30 tháng 4 — Đi t́m thời gian đánh mất (IV) 
Ngày: 28-04-2006 

30/4/1975 
30/4/1976  
30/4/2006  
 
Nguyễn Văn Lục 

Từ ngày Cách mạng vào đến giờ, tôi tự hỏi: đă có một ngày, đă có việc ǵ làm cho chúng tôi vui? Chưa. Chỉ có những chuyện buồn, hết chuyện nọ đến chuyện kia. Thế giới chia cách từ chỗ đó.

Trong vấn đề đi học tập này, chắc cần phải nói thêm cho rơ. Có vài người trong chính quyền mới là các ông Năm Xuân, Mai Chí Thọ và ông Tạ Bá Ṭng, Nguyễn Hộ, Vơ Văn Kiệt, ông Sáu Ngọc, giám đốc công an thành phố rồi Sáu Đức, tỏ ra nới tay đối với một số trí thức miền Nam. Không có mấy ông này th́ nhiều người cũng khốn khổ lắm. Theo ông Hồ Ngọc Nhuận, sau 30/4/75, lănh đạo đă cho ông một đặc ân là lên danh sách những người được đi học tập cải tạo riêng. Ông Nhuận có kể trưởng hợp Dương Văn Ba bị lọt sổ (DVB). Can thiệp mấy cũng không được. Ông Tạ Bá Ṭng th́ cứ nhất định phải đưa DVB đi học tập. Đến phút chót, ông Ṭng mới xét lại và miễn cho DVB khỏi đi học tập cải tạo tập trung. Có những anh đă được can thiệp như dân biểu Thạch Phen, đại uư quận trưởng, gốc Khmer hay Trần Ngọc Giao đă được miễn học tập tập trung... Nhưng về địa phương th́ lại khác, bị bắt, rôi được thả, rồi cả hai ông đều chết. Không có ông Mai Chí Thọ th́ ông Nguyễn Chức Sắc, chồng bà dân biểu Kiều Mộng Thu hay dân biểu Lê Tấn Trạng làm sao thoát cảnh tù đầy. 
 
Cũng cần nhắc lại ở đây là thành ủy thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) đă đánh giá khá tích cực ba thành phần sau đây sẽ là những yếu tố thuận lợi sau này trong việc xây dựng, tái thiết và phát triển miền Nam. Bỏ qua ba yếu tố này sẽ là những bất lợi bất cập gây trở ngại cho việc tái thiết và phát triển miền Nam. 
Đó là 3 thành phần cơ hữu của chế độ cũ cần được đánh giá đúng mức: Người Việt gốc Hoa, viên chức và sĩ quan chế độ cũ và khối người Thiên Chúa giáo. 
 
Rất tiếc, sự đối xử phân biệt với người Hoa cũng như việc trục xuất người Hoa ra khỏi VN, việc đánh tư sản mà phần lớn là người gốc Hoa, việc bắt viên chức cũng như sĩ quan đi học cải tạo lâu ngày đă đưa đến thảm cảnh ‘boat people’ như mọi người đă thấy. Việc trục xuất khâm sứ toà thánh và các thừa sai ngoại quốc mà theo đề nghị của ông Nguyễn Cơ Thạch là nên duy tŕ ṭa Đại sứ Hoa Kỳ để cho việc bang giao quốc tế không bị gián đoạn. 
 
Nếu đề nghị của ông Nguyễn Cơ Thạch, một người có kinh nghiệm về những bang giao chính trị trên thế giới, được chấp nhận, th́ đă hẳn có thể tránh được nhiều thảm họa cho đất nước. 

Cơ hội xây dựng đất nước đă một lần để hụt tay.

Một chuyện vui kể lại: Gia đ́nh tôi có dịp đón tiếp anh chị Kim, con nhà bác từ Hà nội vào. Anh chị cũng hiền lắm. H́nh như cũng không được khá giả ǵ. Anh có cô con gái là nữ ca sĩ nổi tiếng miền Bắc lúc bấy giờ. Giọng cháu lanh lảnh, thánh thót, sắc cạnh, cao vút, nhưng không truyền cảm lắm. Nghe vẫn chưa quen, thấy thế nào ấy. Thấy hay, nhưng vẫn không cảm được. Cho cái ǵ, anh chị cũng nhận mang về, tất cả chỉ là đồ cũ. Tôi có chai rượu Black and White để dành, nhân dịp đó mang ra đăi anh. H́nh như chỉ qua chầu rượu thứ hai, anh đă say mèm. Say rồi , anh chả giữ ư tứ, chả rào trước đón sau, chả nói theo bài bản nữa như lúc mới đến. Anh lộ nguyên h́nh hài là anh, con người thật. Anh chửi hăng quá, chửi cho đă như thể chưa bao giờ có dịp để chửi như thế, như thể đă nhịn nhiều năm. Anh chửi những nhân vật đời thường anh chỉ biết tụng niệm. 
 
Xin đổi câu thơ này ra để tặng anh: 

Sống ḿnh không được nói 
Chết mới được ra lời.
 

Anh không chết, nhưng rượu vào làm anh chết giả và lúc đó anh mới sống thật với ḷng ḿnh. Tôi chỉ buồn cười. Cũng thương anh rồi d́u anh đi ngủ. Chị ấy th́ sáng hôm sau có vẻ rất băn khoăn khổ sở về bữa rượu hôm trước. Tôi th́ thấy thường quá, say nói lăng nhăng ai chấp làm ǵ. Từ đó, anh chị không bao giờ vào chơi nữa. Thật đáng tiếc. 
 
 
12 tháng 6, 1975. Mỹ gửi đến ṭa Đại sứ Việt Nam một thông điệp  
 
Thông điệp này do sứ quán Mỹ ở Paris gửi đến sứ quán của VN ở Paris: “Về nguyên tắc, Mỹ không thù hận ǵ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (VNDCCH). Đề nghị trên cơ sở đó tiến hành bất cứ quan hệ nào giữa hai bên. Mỹ sẵn sàng nghe bất cứ gợi ư nào mà phía VNDCCH có thể muốn đưa ra’’. 
 
Sau đó có buổi họp giữa ta và Mỹ, cấp bí thư thứ nhất ngày 10/07, giữa ông Đỗ Thanh và Pratt chủ yếu bàn về vấn đề MIA. Mỹ chấp nhận Việt Nam vào LHQ, Mỹ có thể đóng góp khôi phục lại Việt Nam bằng cách phát triển buôn bán, hợp tác kinh tế. 
 
Và theo ông Trần Quang Cơ, nguyên thứ trưởng ngoại giao Công Hoà Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN0, năm 1977 ta đă có đủ khả năng để ta b́nh thường hóa quan hệ với Mỹ, nhưng ta đă bỏ qua. Thật là đáng tiếc. 
 
 
Thứ bảy 14 tháng 6, 1975, thay đổi giờ thay đổi đời. 
 
Kể từ sáng nay, giờ Hà nội (GMT-7) thay thế chính thức cho giờ ở Sài G̣n (GMT- 8). Đây là một thay đổi duy nhất mà người Sài G̣n không ai để ư tới. Chuyện thay đổi cả đời người c̣n chưa lư tới, một giờ th́ nhằm nḥ ǵ. Bây giờ là giờ của cách mạng hiểu theo nghĩa nào cũng đúng cả: Giờ của lịch sử, giờ của người chiến thắng. 
 
Chỉ có kẻ thua trận là không có giờ và dĩ nhiên không có cả tương lai nữa. 
 
Gia đ́nh tôi lại có dịp tiếp đón một ông chú bên nhà vợ. Mọi người gọi là chú Tiến. Nghe nói, h́nh như chú là thứ trưởng bộ kinh tế th́ phải. Tội nghiệp chú, các bà cô vợ tôi được dịp chửi rủa xả láng, nói bóng nói gió, chê bai đủ thứ. Chú chỉ cười. Chú chả thèm xin bất cứ thứ ǵ, có cho chắc cũng không lấy. Chú giầu chăng? Phần tôi, phải nhận tôi quư mến chú, dù ông chỉ hỏi thăm tôi một hai câu.. 
 
Giống anh chị Kim, ông chỉ tới thăm một lần và không bao giờ trở lại. 
 
Dù sao, có bà con ở phía cách mạng cũng lợi, v́ có thể chửi mà không sợ đi tù. 
 
 
Thứ ba, 17 tháng 6, 1975, tất cả các ngân hàng tư nhân đều bị đóng cửa.  
 
Tất cả tài sản và tiền của các ngân hàng đều phải chuyển giao về ngân hàng quốc gia VN. Tất cả các hăng xưởng, nhất là của người Pháp đều rơi vào t́nh trạng tê liệt không hoạt động được. Đó là các hăng Citroen, các đồn điền cao su, các hăng nước ngọt vv. Họ phải chuyển giao hăng xưởng, tài sản tư nhân phải bán, ra đi với hai tay trắng. Lời hứa của tướng Trần Văn Trà, ủy ban quân quản thành phố vào ngày 8 tháng năm trước đại diện 120 đại diện báo chí ngoại quốc không c̣n ai nhắc tới nữa: “tất cả các tài sản của người ngoại quốc sẻ được bảo đảm tôn trọng’’. Theo ông Duchemin đă được Mai văn Bộ trấn an: Người Pháp cứ việc yên tâm ở lại làm ăn. 
 
Cái mà chính phủ nhắm tới là Người Tầu đang nắm giữ việc thương mại, buôn bán ở Chợ lớn. Nhưng chính phủ c̣n chưa ra tay. Mặc dầu vậy, những người Tầu có tiền của cũng đă chuẩn bị trong tay một giấy thông hành Đài Loan rồi. 
 
Đừng quên rằng, sau những người Tàu Chợ Lớn, c̣n có cả một nước Tầu đứng sau họ. 
 
 
Thứ bảy 21 tháng 6, 1975, giáo dục dưới mái trường XHCN. 
 
Ngoài các trường công đă được hoạt động ngay những ngày đầu giải phóng, nay một số trường tư và trường chuyên môn dạy nghề được phép mở cửa, hoạt động trở lại. Đây là cái cửa mở đầu tiên được mở ra. Nhưng coi chừng, cửa chỉ mở hờ. Trường Regina Pacis nay không c̣n dạy giáo lư hay đọc kinh mà thay vào đó là những bài hát ca tụng Bác Hồ... 
 
Các trường đại học cũng mở cửa lại, nhưng chưa có chính thức giảng dạy. Các chức Viện trưởng, khoa trưởng đều từ ngoài Bắc vào nắm giữ. Chuyên với hồng bắt đầu từ đây. Đây là keo thử thách nữa về sự phân biệt thế nào là chuyên, là hồng. 
 
Đất nước tiến lên hay thụt lùi cũng từ cái khâu này. 
 
Lại có vụ ám sát giết hai bộ đội sáng nay ở đường Trần Hưng Đạo. Họ bị cứa đứt cổ. Chẳng biết là thật hay giả. Dù sao, những tin tức kiểu đó cũng là món ăn giải trí và bổ đưỡng cho những kẻ thua trận. 
 
Các giáo sư tuần tự đến trường đều đặn. Không bảo nhau mà trong trường chia ra phe phái rơ ràng không có quy ước và không có giới tuyến. Anh Hiệu trưởng cu ky một ḿnh. Anh kín đáo quá. Hiệu phó lăng xăng vẫn không che đậy hết cái gốc tư sản của anh. Mọi việc giao tiếp, xử lư, h́nh như anh đại diện hiệu trưởng lo liệu. Một anh trẻ tên Hùng, đang là đoàn viên, rất gương mẫu, rất kỷ luật, rất khe khắt với chính ḿnh và đồng nghiệp. Con mắt có vẻ soi mói mọi người, mọi chỗ. Anh cũng cu ky một ḿnh theo cách của anh. Sau này, anh t́nh nguyện đi lính sang Campuchia. Anh đă không có cơ hội trở về. Cùng lắm anh có Hương, một đoàn viên khác là bạn đồng hành. Nhưng tuy không nói ra người ta vẫn đọc được tâm sự ẩn kín của Hương. Ánh mắt lúc nào cũng gợi buồn, sự cố gắng đến mệt mỏi, nụ cười gượng gạo. Hoá ra, số phận Hương có thể c̣n khổ gấp đôi lần những người bạn đồng nghiệp. Một số nữ giáo viên lớn tuổi mà có thể chồng con đi học tập, họ làm việc, tuân thủ như cái máy không hồn. Một cuộc sống bất đắc dĩ. Một cuộc sống mơ về một cuộc sống ở một nơi nào khác. 
 
Đa số giáo viên trẻ c̣n vui đùa hồn nhiên họp thành một đám. Hố thẳm rơi của những người cùng thân phận. Nhiều t́nh cảm nẩy nở giữa họ do cùng tâm trạng, cùng hoàn cảnh, cùng suy nghĩ. Ít lắm, có vài đồng nghiệp trẻ mà nhen nhúm quư mến nhau hết mực, trân trọng hết mực, bảo vệ nhau hết mực..cho măi đến về sau này. 
 
Điều mà người ta không hề có, điều mà người ta không có dịp để sống trong những thời gian trước 75.. 
 
 
Thứ sáu 27 tháng 6, 1975, các tin đồn mỗi ngày mỗi nhiều. 
 
Có bốn bộ đội canh gác ở ngay trong thư viện quốc gia bị giết. Hai bị đâm chết, hai bị cắt cổ. Trong ngày, nhiều tiếng nổ lớn được nghe thấy từ phía Tân Sơn Nhứt. Hai thường dân cưỡi Honda bị bắn hạ trước cửa toà lănh sự Pháp vào lúc 4 giờ. Đến 20 giờ tối, ba bộ đội bị bắn chết bởi hai người đi trên xe Honda ở góc Phan Thanh Giản, Phan đ́nh Phùng. 
 
Tin đồn như thức ăn hằng ngày của dân Sàig̣n. 
 
 
Mùng 10, tháng 7, 1975, tờ báo Công giáo và dân tộc: tiếng nói của chính quyền. 
 
Sau đúng 10 tuần lễ, một tờ báo công giáo được xuất bản: 
 
Tờ Công giáo và Dân tộc do nhóm Trương Bá Cần, hay nói ngược lại là Trần Bá Cường, Vương Đ́nh Bích, Phan KhắcTừ, Huỳnh Công Minh điều hành. Họ là người của Cộng sản. Xin ghi lại đây lời của Vương Đ́nh Bích: “Đảng Cộng Sản đă gây dựng 4 người chúng tôi làm đầu nảo mọi hoạt động của đảng trong giới Công giáo’’ . Phần Huỳnh Công Minh, khi được chọn làm đại biểu Quốc Hội đă phát thệ: “Phần tôi, tôi nguyện suốt đời phục vụ’’. Trong một bài viết trên Tin nhà, số 43, 2000. Nguyễn Hữu Tấn Đức gọi bọn bốn ông này là Prêtres et commissaires. Linh mục và cán bộ. Thật ra tiền thân của nó là từ một tờ báo Công Gíao và Dân Tộc (CGDT) ở giáo xứ Paris, từ 69-75 do ông Nguyễn Đ́nh Thi đứng đầu. Nó có mặt từ đây cũng là do tiền của Nguyễn Đ́nh Thi tài trợ lúc ban đầu. Tất cả 4 người trên đều có dính dáng, liên lạc hay hoạt động với chế độ cộng sản từ trước. Tờ báo chỉ là nối kết những tổ chức tôn giáo nhà nước như trước đây ở Hànội. Chẳng hạn, ngoài Bắc có tổ chức với cái tên rất dài là: Ũy Ban liên lạc toàn quốc những người VN yêu tổ quốc, yêu hoà b́nh (UBLLCGTQ) Tờ báo CGDT ở Sài G̣n tọa lạc trên một toà nhà ba tầng gồm 50 nhân viên, trong đó có một vài tu sĩ. Vốn liếng tài trợ tờ báo là những hợp tác xă, cơ sở kinh doanh được nhà nước tài trợ như xí nghiệp làm bút bi, quạt trần, khách sạn Đại Kết, công ty Tinh Hoa, trường ngoại ngữ Nguyễn Trường Tộ, trường dạy nghề và máy vi tính Bạch Đằng..

Cho đến nay, tờ báo vẫn c̣n họat động đều đặn. Có lẽ đây là tờ báo duy nhất được sinh ra từ sau giải phóng và tồn tại lâu dài như vậy. Nó không thể chết, v́ nếu nó chết th́ cái đă làm nên nó chắc hẳn cũng không c̣n nữa. V́ có tính cách chính thức như tiếng nói của chính quyền nên nhiều người nghi kỵ và dè dặt. Người dân có cái nhạy cảm và dị ứng với cái ǵ chính thức, cái công quyền. Trước đây, các tờ Chỉ Đạo, Cách Mạng Quốc Gia cũng nhận được sự rẻ rúng của dư luận quần chúng. Đây là cái b́nh phong che chắn cho chế độ. Sau này, chính nội bộ của họ cũng tố cáo nhau như trường hợp giữa ông Nguyễn Đ́nh Đầu và ông Trần bá Cường tức Trương Bá Cần viết lộn ngược. Ông Vương Đ́nh Bích th́ đă viết thư hạch hỏi ông Phan KhắcTừ về tội lem nhem tiền bạc, về tổ chức, về chuyện một vợ hai con của ông. Tiền bạc vốn tài trợ ngoại quốc khoảng 150 ngàn Mỹ kim. Vốn vay để thêm thu nhập cho tờ CGDT như ở trên đă nhắc tới. Ông Bích hỏi ông Từ tiền lời lăi do xí nghiệp làm bút bi, quạt trần, đỡ đầu cho công Ty Tinh Hoa, vay vốn hai tỉ để lập nhà máy may và trồng 33 mẫu cao su, rồi đầu tư với công ty Singapore, đầu tư khách sạn Đại Kết, trường ngoại ngữ Nguyễn Trường Tộ, trường dạy nghề may và trường dạy vi tính Bạch Đằng là bao nhiêu, tiền đó bây giờ ở đâu. Tất cả đều do ông Từ đừng tên. Làm sao người dân biết được những chuyện làm ăn đó. Th́ cũng do chính họ tố giác nhau mà dân mới biết được. 
 
Nhưng chuyện lem nhem của các ông th́ có liên quan ǵ đến chính quyền, miễn là tiếng nói của các ông vẫn theo một điệu nhạc đă sọan sẵn, bài bản được dàn dựng. 
 
Sau này, Đức cha Nguyễn Minh Nhật, chủ tịch Hội đồng Giám mục (HĐGM) Việt Nam đă trả lời phỏng vấn trên tờ Églises d'Asie là: “người Thiên Chúa giáo hết tin tưởng vào Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo (UBĐKCG) và tờ báo Công giáo và Dân tộc”. Câu trả lời như thế có thể bị hiểu lầm là trước đây người ta vẫn tin, bây giờ mới hết tin. 
 
Thứ tư mồng 9 tháng 7, 1975, vẫn lại những phụ nữ có chồng đi học tập.  

Có một nhóm phụ nữ có chồng đi tŕnh diện học tập cải tạo đă tụ tập trước dinh Độc Lập cũ. Họ đ̣i hỏi cho biết tin tức về chồng con của họ. Bộ đội đă đến giải tán. Có những tin đồn cho biết, có 4 xe nhà binh chở bọn họ bị giết trên đường đi. Chế độ càng bưng bít, tin đồn càng nhiều. Sự lo sợ càng lúc càng gia tăng. Người ta bắt đầu đặt ra nhiều dấu hỏi về số phận những người đi học tập này. 
 
Sau này, vào năm 1979, Việt Trần đă nhắc lại điều ấy trong cuốn sách của ông: J'ai choisi l'exil. nxb Seuil, 1979. 
 
Hai chị tôi cũng nằm trong số những người đàn bà bất hạnh trên. Anh rể tôi, một sĩ quan đại uư an ninh quân đội. Một thứ sĩ quan bàn giấy mà suốt đời chỉ là đại uư. Chưa hề bao giờ biết bắn súng. Vậy mà anh đi biền biệt ra Bắc hơn mười năm sau mới trở về. Chị lớn tôi, một nách 7 đứa con, hai đứa lớn nhất c̣n ngồi ghế đại học, đứa út chập chững vào trung học. Chị nhỏ cũng không thua, 6 đứa. Gia đ́nh chị lớn trước đây sống bương chải nhờ có thêm hiệu hớt tóc ở đường Nguyễn Thiện Thuật. Cuộc sống đạm bạc qua ngày, chắt chiu và hà tiện để nuôi các con ra người. Chị tôi cùng lắm là loại đàn bà đảm đang, khéo thu vén như nhiều người khác. Nhưng nay chồng đi học tập. Gánh nặng đè trên hai vai các chị. Bỗng chốc hai chị tôi trở thành những người đàn bà phi thường. Một chị buôn bán kem. Một chị xông xáo, hàng ǵ cũng buôn, buôn đủ thứ. Đă hai lần, hễ cứ buôn bán có tiền là "xuất cảng" quẳng mấy đứa nhỏ ra biển. Hết lớp này đến lớp kia như lên cơn dồng. Hai lớp đă quẳng chúng ra biển đều thoát và không bị hăm hiếp. Nỗi lo, nỗi mừng cứ như sóng dồi. Các chị tôi như mê, như say điên cuồng không c̣n biết sợ là ǵ. Tôi sang trước, năn nỉ, lạy van các chị đừng cho các cháu đi nữa. Vẫn đi. Đi là đi. Đi xong tất cả chừng nấy đứa th́ chị nào chị nấy như cái khăn ướt vắt khô nước, cạn kiệt. Chị nhỏ tuổi gục xuống như cây chuối bị phạng ngang lưng như mẹ tôi trước đây, chưa kịp đi đoàn tụ. Bên này, tôi tức tưởi khóc lén một ḿnh. Chị lớn vừa sang ít lâu, gục theo không kèn, không trống. Gục xuống v́ công việc đă hoàn tất. Mission accomplie. 
 
In memoriam những ḍng này cho hai chị tôi. Những người đàn bà bất hạnh trong một đất nước mà trời đất nổi cơn gió bụi, mà nước mắt như mưa sa, mà ḷng người độc ác vô tận, mà hận oán như trời đất bao la. 
Dù sao th́ các anh rể tôi cũng may mắn hơn nhiều người đi học tập khác. Tôi có người bạn, anh Nguyễn Thanh Ty, anh nguyên là giáo sư biệt phái nên phải đi học tập. Mới đây anh có viết một cuốn sách và gửi tặng cho tôi đọc: Trong lao tù, CS, Trại Đá Bàn và A.30. Mấy tháng sau ngày đi học tập, anh đă nhận được thư vợ viết như sau: Nếu những ngày tới, em không c̣n cách nào kiếm được gạo nuôi con nữa th́ mẹ con em sẽ cùng uống thuốc chuột chết cho xong. Em và các con đă khổ quá rồi. Nỗi bất hạnh của anh không dừng ở đó, sau này anh biết vợ anh đă bỏ lại các con cho bà nội để t́m một bến đậu khác. Nào có thể trách ai bây giờ. 
 
Một trích dẫn cuối cùng. “Hai mươi năm làm vợ lính thời chiến, 13 năm vợ tù cải tạo thời b́nh, là người con gái ở miền quê Bầu Trai. Tôi có làm ǵ đâu mà suốt đời chỉ sống với nước mắt’’ (Trích Người Bàu Trai. Tháng tư 2004.) 
 
Qua những câu truyện kể trên, hễ mà một chính quyền hảnh dân, làm dân khổ th́ ta sẽ xếp hàng về phía những người cùng thân phận hay đứng về phía kẻ có quyền lực. Sự chọn lựa hẳn đă là rơ. 
 
 
Một cảnh đời khác đang vẽ ra…

Trong khi đó th́ theo tin hăng France-presse cho biết, ở Hà nội nay có nhiều xe Honda từ Sàig̣n chạy trên đường phố. Xe gắn máy dần thế chỗ cho xe đạp. Một nếp sống mới đang thành h́nh. Người ta c̣n thấy nhiều loại nước uống sản xuất bởi hăng B.G.I cũng được bầy bán ở đây. Bát nước chè xanh nay thay thế bằng ly nước xă xị hiệu Con Cọp. 
 
Sàig̣n th́ như một thành phố bị chiếm đóng và có nạn hôi của những người thua cuộc để khuân về Hà nội. Nhiều nhất là salon, tủ lạnh, quạt máy, máy hát, vải vóc, thuốc tây và ngay cả bột giặt. Nghĩa là tất cả những ǵ ở Hà nội không có. Những chiếc xe nhà binh chở lính vào th́ nay đầy nhóc những món hàng của kẻ thua cuộc để lại. Một cuộc vơ vét thẳng tay và khá trắng trợn. 
 
Hăng giấy Cogido có 8.000 tấn giấy trong kho đă được lệnh chuyển ra Bắc. Tất cả những xe hơi mới của hăng Citroen, Renault, Peugeot cũng được lệnh chở ra Bắc. Hăng Engineco, có 165 xe được tân trang cũng chờ để được chở ra Bắc. Cách mạng bị mang tiếng nhiều về vấn đề này lắm. Những lời mỉa mai, bóng gió không thiếu qua cái câu chẳng thơm tho ǵ: Miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng này. 
Hạt gạo miền Nam đă thiếu hụt nay lại phải cắn chia đôi, chia ba cho miền Bắc. 
 
 
11 tháng 7, 1975, Tướng Trần Văn Trà: Mắt xích cuối cùng của cánh miền Nam  
 
Tướng Trà , tác giả cuốn sách: Kết thúc chiến tranh 30 năm, bị gọi ra Bắc để trả lời và tŕnh bày về những rối ren, về t́nh trạng an ninh và nhất là t́nh trạng tham nhũng hối lộ. Vai tṛ của ông và mặt trận có dấu hiệu không c̣n nữa. 
 
Cho đến lúc này, nạn tham nhũng trong thành phần cán bộ lănh đạo, trong chính quyền bắt đâu lộ dạng. Và kể từ đó đến nay, sau gần 30 năm, không có dấu hiệu ǵ có sự cải tiến. Đă có bao nhiêu nghị quyết? đă có bao nhiêu lần tuyên bố cương quyết diệt trừ tham nhũng?  
 
Ở một nước Tự do th́ người dân sẽ có cảm tưởng chính quyền coi thường dân chúng. Có thể thế được chăng? Có thể kéo dài măi chăng? 
 
 
11 tháng 8, 1975, tờ Tin Sáng với nhóm cựu dân biểu đối lập thời VNCH 
 
Một tờ báo tư nhân đầu tiên đă được phép xuất bản. Tờ Tin Sáng mà một số người đứng đầu trước đây đều là những dân biểu đối lập trong chính quyền Ngụy. Đó là các ông Ngô Công Đức, Lư Quư Chung, Hồ Ngọc Nhuận, Nguyễn Hữu Hiệp, Hồ Ngọc Cứ, Nguyễn Văn B́nh, Hoàng Ngọc Biên, Trương Lộc, Phan Ba, Dương văn Ṭng. 
 
L
ư Quư Chung tin tưởng rằng với sự có mặt của tờ Tin Sáng cho thấy có sự hợp tác giữa chính quyền mới và những người trí thức chế độ cũ. Ông c̣n nói thêm, xưa làm báo như thể những người bửa củi, c̣n bây giờ làm báo như một người thợ nề xây cất. 
 
Theo những người chủ trương tờ báo, họ hănh diện đây là tờ báo duy nhất không phải Cộng Sản trong ḷng một chế độ Cộng Sản. Tờ báo tồn tại được bao lâu? Đó là câu hỏi chưa có câu trả lời. Trong le Nouvel Observateur, mồng 4 tháng 8, 1975, Jean Lacouture viết: 
 
“Ngô Công Đức n'est pas un conformiste. Le revoici à pied d'oeuvre. On verra dans la marge de liberté d!_expression qui lui sera laissée un test décisif de L'esprit démocratique du nouveau régime”. Năm năm sau N. Chomsky trong Guerre en Asie viết: “Cinq années se sont passées. Le Tin Sáng de Ngô Công Đức et ses amis parait toujours. Le test est il positif?” Câu hỏi vẫn c̣n đó, câu trả lời th́ có rồi. 
 
Sau này, ông Vơ Văn Kiệt trong một bài phỏng vấn vào ngày 30 tháng 4 năm 1980 cũng coi Tin Sáng như một biểu tượng hợp tác giữa chính quyền CS và trí thức miền Nam. 
 
Nhưng chẳng bao lâu sau th́ tờ Tin Sáng bị đóng cửa, v́ ‘‘đă hoàn thành nhiệm vụ’’ (Tin sáng 1975-1980) 
Tờ Tin Sáng ăn mừng: 
 
Ông Hồ Ngọc Nhuận có ư tổ chức một bữa ăn “Đoàn Viên” trong nhóm bạn bè của ông, ở địa chỉ số 132, Lê Lai. Không biết ai trong số những người này đă thay chủ bút mời bữa ăn đó. Có thể là Nguyễn Xuân Lập, Trần Thị Huệ, Huỳnh Tấn Mẫm hay Dương Đầy. Chỉ biết là phường khóm không cho. Cuối cùng chỉ v́ một bữa ăn mà phải cầu cứu đến ông Tạ Bá Ṭng. Ông Tạ Bá Ṭng lại xin ở cấp cao hơn nữa. Nhận được giấy phép ở cấp cao hơn nữa rồi mấy người lu bu, tụ tập đầy đủ ở trên lầu. Phường khóm đă vác súng đến hỏi chguyện. Năn nỉ măi th́ cũng được thông cảm, sau khi xin lỗi và hứa lần sau rút kinh nghiệm hơn. Ông chủ tịch phường khóm khi ra về không quên nhắc: “Nên nhớ, thủ tướng cũng phải xin phép, nếu muốn làm ǵ ở đây…” 
 
 
Thứ năm 7 tháng 8, 1975, Học Tập Không Ngày Về.  

 
Nay đă hơn 7 tuần rồi, quá cái giới hạn đi học tập một tháng rồi. Chính quyền cho biết nay những người đi học tập có quyền gửi thư về nhà một tháng một lần. Lại một hứa hẹn nữa nhằm xoa dịu đám vợ sĩ quan ở nhà. Chính sách học tập cải tạo là một lăng phí nhân tài, sức lao động sản xuất và nhất là gây hận oán trong bà con, thân nhân người đi học tập. Việc kéo dài thời gian đi học tập một cách không cần thiết làm buồn ḷng dân Sàig̣n và tạo ra sự mất tin tưởng vào chế độ. Có ai có đủ thành thật để cho biết họ đă học được ǵ? và đă cải tạo được như thế nào? V́ vậy mà thành phần những người đi học, dù sau này đă được sang đây vẫn canh cánh bên ḷng nỗi hận oán chế độ? 
 
Nhân khi đọc bài này, tôi có người bạn là anh Lê Tấn Lộc, giáo sư Triết, nguyên Trưởng Khu Học Chánh 12 tỉnh miền Đông. Với chức vụ đó, anh phải đi tŕnh diện học tập cải tạo. Hai người bạn tù đă chết. Anh có kể rằng có một phái đoàn của Hội Ân xá quốc tế tới thăm trại học tập. Họ đă lùa các anh tù cải tạo vào trong rừng, chỉ để lại một số người làm c̣ mồi. Trong khi đó, trên tờ Tin Sáng, một trí thức tên tuổi có viết rằng: người đi học tập được ăn thịt gà rôti, nghĩ mát và chơi bóng chuyền. Vui và khỏe mạnh. Cũng ông, khi người con trai của ông làm nghĩa vụ sang đánh Campuchia.. Ông đă làm một bài thơ ca tụng những người thanh niên lư tưởng đă từ bỏ gia đ́nh ra đi giúp nước. Sau này, một số trí thức, trong đó có ông, đă kư tên trong một danh sách biện hộ cho đường lối của chính quyền trong vấn đề tù cải tạo, vấn đề người di tản vv. 
 
Anh Lê Tấn Lộc có quyền bất nhẫn về chuyện đó như kẻ trong cuộc bị phản bội.

Xin nêu danh tánh một số trí thức miền Nam đă đặc biệt đứng tên ủng hộ chế độ mới, ủng hộ chính sách đi học tập cải tạo trong một lá thư gửi ra cho bạn bè người ngoại quốc. Họ không cần thanh minh với 3 triệu người VN di tản, mà chỉ biện bạch với người ngoại quốc thôi. Họ là Giáo sư Hồ đắc An. Ông Trương Bá Cần. Ông Vơ Đ́nh Cường. Thượng tọa Minh Châu. Nghệ sĩ Kim Cương. Dân biểu Lư Quư Chung. Bác sĩ Trần Văn Du. Nhà báo Ngô Công Đức. Bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà. Nhà văn Vũ Hạnh. Giáo sư Trần V́nh Hiển. Ông Tôn Thất Dương Kỵ. Giáo sư Bùi Thị Lang, Luật sư Trần Ngọc Liễng, Thẩm phán Trần Thúc Linh, luật sư Nguyễn Long, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, giáo sư Châu Tâm Luân, sư Huỳnh Liên, ông Huỳnh Công Minh, Thẩm Phán Triệu Quốc Mạnh, giáo sư Nguyễn Vinh My, dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, giáo sư Nguyễn Quang Nhạc, Giáo sư Chu phạm Ngọc Sơn, giáo sư Phạm Biểu Tâm, giáo sư Trần Kim Thạch, giáo sư Lê Văn Thới, Luật sư Ngô Bá Thành, giáo sư Lư Chánh Trung, ông Phan Khắc Từ, kỹ sư Lâm Văn Vạng, kỹ sư Đinh Xa. 
 
Trong số những người này, đôi khi có người bất đắc dĩ có tên. Họ cũng muối mặt câm lặng, cũng có thể khổ sở lắm. Nhưng phần tôi, cũng bất đắc dĩ phải hài tên họ ra v́ trong tay tôi có tên tuổi họ và lá thư trên. 
 
Đây là nội dung mở đầu tóm tắt của lá thư đó: Nous, intellectuels de l'ancien sud Viet Nam, profondément indignés par la bruyante campagne de calomnie et de dénigrement menée dans certains pays occidentaux contre la République socialiste du VN, notre patrie, estimons de notre devoir de publier la présente lettre’’ 
 
Và quan điểm của các trí thức có tên tuổi ở trên trùng hợp với quan điểm của một vài nhà báo: “Ces camps ne sont ni des clubs de vacances ni des Goulag’’. Ư kiến của R. Pic, tháng tư 1976. J. Lacouture th́ viết: “Ce n'est pas le Goulag apparemment- pas l'école des Roches non plus’’ tháng 5, 1976. Nói tóm một chữ: Chúng không phải những trại tập trung. Cũng không có cái bề ngoài của một trại diệt chủng. Đó là ư kiến của phóng viên đă đến thăm trại Nam Hà và đă gặp cựu đại tá Lê Thanh Hoà, cựu Trung Tướng Huỳnh Văn Cao, cựu nghị sĩ Ng. Văn Hàm. 
 
Họ, những người trí thức có tên ở trên đă tự hạ ḿnh để nói gian dối che đậy cho chế độ. 
 
Phần tôi, xin được phép kiệm lời khi nói đến số phận người tù cải tạo. Bởi v́ tôi không đủ tư cách, đủ lời để nói về điều ấy. C̣n quá nhiều người mà nỗi khổ, nỗi nhục của họ không thể cất ra lời. Chẳng biết văn chương nào có thể chuyển tải những nỗi đau làm người của kẻ thua trận. Tôi cùng lắm chỉ đứng ngoài mà nh́n vào. Chỉ biết rằng khi tôi đọc: Một nửa Việt Nam Cộng Hoà nối dài của Tạ Chí Đại Trường nhắc đến đoạn: một người đàn bà ngồi trên xe ba bánh trên một đoạn đường đất đỏ, bụi mù. Xe vừa lướt qua th́ thấy một đoàn người tù cải tạo đang lếch thếch trên đường về trại. Bà mủi ḷng hất bao bố củ sắn xuống và những người tù xấu số đă chạy xô đến tranh dành như một lũ chó đói. Người đàn bà trên xe Lambretta ba bánh thấy cảnh đó bèn vội ôm mặt khóc. Tôi cũng chẳng làm ǵ khác hơn người đàn bà bất hạnh ấy. 
 
(C̣n tiếp)