30/4 - Đi t́m thời gian đánh mất (VIII)
30/4/1975
30/4/1976
30/4/2006
Nguyễn Văn Lục
Đầu tháng 11-1975, một
vài vấn đề tôn giáo như Phật giáo (PG), Thiên Chúa Giáo (TCG) đối với chính
quyền Cộng Sản
Trước hết,
xin rảo qua vài ḍng về hiện t́nh PG Việt Nam (VN) trước và sau 1975. Sau biến
cố Phật giáo 1963, người ta có nhiều hy vọng Phật giáo đang trở ḿnh, dần dần
hiện đại hoá, có được những ảnh hưởng trên giới Phật tử về phạm vi tôn giáo và
trên lănh vực văn hoá, xă hội và chính trị đối với chính quyền. Tham vọng một
giải pháp Phật Giáo và dân tộc không phải là không có. Ấy là chưa nói tham vọng
đó có nên hay không, bới v́ tham vọng thế quyền bao giờ cũng đi ngượi lại yếu
tính của bất cứ tôn giáo nào.
Trước mắt, để có được những ảnh hưởng trên, giới Phật Giáo cần tăng cường đội
ngũ trí thức PG trong hàng tăng sinh. Theo bản tường tŕnh của Hội tài trợ Á
Châu vào năm 1965, trong con số 20 chục ngàn tăng ni ở VN th́ chưa đầy 20 người
có đi du học ở nước ngoài trong đó phải kể luôn 12 người đang đi du học. Trong
nước th́ có khoảng 30 người có bằng cử nhân. Những con số trên cho thấy giới trí
thức Phật giáo không đáng kể và c̣n thiếu nhiều lắm. Phẩm chất cũng chưa dạt đủ.
Như Hạnh Nguyễn Tự Cường — Nguồn: religious.gmu.edu
V́ thế, giáo
sư Như Hạnh, giáo sư đại học George Mason (1) đă có những nhận xét thẳng
thừng hơn khi cho rằng ngay cả các thầy như Thích Minh Châu cũng không thông
hiểu đủ về Phật giáo. Chúng tôi ghi nhận lại với sự dè dặt về những nhận xét như
thế.
Cũng theo Như Hạnh th́ không có bao nhiêu hiểu biết về Phật giáo VN v́ thiếu tài
liệu, thiếu văn bản Phật giáo như trong bài viết của ông:
Vài ghi chú về Tâm
Kinh Bát Nhă hay truyền thống Phật giáo VN. Về điều này, Hà Văn Tấn cũng đă
nh́n nhận trong bài viết: “Vấn đề văn bản trong các tác phẩm văn học của Phật
giáo”, tạp chí Văn học, viện văn học Hà nội, số 4, 1993. Ngay như tài liệu
về Thiền Tông VN với bộ VNPG sử luận của Nguyễn Lang, tức Nhất Hạnh đă được
nhiều người ca tụng cũng đầy những thiếu sót. Thiếu sót thứ nhất là thiền sư
Nhất Hạnh đă bóp méo lịch sử Phật giáo thành lịch sử Thiền tông. Thứ hai là đă
vay mượn thuật ngữ Phật giáo một cách bừa băi, b́nh dân hoá Thiền dưới. Thầy Tuệ
Sĩ cũng nhận xét không khác xa lắm:
“Đọc kinh bây giờ ít thịnh hành hơn, c̣n
học Thiền th́ lại rất rầm rộ. Cái tệ hại của nó, quả thật, là những kẻ quê mùa
dốt nát này, sau khi thăm viếng các Thiền viện và nghe các thiền sư giảng pháp,
họ thích thú quá cỡ, và ít chịu suy nghĩ về tinh thần của giáo thuyết, tự cho
ḿnh là những bậc thầy, không những đă khinh miệt cỡ đức mà c̣n coi nhẹ kinh
điển và nội dung của kinh điển với những phát ngôn bừa băi của họ. Quần chúng
ngây ngô bị lừa dối và những bậc trọng vọng, nhưng vốn ít học, lại vui thích với
những lời rỗng tuếch của các môn đệ Thiền”.
Phần tôi chỉ nêu ra mà chẳng dám
có lạm bàn. Thầy Minh Châu cũng là một bậc trưởng thượng. Ông Như Hạnh là người
mà tôi có đọc một số bài viết về Phật học th́ cũng là người có chuyên sâu.
Nhưng người Mỹ hơn ai hết đă nh́n nhận ra điều này và trong một bản tường tŕnh
mật nêu mục đích rơ việc tài trợ cho Phật giáo: “Phật giáo đă đảm nhận một
vai tṛ xă hội và chính trị. Có thể biến Phật giáo thành một lực lượng ưu thế xă
hội trong ṿng một vài năm. Tài trợ chủ yếu nhằm mục đích đào tạo giới lănh đạo
Phật giáo, tài trợ những tăng ni trẻ tuổi khá nhất. Họ sẽ trở thành những người
diễn giải chính yếu của Hoa Kỳ và chính sách của Hoa Kỳ cho Phật giáo.’’ — Tài
liệu của hội đại diện Mỹ của hội Quakers là Michael và Diane Janes đă trao cho
Tổng hội Sinh viên (THSV) Sài G̣n, 1974.
Hoà Thượng Thích Tâm Châu — Nguồn: @groups.msn.com
Sau 75,
những dự định của Mỹ và Phật giáo về hiện đại hoá đạo Phật đă tan thành mây khói
khi người CS vào miền Nam. Và trước đó, ngay trong nội bộ Phật Giáo đă có sự
chia rẽ trầm trọng đến độ có thể thanh toán nhau như trong bạch thư của TT Tâm
Châu đề ngày 31/12/1993.
Sau này, dựa vào tài liệu của đảng Cộng Sản, Lữ Phương một lần nữa cho thấy có
sự hợp tác giữa Phật Giáo và đường lối chính sách của Mỹ như sau trong sách:
“Cuộc xâm lăng về văn hoá và tư tưởng của đế quốc Mỹ tại miền Nam VN’’, Nxb Văn
Hóa, Hà nội, 1981.
Quan điểm của Lữ Phương dựa trên các tài liệu từ nguồn của Cộng Sản, như thường
lệ cũng cần rất dè dặt. Lữ Phương đă vạch ra kế hoạch tài trợ, việc gửi tu sĩ
Phật giáo đi du học về giáo dục, y tế xă hội. Những dữ kiện mà Lữ Phương đưa ra
đều dựa trên tài liệu của quỹ tài trợ Châu Á. (chương tŕnh phát triển Phật giáo
ở VN, tài liệu mật của đại diện VN gửi Giám đốc tổ chức này, trang 228, sách dẫn
trên). Những người trong giới tu sĩ hay không phải tu sĩ, nếu đă dược chọn th́
theo “chế độ du học đi thẳng”, nghĩa là chỉ qua Hội đồng du học của Bộ Giáo dục
để làm thủ tục giấy tờ hành chánh mà Hội Đồng này không có quyền quyết định chọn
lựa ai đi, ai không đi. Về điểm này, tôi có người bạn có chức vụ trong Hội Đồng
du học có xác nhận là có như vậy.
Sau này, những trí thức Phật giáo này trở thành niềm hănh diện và một niềm hy
vọng cho Phật giáo. Nếu trong tương lai, Viện Đại Học Vạn Hạnh được mở lại th́
ta sẽ có đủ các giáo sư có tŕnh độ để đảm đương công việc này.
Rất tiếc là sau 1975, tất cả kế hoạch chủ trương trên đă tan ră trở thành mây
khói như bất cứ những chương tŕnh nào khác thời trước 1975.
Hoà Thượng Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hoá Đạo, GHPGVNTN — Nguồn: ghpgvntn.net
Trở lại sự
nứt rạn mà TT Tâm Châu nhắc tới trong Bạch thư th́ vào những năm 1972, nhóm các
thượng tọa Thiện Minh và Thích Huyền Quang đă muốn tách ra khỏi chùa những nhóm
tranh đấu. V́ thế, cuối năm 1973, Thượng Tọa Thích Thiện Minh và Thích Huyền
Quang đă bị các nhóm tranh đấu loại ra đến phải từ chức. Sau ngày giải phóng,
Giáo hội Ấn Quang , cũng như Thiên Chúa giáo, đă bắt buộc chuyển cho nhà nước
toàn bộ các trường học cũng như các cơ sở xă hội, các nhà nuôi trẻ mồ côi.
Thượng Tọa Thích trí Thủ đă hoàn toàn tán đồng chủ trương đó. Nhưng các Thượng
Tọa Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ phản đối việc trao trả các nhà nuôi trẻ mồ
côi. Mối liên lạc hai bên, chính quyền và nhà chùa thêm tồi tệ đi đến chỗ đối
đầu, phản đối. Có việc bắt bớ một số nhà sư. Trong số 4.000 chùa rải rác trong
toàn miền Nam, người ta c̣n thấy sự giảm sút rơ rệt về số sư săi, từ 3 chục ngàn
xuống c̣n 10.000 người. (toàn bộ sư săi ở ngoài Bắc phỏng chừng 4.000 người. Con
số đưa ra không có ǵ là thực chứng cả).
Theo một bài viết của ông Huỳnh Kim Quang: “Giáo Hội Phật giáo VN thống nhất,
bốn mươi năm hành hoạt’’. Đừng kể sự thống nhất đă có mặt kể từ đời Đinh với
Khuông Việt làm Tăng Thống đầu tiên theo Lê Mạnh Thát. Hăy cứ kể từ 31/12/1963,
tại chùa Xá Lợi, trong 5 ngày đă thông qua bản Hiến chương và thành lập GHPGVNTN.
TT Trí Siêu Lê Mạnh Thát — Nguồn: prweb.com
Ư nghĩa
thống nhất đó đă được minh thị rơ ràng như sau: “Quan niệm thống nhất Phật
giáo Việt Nam được thể hiện theo chủ trương điều hợp, nghĩa là giáo lư, giới
luật và nếp sống của các tông phái cũng như của hai giới Tăng Sĩ và Cư sĩ, chẳng
những được tôn trọng mà c̣n phải nỗ lực phát triển trong sự kết hợp có chỉ đạo’’.
Xin để các giới chức thẩm quyền Phật giáo giải quyết những nan đề này.
Nhưng tôi có một điều thâm tín rằng: Tổ chức nào bất kể, tôn giáo nào bất kể, ở
thời kỳ nào bất kể, ở đâu bất kể, hễ có bàn tay của chính quyền CS dính vào, cầm
chịch ở nơi đó là có điều chẳng lành. Người nào bênh vực quan điểm thế quyền của
tôn giáo, với sự chi phối (ingérence), ngay dù chỉ là tài trợ vật chất, đă không
hiểu rằng, yếu tính của tôn giáo là là Siêu Vượt. Ở trong trần thế mà để thoát
ra khỏi trần thế. Cái mạnh trần thế với quyền lực, với đủ thứ kềnh càng vật chất,
thay v́ chỉ là phương tiện như cái thuyền chỉ để qua sông. Nay thuyền là chính,
qua sông là phụ. Ấy là chỗ yếu, cái sa đà của tôn giáo vậy.
Theo tài liệu trong bài viết của C. Bonjean, le point, 25 tháng tư, 1977: La
résistance vient des pagodes (Sự chống đối đến từ các chùa). Tài liệu tiết
lộ cho thấy có một số nhà sư chống đối chính quyền bẳng cách tuyên truyền, chống
báng nhà nước, ngăn cản phật tử tham dự các buổi họp phường khóm, chống đối việc
chuyển giao các cô nhi viện. Thậm chí tung tiền giả, truyền đơn đủ loại và cả vũ
khí nữa, ngay cả giết các viên chức chính quyền như ở Trảng Bom vv…
Trong một kháng thư của Viện Hoá Đạo gửi cho Thủ Tướng Phạm Văn Đồng ngày
9/2/1977, Ḥa Thượng Thích Trí Thủ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo đă liệt kê danh
sách 19 Tăng Sĩ trên khắp các tỉnh miền Nam đă bị chính quyển CS bắt giữ mà
không có lư do chính đáng. Đặc biệt có các TT Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ,
Thích Thuyền Ân, Thích Thông Bửu, Thích Thông Huệ, Thích Thanh Thể.
Tôi nghĩ rằng danh sách các nhà sư bị tù đầy phải nhiều hơn thế nữa. Chỉ v́
thiếu thông tin liên lạc mà thôi. Chẳng hạn, tôi không thấy một đại đức tuyên úy
Phật giáo nào trong danh sách những người bị đi tù. Họ là những người đầu tiên
bị đi học tập cải tạo.
Về phía Thiên Chúa giáo (TCG) th́ danh sách có vẻ đầy đủ hơn. Có cả thảy 303
linh mục, trong đó 109 là tuyên úy quân đội bị đi tù. Các tuyên úy quân đội sau
10, 15 năm được thả về, họ không có quyền công dân và bị cấm làm mục vụ.
Trong khi đó, tôi cũng rất lấy làm ngạc nhiên là kư giả Alain Ruscio trong cuốn
sách của ông ta Vivre au Viet Namcho rằng theo TT Thích Trí Thủ th́ Phật
giáo VN hoàn toàn tự do truyền đạo và hành đạo.
HT Thích Minh Châu, Hiệu trưởng Trường Cao cấp Phật học Việt Nam tại Tp. HCM — Nguồn: quangduc.com
Trong một
bài phỏng vấn trả lời cho đài TF 1, truyền đi ngày 11 tháng 5, 1987 sau này,
Thượng Tọa Thích Minh Châu, cựu viện trưởng viện đại học Vạn Hạnh, nhân danh
nhóm Ấn Quang cho rằng ở Việt Nam hoàn toàn có tự do theo đạo, và rằng những nhà
sư bị bắt là do những hành vi cá nhân của họ, không có liên quan ǵ đến tôn giáo.
Giải thích về lư do số nam tu sĩ Phật giáo giảm đi th́ được cắt nghĩa rằng một
số bọn họ trước đây đi tu chỉ là để trốn quân dịch. Có đến 2 chục ngàn người đă
trốn quân dịch như thế trong các chùa. Bằng chứng là số nữ tu sĩ vẫn không giảm.
Dù giải thích thế nào th́ việc đào luyện và tuyển chọn ở các chùa cần được xét
lại, v́ t́nh trạng tuyển chọn tùy tiện, thiếu phương tiện đào tạo có thể tạo ra
một số tăng ni không đủ tŕnh độ về mọi mặt.
Cho đến hiện nay, tôi đă hỏi ư kiến một vị Thượng Tọa trách nhiệm đào tạo tăng
sinh ở một Phật học viện, Vị TT cho biết quả thực có hiện tượng một số tăng ni ở
các vùng quê đă gia nhập các tu viện với mục đích chỉ v́ những lư do kinh tế.
Điều đó cũng xảy ra tương tự cho các tu tập bên TCG. Tôi đă hỏi một LM bề trên
làm thế nào ngăn chặn t́nh trạng các tu sinh từ các vùng quê nghèo khổ vào tu
viện. Vị LM cho rằng, việc tu tập kéo dài 6, 7 năm. Thời gian sẽ giúp nhận ra ai
là người có thiện chí tu tập, ai không.
Mong là có những chọn lọc trong sáng để tránh t́nh trạng trong hàng ngũ tu tŕ
có những người thiếu phẩm chất.
Dù sao, đây vẫn là một cảnh báo thường trực. Chưa kể, người của chính quyền có
thể gia nhập các tu hội, giả làm tu sĩ và gây rối, phá nát từ bên trong.
Cách giải thích của TT Thích Minh Châu có điều không đúng hẳn như vậy. Bên TCG,
kể từ sau 1975, việc truyền chức linh mục (LM) của TCG bị suy giảm đến tŕ trệ.
Theo báo Công giáo và Dân tộc, số 747, ngày 11/3/1990. Năm 1963-64. có 21 LM
được truyền chức. Cao điểm năm 1968-1969 có 61 LM. Năm 74-75 chỉ c̣n có 22.
Nhưng kể từ 1975 đến 1990, trong suốt 15 năm, chỉ có 23 tân LM. Trung b́nh một
năm có hơn một người được truyền chức LM.
Sự suy giảm trầm trọng như thế ở phiá giáo hội TCG có thể áp dụng tương tự cho
phía Phật giáo được không.
Phiá Phật giáo c̣n có một vấn nạn trầm kha là có sự chia rẽ giữa những nhà sư
theo GHPGVN và những nhà sư theo GHPGVNTN cho măi đến nay vẫn chưa có cơ hội ḥa
giải được. Nhà nước CS đă lợi dụng kẽ hở về tổ chức của GHPG và tạo thêm những
rắc rối giữa hai bên nhằm thủ lợi, dùng những thủ đọan vật chất tiền bạc, ngay
cả nữ giới để mua chuộc. Rơ ràng là có bàn tay của chính quyền trong sự chia rẽ
này.
Trong kỳ Đại Hội Phật giáo VN toàn quốc diễn ra từ ngày 19 đến 23/11, 1998 đă
thành công tốt đẹp. 47 tỉnh thành đă tiến hành bầu cử Đại hội Phật giáo ở các
tỉnh. Đài BBC, 22/11, đưa tin về Đại Hội này đă lưu ư rằng chính tại Đại Hội này,
một lần nữa Hoà Thượng Thích Minh Châu đă lên án một số phần tử lợi dụng Phật
giáo để tạo các ảnh hưởng tiêu cực và phá hoại đất nước. Những phần tử này đă và
đang bị cô lập’’.
Về phiá TCG giáo: Chính quyền cũng muốn cài nhóm tứ nhân bang như nói ở
trên Và cho đến năm 1977-1988, người ta thấy có tên mấy LM sau đây cộng tác với
chính quyền mới: Nguyễn Đắc Cầu, Lư Quư Phụng, Nguyển Hữu Thanh, Trần Quảng
Nghiêm, Lê Ngọc Triệu, Nguyễn Văn Triều, Trần Văn Kim, Mai Đức Long và Phạm
Trung Kiên.
Những tu sĩ này bị chỉ mặt, bị cách ly đến độ không được nh́n nhận trong cộng
đoàn TCG nữa. Họ trở thành những thứ LM quốc doanh và chỉ với hai chữ đó thôi,
họ không làm được tṛ trống ǵ nữa.
Có hai thái độ của các vị lănh đạo TCG tiêu biểu là Hà Nội và Sài G̣n: Ở Sài G̣n
và toàn miền Nam, TGM Nguyễn văn B́nh chọn thái độ hợp tác với chính quyền mới.
Sau 1975, toàn bộ hàng giáo phẩm lănh đạo là các giám mục đều chọn ở lại, thay
v́ di tản. Điều này khác biệt hẳn với cuộc di cư năm 1954. Trong cuộc di cư năm
1955, có 5 vị Giám Mục và 700 linh mục đi theo giáo dân trong cuộc di cư này.
Ngay từ ngày 19/4/1975, đă có một tuyên ngôn về vấn đề di cư ra nước ngoài, mang
102 chữ kư, (đợt 1) của nhiều thành phần như linh mục, tu sĩ nam nữ, dân biểu,
giáo sư, cán sự xă hội, sinh viên, viên chức, lao động, y tá, nội trợ, thành
viên hội đồng giáo xứ, phế binh... Họ bầy tỏ lo ngại về ư đồ của Mỹ, muốn lập
lại phong trào di cư năm 1954. Họ tán đồng thông cáo của TGM Sàig̣n kêu gọi đồng
bào TCG không di tản. “Chúng tôi xác tín rằng dầu bất cứ việc ǵ xảy ra,
chúng tôi sẽ ở lại quê hương để góp phần nhỏ mọn của ḿnh vào việc ḥa giải dân
tộc’’.
Hồng Y Trịnh Như Khuê (1898–1978), Nhận mũ Hồng Y VN đầu tiên từ Đức Giáo Hoàng Paul VI (24/5/1976) — Nguồn: tinhthan.tripod.com
Trong khi đó
tại Hà Nội, TGM Khuê vẫn giữ khoảng cách trong tinh thần bất hợp tác. Cho măi
đến 16 tháng 8/1975, ṭa GM Hà Nội mới ra một thông cáo mà nội dung hoàn toàn có
tính cách đạo giáo, không có nhắc nhở ǵ đến biến cố 30 tháng tư. Sau đó, bản
thông cáo để cho một LM thư kư đại diện kư tên là cha Trần văn Mai.
Nên nhớ rằng giáo hội thầm lặng sau bức màn sắt bị nhiều kiểm soát, giới hạn đủ
thứ. Người ta chưa quên được những giám mục chui ở miền Bắc. Cha Đaminh
Đinh Đức Trụ, được ṭa thánh cử làm giám quản giáo phận Thái B́nh, 1955. Năm năm
sau, 1960, được phong giám mục. Ông phải giả làm phu xích lô đạp, đến toà GM Hà
Nội để được GM Trịnh Như Khuê tấn phong chui, sau đó ông lại sang Bùi Chu tấn
phong chui cho GM Phạm Năng Tĩnh. Giám mục Phê rô Phạm Tần, được phong Giám Mục
(GM) năm 1960, nhưng 21 năm sau, ngày 26/6/1975 mới chính thức được thụ phong
GM. Giám mục Phạm Văn Dụ được chính thức phong GM năm 1960, tại Lạng Sơn, nhưng
măi đến năm 1979, do quân Tàu lấn chiếm sang VN, bắt buộc chạy về Hà Nội và bị
kẹt lại Hà Nội cho đến 1990 mới được quay trở lại Lạng Sơn, nghĩa là sau 31 năm
ẩn dật.
Trong Hồi kư Tôi phải sống, LM Lễ kể lại có đi dạo với Hồng y Trịnh Văn
Căn trên sân thượng, ông Hồng y có chỉ cho ông thấy một đường h́nh quả trám
khổng lồ trên sân thượng như có ai mài rửa, chà sát trên đó. Và cho biết đó
là dấu tích vết chân của Hồng Y Trịnh Như Khuê, trong suốt 20 năm bị quản chế,
ngài đă chỉ đi bách bộ trên sân thượng này. V́ đi bộ nhiều năm nên những bước đi
của Ngài đă tạo thành đường ṃn h́nh quả trám như vậy. Nghe câu truyện này, tôi
quá thương cho hoàn cảnh Đức Hồng Y tiên khởi của Việt Nam và cho Giáo Hội miền
Bắc lúc bấy giờ.
Cho măi đến năm 1974, sau 20 năm, giám mục phó Trịnh Văn Căn mới được phép sang
Roma họp Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới. 20 năm bị trói, bị bưng bít, bị kiềm
chế đối với thế giới bên ngoài.
Hiểu hoàn cảnh giáo hội miền Bắc trong bối cảnh đó. Sẽ hiểu được cách ứng xử của
lănh đạo tôn giáo hai miền.
Và sau đây xin tóm lược hoàn cảnh của hai giáo hội Phật giáo và TCG về bức tranh
tôn giáo trên đất Bắc như biểu tượng. Ông Đỗ Trung Hiếu, một cán bộ tôn giáo cao
cấp của chính quyền Cộng Sản đă vẽ lại như sau: “Hầu hết chùa, nhà thờ ở miền
Bắc mà tôi đến thăm đều rêu phong tàn tạ. Các nhà sư lẩm cẩm sợ sệt, một bá cáo
cụ, hai bá cáo cụ. Các linh mục, giám mục đóng kín cửa lạc hậu với thời cuộc.
Phật giáo gần như không c̣n ǵ nữa, chỉ ẩn hiện dưới dạng mê tín, cúng bái linh
tinh và rất e dè trước khách lạ. Tín đồ Thiên Chúa giáo th́ khổ cực, hằn sâu
trong mắt họ những nét u uất thâm-nghiêm, nhưng rực lửa và sẵn sàng bốc cháy khi
có mồi…
(Đỗ Trung Hiếu: Thống nhất Phật giáo, trong hồ sơ: Hồ sơ Phật giáo
thống nhất–Thống nhất Phật giáo).
Những nhận xét của ông Đỗ Trung Hiếu thật sự không xa với thực tế bên ngoài. Nó
là vậy đấy. Cứ ra Hà nội sẽ thấy điều đó là thật.
Và sau cùng đây là danh sách những vị đă lên tiếng cho tự do tôn giáo xếp theo
thứ tự A, B, C như sau, đặc biệt lưu ư không có trong danh sách TT Trí Siêu,
người từng bị kết án tử h́nh với Tuệ Sĩ. Danh sách này do ông Nguyễn Chính Kết
thực hiện ở trong nước, tôi chỉ xin chép lại.
Gm Nguyễn Kim Điền. Hoà thượng Thích Quảng Độ. Lm Nguyễn Hữu Giải. Ḥa thượng
Thích Thiện Hạnh. Giáo sĩ Trương Chí Hiền. Thượng tọa Thích Chân Hỷ, Ông Nguyễn
Chính Kết. Gs Nguyễn Ngọc Lan. Ông Lê Quang Liêm. Lm Phan Văn Lợi. Lm Nguyễn Văn
Lư. TT Thích Thiện Minh. Mục sư Phạm Đ́nh Nhẫn. Ḥa thượng Thích Huyền Quang.
Mục sư Nguyễn Hồng Quang. Thượng tọa Thích Tuệ Sĩ. Thượng tọa Thích Không Tánh.
Lm Chân Tín, v.v… và cuối cùng có cụ bà Nguyễn Thị Thu của Phật giáo Hoà Hảo đă
tự thiêu để phản đối chính sách đàn áp tôn giáo của chính quyền CS…
(C̣n tiếp)
Xem phần:
I;
II;
III;
IV;
V;
VI; VII;
DCVOnline:
1 Như Hạnh là bút hiệu của Nguyễn Tự Cường (Nguyen, Cuong T., Associate
Professor of Religious Studies. BA 1970, Van Hanh University, Vietnam; MA 1979,
University of California at Santa Barbara; AM 1982, PhD, 1990, Harvard
University. Nguồn: George mason University, www.gmu.edu, The 2005–2006
University Catalog)