30 tháng 4 — Đi t́m thời gian đánh mất (VII)
30/4/1975
30/4/1976
30/4/2006
Nguyễn Văn Lục
Sau người Pháp, chính quyền nay tính đến chuyện người Việt gốc Hoa.
Đây là bụi cỏ dại lớn nhất, rộng nhất, ảnh hưởng nhất đến nền kinh tế cần phải được nhổ. Báo chí đồng loạt lên án, tố cáo nạn đầu cơ, tham nhũng. Thực phẩm khan hiếm, giá cả gia tăng đều là do bọn thương gia tích trữ, đầu cơ, tạo ra khan hiếm giả tạo nhờ đó lên giá làm giầu.
Đợt càn quét
đầu, nhà nước đă bắt giam hơn 100 thương gia người Tầu có máu mặt trong thành
phố nội trong hai ngày. Một quỹ của người Tàu đă quyên được 4 tỉ đồng trong một
buổi họp bí mật tại một nhà thương gia trong Chợ Lớn... Người Tàu Chợ Lớn t́m
cách phản công bằng cách nhờ cậy đàn anh là Trung Cộng can thiệp và tẩy chay
Việt Nam. Đây cũng là đầu mối sau này có nạn đi bán chính thức và nhân cơ hội đó,
nước Tàu lấy cớ để gây hấn và để gây một thứ chiến tranh mới mệnh danh là cho
“Việt Nam một bài học”.
Đặng Tiểu B́nh đă nói với các nhà báo ở Bắc kinh như thế này:
“Chúng tôi có
thể dung thứ việc Liên Xô có 70% ảnh hưởng ở Việt Nam, miễn là 30% dành cho
Trung Quốc’’. Lần khác, Đặng Tiểu B́nh nói: Trung Quốc là NATO phương Đông,
và Việt Nam là Cuba phương đông.
Bài học khá là nặng. 4 tỉnh phía Bắc VN bị phá hủy đến như b́nh địa. Nước uống
bị nhiễm dộc. Trẻ con bị rạch mặt, cắt tai cho nhớ đời đến 50 năm về sau.
Bài học “dạy cho Việt Nam một bài học” cũng làm cho các nước trong khối ASEAN
(The Association of Southeast Asian Nations) như Thái Lan, Phi Luật Tân,
Singapore lo ngại. Thái Lan trước đây lo ngại VN xâm chiếm, nay th́ có nỗi lo
ngại lớn hơn: Nước Tàu.
Trước khi dạy cho VN một bài học, họ đă dùng đủ mọi biện pháp sức ép trên chính
quyền Hà nội như:
• Ngay từ 1975, cắt viện trợ không hoàn lại. Tất cả những công tŕnh xây dựng ở
VN gần như ngưng lại.
• Cắt viện trợ và cắt sự giúp đỡ các trang thiết bị, tháng 6/1978
• Rút Đại sứ Tầu về nuớc với lư do đau ốm. 1978
• Yêu cầu VN đóng cửa các toà lănh sự tại Quảng Châu v.v…
• Trả về các sinh viên VN đang theo học tại nước Tàu.
• Cắt đứt đường xe lửa giữa Việt Nam và nước Tàu vào ngày 22/12/1978
• Sau này, 31/7/1978 ông Hua Kuo-Feng ủng hộ Cam pu chia: “Cuộc chiến đấu của
các ông là chính đáng và cuối cùng các ông sẽ chiến thắng, chúng tôi ủng hộ các
ông’’
Mối bang giao trở nên căng thẳng đến độ đi đến quyết định cho VN một bài học. Thật ra bài học này trở thành một bài học cho cả kẻ cho và kẻ nhận bài học.
Thảm họa đă
không tránh được v́ người Tàu đă mang quân sang xâm chiếm nước ta vào sáng sớm
ngày 17 tháng 2, 1979. Suốt dọc biên giới 1300 km, 20 vạn quân Tàu theo báo
ngoại quốc và 60 vạn theo báo trong nước đă làm cỏ, phá tan hoang bốn tỉnh biên
giới là Cao Bằng, Lào Cay, Lạng Sơn và Móng Cáy. Ngay từ 24 giờ đầu tiên, quân
Tàu đă xử dụng chiến thuật biển người. “Ở chiến trường Lạng Sơn, đồng chí Lê
Canh, ủy viên chính trị tỉnh cho biết:
Chiến thuật biển người thật khủng
khỉếp. Bộ đội ta đă bắn giết hết lớp người này đến lớp người khác hằng giờ đồng
hồ. Cuối cùng th́ quân đội ta phải rút lui’’.
Chỉ hai tuần lễ sau của cuộc chiến, tức ngày 5/3, chính quyền VN ra lệnh tổng
động viên: tất cả công dân từ 18/35 đối với phụ nữ, 18/45 dối với đàn ông đều
phải sẵn sàng tham dự chiến đấu. Cụ thể là mỗi ngày phải dành hai giờ luyện tập
quân sự. Cả một dân tộc sẵn sàng chiến đấu.
Và đến ngày 20 tháng ba, tờ Nhân Dân đă chạy một hàng tít lớn: Chiến thắng.
Vâng, nhưng với biết bao hy sinh về người và tài sản. Cho đến nay, chưa ai biết
rơ thiệt hại nhân mạng người VN là bao nhiêu.
Về phía
người Tàu th́ Đặng Tiểu B́nh vẫn c̣n cay cú v́ thất bại không dạy nổi cho VN một
bài học đă tuyên bố: “Chúng tôi biết rằng cuộc phản công tháng hai vừa qua
vẫn chưa đủ để dạy cho VN một bài học. V́ vậy, một phản công mới trong t́nh
trạng tự bảo vệ ḿnh một cách chính đáng không phải là không có thể xảy ra”
và Đặng Tiểu B́nh kết luận: Chúng tôi dành cái quyền lại có thế bắt đầu...
Họ Đặng c̣n tuyên bố tiếp:
“Quân đội của Bắc Kinh có thể tiến thẳng tới Hà
nội’’ Nói cương vậy thôi. Trên thực tế, người Trung Quốc phải nh́n nhận đây
là một cuộc thua trận về mặt quân sự. Không thể nói khác được.
Theo giáo sư Philippe Devillers, trong lúc mà chiến tranh Việt Nam-Tàu đang ở
lúc cao điểm là tháng giêng 1979, bộ ngoại giao chính phủ Tàu đă gửi ít nhất là
cho 7 nước Âu Châu một kháng thư như sau:
“Chúng tôi yêu cầu các ông chấm dứt
mọi giúp đỡ cho VN. Nước Tàu sẽ coi mọi sự giúp đỡ cho VN là một hành vi gây hấn
và sẽ gây ra những hậu quả”.
Phải chăng, do áp lực của Tàu mà chính phủ Carter của Mỹ đă thiếu hẳn một đường
lối rơ rệt trong việc thiết lập lại bang giao với Việt Nam. Xin nhắc là Chính
Phủ Carter đă có ư định thiết lập lại bang giao với Việt Nam vào mùa thu 1978,
nghĩa là trước khi quân Tàu tràn sang xâm chiếm VN, sau đó đă bất thần băi bỏ
mọi thương thuyết về vấn đề này. Mỹ đă chọn quyết định b́nh thường hoá với Trung
Quốc và gác sang bên việc quan hệ b́nh thường với Việt Nam. V́ thế, trong khi
gặp Carter ở Washington. Đặng Tiểu B́nh đă tỏ ư sẽ tiến công vào Việt Nam và
không gặp phải phản ứng bất lợi nào từ phía Mỹ. Và sau đó Mỹ đă đưa ra 6 biện
pháp xử sự trong trường hợp Trung Quốc xâm lăng Việt Nam.
Tuyền là những biện pháp bất lợi cho Việt Nam như bất can thiệp, Việt Nam phải
rút khỏi Campuchia, cuộc xung đột không đe dọa lợi ích của Mỹ v.v… — Hồi ức của
ông Trần Quang Cơ (1).
Ông Phan Hiền đáp lễ lại: “Chúng tôi nghĩ rằng nước Tàu phải suy nghĩ lại
hằng triệu lần trước khi quyết định tiến hành một cuộc gây hấn mới’’.
C̣n ông Vơ Văn Kiệt đă có lần than thở: “Ḿnh bị nó lừa nhiều quá. Tôi nghĩ
Trung Quốc chuyên là cạm bẫy.”
C̣n Ông Tô (Phạm Văn Đồng) vốn người điềm đạm cũng đă phát biểu:
“Ḿnh hớ,
ḿnh dại rồi mà c̣n nói sự nghiệp cách mạng là trên hết, c̣n được hay không th́
không sao’’.
Nhưng theo
Alain-Roux trong cuốn Le casse-tête chinois, bộ chính trị Tàu đă phê phán nặng
đường lối của Đặng Tiểu B́nh trong một buổi họp tự kiểm thảo vào ngày 14 tháng
ba 1979. Nhưng thực tế th́ đường lối cứng rắn của ĐTB đối với VN vẫn được thi
hành và thực hiện như người ta đă thấy sau này.
Nói cứng th́ như vậy, nói ngoại giao th́ như vậy. Nhưng thực tế Đại tướng Wu
Hsiu-Chuan, Tham Mưu Trưởng của Tàu đă nh́n nhận chúng tôi đă gặp nhiều khó khăn
trong việc đánh sang Việt Nam. Ông nói thêm, một trong những khó khăn đó là,
chúng tôi cần những tin tức phóng ảnh địa h́nh, địa lư chính xác hơn.
Không lạ ǵ sau này, chính phủ Tàu yêu cầu chính phủ Mỹ giúp đỡ kỹ thuật để canh
tân quân đội Tàu.
Phiá chính quyền Cộng Sản th́ chỉ rêu rao hai cuộc chiến thắng chống đế quốc
Pháp và Mỹ. Nhưng nể mặt, chưa bao giờ dám xác nhận là đă chiến thắng nước Tàu.
Việc đó cũng chẳng khác ǵ cái lễ phải giữ của các vua chúa thời xưa. Tây Sơn,
Nguyễn Huệ cũng đă vang lừng truy sát quân nhà Thanh, sau đó đă không quên cái
lễ thần phục. Vẫn phải nể mặt.
Dù sao, những diễn tiến cuộc chiến tranh này cũng chỉ là câu truyện sau này để
từ đó chúng ta rút ra nhũng bài học.
Cuộc bắt bớ truy lùng gian thương vẫn tiếp tục một cách quyết liệt và mạnh mẽ
trong thành phố cũng như tại các tỉnh. Loa Phóng thanh, các đoàn thanh thiếu nhi
quàng khăn đỏ đi ngoài đường với biểu ngữ, hô hào, đả đảo gian thương. Nhà nào
có xe hơi, có tư máu mặt nay sợ xanh mắt. Trước cửa nhà tôi ở đường Nguyễn Huỳnh
Đức, Phú Nhuận, có hai ông bà già mở một quán chạp phô trong một túp lều với mấy
mái tôn che nắng. Ông bà cụ là người mua bán, cho mua chịu, có thể cho vay lăi
cho các gia đ́nh nghèo túng trong các hẻm Nguyễn Huỳnh Đức. Căn nhà được canh
gác ngày đêm, dở trần nhà, đào đất sàn nhà để t́m kiếm vàng. Chẳng hiểu kết quả
ra sao? Phần gia đ́nh tôi sợ sanh máu mặt v́ ở đối diện nhà ông bà cụ, lại có
phần khá giả hơn nhiều. Phúc tổ bảy mươi đời không sao cả. Chỉ lén lút mang xe
hơi của người anh để lại đậu xa nhà. Vậy là xong. Một hai bữa sau, chiếc xe đă
bị làm thịt tanh banh, tách bách. Chỉ c̣n cái khung xe hơi.
Người ta cũng dựng lên một thứ toà án nhân dân đặc biệt để xử những con buôn đầu
cơ, trục lợi. H́nh phạt có thể từ ba năm tù đến án tử h́nh cộng với tịch thu
toàn bộ tài sản. Cuộc truy lùng bọn đầu cơ tích trữ này kéo dài măi đến tháng 6
năm 1976. Trong một vụ án vào tháng 6, năm 1976. Ṭa án nhân dân đă đem xử 6
thường dân và 6 cán bộ. Trong đó, một trong những người bọn họ bị kết án tù
chung thân và tịch thu toàn bộ tài sản. Những người khác từ 8 đến 20 năm tù.
Riêng 6 cán bộ th́ bị nhẹ hơn từ 6 tháng tới 15 năm tù.
Tiếp đến là các ông vua xuất cảng lúa gạo, vua thép, vua cà phê, vua vải vóc lần
lượt bị bắt. Ở các tỉnh như Bạc Liêu đến lượt các vua nhà máy xay thóc. Có ông
có đến 100 nhà máy xay lúa, ông khác cất dấu, nói một cách chính xác là 3740 hạt
kim cương. Các ông vua con đó nay lần lượt rủ nhau vào tù. Từ vua vựa cá, vua xi
măng, vua thép gai, vua hải sản, v.v...
Không lúc nào mà số phận mấy ông vua khổ sở như lúc này. Nhưng người ta cũng
ngại nhấn mạnh đến tên các chú Ba Tàu, v́ ngại sự ḍm ngó của Bắc Kinh.
Các ngả đường vào Chợ lớn bị chặn để ngăn chặn tẩu thoát tài sản, vàng bạc châu
báu và tiền bạc. Những rào cản đặt ở một số đường lục soát người ra vào. Quư kim
và vàng bạc bị tịch thâu. Tiền bạc không được quá số 50 chục ngàn. Sau Chợ Lớn
đến lượt Gia định vào những ngày sau đó.
Thứ hai 22 tháng 9, 1975,
một ngày không như mọi ngày
— Đây cũng
là một ngày đáng ghi nhớ. Ngay chiều chủ nhật, người ta đă chờ đợi một thông cáo
quan trọng vào lúc 10 giờ tối. Có lệnh giới nghiêm trên toàn thành phố. Bộ đội
canh giữ khắp nơi. Thông cáo cuối cùng được dời đến 5 giờ sáng thứ hai.
Hóa ra có lệnh đổi tiền. Mỗi gia đ́nh được đổi tối đa 100.000 đồng. Một đồng
tiền mới tương đương 500 đồng tiền cũ. Và chỉ được lănh trước 10 ngàn đồng. Số
c̣n lại do nhà nước giữ lại. Để hiểu giá trị tiền mới th́ 100.000 đồng tương
đương với số tiền 600 đồng quan Pháp hay hơn 100 đô la Mỹ. Số tiền thật là nhỏ
nhoi so với một gia đ́nh.
Gọi là bần cùng hóa nhân dân. Chữ dùng cũng không xa lắm.
Việc đổi tiền này áp dụng ngay cả đối với các cơ sở thương mại, các hăng xưởng
và các ṭa đại sứ như Pháp. Toà đại sứ Pháp có số tiền là 50 triệu đồng cũng chỉ
được đổi ra 500.000 đồng.
Tự nhiên, trong một ngày,
cả nước trở thành trắng tay
— Giá cả
ngay từ ngày chủ nhật tăng đến chóng mặt. Giá một con gà nay là 15 ngàn. Một
chiếc xe đạp đang từ 60 ngàn lên một triệu đồng. Một xe máy thành mười lăm triệu
đồng. Việc đổi tiền trù liệu trong một ngày phải xong. Nó đă kéo dài đến thứ sáu.
Việc kéo dài này ra ngoài trù liệu của giới chức thẩm quyền, v́ nạn thiếu tiền
mới. Họ không thể ngờ rằng nhà nào cũng đổi một trăm ngàn đồng cho mỗi hộ. Những
hộ nghèo không có tiền th́ đă có hộ giầu dúi tiền cho để đổi dùm.
Việc đổi tiền này đă tạo ra một cú sốc, một sự oán hận không cách nào bào chữa
được. Đây là đ̣n chí tử đánh vào giới tư bản, giới thương gia của chế độ cũ.
Nhiều tin đồn nói có người này tự tử, người kia quyên sinh. Cũng có tin đồn là
đám tàn quân trốn lánh tại núi Bà đen, Tây Ninh đă đánh cướp một xe bạc mới dùng
để đổi tiền cho dân chúng. Người ta cũng nói tới một lá cờ nền xanh da trời, với
ba gạch đỏ và một con rồng vẫn bay phất phới trên núi Bà đen. Chuyện chỉ nghe,
chẳng biết đâu là thực hư. Chỉ là loại tin đồn.
Vợ tôi thường có thói quen cất dấu tiền chỗ này, chỗ kia. Chỉ sau khi đổi tiền
t́nh cờ khám phá ra một gói tiền cũng khá lớn, chẳng nhớ là bao nhiêu?
Không, nay nó không c̣n giá trị một đồng tiền nữa. Giá trị một mảnh giấy cũng
không đáng nữa.
Chủ nhật 28 tháng 9/1975,
hậu quả sau vụ đổi tiền
— Việc đổi tiền đă bị dân chúng ca thán oán hận. Nhà nước qua tờ báo Tin sáng,
số ra chủ nhật đă được chính quyền tỏ lời xin lỗi về những bất tiện gây ra cho
người dân trong việc đổi tiền này. Lời xin lỗi đó đă chẳng có tác dụng ǵ, v́ ai
cũng biết rằng, đây là cách bần cùng hóa mọi người, triệt tiêu tư hữu, triệt
tiêu tư sản tư bản, mại bản.
Sau đợt đổi tiền quá tàn bạo vừa qua. Chính quyền h́nh như muốn tạm ngưng các vụ
bắt bớ tư sản. Bí thư Lê Duẩn trong dịp này lại tới Bắc Kinh, chẳng hiểu v́ thế
mà việc đánh tư sản, mại bản người Việt gốc Tầu có v́ thế giảm bớt đi chăng?
Hậu quả đi kinh tế mới
— Sau cái
nạn đổi tiền đến nạn đi kinh tế mới. Theo chính quyền th́ có khoảng ba trăm ngàn
người đă dời bỏ thành phố để đi về các vùng kinh tế mới. Nhưng nhiều người cho
biết là họ đi cho có, kư giấy tờ xong, lánh nạn ở nhà bà con. Ít lâu sau lại ṃ
về.
Kế hoạch đi Kinh tế mới của chính quyền mới kể như hoàn toàn thất bại.
Sau này, hầu như không ai nhắc tới chuyện đi kinh tế mới nữa.
Thứ ba, 28 tháng 10/1975,
tàu Việt Nam Thương Tín (VNTT)
— Đi mà lại
ṃ về là chuyện lạ. Tàu VNTT trở về lại Việt Nam chở theo 1600 người hồi hương.
Người ta không biết số phận nào sẽ dành cho những người hồi hương này. Trước hết
họ bị giam tập trung lại để điều tra lư lịch từng người.
Sau vụ đi học tập, đánh tư sản, đổi tiền và đi kinh tế mới. Đây là bốn vố nặng
nhất đè nghiến trên người dân miền Nam. Không nhà nào thoát ra khỏi bốn vố này.
Nhiều gia đ́nh tỏ ra tuyệt vọng với chế độ. Chế độ đă đẩy họ đến con đường cùng,
đến ngơ cụt. Nhiều gia đ́nh, trong đó có gia đ́nh chúng tôi đă nghĩ đến chuyện
phải trốn đi bằng đường biển. Không ai c̣n thiết tha nghĩ tới chuyện kéo dài
thêm chuyện sống ở VN nữa.
Dấu hiệu chán nản và tuyệt vọng đă rơ rệt trong các buổi họp dân phố.
Người ta không c̣n muốn đi họp tổ, không c̣n muốn nghe phát biểu nữa. Và để phản
đối bầy tỏ sự chán nản, bất măn của ḿnh mà không bị làm phiền hà, người dân có
lối phản ứng của họ: cán bộ phường chưa nói hết câu th́ ở dưới bà con vỗ tay
tràn lan không để cho cán bộ nói nữa. Cứ như thế mà các buổi họp tổ, khu xóm
loăng dần. Người dân đâm chai ĺ, không c̣n biết sợ nữa. Nhiều thành phần dân
chúng phát biểu lung tung chỗ công cộng chả c̣n ra thể thống ǵ nữa. Những lời
châm chọc, chỉ trích, nói bóng gió đủ kiểu đủ cách đến cán bộ, bộ đội, chính
quyền mới mỗi ngày mỗi công khai, mỗi ngày mỗi bạo dạn đến không c̣n kiêng nể ǵ
nửa. Cán bộ, bộ đội có nghe thấy cũng giả điếc lảng đi chỗ khác.
Chính quyền với thêm nhiều tệ nạn do cán bộ gây ra đă hầu như không c̣n được dân
chúng tín nhiệm nữa.
Cách đối phó của người dân đối với chính quyền là những câu thơ diễu cợt, những
câu chuyện hài ước ác ư nhằm nói cho hả dạ.
Như thể mà nảy sinh ra một thứ văn chương truyền khẩu bôi đen chế độ bằng đủ
h́nh thức.
Thứ năm, 30 tháng 10/1975
— Trên một
chuyến bay đi Băng Cốc, có 14 người từng bị bắt cầm tù sau 30 tháng tư. Trong đó
có 9 người Mỹ, hai Gia Nă Đại, hai Phi Luật Tân và một Úc Đại Lợi. Họ là người
ngoại quốc th́ trước sau ǵ cũng phải để họ ra đi thôi.
-------------------------------------------------------
Xem phần: I; II; III; IV; V; VI;
(1) Trần Quang Cơ, nguyên là Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao, thành viên Đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa tại Hội nghị Paris (68-73) về Việt Nam, viết trong “Hồi ức và Suy nghĩ” (2001-2003), Truyền Thông Communications, số 14-15, 2005, trang 8-10:
Rơ ràng năm 1977 chính quyền Carter thực sự muốn b́nh thường hóa quan hệ với Việt Nam và năm 1977 đă có khả năng thực tế để ta b́nh thường hóa quan hệ với Mỹ nhưng ta đă bỏ qua. Trong khi đó, theo sự xúi dục của Bắc Kinh, chính quyền Polpot bắt đầu chiến tranh biên giới từ ngày 20 tháng 4 và đơn phương cắt đứt quan hệ ngoại giao với ta ngày 31.12.1977.
Từ đầu năm
1978, quan hệ giữa 3 nước lớn Mỹ-Xô-Trung bắt đầu chuyển từ h́nh thái đối đầu
từng đôi một sang h́nh thái Mỹ-Trung câu kết chống Liên Xô. Liên Xô nhân thế yếu
của Mỹ sau thảm bại ở Việt Nam ra sức tăng cường ảnh hưởng ở Á-Phi và Mỹ la tinh
bằng học thuyết “chủ quyền hạn chế” của Brejnev (Leonid Ilyich Brezhnev) . Tại
Châu Á, Liên Xô đưa quân vào Afghanistan (1979), đồng thời thực hiện chính sách
bao vây Trung Quốc. Cũng từ năm 1978, Mỹ đẩy nhanh quá tŕnh b́nh thường hóa
quan hệ với Trung Quốc (từ tháng 2/1978), khi Kissinger đi thăm Bắc Kinh, TQ và
Mỹ đă kư thoả thuận lập Cơ quan liên lạc ở thủ đô 2 nước với quy chế như một sứ
quán). Nước cờ “chơi lá bài Trung Quốc để ngăn chặn Liên Xô” của cố vấn an ninh
quốc gia Z. Bzreinski (Zbigniew Brzezinski) đă dần dần lấn lướt chủ trương của
ngoại trưởng Cyrus Vance và R. Holbrooke là “thúc đẩy song song việc cải thiện
quan hệ với Việt Nam và Trung Quốc”. Ngày 23/8/78, trong lúc Mỹ đàm phán về b́nh
thường hoá quan hệ với ta ở Pa-ri, ngoại trưởng Mỹ C. Vance đă đi thăm Bắc Kinh.
Cho đến khi Đặng Tiểu B́nh (Deng Xiaoping) tuyên bố “Trung Quốc là NATO phương
Đông” và “Việt Nam là Cuba phương Đông” (19/5/1978) và Bzreinski đi thăm Trung
Quốc (20/5/1978) th́ chính quyền Carter đă chọn con đường b́nh thường hóa quan
hệ với Trung Quốc và gác sang bên việc b́nh thường hoá quan hệ với Việt Nam.
Ngày 21 tháng 8 năm 1978 Quốc hội Mỹ c̣n cử một đoàn 7 hạ nghị sĩ thuộc cả hai
đảng Dân chủ và Cộng hoà, do hạ nghị sĩ Dân chủ G..V. Montgomery, chủ tịch Ủy
ban POW/MIA, dẫn đầu sang Việt Nam chủ yếu để trao đổi với thứ trưởng Phan Hiền
về vấn đề t́m kiếm “người Mỹ mất tích trong chiến tranh” (MIA). Ta đă trao trả
cho Mỹ một số bộ hài cốt để tỏ thiện chí hợp tác trong vấn đề MIA. Và theo yêu
cầu của họ, tôi đă dẫn đoàn Montgomery đi miền Nam, thăm thánh thất Cao Đài và
một trại người Campuchia tị nạn chiến tranh ở biên giới Tây Ninh. Đây là lần đầu
tiên ta cho phép một đoàn Mỹ chính thức thăm thành phố Hồ Chí Minh kể từ khi
giải phóng miền Nam.
Sau đó chừng một tháng, tôi sang Nữu-ước để tiếp tục cuộc đàm phán về b́nh
thường hoá quan hệ với Mỹ. Cuộc đàm phán ṿng 4 về b́nh thường hoá quan hệ Việt
Nam-Mỹ không kéo dài nhiều năm 1977 ở Pa-ri. Lần này trưởng đoàn đàm phán của ta
là thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch. C̣n phía Mỹ vẫn là R. Holbrooke. Đến
lúc này khi ta quyết định rút bỏ đ̣i hỏi “Mỹ phải bồi thường chiến tranh-viện
trợ 3,2 tỷ đô-la- mới b́nh thường hoá quan hệ” và nhận công thức “b́nh thường
hoá quan hệ không điều kiện” của Mỹ th́ đă muộn. Sỡ dĩ Mỹ tiếp tục đàm phán vấn
đề b́nh thường hoá với ta lúc đó là chỉ nhằm làm Việt Nam chập chững trong quan
hệ với Liên Xô và trong vấn đề Campuchia, trong khi đó Mỹ đă chuyển hướng sang
phía Trung Quốc. R. Holbrooke nói với ta: Mỹ coi trọng Châu Á; Mỹ cần b́nh
thường hóa quan hệ giữa hai nước. Nhưng Mỹ lo ngại Liên Xô đặt căn cứ ở Cam Ranh.
Trong khi chờ đợi phía Mỹ trả lời dứt khoát về vấn đề b́nh thường hoá quan hệ,
khoảng hạ tuần tháng 11, anh Thạch về Hà Nội trước, c̣n tôi vẫn ở lại Nữu ước để
giữ cầu. Ngày 30/11/1978, R. Oakley , trợ lư ngoại trưởng Mỹ, trả lời sự thúc
dục của tôi, c̣n nói: Mỹ không thay đổi lập trường b́nh thường hoá quan hệ với
Việt Nam, nhưng phải chậm lại v́ cần làm rơ 3 vấn đề CPC (Campuchia), Hiệp ước
Việt-Xô và vấn đề người di tản. Rồi họ trao cho tôi tấm ảnh toà nhà của sứ quán
ngay trên đường R. ở Hoa-thịnh-đốn , nói là sẽ trao trả ta toà nhà đó làm trụ sở
đại sứ quán, yêu cầu ta cung cấp sơ đồ ngôi nhà cũ của tổng lănh sự quán Mỹ tại
đường Tràng Thi (?) Hà Nội.
Tôi ở lại Nữu ước (New York) măi tới cuối tháng 1/1979, sau khi ta đưa quân vào
Campuchia giúp bạn đánh đuổi Polpot giải phóng Nông-Pênh . “Các cuộc nói chuyện
Mỹ-Việt Nam về b́nh thường hoá đă tan vỡ do cuộc xâm lược Campuchia của Việt
Nam” (Cyrus Vance 9/1/1979). Tôi nghĩ, thực ra Mỹ đă quyết định dứt bỏ quá tŕnh
đàm phán b́nh thường hoá quan hệ với ta từ khi ta tham gia khối COMECON và kư
Hiệp ước hữu nghị với Liên Xô (3/11/1978), để bắt tay với Trung Quốc chống Liên
Xô ở Châu Á-Thái B́nh Dương.
Việc Đặng Tiểu B́nh đi thăm Mỹ (29-30/1/1979) đánh dấu việc b́nh thường hoá quan
hệ Mỹ-Trung Quốc, cũng là chính thức xếp lại việc b́nh thường hoá quan hệ Việt
Nam-Mỹ tới 17 năm sau. Trong khi gặp Carter ở Hoa-thịnh-đốn, Đặng Tiểu B́nh đă
tỏ ư sẽ tiến công vào Việt Nam và không gặp phải phản ứng bất lợi nào từ phía Mỹ.
Theo Brzezinski, trong cuộc hội đàm với Carter hôm 29/1, Đặng yêu cầu có sự cộng
tác giữa Mỹ và TQ để chống Liên Xô. C̣n Carter có phần thận trọng hơn, đồng ư có
những cuộc tham khảo chặt chẽ giữa hai nước để chặn chủ nghĩa bành trướng của LX
nhưng thận trọng tránh đề cập tới đề nghị của Đặng. Sau đó, ngày 26/2/1979,
Carter có nêu 6 nguyên tắc xử sự khi Trung Quốc xâm lăng Việt Nam: Mỹ không can
thiệp trực tiếp; khuyến khích các bên tự kiềm chế; Việt Nam rút quân khỏi
Campuchia và Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam, cuộc xung đột không đe doạ lợi
ích trước mắt của Mỹ; không đặt lại vấn đề b́nh thường hoá với Trung Quốc; quyền
lợi đồng minh của Mỹ không bị đe doạ. Cũng từ đó, cuộc xung đột CPC và quan hệ
với Việt Nam đă được đặt trong khuôn khổ của mối quan giữa 3 nước lớn
Mỹ-Xô-Trung. Và cũng từ đó Mỹ gắn vấn đề quan hệ Mỹ-Việt Nam với quá tŕnh giải
quyết vấn đề CPC.
Là nhân chứng lịch sử và cũng là người trực tiếp tham gia các hoạt động ngoại
giao này với tư cách là vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ Bộ ngoại giao, trực tiếp tham gia
đoàn đàm phán về b́nh thường hoá quan hệ với Mỹ ở Pa-ri năm 1977 rồi ở Nữu ước
năm 1978, tôi thật sự đau sót v́ ta đă bỏ lỡ mất cơ hội củng cố thế đứng của
Việt Nam trong hoà b́nh để tập trung phát triển đất nước sau bao năm chiến tranh,
lỡ cơ hội san bằng khoảng cách với các nước cùng khu vực. Trong tập hồi kư của
ḿnh (From Third world to First -Từ thế giới thứ ba đến thế giới thứ nhất). Lư
Quang Diệu đă nhận xét: “Năm 1975 thành phố Hồ Chí Minh có thể sánh ngang với
Băng-cốc . Nhưng nay (năm 1992) nó tụt lại đằng sau tới hơn 20 năm”.
Việc ta từ chối lời đề nghị “b́nh thường hoá quan hệ không điều kiện” của Mỹ,
làm cao trước việc ASEAN ngỏ ư muốn Việt Nam tham gia tổ chức khu vực này, theo
tôi, đă đưa lại những hệ quả vô cùng tai hại cho nhân dân và đất nước ta. Liệu
Trung Quốc có dám tiếp tay cho bọn diệt chủng Polpot khiêu khích ta và có dám
đánh ta năm 1979 nếu như Việt Nam sau Chiến thắng 1975 có một chiến lược “thêm
bạn-bớt thù” thực sự cầu thị hơn? Việc b́nh thường hoá quan hệ với Mỹ và việc
gia nhập khối ASEAN măi ngót 20 năm sau (1995) ta mới thực hiện được một cách
khá chật vật.
Theo tôi, tư duy đối ngoại có phần cứng nhắc của ta lúc ấy quả đă không theo kịp
bước chuyển biến của chính trị thế giới thể hiện qua sự điều chỉnh chiến lược
của các nước lớn sau sự kiện Việt Nam 1975, để dám có những quyết sách linh hoạt
kịp thời đem lại lợi ích to lớn lâu dài cho dân tộc ta. Ngược lại, việc ta bỏ lỡ
cơ hội b́nh thường hoá quan hệ với Mỹ lúc này đă khiến Việt Nam gần như đơn độc
trước một Trung Quốc đầy tham vọng.