp tục giảng dạy ở Đại Học Văn Khoa. Ông vẫn phải tham dự các
khóa học tập về chủ nghĩa Mác Lênin, không phải một vài tháng, mà kéo dài cả năm,
có trao dổi, có làm bài, có chấm điểm.
Vậy th́ bất cứ ai ở miền Nam, nếu không trực tiếp là đảng viên cộng sản, hay đă
tham gia trực tiếp vào MTGPMN th́ dù được miễn học tập cải tạo tập trung vẫn
phải dự các lớp học tập tại chỗ. Đó có thể cũng là trường hợp của tướng Lê Văn
Nghiêm và một số trí thức miền Nam khác.
V́ thế, việc miễn học tập tập trung cũng c̣n dành cho một số người khác như
Dương Văn Ba, Đinh Văn Đệ, Phan Xuân Huy, Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức, Đinh Xuân
Dũng, Nguyễn Phúc Liên Bảo, Nguyễn Hữu Hiệp, Trần Bá Thành (cựu Tổng giám đốc
Cảnh sát Sài G̣n, thời Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm) v.v...
Nhưng sau đó những người trên vẫn tham dự những buổi học tập diễn ra từ ngày
15/8 đến 22/8, do Tạ Bá Ṭng hướng dẫn.
Bên cạnh đó, các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu, Trần Văn
Hương là những trường hợp đặc biệt của đặc biệt. Bốn vị này thay v́ đi học tập
tại chỗ th́ người ta gọi là những buổi trao đổi. Thật ra th́ cũng là một thứ học
tập, ở mức độ nhẹ nhàng và thoải mái thôi. Chỉ có khác là học ở Sài G̣n. Trong
những buổi học tập này, cụ Hương là người hăng hái nhất, phát biểu cũng nhiều
nhất.
Cuối cùng th́ có thể nói là cả miền Nam phải học tập. Trẻ, già, lớn, bé, từ
phường khóm đến trường học. Không miễn trừ cho bất cứ người nào.
Nhà nào cũng có người là sĩ quan phải đi học tập. Không sĩ quan th́ ngụy quyền.
Đâm ra nhà nào cũng có chuyện buồn, cũng có chuyện phải lo. Anh rể tôi, anh cột
chèo đều phải đi cả. Các chị tôi đă hẳn buồn và lo lắm. Tôi làm sao không buồn
theo.
Cuối cùng cả miền Nam đều
buồn.
Mẹ tôi không nói ra, nhưng có vẻ héo hắt đi. Đôi mắt hơm sâu thêm v́ những đêm
không ngủ. Nụ cười úa tàn không c̣n oan oang như trước nữa. Bố tôi th́ bề ngoài
thấy như vẫn vậy. Thói quen của mẹ dấu diếm những điều cho riêng ḿnh đă thành
tật. Do đó, nó khoét sâu vào tâm khảm, đục khoét cơ thể lúc nào không hay. Người
cứ nhẹ đi như bấc. Có những buổi trưa bất ngờ sang thăm mẹ. Mẹ ngồi ngủ gục, ẻo
lả một bên. Tôi ngỡ ngàng kinh ngạc, xót xa. Con rể đi học tập, con trai lang
thang, lếch thếch ngoài Vũng Tàu t́m đường đi. Con cả ở ngoài bắc vẫn biệt tăm,
vẫn mù mịt, không biết sống hay chết. Đă mấy chục năm rồi sao chưa về. Nổi đau
quá khứ trộn thêm nỗi lo hiện tại. Các con tứ tán. Mẹ vẫn không một lời ca thán.
Mà mẹ biết trách ai bây giờ.
Chẳng bao lâu sau, mẹ từ giă cơi đời v́ gánh nặng cuộc đời không gánh nổi.
Mẹ tôi chết. Không c̣n cách ǵ cản quyết tâm phải ra đi của tôi nữa. Đúng là mẹ
tôi ép tôi phải ra đi.