30 tháng 4 — Đi t́m thời gian đánh mất (V)

30/4/1975  
30/4/1976  
30/4/2006  
 
Nguyễn Văn Lục 

Thành lập Hội Trí thức yêu nước.

Bên cạnh việc cho Tin Sáng hoạt động trở lại, c̣n có một biến cố khá quan trọng không thể không nói đến ở đây: việc thành lập Hội Trí Thức yêu nước. Để có được cơ sở hoạt động, chính quyền đă lấy một cơ sở của các cha ḍng Đa Minh. Đó là câu lạc bộ Phục Hưng mà trước đây dành cho sinh viên có chỗ ăn ở. Cư xá này do cha Đỗ Minh Vọng, Cras thiết lập từ 1955. Đây chẳng những là nơi dành cho SV có chỗ ăn ở, nó c̣n là chỗ sinh hoạt của các tổ chức sinh viên công giáo, nơi đào luyện các trí thức trẻ trước khi vào đời. Sau Giải Phóng, như nhiều tổ chức khác tự động tan ră. LM Nguyễn Huy Lịch thời đó đă cho mượn trụ sở này. Người đến tiếp nhận cư xá Sinh Viên là ông Tạ Bá Ṭng, một người cư xử rất tốt với đám trí thức miền Nam. Ông Tạ Bá Ṭng đă giao cơ sở này cho Hội Trí Thức yêu nước mà đại diện là các ông Chu Phạm Ngọc Sơn và Lư Chánh Trung. 
 
Tổng Thư Kư Hội trí thức yêu nước là ông Huỳnh Kim Báu, một đảng viên đảng Cộng Sản. Phần đông c̣n lại là trí thức cũ miền Nam, giới nhà văn và nhà giáo cộng với trí thức đi học tập về. Chẳng hạn như trường hợp Thế Uyên mới được thả ra từ trại học tập. Những người này đến Hội Trí thức như những người trú mưa dưới một cái dù che chắn cho khỏi ướt áo. Họ có mặt mà như thể vắng mặt, ch́m lẩn vào đám đông. 
 
Trong số những trí thức cũ, có nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ trước đó đă theo mặt trận hoặc có cảm t́nh với Mặt trận và lúc này họ nổi bật lên như Lư Chánh Trung, Nguyễn Trọng Văn, Hà Thúc Huy, Nguyễn Đ́nh Đầu, Trần Văn Quảng, Huỳnh Ngọc Chênh, Phạm Hoàng Hộ, Chu Phạm Ngọc Sơn, Phạm Biểu Tâm, Châu Tâm Luân, Nguyễn Tân, Nguyễn Hữu Thái, Trương Th́n, Phạm Trọng Cầu, Hỷ Khương, Hoàng Điệp, Trần Long Ẩn, Miên Đức Thắng, Trịnh Công Sơn, Phạm Thế Mỹ, Đỗ Hồng Ngọc. 
 
Sau này Hội có tổ chức những đêm văn nghệ hát nhạc TCS và được rất nhiều người đi nghe và tham dự. Thay vào tiếng hát Khánh Ly nay có nam ca sĩ Thanh Hải hát nhạc TCS. Nhiều người đi nghe cho rằng Thanh Hải có thể thay thế được tiếng hát của Khánh Ly. 
 
Trịnh Công Sơn trong đêm Văn Nghệ đầu tiên này đang bận ở Huế đă không vào được. Măi đến năm 1979, TCS mới bỏ Huế vào Sàig̣n. Nhưng anh đă có gửi hai bài hát của anh vào nhờ nhạc sĩ Miên Đức Thắng hát dùm. Hai bài hát của TCS có tên là: 
 
Gánh rau ra chợ và Máy kéo nông trường.

Chị Trần Tuyết Hoa, vợ anh Nguyễn Hữu Thái trong dịp này đă khuyên TCS không nên sáng tác những loại nhạc như thế. Không biết Miên ĐứcThắng hát như thế nào và hát làm sao. Hát gánh rau ra chợ, hát máy kéo nông trường đă hẳn không phải là dễ. Tự nhiên MĐT lại gánh cái trách nhiệm nặng nề này. Đây là hai bài hát lỗi nhịp nhất trong cuộc đời sáng tác của họ Trịnh. Biết để mà hiểu, không phải để ghét. Bằng vào hai bản nhạc này, người ta tự hỏi TCS có c̣n là TCS nữa hay không.  
 
Thái Kim Lan, với bài: “Trịnh Công Sơn; nơi vùng ưu tư thành tiếng Du ca’’ đă viết như sau:’’ Cả một công tŕnh sáng tác mười mấy năm đang bị đe dọa phải chối bỏ, kiểm soát, tự phê b́nh…Không có bàihát nào của Sơn trong quá khứ được cho lọt sổ. Nhạc Sơn bị cấm phổ biến..Tôi có cảm tưởng đau đớn là Sơn đang tập đi lại những bước nhạc ấu trĩ trong sự nghiệp sáng tác của ḿnh, như kiểu ḱa một đàn vịt đang bơi dưới ao hồ...’’ Sau này, t́nh h́nh khá hơn, chế độ lỏng tay hơn, TCS sáng tác được mấy bài khác đỡ hơn như Một ḥn bi xanh, Ở trọ, Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui… Ḥn bi ... xanh là có vấn đề rồi. Không có lập trường. Riêng bài Ở trọ, tôi nghĩ đấy chỉ là một bài hát rất tôn nghiêm. Tôi nay ở trọ trần gian, mưa nắng cũng ở trọ để rồi khoác áo chân như, bước tới hư vô. Bài hát rất người, rất tôn nghiêm, rất mùi đạo. Cuộc đời như một ở trọ. Đến bài Tôi chọn một niềm vui. Mỗi ngày, tôi chọn một niềm vui, cùng nhau ca hát.. Tôi chọn nơi này, để thấy tiếng cười rộn ră bay. Tôi chọn một lần thôi, tôi chọn nắng đầy.. Nhưng mổi ngày, tôi chọn ngồi thật yên để nh́n rơ quê hương, ngồi nghĩ lại ḿnh, v́ sao tôi sống, v́ đất nước cần, một trái tim. Hay và ngậm ngùi. Nhưng lại bị hiểu xuyên tạc, bị phản bác là đất nước nay đă thống nhất, thiếu ǵ niềm vui, hà cớ ǵ anh lại phải chọn niềm vui. Cắc cớ nữa, tại sao anh lại chọn ngồi thật yên. Anh phải nhúc nhích di chớ. Hà cớ ǵ lại chọn ngồi thật yên.. Có vấn đề, có vấn đề rồi.

Nhưng biết được hai bài này và những bài sau mới hiểu được thân phận người trí thức dưới chế dộ CS, hiểu đuợc nỗi ḷng của họ Trịnh. Cũng như sau này, tôi được biết rằng, họ Trịnh than thở với một người bạn thân của ḿnh là làm bài kiểm thảo đưa cho Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) xem trước, HPNT đọc xong cũng chê là viết chưa đạt yêu cầu, phải viết lại. HPNT đang cố lấy điểm để có được cái thẻ đảng. Tôi vẫn bực ông chưa hết và tôi biết rằng viết những ḍng này những bạn bè chung quanh ông mà tôi dược biết họ, một số sẽ không vui. Nhưng tôi đành ḷng trích một bài viết của tôi vào tháng 12, 2002: Về chính sách của Hànội và thái độ của một số nhà văn miền Bắc đối với văn học miền Nam qua cuốn Chân Dung Và Tác Phẩm của Trần Đăng Khoa: “Trong cuốn kư, chốc lát, thái độ của ông trở thành hung hăn, côn đồ. Ông xách mé gọi người lính Cộng Hoà là thằng lính Ngụy, thằng Diệm, thằng Thiệu. Những người CS thứ thiệt gọi như vậy c̣n nghe được. Nhưng ông, một trí thức miền Nam, được ăn học, được đào tạo, có cái nếp sống văn hoá của miền Nam, thật khó mà chấp nhận cái ngôn ngữ chợ cá như vậy. Chắc không phải là ông quá.’’. Ông vẫn chứng nào tật ấy, trên Nét Cố Đô, 2005, vào cái giờ này của hơn 30 năm sau, qua lời phỏng vấn c̣ mồi của Nguyễn Xuân Hoàng (Không phải NXH, giáo sư triết, nhà văn) ông cũng vẫn miệt thị gọi: bọn ngụy. Bọn ngụy là ai. Là tất cả bạn bè của ông, là tất cả họ hàng, bà con thân thuộc của ông ở ngoài Huế. 
 
Đấy là nỗi khốn khổ thứ hai của họ Trịnh bị bạn bè ép. Ép mà phải cắn răng chịu. 
 
Viết đến đây, tôi có điều để thưa. Trước hết cám ơn anh chị Nguyễn Hữu Thái, cựu sv kiến trúc, cựu sv tranh đấu Sàig̣n cũ, người đă có cái hân hạnh đứng… bên cạnh tướng Dương Văn Minh, kư giấy đầu hàng CS. Mặc dầu, tôi đă có đôi lần viết hơi nặng lời với anh, anh vẫn không giận, vẫn hỏi thăm rồi gửi cho tôi bài viết của chị Trần Tuyết Hoa, vợ anh và chị đă thẳng thắn tiết lộ hai bài hát sáng tác bất hủ của họ Trịnh. Xin dùng mấy ḍng chữ này cám ơn anh chị thay độc giả. 
 
Phần những người được coi là bạn thân của họ Trịnh. Nhiều người chẳng hề tiết lộ hai bài hát này và những bài sau kế tiếp. Ngay cả mới đây, những người viết kỷ niệm 5 năm ngày TCS mất cũng né tránh. Viết thật mới là yêu mến TCS. Ở trong chế độ CS, đừng ai nói hay. Làm người b́nh thường đă là khó. Huống chi là người hùng. 
 
10 năm sau, Hội Trí thức yêu nước này kể như không c̣n sinh hoạt ǵ đáng kể nữa. Một phần người ta lo sinh kế, lo t́m đường đi nước ngoài. Phần khác cán bộ đảng nhà nước ngoài Bắc vào nhiều. “Sự có mặt của họ kể như những thành phần Indésirable”. 
 
Trong số những hội viên hội trí thức yêu nước có Nguyễn Văn Trung. Ông chưa tham dự được bao nhiêu buổi hội họp th́ đă bị bắt vào hồi 18 giờ 30, ngày 14 tháng 6, 1978. Với tội danh được ghi trong biên bản: can tội Phản Cách mạng. Biên bản ghi tiếp. Sau khi bị can bị bắt, vợ của bị can là Trần Thị Minh Chi đă cùng đi với chúng tôi khám xét nhà ở th́ thấy có những vật kê dưới đây, nghi có liên can đến vụ án (19. tội phản cách mạng): 

- Một giấy chứng nhận của trường Đại Học Văn Khoa. 
- Một số sách báo, tài liệu cắt báo và chép tay 
- Một máy đánh chữ 
- Một chứng nhận được giữ sách báo cũ. 

 Trên đây là những tang vật liên quan đến tội phản cách mạng. Tôi cũng đọc lá thư của Bà Chi gửi vào cho chồng, đă qua kiểm duyệt của Ban Chấp pháp như sau: “Về tả bố, chẳng khác nào như trong truyện được săn sóc nuôi cho ăn uống mập thiệt là mập, trước ở nhà xanh vàng, mặt có những vết nhăn. Bây giờ thấy tṛn quay, những vết nhăn biến đâu, trắng.. 
 
Bà Trung đă phải viết như thế đấy. Không viết không được. Viết như thế rồi cũng lộ ra những chỗ viết thật thà trong một lá thư khác như: Lưng quần tây của anh rộng nhờ ai khâu bớt vào hai bên. 
 
Và trong hoàn cảnh cô đơn, tuyệt vọng như thế. Ông Trung có lúc tưởng ḿnh không có hy vọng sống c̣n. Ông đă viết một lá thư như chúc thư để lại ngày 26-11-1978 trong đó có đoạn như sau: “Đối với họ hàng. Cho Bố gửi lời thăm chào từ biệt họ hàng nội ngoại. Xin tha cho Bố những điều đă làm mất ḷng và xin hăy thương yêu giúp đỡ nhau, coi những tỵ hiềm là nhỏ mọn. Gia đ́nh Đào chịu khó tiếp tục chăm sóc ông nội. Đối với bạn bè quen thuộc. Chuyển lời Bố xin mọi ngưởi tha thứ những điều đă làm cho buồn phiền và cầu nguyện cho Bố.’’ Nguyễn Văn Trung 26-11- 1978. 
 
Xin đọc với tâm t́nh chia xẻ về cái khốn khổ trong lao tù Cộng Sản. 
 
Và đến gnày 21 tháng 12 năm 1978. Ông Trung nhận được giấy tạm tha với nội dung: Căn cứ kết quả cuộc điều tra. Không ghi chữ nào cả. Xét thấy: Sức khoẻ bị can quá yếu (bệnh tim)... Trong khi chờ kết quả cuộc điều tra và quyết dịnh di lư.. Kư tên. TL Giám Đốc Công An, Trưởng pḥng chấp pháp: Ngô Văn Dần. 
 
Tội vẫn c̣n đó. Vẫn thế. Chỉ tạm tha thôi. 
 
Cả hai Lư Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung đều là trí thức thành phần thư ba. Viết cũng nhiều, ảnh hưởng cũng không ít. Ngưởi tham gia tích cực bằng hành động, người tham gia chỉ bằng ng̣i bút. Một dân biểu, một đi tù. Tôi chỉ xin tóm tắt sự nghiệp của các ông bằng cách trích dẫn điều họ viết. 
 
- Đối với Lư Chánh Trung, sự nghiệp viết lách của ông tóm tắt trong câu này: “Về một môn học mà thầy không muốn dạy và tṛ không muốn học”.  
- Đối với Nguyễn Văn Trung, có thể tóm tắt trong lời phát biểu sau đây của ông: “Tham gia Cách Mạng là tham gia vào một quá tŕnh tự tiêu diệt sau này’’.  
 
Về cái hội này, xét về mặt nhân đạo, nó cũng là nơi che dù cho nhiều trí thức miền Nam sau khi đi học tập về khỏi cảnh vùi dập đi kinh tế mới, hoặc khỏi bị phường khóm làm khó dễ, hoặc đỡ đần bao gạo khi túng đói. Sau này, hội trí thức giải tán và dổi ra thành Hội Liên Hiệp Khoa Học Kỹ thuật do Chu Phạm Ngọc Sơn làm chủ tịch. Hội này hoạt động bằng cách mở các lớp dạy sinh ngữ và các sinh hoạt khoa học kỹ thuật. Cuối cùng, ḍng Đa Minh đă làm đơn đ̣i lại cơ sở này qua TGM B́nh chỉ hai tháng trước khi ngài qua đời. Sau nhiều năm chờ đợi, nhà nước đă trả lại cơ sở này cho ḍng Đa Minh ngày 22-12-2003. 
 
Coi như một món quà Noel của nhà nước. 
 
 
Thứ năm 14 tháng 8-1975 
 
Có lẽ cái đụng chạm đến người dân miền Nam nhiều nhất vẫn là miếng ăn. 
 
Cơm áo không biết đùa và không đùa với bất kỳ ai, bất kỳ họ là trẻ con hay người lớn. Sống trước đă, có cái ăn trước đă. Không có ăn là không được. 
 
Đời sống mỗi ngày mỗi khó khăn, cái ǵ cũng trở thành khan hiếm, dĩ chí từ một hạt muối, th́a bột ngọt. Các giáo chức được phát một kỳ một gói bột ngọt, sau xuống mười th́a cà phê bột ngọt, nửa kư thịt trong một tháng, một tút thuốc lá (10 bao), sau xuống một bao rồi đến nửa bao Sàig̣n Giải Phóng. Tôi nghiện thuốc lá, nhưng nay một bao thuốc lá mua hợp tác xă bán ra có thể thêm tiền chợ một ngày. Tôi bỏ hút thuốc lá từ đó. 
 
Nhờ Giải phóng, tôi bỏ được tật xấu hút thuốc. 
 
Giá thức phẩm gia tăng. Cái ǵ cũng khan hiếm đến không hiểu được. Muối là một sản phẩnm quá rẻ, không đáng nói tới cũng trở thành đắt. Một kílô muối tăng từ 50 đồng đến 500 đồng. Một bao quẹt tăng từ 20 đồng đến 40 đồng.. Giá cả tăng đến 80%. Dân chúng bắt đầu phải xếp hàng để đến các hợp tác xă. Đợi chờ cả nửa ngày cho nửa kư sà bông, nửa kư đường. Có những điều trước đây cứ có tiền là mua được, nay trở thành chế độ, xin cho của chính quyền. Chính quyền cho cái ǵ th́ được cái nấy. Nghĩ lại câu nói của một kinh tế Gia Anh nói không sai:”Kẻ nào nắm giữ hầu bao là kẻ đó có quyền”. 
 
Gạo bán ở tổ dân phố không ăn được. Hoặc mốc, muối mọt, hoặc có rất nhiều sạn. Chúng tôi bán đi để mua gạo ăn được. Nay tôi có thêm nghề chạy kiếm các mối bán thực phẩm. Lúc rảnh, tôi chạy xe Vespa ra tận Phú Lâm đón các xe hàng về để mua gạo lậu từ các bà buôn lậu. Họ dấu gạo ở bất cứ chỗ nào có thể dấu được, ngay cả chỗ kín bụng dưới. Đó là những xe thồ di động nơi những người đàn bà dị h́nh, dị tướng. 
 
Cả nước nay chỉ lo có một chuyện: Lo ăn. 
 
Về lỗi lầm lịch sử của chính quyền Cộng Sản để dân đói, xin được trích dẫn lới chứng của ông Trần Quang Cơ, trong Hồi ức như sau:
Là nhân chứng của lịch sử và cũng là người trực tiếp tham gia các hoạt động ngoại giao này với tư cách là vụ trưởng Vụ Bắc mỹ bộ ngoại giao, trực tiếp tham gia đàm phán về b́nh thường hoá quan hệ với Mỹ ở Paris năm 1977, rồi Nữu Ước 1978, tôi thật sự đau xót v́ ta đă bỏ lỡ mất cơ hội củng cố thế đứng của Việt Nam trong ḥa b́nh...” Trong tập hồi kư của ḿnh “From Third world to first”, Từ thế giới thứ ba đến thế giới thứ nnhất, Lư Quang Diệu đă nhận xét: “Năm 1975, TP Hồ Chí Minh có thể sánh ngang với Bangkok. Nhưng nay, năm 1992, nó tụt lại đằng sau tới 20 năm.’’ Là người Việt Nam, đọc lời nhận xét này của Thủ Tướng Lư Quang Diệu, ai mà không đau xót, v́ Việt Nam đă bỏ lỡ cơ hội. Chính quyền Carter thực sự muốn b́nh thường hóa quan hệ với Việt Nam qua lời tuyên bố của ngoại trưởng Cyrus Vance: “Việc tiến tới b́nh thường hoá quan hệ Mỹ-Việt Nam phù hợp với lợi ích của hai nước.’’  
 
Nhưng Việt Nam cương quyết đ̣i Mỹ giải quyết “trọn gói” 3 vấn đề. B́nh thường hóa quan hệ ngoại giao, giải quyết vấn đề MIA và viện trợ 3 tỉ 2 như đă hứa. Mỹ bị quốc Hội bó tay trong vấn đề bồi thường. Đến lúc ta quyết định rút bỏ đ̣i hỏi Mỹ phải bồi thường chiến tranh viện trợ 3,2 tỉ và nhận công thức, “b́nh thường hóa quan hệ không điều kiện của Mỹ th́ đă quá muộn’’.  
 
Việc b́nh thường hóa quan hệ với Mỹ và việc gia nhập khối Asean, măi ngót 20 năm sau, 1955, ta mới thực hiện được một cách khá chật vật. Nếu chấp nhận b́nh thường hoá với Mỹ th́ ta đă có thể Không phảỉ một ḿnh đối đầu với Trung Quốc trong cái chiến tranh “dạy cho một bài học” 
 
Đó là cuộc sống bất đắc dĩ. 
 
Ở một góc cạnh khác của đời sống, xin kể là tôi có người bạn là anh Đặng Ngọc Thiềm, giáo sư trường Trần Lục. Không biết có phải v́ phẫn chí, v́ bất măn hay có thể bị điên mà anh đă ra nông nỡi này. 
 
Anh có lối sống mà tự bản thân đời sống nó là một lời tố cáo chế độ mới. Đời sống của anh là gián tiếp bôi nhọ chế độ: Chính các anh làm tôi ra nông nỗi này. Từ quần áo dơ bẩn, lôi thôi, từ phong cách thái độ, từ cách ứng xử, từ cách phát ngôn, từ cách thức làm việc, từ chiếc xe đạp cà rịch cà tàng, từ cách cho điểm, từ cách giảng dạy, từ nụ cười châm biếm chế nhạo. 
 
 
Đến nỗi nh́n qua anh, nh́n ra chế độ. Anh chính là chế độ ấy. 
 
Anh cố t́nh ăn mặc dơ dáy đến hôi hám, đến bẩn thỉu. Một giáo sư tự trọng, dù nghèo không thể ăn mặc như thế trước mặt học tṛ. Mỗi lần lĩnh nửa cân thịt, anh treo ṭng teng ở ghi đông xe cho mọi người thấy. Anh để lên bàn giáo sư cho học sinh thấy. Anh dơ lên khoe với học tṛ anh được nửa kí thịt. Học tṛ im lặng nghe ông thầy làm xiếc, đóng kịch. Anh luôn luôn dùng đủ cách để khen chế độ đến lố bịch.  
 
Anh tố cáo chế độ chỉ bằng những lời khen quá lố. Thông minh và xỏ lá. 
 
Ban Giám hiệu là cấp lănh đạo ở ngoài vào cũng như trên Quận, Sở đều không có một lời phê phán trực tiếp hay gián tiếp về anh. Họ cư xử thật đúng mực. B́nh thường là phải để anh nghỉ việc. 
 
Việc dạy học và cho điểm của anh cực kỳ phi lư và lố bịch. Cột điểm Sử địa của anh bao giờ cũng có ba cột điểm trong một tháng. Hăy coi bằng cách nào anh đă nghĩ ra lối cho điểm quái gở đến như thế. Tỉ dụ học sinh A: Anh cho 3 cột 9 điểm, 8 điểm và 7 điểm. Học sinh B, anh đổi vị tŕ điểm theo thứ tự như: 8 rồi 7, 9. Học sinh C là 7,8,9. Học sinh D là 7,9,8, E là 8,9,7. G là 9,7,8. Rồi anh cứ cho điểm xoay tua như thế. 
 
Anh không chấm bài, anh không cho điểm hay cho điểm đồng loạt là một cách miệt thị nền giáo dục ấy.  
 
Anh Hiệu trưởng xem và không nói ǵ cả? Việc cho điểm của anh rơ ràng ngầm ngụ ư không đánh giá học tṛ, không đánh giá việc dạy học, phủ nhận vai tṛ thầy giáo và phủ nhận luôn việc dạy học. 
 
Đây là một thứ phản đối tối thượng (Ultimate protest). Mang chính bản thân ḿnh ra làm đối tượng diễu cợt.?  
 
Nếu không có cuộc đổi đời, anh Thiềm sẽ là một giáo sư như thế nào? Trước đây, anh trịnh trọng, áo sơ mi là ủi dài tay, thắt cà vạt, dáng người to lớn, dềnh dàng, không thiếu trịnh trọng trong đi đứng, ăn nói, xử thế. Vài ba năm sau, tôi ra khỏi nước, được tin anh đă mất. 
 
Tiếc cho một người tính t́nh lúc nào cũng vui cười với óc hài ước rất cao đă t́m cách tự hủy nhân cách ḿnh dần dần một cách cố ư. (Suicide prolongé et intentionnel ) Cố ư tự hủy, cố ư sa đọa hoá nhân cách và con người như thể không c̣n là con người nữa. 
 
Đó là lối tự hủy của người có học, của trí thức bầy tỏ một nhân cách lộn ngược, bất cần đời thường thấy nơi một số nhà văn, nhà trí thức, người hiểu đời, hiểu thế sự… 
 
 
Thứ sáu 15 tháng 8-1975, giám mục Seitz, địa phận Kontum-Pleiku bị trục xuất khỏi Việt Nam

M SGeitz cùng với 9 người khác gồm 6 linh mục và ba nữ tu đă bị trục xuất khỏi VN. Các tu sĩ trên đă bị quản thúc tử tháng 3-1975 ở trên cao nguyên. Vài ngày trước đấy, họ được lệnh dời khỏi cao nguyên. Sau khi bộ đội lục soát hành lư của họ, họ được chở bằng xe che mui kín về Sàig̣n và giam giữ ở khách sạn Caravelle, sau đó được dẫn ra phi trường. Đừng quên là sau này vào ngày 7-7-1976, những linh mục ḍng tên cuối cùng cũng đă dời Việt Nam (gồm hai Pháp, 2 Y Pha Nho, một Gia Nă Đại và một Ư). Ḍng tên c̣n lại khoảng 30 lm người Việt Nam. 
 
Một số người Pháp vẫn tưởng rằng họ được chính quyền mới ưu đăi hơn các người ngoại quốc khác. Thực tế không phải vậy. Giám đốc đồn điền IPH và Chủ nhân hăng Michelin cũng phải cuốn gói. Chẳng những mất tài sản mà chính phủ Pháp qua đại diện c̣n phải đứng ra bảo lănh những món thuế c̣n thiếu của các công ty này. Giám đốc CARIC cũng được phép dời VN để t́m sự trợ giúp tài chánh nơi chính phủ Pháp cho những công tŕnh đóng tầu biển. Nói chung, các công ty này tự dâng hiến toàn bộ cơ sở vật chất, tài sản bất động sản mà vẫn c̣n nợ thuế chưa trả được. 
 
Khi về lại Pháp, GM Kim có viết một cuốn sách nhan đề: “Le temps des chiens muets” (Thời của những con chó câm). Ông viết: “Les chiens muets, ce sont ceux qui ont peur de dire la vérité, qui n’osent pas aboyer” (Những con chó câm là những con chó sợ nói sự thật và không dám sủa). 
 
Xin trích bản thông cáo lư do trục xuất các người ngoại quốc như sau: Communiqué du service d!information et de la culture de la province de Kontum. 
 
Les étrangers qui viennent d!être expulsés le 12 aôut 1975 et dont les noms suivent: Paul Seitz. André Marty. Léon Dujon. Marcel Arnould. Josep Curient. Gabriel Brice. Olivier Deschamps. Edirc Baker. George Christian. Raphaelle Cormier. Marie-Renée Legal. Cécile de Boissy ont commis des crimes suivants: 
 
Họ phạm 8 tội tất cả. Tội nào cũng đáng lănh án chung thân hay tử h́nh như trong bản thông cáo nói: crimes qui méritent l!emprisonnement et la peine de mort. Vậy mà họ chỉ bị trục xuất mà c̣n bất măn phản đối đ̣i ở lại. 
 
Tội nặng như thế, trục xuất là phải rồi. 
 
Phần tôi, tôi chỉ mong muốn thay thế chỗ của Paul Seitz để được trục xuất sang nước Pháp mà không được. 
 

(C̣n tiếp)