Nguyễn Văn Lục:

Đọc nhật kư của im lặng

 

Tôi đă có bài nhận xét về cuốn nhật kư này rồi, nay viết lại. Viết nhật kư tưởng dễ mà khó. Mười người hết chín soi gương chỉ thấy ḿnh rơi vào bệnh tự biên, tự diễn, tự khen, tự dấu.  Mấy ai viết được như cụ Trần Trọng Kim, cụ Nguyễn Xuân Chữ.

 

Cái khó nhất là giữ được ḷng trung thực.

 

Lại c̣n khó nhiều lần thêm, nếu viết dưới chế độ xă hội chủ nghĩa. Theo như sự hiểu biết của tôi th́ mới có hai người  thuộc chế độ cũ miền Nam làm được điều ấy. Thật ra đă có ba người đă viết. Lư Quư Chung, Hồ Ngọc Nhuận và Lư Chánh Trung. Trước 1975, họ đều là những người thiên tả, thành phần thứ ba, hay đă thực sự theo MTGPMN như  Lư Chánh Trung, Hồ Ngọc Nhuận. Riêng Hồ Ngọc Nhuận không phải chỉ theo mà nhận chỉ thị trực tiếp cộng tác với mặt trận MTGPMN.[1] Chính Hồ Ngọc Nhuận thông báo cho ông Dương Văn Minh, qua trung gian người của Mặt Trận, là t́nh thế đă xong, đừng hy vọng vào bất cứ giải pháp nào. Cũng chính Hồ Ngọc Nhuận sau này can thiệp với Mai Chí Thọ để chọn lựa ai được đi học tập ngắn ngày, tại chỗ. Cũng chính Hồ Ngọc Nhuận t́m cách can thiệp gỡ rối cho Dương Văn Ba khỏi đi học tập hay chồng của dân biểu Kiều Mộng Thu khỏi đi tù. Cũng chính Hồ Ngọc Nhuận đưa ra nhận xét về trường hợp dân biểu Trưởng khối xă hội Trần Văn Tuyền như sau: Hai, ba năm làm đối lập chống chính phủ Nguyễn Văn Thiệu vẫn không đủ cân bằng cho mấy chúc năm trời của ông chống Cộng. Số phận dân biểu Trần Văn Tuyên đă được Cộng sản an bài trước rồi.

 

Trong ba tập bản thảo của họ, chỉ có hai được cho phép xuất bản. Hồ Ngọc Nhuận bị lọt sổ.

 

Làm sao biết được tập bản thảo của Hồ Ngọc Nhuận bị lọt sổ ? Điều này chỉ t́nh cờ mà tôi biết thôi. Căn cứ vào lời giới thiệu của Trần Bạch Đằng khi cho xuất bản hai cuốn kia, ông Trần Bạch Đằng đă tiết lộ là ông đă được đọc cả ba bản thảo. Và v́ không được phép in, Hồ Ngọc Nhuận đành in lén dưới dang phocopie để tặng bạn bè. Tôi có được bản thảo pho tocopie này. Phần Lư Chánh Trung đă cho xuất bản cuốn Một thời bom đạn một thời ḥa b́nh. Đúng ra nó là một tuyển tập bài viết ở hai giai đoạn trước 1975 và sau 1975. Lư Quư Chung th́ được phép xuất bản cuốn : Nhật kư không tên vào lúc gần đất xa trời. Vậy mà số phận cuốn sách cũng long đong lắm. Nó bị chặt đầu, chặt đuôi đến không nhận ra nó nữa.

 

Cả hai cuốn sách đều phải đợi hơn 30 năm sau 1975 mới được có mặt. Nghĩa là phải đợi cái ngày 2005 sinh nhật 115 năm của Hồ Chí Minh để được xuất bản .

 

Đó là nỗi nhịn nhục giam cầm trong nhà tù tư tưởng của chính ḿnh v́ không được phép cầm bút. Người viết văn không được cầm bút là một thứ đi tù rồi.

 

Cả hai cuốn sách đều được nhuận sắc, gián tiếp kiểm duyệt bởi Trần Bạch Đằng núp sau lời giới thiệu của ông này..

 

Nhan đề Hồi kư không tên của Lư Quư Chung có thể là có là có dụng ư. Làm sao viết môt cuốn sách lại không có tên? Dụng ư của Lư Quư Chung phải chăng có ư nói không chỉ ḿnh tôi là tác giả, v́ tôi sẽ viết thay cho bạn bè, viết thay cho những người không được phép viết?  Những người đă một thời hoạt động chung trước và sau 75 với ông. Nói không tên mà là có thêm tất cả mọi người như Dương Văn Ba, Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức, Nguyễn Hữu Chung …

 

Nếu chỉ căn cứ vào dụng ư này thôi của tác giả th́ kể ra cuốn sách đă đạt được…một điều ǵ đó vào lúc ông  biết ḿnh chẳng c̣n sống bao lâu nữa.

 

Ông viết trong hoàn cảnh ngặt nghèo, khi sự sống đă chẳng c̣n lại bao lâu nữa. Viết trong lúc xế chiều nên như chúc thư để lại cho đời. Thâm cảm và trân trọng ông như vậy mà tôi vẫn không chia xẻ hết được với ông. Thật đáng tiếc.

 

Đáng tiếc ngay trong việc phân bố số chương. 20 năm sinh sống thời VNCH miền Nam, ông dành ra 14 chương để viết về nó. 30 năm sống dưới chế độ Cộng Sản, vẻn vẹn có 3 chương.

 

Thà là ông cứ viết, viết cho thật, viết cho đủ, dù không được in, sau này con cháu sẽ in. Tôi tự hỏi, đă có án lệnh tử h́nh của thần chết? C̣n có điều ǵ làm ông sợ hăi đến như thế?

 

V́ thế, tôi đă đổi lại là hồi kư của IM LẶNG. Có nói mà chẳng nói được ǵ? Ngay cả noi chệch, nói không đúng.  

 

Cùng lắm, cuốn hồi kư của Lư Quí Chung đạt được nửa điều trung thực, nửa điều thật thà. Nửa kia phải nín thở qua sông. Lỗi chưa hẳn phải ở tác giả. Bởi v́ nó che dấu nhiều thứ. Có những điều cần nói đă không nói ra. Bắt đầu từ chương: Sau ngày 30/4/1975. Đến ngót nghét 30 năm mà như thể không có điều ǵ để nói. Đọc mà nản.

Gọi nhật kư của im lặng cũng không oan uổng lắm.

Tôi tự hỏi ḿnh, ông viết vào cái lúc sắp sửa bước chân vào cơi bên kia. C̣n ǵ để ông vướng bận? C̣n ǵ để ông e ngại mà không trải ḷng ḿnh ra? Cái chúc thư mà ông gửi đến người đọc là chúc thư ǵ? Nội dung nhắn gửi có đủ chưa, có c̣n ǵ để nói nữa? Điều ǵ đă làm ông phải lựa chữ, lựa lời, lách chữ để có mặt? Để ít ra c̣n được lên tiếng?

Nhưng dù ǵ đi nữa, tôi cũng vẫn đọc ông với niềm trân trọng nhất là khi ông viết những ḍng trăn trối như thế này:

 

“Tôi có ư định viết lại phần đời sau 30 tháng Tư 1975 này, thành một tập hồi kư riêng. Nhưng tôi hoài nghi ḿnh sẽ không c̣n thời gian đủ để làm việc đó. Tôi vừa thoát qua cơn bệnh hiểm nghèo, không biết thời gian tạm ứng tiếp cho tôi sẽ được bao lâu. Phần một của tập Hồi Kư tôi mất một năm rưỡi để viết. Tôi đă bắt đầu ngay khi vừa phục hồi sức khỏe từ cuối tháng 12/2002. Khi viết những ḍng này, ngày 01/3/2004, tôi được tin người bạn thân và đồng hành với tôi trước 1975 trong thời gian chống Mỹ–Thiệu, cựu dân biểu Nguyễn Hữu Chung, đă mất ngày 26/2004.

 

Có thể thời gian c̣n lại quá ít để ông không có th́ giờ viết nữa?

Có người bạn trẻ trong nước gửi cho tôi một bài báo đăng trong “Phụ nữ chủ nhật’’, phát hành ngày 28/2/2006 về một bài thơ cuối cùng của Lư Quí Chung như sau:

 

“Sinh thời, nhà báo Lư Quí Chung (Chánh Trinh) ít làm thơ. Thật bất ngờ trong ngày giỗ đầu của anh 20/2/2006, gia đ́nh đă công bố bài thơ cuối cùng được anh làm trong thời gian chống chọi (đợt 2) với căn bệnh ung thư quái ác. Trong ngày giỗ, bài thơ qua giọng đọc của nhà báo Lưu Trọng Văn, đă khiến mọi ngưởi có mặt xúc động nhớ về một con người nghị lực, tài hoa, yêu đời và lịch lăm.’’

Tôi nhắn với Hắn…

Hắn đến gơ cửa pḥng tôi…
Nằm trên giường bệnh, tôi không hay biết ǵ cả
Nỗi buồn trong đôi mắt mẹ tôi mênh mông làm sao.
Nỗi âu lo của vợ con tôi chôn giấu tận trong con tim vẫn hiển hiện
Bởi mọi người biết hắn là ai

Nhưng không hiểu tại sao hắn lui gót
Bác sĩ nói với con tôi: Hăy cho ông ấy biết hắn là ai.
Để chuẩn bị đối mặt với hắn.
…Và tôi biết hắn.
Tôi mỉm cười nh́n hắn từ xa
Và nhắn với hắn
Lần sau trở lại, bạn cứ đẩy cửa bước vào.


Lư Quí Chung

 

Đọc bài thơ này, tôi chợt nhớ đến nhà văn Mai Thảo, lúc mang trọng bệnh cũng gọi con bệnh là Bạn. Có điều ǵ giống nhau giữa hai người khi sắp ĺa cơi thế?

Nhân tiện đây cũng xin trích dẫn một người bạn thân Nguyễn Hữu Chung của ông. Lối viết rất Nam Kỳ, rất Nguyễn Hữu Chung, rất trung thực trong một lá thư trước khi ông mất. Lá thư này coi như chúc thư gửi cho ông chủ bút báo Đi Tới, nhưng cũng là gửi cho mọi người, trong đó có bạn đọc để cùng nhau suy nghĩ.

 

Anh Hóa.

Bác sĩ cho “moi” 12 tháng, “moi” xài hết 6 tháng rồi. Anh kêu tôi viết, tôi cám ơn anh, nhưng tôi nghĩ ḿnh viết cái ǵ bây giờ?

Ḿnh viết về một dân tộc mà ḿnh biết có một phân nửa. Ḿnh viết về một đất nước mà ḿnh biết có phân nửa. Ḿnh viết về thế hệ tương lai, tính từ 75, đă một thế hệ sanh ra và lớn lên mà cả hai thế hệ này... nó không biết ḿnh là ai, mà ḿnh cũng không biết nó là ai.

Anh thấy không, anh kêu tôi viết về tuổi trẻ, về tương lai, về một thế hệ mà đă hơn một phần tư thế kỷ ḿnh không ở đó, cái điều đó có thể cũng không sao, nhưng quan trọng hơn, là ḿnh không dự phần, ḿnh không chia sẻ, th́ bây giờ viết cái ǵ bây giờ. Tôi đi năm 75, ở cái tuổi sung măn nhứt của đời người th́… chỉ để kiếm cơm. Bây giờ về hưu rồi, hết rồi “toa” (…) Nhưng anh cứ nói cho tôi biết, tôi phải viết cái ǵ bây giờ?

Nguyễn Hữu Chung,

Montréal, một ngày tháng Tư 2003


(Trích một lá thư gửi Đoàn Minh Hóa, chủ nhiệm, chủ bút Tạp chí Đi Tới, Montréal, Québec, Canada)

 

Trích dẫn cả hai đoạn văn trên để nhớ cả hai người đă một thời tuổi trẻ, đă có mặt, đă đi cùng một đọan đường, đă ngă rẽ hai ngả vào ngày định mệnh 1975, đă tham dự một phần vào lịch sử miền Nam vào những ngày trước 30/4/75. Sự tham dự đó sai đúng là một vấn đề lịch sử, vấn đề đất nước con người. Nhưng có một điều xin khẳng định là khi về lại thăm miền Nam thân yêu, tôi đă nhận rơ ra một điều, ngay cả đối với những người đă chết, th́ họ tất cả không trừ đều có chung một niềm tâm sự: sự chua chát và chán nản. Bằng chứng là tôi đă gặp không ít người trước đây từng đi tham gia Mặt trận. Hầu hết th́ đều nghĩ rằng: Gió đă đổi chiều. Người bạn tôi có được một căn nhà, ở một nơi mà tất cả đằng trước mặt đều là những quán cà phê bia ôm. Tôi đă chỉ mặt anh nói : Mày cắt nghĩa cho tao hiểu, điều ǵ đang xảy ra sau 31 năm ngày trở về mà chung quanh nhà mày chỉ toàn đĩ điếm. Anh cười ngặt nghẽo, cười một lúc th́ mắt đỏ hoe, dàn dụa nước mắt, gật gật cái đầu nói: Hiểu rồi, hiểu rồi.

Tôi cũng chẳng muốn hành anh ấy thêm nữa.

Những giới trẻ tạo nên thời cuộc — Dựa theo Hồi Kư Không Tên của Lư Quí Chung, sau 1963 xuất hiện một loạt những khuôn mặt chính trị non trẻ, không có một tư bề dày kinh nghiệm chính trị ǵ cả. Vốn liếng chính trị rất mỏng. Kinh nghiệm sinh hoạt nghị trường v.v... cũng không có. Kể như là những tay mơ. Nhiều người trong nhóm khuynh tả, tŕnh độ học vấn cũng không bao nhiêu. Dân biểu Ngô Công Đức chưa có tú tài, Lư Quư Chung hết trung học, Hồ Ngọc Nhuận, thiếu úy biệt phái.

Chẳng hạn như trường hợp Hồ Ngọc Nhuận, theo ông Vơ Long Triều kể lại, từ một thiếu úy biệt phái được kéo về làm quản lư chương tŕnh quận 8, trên cả chức năng của những anh em Quốc Gia hành chánh. Nhiều người họat động trong chương tŕnh phát triển quận 8 ở thời kỳ đó đă xầm x́ không phục. Rồi cứ thế mà bốc  lên làm đến Tổng Giám Đốc thanh niên. Rồi dân biểu Hạ Nghị viện.

Chẳng hiểu ông Vơ Long Triều nghĩ thế nào, nếu những điều ông Triều nói ra là thật th́ đây chỉ là một bọn thanh niên trẻ lợi dụng tiền bạc của ông, lợi dụng sự dính dáng của ông với tướng Kỳ để có một chỗ ngồi tốt.  Hầu hết những người dưới chướng của ông đều bê bối, bất tài và không đàng hoàng.

Dương Văn Ba, cờ bạc ngay từ thời sinh viên. Máu mê cờ bạc đỏ đen đă có lúc làm dân biểu đối lập, nhưng lại nhận tiền của dược sĩ Nguyễn Cao Thăng để bỏ phiếu cho phe ông Thiệu. Lớn tiếng chê trách các dân biểu gia nô đi ngoại quốc buôn lậu, nhưng bản thân các ông Dương Văn Ba, Hồ Ngọc Nhuận, Lư Quư Chung cũng rủ nhau qua Mỹ, qua Pháp chơi? Chưa kể suưt nữa bị Nguyễn Đ́nh Thi cho vào cḥng, họp báo tuyên bố có lợi cho Cộng Sản? Chưa kể sau 1975, Dương Văn Ba dính dáng vào vụ Cinesco, bị kết án tù 20 năm, nếu không có Hồ Ngọc Nhuận, Vơ Văn Kiệt th́ c̣n nằm nhà đá bao lâu nữa .

Hóa ra cái quốc Hội ấy, ngoài các dân biểu được gọi là *Gia nô* th́ cũng có loại dân biểu được gọi là *đối lập cuội*. Và c̣n lại được bao nhiêu dân biểu c̣n giữ được phẩm cách?

Về phía ông Triều, cách dùng người của ông như thế cũng thật tắc trách lắm.

Họ là giới thanh niên trẻ của cả một thời, đánh dấu một thời kỳ của họ. Họ làm nên họ.

Họ là những Ngô Công Đức, Lư Quí Chung, Nguyễn Hữu Chung, Hồ Ngọc Nhuận, Phạm Thế Trúc (sau trốn sang Nhật không dám về) Nguyễn Hữu Hiệp, Hồ Văn Minh, Hồ Ngọc Cứ, Hoàng Ngọc Biên, Dương Văn Ba, Dương Minh Kính, Nguyễn Văn Châu, Bành Ngọc Quư, Nguyễn Hữu Thái, Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Văn Binh. Dĩ nhiên, phải nh́n nhận rằng, họ có mặt là do sự hỗ trợ đằng sau của Công giáo hay Phật giáo hoặc do nhăn hiệu Nam, Bắc hay Trung. Một số ít do đảng phái và thuộc nhóm liên trường.

Thời cuộc thay đổi, t́nh h́nh chính trị thay đổi. Họ thay thế các khuôn mặt chính trị lớp cũ, nhiều khuôn mặt quá quen thuộc tỏ ra lỗi thời. Phải nhận là họ thiếu kinh nghiệm, nhưng xông xáo, dám làm, dám nói.

Họ được cái học bài rất nhanh. Thuộc bài cũng lẹ.

Cộng thêm phải nhận họ xác tín. Đúng sai là chuyện về sau này. Nhiều người trong họ, với kinh nghiệm thu tập trong nghị trường, trong mặt trận báo chí, trong các phong trào phản chiến, đứng giữa hay thành phần thứ ba. Chẳng mấy chốc, họ trưởng thành qua kinh nghiệm, trở thành những khuôn mặt chính trị đại diện giới trí thức trẻ khuynh tả của miền Nam lúc bấy giờ.

Đại diện trong đám họ, tiêu biểu có thể là mẫu người như Lư Quí Chung, Hồ Ngọc Nhuận. vừa là nhà báo như các người trẻ khác như Trương Lộc, Trần Trọng Thức, Nguyễn Vạn Hồng, Nguyễn Bá Thành. Vừa là nhà chính trị như một số dân biểu vừa nêu trên.

Họ đang chơi những ván bài x́ phé cuối cùng của cuộc đời họ mà con bài tẩy là tẩy sất. Họ lư tưởng hay liều mạng, hay cố đấm ăn xôi. Cái đó phải hỏi họ? Tôi không thể nói thay cho họ, cũng chẳng thể làm thay chỗ của họ.

Chỉ biết chắc rằng gió đă đổi chiều và sau này họ không c̣n như trước nữa. Và có một người bạn trong bọn họ đă nói với tôi rằng: cậu viết ǵ th́ viết, nhưng đừng viết ǵ để di lụy đến anh em c̣n ở lại. Tôi im lặng gật đầu.

Tôi cũng nhận được một lá thư của một người bạn khác chẳng biết là chửi hay là thương. Thư viết rằng: Bạn và tôi cách nhau nửa ṿng trái đất, lúc bạn ngủ th́ tôi thức, lúc tôi thức th́ bạn ngủ. Tôi có đất nước của tôi, bạn có đất nước của bạn. Mỗi ngày tôi phải đương đầu với những vấn đề mà bạn có thể không có, không hề biết. Tôi biết tôi phải hành xử thế nào. Nhiểu khi những điều bạn nói, thay v́ giúp chng tôi, chỉ làm phiền chúng tôi không ít.

V́ thế, mỗi điều tôi viết ra, tôi không chỉ viết cho người hải ngoại mà c̣n nghĩ tới số phận những người c̣n ở lại mà mỗi giờ, mỗi phút là một thách thức, đối đầu hay một nhẫn nhục chịu đựng?

Những điều mà ông Lư Quí Chung viết về giai đoạn ấy khá trung thực. Trung thực khi viết về chính bản thân ḿnh như học dở dang, chưa ra ông ra thằng. Vào đời vỏn vẹn có mảnh bằng tú tài, chương tŕnh Pháp. Tay nghề làm báo kể là số không. Lăn vào chính trị như một t́nh cờ, một dun rủi. Đi từ trí thức khuynh tả nhảy sang đứng giữa rồi thành phần thứ ba.

Tất cả những bước nhảy đó lệ thuộc vào nhiều yếu tố mà bài viết này không cho phép bàn kỹ được. Riêng Vơ Long Triều nhận xét: Lư Quư Chung mà tiếng đời thường gọi là « theo voi hít bă mía » Chỗ nào có lợi lộc là anh hết ḷng pḥ tá. Cho nên mới đọc sơ vài trang Hồi kư không tên của anh là tôi đă ngửi thấy mùi nịnh hót cộng sản, bóp méo sự thật ..[2]

Nhận xét như thế kể ra cũng quá đáng. Có ở trong cuộc mới hay.

Theo tôi th́ cần phân biệt như thế này về một số danh từ thường được xử dụng vào thời ấy. Trí thức khuynh tả là lúc c̣n ở b́nh diện nhận thức và lư thuyết. Thấy có những điều có thể không chấp nhận th́ lên tiếng, th́ phản đối.

Đứng giữa là lúc chao đảo lập trường, nghiêng ngửa chưa ra mặt, chưa quyết định, chưa biết nên ngả bên này, hay ngả bên kia.

Thành phần thứ ba đă là một chọn lựa dứt khoát. Đứng hẳn về một bên. Chỉ c̣n một bước nhỏ nữa là có dám dấn thân, nhập cuộc. Vào mặt trận là một chọn lựa hay giải pháp cuối cùng v́ tự cảm thấy không c̣n giải pháp nào khác. Vào mà chưa chắc đă theo hẳn. Đó là cái dở dang của người trí thức, hay cái xung đột giữa dạ dày và cái đầu, một thứ nhận thức biện chứng nửa có, nửa không. Nói theo ngôn ngữ thông tục là vừa đ.. vừa run.

Những điều ông kể, đánh giá người này, người kia, đánh giá sự việc, đánh giá một t́nh huống kể là khá trung thực. Phải nhận ông là người có tài, tạo cho ḿnh một bản lănh, một thế đứng chính trị, phản ứng ăn nhịp với xu hướng chính trị, thời cuộc. Đó là trí thức khuynh tả, thành phần thứ ba.

Chập chững vào nghề: Hứa hẹn vóc dáng một tên tuổi đầy hứa hẹn — Tôi c̣n nhớ vào những ngày trước biến cố Phật giáo 1963, một số tờ báo vẫn có thói quen ca tụng chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Tờ Sàig̣n Mới là một trong số những tờ đó. Nhưng khi ông Diệm, ông Nhu bị thảm sát xong. Diện mạo, cung cách, giọng điệu một số tờ báo đă khác. Họ đổi chiều, trở giọng nhanh như chớp đến đáng khinh. Vô số những bài phóng sự mới ra ḷ bôi nhọ chế độ ông Diệm. Không ai cấm họ làm như thế với điều kiện trước đây họ đừng có khen hay nịnh bợ. Khinh họ là ở chỗ đó. Chỉ trong một đêm. Giọng điệu đang rỉ rả ca tụng thành chửi bới, bôi nhọ. Tôi cảm thấy ngầy ngật về nhân cách của một số tờ báo thời đó. Trước đây th́ ông đạo văn sách của ông Nguyễn Đổng Chi ngoài Bắc. Nay th́ ông sáng tác bằng cách bôi nhọ.

V́ thế, tôi đọc hồi kư của Lư Quí Chung trong chương: Chập chững vào nghề báo. Với trân trọng. Tôi nghĩ rằng, ông là nhà báo trẻ và duy nhất không nói và về hùa theo đám đông. Bài báo viết về vụ ông Cẩn của ông có cách nh́n riêng, khá nhân bản và can đảm. Lư Quí Chung viết:

“Tôi vẫn nhớ thái độ ông Cẩn trước ṭa án rất ngạo mạn, ông chẳng quan tâm ǵ đến diễn tiến phiên ṭa. Chẳng chú ư tới các lời buộc tội ông. Ông mặc bộ đồ bà ba lụa mầu trắng, mắt nhắm nghiền như ngủ qua suốt các phiên xử. Nhiều lúc c̣n có cử chỉ tỏ vẻ khinh khi các tướng tá đang ngồi xử ḿnh.."

 

Và lúc bị đưa ra hành quyết, Lư Quí Chung viết: “Ông bị trói chặt vào cột hành quyết và lúc sắp sửa bị bịt mắt bằng vải đen th́ ông ta phản ứng. Ông nhất định không để bị bịt mắt, muốn được nh́n tận mắt cuộc hành quyết ḿnh. Nhưng người thi hành án giải thích với ông rằng luật lệ không được phép cho họ làm khác. Người ta vẫn bịt mắt ông và một loạt súng kết liễu mạng sống của người thứ ba và là em út trong ḍng họ Ngô từ sau cuộc đảo chính 1.11.63. Bài tường thuật của tôi nhấn mạnh hai điểm: ông Cẩn không sợ cái chết và tỏ vẻ khinh khi những người xử ông tại ṭa. »


Vào lúc đó, ngoài Lư Quí Chung, c̣n có tờ Tiếng Nói Dân Tộc, số kỷ niệm ngày 1/1/63 có ghi lại cảm tưởng như sau: Vô cùng kinh ngạc vế thái độ dửng dưng và thật trầm tĩnh của con người được mệnh danh là Út Trầu, lúc mà Cẩn biết bị bác đơn ân xá” . (Trích: Vẽ Đường Cho Hươu Chạy. Nguyễn Văn Trung ).

Khoảng gần 30 năm sau. Trong hồi kư Luật Sư: Nghề hay Nghiệp, hồi kư về vụ án ông Cẩn đăng trên tờ Thế Giới Ngày Nay ở Kansas, Hoa Kỳ, năm 1992, Luật sư Vơ văn Quan viết:

“Ông Cẩn im lặng nghe đọc bản án bác đơn xin ân xá. Quá cảm động, tôi chỉ biết nói câu an ủi tầm thường: “Thôi ông cố vấn đừng quá đau buồn. Trên cơi đời này sớm muộn ǵ rồi cũng phải ra đi.” Ông nh́n tôi điềm tĩnh nói: “Luật sư đừng có buồn cho tôi. Tôi đi theo mấy ông anh của tôi. Tôi trở về cơi Chúa. Tôi không sợ chết đâu, nhưng tôi lo cho luật sư. Luật sư đụng chạm tới họ không biết luật sư ở lại có bị họ làm khó dễ hay không..” Tôi ứa nước mắt nói không sao đâu, ông cố vấn đừng lo cho tôi. Xin cầu chúc ông cố vấn được vào nước Chúa..."

 

Ông kết luận: “Tối hôm xử bắn, tôi đă uống thuốc để cố gắng t́m giấc ngủ, vẫn trằn trọc thao thức suốt đêm v́ bao h́nh ảnh vụ án cứ dồn dập quay cuồng trong tâm trí" và ông nhận ra t́nh cảm cũa ông đối với bị cáo đă thay đổi: Lúc đầu ác cảm phẫn nộ, đến khâm phục và thương tâm.

Con đường làm chính trị thông qua cửa ngơ nhà thờ, hoặc nhà Chùa - Qua Hồi Kư Không Tên giúp chúng ta hiểu khá rơ quá khứ của những sinh hoạt chính trị sau năm 1963. Tôi c̣n nhớ đến ngạc nhiên là từ mọi nơi chốn, những người trẻ quen cũng như không quen, như một lớp sóng trào nhảy vào chính trị rất là ngang xương, rất là “blanc-bec”. Nguyễn Hữu Hiệp, dáng thư sinh học tṛ, con cháu của Molière và học tṛ của Aristote, Platon đă dùng cú đá song chảo đá văng những nhà chính trị lăo thành tăm tiếng như bác sĩ Hoàng Cơ B́nh. Châu Nguyễn ở Đà Lạt cũng vậy. Dưới tỉnh, những Bành Ngọc Quư, Lâm Phi Điểu, Dương Văn Ba đă có lá bài “Miền Nam”, hay địa phương. Nhất là nhờ phụ huynh học sinh các trường trung học tỉnh vận động cho giáo sư, thầy dạy con ḿnh. Những Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Nguyễn Văn Binh, Lư Quí Chung, Dương Minh Kính th́ đúng ra mỗi người có những lá bài “tẩy”, những lá dù che của thời kỳ đó. Lư Quư Chung, Hô Văn Minh là nhờ các thành viên anh em trong nhóm Chương tŕnh quận 8 ủng hộ. Không có những anh em này, làm sao họ đắc cử được ở quận 8? Và họ đă thắng cử dễ dàng. Nhưng cũng theo Vơ Long Triều th́ Lư Quư Chung đă không một lời cám ơn những anh em trong chương tŕnh phát triển quận 8. Anh em bất măn.

Họ muốn lọt vào sinh hoạt chính trị, không có con đường nào khác qua cổng chùa hay cổng nhà thờ. Một điều như thể bắt buộc, không làm khác được. Cha Cố, sư săi có giá. Điều đó chứng tỏ một chính quyền, một chế độ non nớt. Uy quyền Quốc Gia không có. Tôn giáo, thần quyền dính vào thế quyền, chia xẻ quyền lực rất tay ngang và không b́nh thường. Cổng chùa, cổng nhà thờ nay ra vào không phải là những phật tử hay con chiên ngoan đạo nữa. Thêm vào đó là những nhà chính trị, trẻ có, già có đi t́m một tấm giấy thông hành chính trị. Không ai có thể ra vào Hạ Viện, Thượng Viện mà thiếu một tấm giấy thông hành. Hạ Viện th́ đám người trẻ như tác giả Lư Quí Chung. Rất năng động, rất xôm tṛ, rất nổi đ́nh đám. Hoặc như các dân biểu Đinh Văn Đệ, Nguyễn Phúc Liên Bào, Phan Xuân Huy, Đinh Xuân Dũng, Kiều Mộng Thu, Trần Ngọc Châu trong vai tṛ dân biểu đối lập. Hoặc có những người ít xuất hiện công khai như Dương Văn Ṭng, Trương Lộc, Hoàng Ngọc Biên v.v... Hoặc trong bóng tối với tư cách người Cộng sản như: Trương Bá Cần (hay Trần Bá Cường), Vương Đ́nh Bích, Huỳnh Công Minh, Phan Khắc Từ. Bốn người này đều có thẻ đảng và nắm tờ Công giáo và Dân Tộc từ sau 75 cho đến hiện nay.

Thượng Viện th́ thầm lặng hơn với đám sồn sồn, trí thức sa-lông. Họ bỏ nhà thương, bỏ ṭa án, bỏ quân ngũ, bỏ trường học để ra ứng cử và xếp hàng dưới hai nhăn hiệu: Liên danh của Công giáo hay Phật giáo. Chỉ cần người đứng đầu có tên tuổi như Trần Văn Lắm, Vũ Văn Mẫu, Dương Văn Minh v.v... gắn thêm cái mác tôn giáo. Thế là xong. Ngay cả những liên danh quân đội của các tưNwww//www.danchimviet.com///www.danchimviet.com/ như Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính th́ cũng không thoát nổi cái dù che của cha cố, sư săi.

9 người c̣n lại đều có nghề nghiệp chuyên môn, có tuổi, có tên, nhưng mà chưa có tên tuổi. Họ là những nhà chính trị giả hiệu, thiếu tay nghề, thiếu kinh nghiệm nghị trường.

Cùng lắm là những nghị gật.

Và đây là lời xác nhận của ông Lư Quí Chung về điểm này: “Trong khi chuẩn bị cuộc vận động cho liên danh Dương Văn Minh với tư cách đại diện báo chí cho liên danh này, tôi đă tiếp cận với Phật giáo Ấn Quang t́m sự ủng hộ của lực lượng Phật giáo có hậu thuẫn quần chúng lớn nhất. H́nh như dân biểu đơn vị Huế là Trần Ngọc Giao cũng có giới thiệu tôi với Thượng tọa Trí Quang lúc này đang ở chùa Ấn Quang”.

Thích Trí Quang: The Buddhist Bid for Power (4/1966), với E. Wulff (tác giả Viêtnamesische Lehrejahre, 11/1967), 1990 — Nguồn: time.com, thuvienhoasen.org, giaodiem.com


Dân biểu Lư Quí Chung nhận xét tiếp: “Lần đầu tôi gặp ‘Người làm rung chuyển nước Mỹ’, báo Newsweek đă gọi Thượng tọa Trí Quang như thế. Khi đă tiếp xúc th́ con người ấy đă toát lên một thứ thần sắc khác thường. Ánh mắt như sao băng, chiếu thẳng vào người đối thoại như nh́n thấu những suy nghĩ của họ. Tôi nhớ măi ấn tượng đầu tiên ấy khi lần đầu gặp nhà tu hành nổi danh.”

Khi ra Huế, dân biểu Lư Quí Chung đưa ra một nhận xét khá đặc biệt khi gặp Đức Tăng Thống: “Trong chùa Bảo Quốc chỉ treo một bức ảnh chân dung duy nhất trên tường. Đó là chân dung Thượng tọa Trí Quang. Như thế đủ thấy ảnh hưởng của thầy Trí Quang với người lănh đạo tinh thần cao nhất Giáo Hội Phật Giáo là như thế nào.”Hồi kư của Lư Quí Chung khá lư thú kể về người, về việc, về từng biến cố với tư cách người trong cuộc. Nhất là nêu bật được cái hay, cái dở, cái yếu của cái cơ chế của sinh hoạt chính trị thời đó.

Tôi cũng nhận ra rằng, trong cuốn Hồi Kư Không Tên, phần viết về những năm hoạt động báo chí và làm dân biểu, Lư Quí Chung viết rất thong dong, thoải mái, rạch ṛi từng sự việc, từng người, phê phán thẳng thắn theo cái kiểu “Có sao nói dzậy”. Từng nhà báo, từng tờ báo, từng nhân vật như ông Thiệu, ông Kỳ. Nêu bật được cá tính, cái hay lẫn cái dở của họ. Về những hoạt động chính trị của ông với tư cách một dân biểu đối lập, về các đồng sự, về các cuộc chống đối biểu t́nh được nh́n từ bên trong với tư cách người trong cuộc.

Chỉ có một vài điều, nếu đúng như lời phát hiện của Vơ Long Triều th́ thật ông cũng đáng trách lắm. Trong kỳ bầu cử tổng thống và dân biểu Hạ viện, ông có tuyên bố là nếu TT Thiệu đắc cử, ông sẽ xin từ chức. Sau đó, ông đă không từ chức, chỉ không đi họp Quốc Hội, nhưng lương ông vẫn lănh và c̣n vay trước lương tháng của ông tại Hạ viện? Lương hơn trăm ngàn, ngày ngày không biết làm ǵ, ông đến cercle Tây ăn uống, gặp gỡ người này người kia.

Hồi chưa làm dân biểu, ông sống lêu bêu, lúc thúc tại kinh Nhiêu Lộc, dành cho những gia đ́nh nghèo túng ở Đô Thành.

Ông không ngại nói hết, kể hết cho thấy vai tṛ của ông trong các biến động ấy. Đấy là những trang hồi kư sống động, một thứ sản phẩm c̣n nguyên vẹn được bóc trần ra, ít lắm cũng có thêm những chi tiết mà phải là người trong cuộc mới biết được. Chẳng hạn như cái chương 25, Thời khắc Lịch sử: Đầu hàng. ông đă tận dụng ng̣i bút để nhấn mạnh vai tṛ nhân chứng của ḿnh, từng chi tiết nhỏ một. Dù là nhân chứng một vụ việc rất là nhỏ, chẳng đáng nói.

Chẳng hạn chi tiết hướng dẫn một người lên sân thượng để treo lá cờ MTGPMN, thay lá cờ Quốc gia.

Chi tiết lá cờ MTGPMN, nửa xanh nửa đỏ treo lên ở Dinh Độc Lập khá là quan trọng và mang nhiều ư nghĩa lắm. Ở những ngày sau 30/4. Sài G̣n rợp bóng cờ mầu xanh. Phố phường, nhà nhà mầu xanh, mầu đỏ, xe cộ chạy rần rật trên đường phố phất phới mầu xanh. Trẻ con cầm lá cờ đi phất phới khắp nơi. Cũng mầu xanh và đỏ. Cũng lá cờ của Mặt trận giải phóng miền Nam. Vậy mà, chẳng bao lâu sau, trong vài tuần lễ, không kèn không trống biến mất... Phải nói lại, miền Nam có hai lần giải phóng cờ: 30/4, giải phóng cờ Quốc Gia, cờ mầu vàng ba sọc đỏ. Sau một tháng, giải phóng cờ một lần nữa. Lá cờ mầu xanh đỏ thay thế bằng lá cờ đỏ sao vàng. Cùng với sự biến mất lá cờ mầu xanh cũng dần biến mất những nhân vật đă từng nhân danh chiến đấu dưới nhăn hiệu lá cờ xanh, đỏ đó.

Tôi cũng nhận ra một điều là trí thức miền Nam như những Lư Quí Chung chủ trương chống Mỹ và chống Thiệu. Chống Thiệu th́ rơ ràng rồi, không có ǵ để phải nói. Chống Mỹ th́ có hai mặt: Chống đường lối, chính sách của Mỹ chung chung. Nhưng mặt khác lại giao du khá thân mật với các kư giả, nhà chính trị Mỹ. Và coi những người này như những người bạn tâm giao, nếu không nói là hănh diện về những mối liên lạc này. Đó chẳng qua cũng là những xung dộ giữa dạ dày và cái đầu trong cùng một con người. Trong suốt hồi kư, tác giả đă không quên nhắc đến người này, người kia trong sự trân trọng và quư mến. Họ như thể nằm trong cái vốn chính trị của tác giả như một thành quả trong những năm hoạt động chính trị của ḿnh. Chống Mỹ mà vẫn yêu Mỹ, không tin Mỹ, mà vẫn chơi với họ. Chống hời hợt. Không có chỗ nào cho thấy trực diện chống Mỹ, nếu không nói là để cho Mỹ giật giây.

Nó có một cái ǵ đấy cho thấy việc chống Mỹ chưa đủ căn cơ, mức độ. Nhiều lúc tự hỏi, ông đă viết được một bài báo hay một cái ǵ đó tương tự trong đường lối chống Mỹ? Chống cái ǵ? Chống chung chung? Từ đó dẫn đưa đến những ngờ vực.

Ông để ra hai chương nói về: Những ngày cuối cùng của Tổng thống Thiệu và cuộc “trốn chạy” của Nguyễn Văn Thiệu. Có những điều thật sự nó không phải là hồi kư của chính ông kể lại hoặc do nghe được, chứng kiến. Có nhiều đọan, ông trích dẫn lại hồi kư của Nguyễn Cao Kỳ hoặc trích dẫn Christian G. Appy trong The Viet Nam war remembered from all sides hay của Frank Snepp trong Decent Interval (sách đă được dịch ra tiếng Việt), hay của Henry Kissinger trong Ending The Vietnam War, hoặc của Tiziano Terzani trong Saigon 1975, Three days and Three months.

Những trích dẫn những tác giả ngoại quốc nhiều như thế làm nḥa vai tṛ nhân chứng của ông.

Nhưng nói chung, nếu nh́n toàn diện những chương viết về giai đoạn trước 30/4, cuốn hồi kư của tác giả ít lắm nêu bật được những điểm quan trọng sau đây:


• Vai tṛ của trí thức trẻ miền Nam Việt Nam
• Bộ mặt thật của sinh hoạt chính trị miền Nam dưới thời đệ nhị Cộng Hoà.
• Vai tṛ chủ động không chối căi được của người Mỹ trong những yếu tố quyết định số phận miền Nam.
• Tính cách con rối của toàn bộ sinh hoạt chính trị ấy.

 

Trước khi chấm dứt phần nửa  cuốn hồi kư này, tôi tự hỏi xem trong số những trí thức thiên tả, hầu hết là cánh liên trường , đối lập thời đó, ai theo Cộng Sản, ai không?

 

Vơ Long Triều, Nguyễn Hữu Chung là những người quốc gia

Lư Chánh Trung, theo như lời ông kể với tôi, ông có liên hệ với MTGPMN.

Chân Tín, Nguyễng Ngọc Lan. Có cảm t́nh , xu hướng về phía MTGPMN

Dương Văn Ba, Ngô Công Đức, Lư Quư Chung. Đón gió và có thể trở cờ.

 

***

Một Nửa Buồn

Nửa phần bài viết này sẽ được tŕnh bày về chương: Sau ngày 30/4 và chương phụ lục.

Về chương phụ lục, thật ra phải cám ơn Talawas về cái chương phụ lục này. Và đối với tôi, đây là chương quan trọng nhất của cuốn hồi kư. Tôi dành phần c̣n lại của bài để nói về chương này và để thấy rằng có nhiều điều Lư Quí Chung đă không dám nói thật, nói hết, nói đủ.

Cuộc đời làm báo, làm chính trị của tác giả chia ra hai giai đoạn. Dứt khoát và rơ rệt. Giai đoạn 13 năm trước 30 tháng 4 mới đúng là con người Lư Quí Chung. Một thanh niên hăng say, dám nói, dám làm, dấn thân, nhập cuộc. Không ai chối cải điều đó. Và gần 30 năm sau ngày 30 tháng 4, tác giả dù cố gắng cũng không viết nổi, vỏn vẹn chưa tới 20 chục trang. Với lời thú nhận: Thận trọng lúc này là cần thiết. Đó không phải là Lư Quí Chung. Đó là ai khác. Đúng như tác giả viết: “Nói cách nào đó, tôi có hai cuộc đời. Trước và sau năm 1975. Chỉ không quyện vào nhau như tác giả nghĩ.

 

Nhận xét của Trần Bạch Đằng không kém phần lư thú: Bảo rằng những người như Lư Quư Chung phơi phới sống với chế độ là chuyện không thể có, tức không thể đ̣i hỏi. Nói như thế là họ biết tẩy của nhau cả.

 

Trước hết, hăy nói về những ǵ Lư Quí Chung viết về giai đoạn sau ngày 30/4. Nói chung, đó là những lời lẽ khá nhún nhường, quá bài bản đến không thật như:

“Thật là măn nguyện khi được tham gia Hội nghị Hiệp thương Thống nhất... sự kiện đó có một ư nghĩ lớn... có mặt trong một hội nghị như thế là một sự thỏa măn tinh thần cực kỳ lớn... tôi vô cùng thỏa nguyện được sống trọn vẹn với nghề này... và tôi không thể tưởng tượng được ở đó tôi c̣n cơ hội gặp lại lần lượt tất cả những nhân vật huyền thoại mà tôi cứ ngỡ rằng đă thuộc về lịch văn học xa xôi, chỉ tồn tại trong sách vở như Văn Cao, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận... Cái nghèo, cái cực khổ của Hà Nội mà tôi chạm mặt lần đầu không hề gây sự thất vọng cho tôi, mà trái lại là sự cảm phục. Những ngày làm báo từ Tin Sáng 75-80 sang Tuổi Trẻ 80-90, tôi vẫn không một ngày nào thiếu hăng hái hay mất niềm tin... đồng lương th́ chỉ đủ ăn sáng, nhưng cống hiến th́ vẫn hết ḿnh. Vợ con tôi chịu đựng cũng rất giỏi, nhưng bán măi rồi cũng không c̣n ǵ để bán nữa.. ngay chỉ c̣n cái đàn piano, niềm vui sau cùng của các con tôi cũng không thể giữ nổi... để lo cuộc sống hằng ngày, chúng tôi đành phải bán nó đi. Tại ṭa báo vào thời điểm đó, tôi tuyên truyền cho các cuộc cải tạo tư sản mại bản, công thương nghiệp tư sản, tư doanh…

Vậy mà chính nhà ba của ông bị đóng chốt để cuối cùng ông cụ bị lên huyết áp và đột qụy, cụ gặp đứa con đă giận dữ nói:

“Tao không muốn gặp mày nữa. Gia đ́nh mày đă ra thế này, cha mày đă ra thế này, mà mày c̣n viết báo cho Cộng sản. Cha mày từ mày”. C̣n các em trai của tôi th́ không tin vào người anh trai của ḿnh nữa. Chỉ làm thinh để chuẩn bị vượt biên. Như vậy, cùng một lúc, tôi” mất” bảy đứa em.

Không phải là một đảng viên Cộng sản nhưng tôi tin vào những lư tưởng xă hội tốt đẹp cho bất cứ xă hội nào muốn tiến lên công bằng xă hội và nhân bản hơn. Tôi vẫn giữ niềm tin đó ngay cả sau khi chế độ Cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu bị xụp đổ… Nh́n đất nước nối liền từ Nam chí Bắc hiện nay, đến bây giờ, tôi vẫn tưởng nằm mơ... Hà Nội bây giờ như một thiếu nữ đẹp, duyên dáng và tràn đầy sức sống. Và Sài G̣n mạnh mẽ hơn nhiều và tự tin hơn nhiều trong cuộc hành tŕnh mới, bởi sự tồn tại của thành phố này không c̣n nhờ vào sự “tiếp máu” của người khác.


Đây có phải một bài báo không? Hay là một văn tế?

Đọc những ḍng chữ trên của ông, tôi cũng tưởng ḿnh đang nằm mơ tự hỏi có phải đó là Lư Quí Chung hay không? Dù sao, cũng rất may, ở vào thời điểm đó, các trí thức miền Nam gặp được một người như ông Vơ Văn Kiệt. Ông là cái dù che chắn cho trí thức miền Nam khỏi phải bị dập vùi thê thảm. Không có ông, số phận nhiều trí thức trẻ miền Nam đă không được như ngày nay. Họ sẽ phải đi học tập, tệ nữa bị kiểm soát, canh chừng hoặc tù đầy, bắt cóc, hành hạ, tra hỏi, trục xuất khỏi nhà..

V́ thế, không thể không nhắc tới tấm ḷng ưu ái của ông Vơ Văn Kiệt đối với trí thức miền Nam.

Về tờ Tin Sáng

Đây là một niềm hănh diện của ông và một số bạn bè của ông. “Le Tin Sáng est le seul journal non communisme dans une société communiste (1). (Tờ Tin Sáng là tờ báo duy nhất không Cộng sản trong một xă hôi Cộng sản). Từ đó ông hết lời tán dương: “Comme la plupart de mes amis ici, J'ai vécu l'experience des deux régimes de presse. Tu connais le mot de Đuc, notre directeur: auparavent, nous étions des bucherons, aujourd'hui, des menuisiers. Le comportement est radicalement différent. C'est dans la construction que nous nous sommes lancés. Aujourd'hui, je me sens beaucoup plus utile pour la société Vietnamienne, pour mon peuple, plus lié à la vie de la nation, plus responsable, oui, c'est le mot.

Câu nói trên cho thấy ông phủ nhận toàn bộ gia tài làm báo, làm chính trị dưới thời Đệ nhất Cộng hoà của chính ông. Ông c̣n cho rằng trước đây cùng lắm ông làm thợ bửa củi. Đi biểu t́nh, tranh đấu trước diễn đàn Quốc hội, họp báo, tiếp xúc, diễn thuyết, phân phát truyền đơn, chống luật báo chí, chống tham nhũng, chống đối bầu cử độc diễn, chống độc tài, chống dân biểu gia nô, nghị gật, chống Nguyễn Văn Thiệu, chống Mỹ, nằm trong lực lượng thứ ba đ̣i hỏi chấm dứt chiến tranh. Tất cả công việc vừa nêu trên chỉ là đáng được coi là công việc bửa củi thôi sao? Bẽ bàng thế? Có thể phủ nhận chính ḿnh, tự hạ thành con giun, con dế? Ai dă đẩy ông vào tư thế phải nói như vậy? Bây giờ làm thợ nề, thợ nề để tán tụng, để cúi đầu, để vâng phục. Thử hỏi ông đă làm được ǵ trong suốt 30 năm làm thợ nề? Kể là đau xót. Ai đó đă bắt ông phải hạ ḿnh nói như thế ?

Viết như thế, tôi không hề có ư chê trách ông, v́ một lẽ dễ hiểu, ông đang sống trong một xă hội toàn trị, với khủng bố và đe dọa tinh thần. Đúng như ông vẫn nói: Cái ung thư bướu là người của chế độ cũ luôn luôn vẫn c̣n đó, ám ảnh và gây phiền hà cho ông. Chả lúc nào, ông được yên.

Cho đến năm, 1980, lúc mà tờ báo sắp đóng cửa theo 3 cái nguyên tắc đề ra ở thời kỳ đó: một, để cho làm, phạm sai lầm th́ đóng cửa. Hai, dùng cho đến khi nào thấy không cần thiết th́ vứt kiểu vắt chanh bỏ vỏ. Ba, tạo một tương quan tin tưởng tốt vào nhau.

Rơ ràng việc đóng cửa là dựa vào nguyên tắc thứ hai. Đă không có quư ông nào dám lên tiếng. Trong khi đó, tôi đọc được như sau: “Cinq années se sont passés. Le Tin Sáng de Ngô Công Đức et de ses amis parait toujours. Le test est il positif?” (Trích dẫn như trên) Hỏi là trả lời. Cái test cho thấy một thất bại ê chề của trí thức cũ làm việc dưới chế độ mới.

Chả lẽ nói bị lừa, bị bội phản.

Dù sao, 5 năm cũng là thời gian khá dài so với tờ Đứng Dậy của Nguyễn Ngọc Lan. Số phận nó chỉ thoi thóp chưa tới một năm. Sau 5 năm. Tất cả trí thức cũ chỉ c̣n là những quả chanh chắt đă vắt vỏ.

Quả chanh Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Huỳnh Tấn Mẫm (sau Huỳnh Tấn Mẫm bị quản chế cùng với những người như Nguyễn Hộ, Tạ Bá Ṭng, v́ cái tội dă tiếp xúc với báo chí ngoại quốc, hay phê b́nh và đ̣i hỏi cải tổ nhanh guồng máy kinh tế và chính trị. Những vụ quản chế này không được loan báo công khai và nơi quản chế cũng vậy). Quả cóc Nguyễn Hữu Thái. Quả bưởi Nguyễn Ngọc Loan, Chân Tín. Quả đu đủ Lư Chánh Trung. Quả dừa Huỳnh Công Minh, Trương Đ́nh Hoè, Phan Khắc Từ. Quả ổi Dương Văn Ba.

Các ông chẳng c̣n ǵ để vắt nữa.

Rồi cuối cùng phải nh́n nhận như Ngô Công Đức thôi: “Nous avons surmontés les difficultés, mais non sang certains dégats. Quelque-uns, parmi nous, sont partis à mi chemin, d'autres ont vacillé”. Về con người của Ngô Công Đức th́ Vơ Long Triều đánh giá là một người quá khích và xảo quyệt. Ông Triều đă bỏ vốn hùn một nửa tờ Tin Sáng của Ngô Công Đức là 1.500.000 Tờ báo bán chạy và có lời, nhưng sau này ông Triều cho biết mất cả vốn lẫn lời vào tay Ngô Công Đức.  Sau 1975, Ngô Công Đức làm tờ Tin Sáng được 5 năm, sau đó buôn bán sơn mài. Nghe nói ông giầu lắm. Và đây cũng là yếu tố góp thành sự đóng cửa tờ Tin Sáng, v́ có nhiều người trong đám trí thức thành phần thứ ba thất vọng, chao đảo hay bỏ ra đi.

Nhưng v́ lư do ǵ nó phải ngừng bản và chuyển một số bộ phận sang tờ Tuổi Trẻ. Ông đă cố dấu kín. Ông đă viết một cách úp mở như sau: “Với các anh em trong Tin Sáng cũng có nhiều quan điểm, thái độ khác nhau đối với hướng đi và cách quản lư tờ báo”. Ông buộc ḷng không dám nói thẳng ra là có sự bất đồng quan điểm về hướng đi tờ báo kể từ khi có biến cố Đông Âu cũng như sự xụp đổ bức tường Bá Linh.

Về lá thư Lettre aux amis d'occident.

Trong lá thư này, có hai điểm gửi cho giới trí thức Âu châu mà tôi không đồng ư: Đó là việc học tập cải tạo và vấn đề thuyền nhân.

Về các trai học tập: Trong lá thư mà không biết ai là người thảo lá thư đó, một số trí thức miền Nam đă phủ nhận đó không phải là nhà tù, không phải trại tập trung th́ nó là ǵ? Là trung tâm cải tạo? Người đi tù cải tạo không phải người tù chính trị, cũng không phải kẻ bị khổ sai (Forcats). Đó chỉ là những lư lẽ tiểu xảo chơi chữ, trốn tránh và biện hộ cho chế độ. Các ông đă che đậy cho những chính sách của Hà Nội. Thực tế họ là những người tù khổ sai, không có ngày về. Nhiều người đă chết v́ bệnh tật, đói ăn ở đó? Các ông biết rất rơ. Vậy mà vẫn phải nhắm mắt bênh vực chế độ.

Về người di tản: Cũng lá thư đó đă đổ lỗi cho chế độ cũ, đổ cho sự tuyên truyền của Mỹ, đổ cho chính sách người Hoa của Trung Quốc. “En fin, comme il a été dit plus haut, ce sont les dirigeants de Pékin qui ont provoqué l'exode massif des résidents Chinois pour pouvoir nous accuser ensuite de 'terroriser et de chasser les Hoa', justifie ainsi leur polique inamicale (cessation de L!aide économique) puis ouvertement agressive à l'égard du Viet Nam”. (sách trích dẫn ở trên)

Đây là một biện hộ không chấp nhận được.

Tất cả những người Việt Nam vượt biển (chánh thức và bán chánh thức) th́ đều biết rơ là phải đóng tiền cho chính quyền địa phương để được phép rời Việt Nam.

Một số tên tuổi trí thức miền Nam đă kư trong danh sách này. Thật khá thất vọng.

Nhưng nói cho cùng th́ những trí thức miền Nam ở lại, theo chế độ mới làm ǵ được? Kết án họ ư? Kết án th́ cũng dễ, nhất là ngồi ở ngoại quốc mà chửi vọng về. Phải là người trong cuộc, phải sống dưới chế đó toàn trị đó. Nào ai có thể nói hay được.

Nhà văn Nguyễn Tuân, nổi tiếng ngang bướng cao ngạo, sau mấy chục năm sống nín thở qua sông, vào đến miền Nam đă phát ra một câu nói để đời. Phải nhịn mấy chục năm nay mới dám nói: “Tao c̣n sống đến ngày nay là nhờ biết SỢ.” Nói xong chiêu một ngụm rượu, ngửa mặt, vuốt râu, nh́n lên trời cười ha hả.

Phải chăng các trí thức miền Nam cũng đă học qua bài học triết lư biết sợ đó?

Nghĩ như thế mà thương cho họ, thương cho ḿnh, thương cho dân tộc ḿnh. Và hiểu cho Nguyễn Tuân, hiểu cho trí thức miền Nam. Phải biết sợ, mới sống được.

C̣n lại phần bài viết sau đây sẽ được tŕnh bày về Chương Phụ Lục. Và đối với tôi, đây là chương quan trọng nhất.

Tôi dành phần c̣n lại để chỉ nói về chương này và để thấy rằng có nhiều điều Lư Quí Chung đă không nói thật, nói hết, nói đủ chỉ v́ nó.

— Về 13 trang phụ luc

Đây là 13 trang bị cắt ra khỏi bản thảo. Chẳng khác khối ung thư của Lư Quí Chung được Đảng Cộng sản cắt dùm. Nó nói lên nhiều điều lắm. Ta muốn biết sự thật th́ phải t́m đọc từng ḍng của những điều bị cắt bỏ, những điều non-dits. Chỉ cần đọc13 trang này, ta mới hiểu thấu được chế độ và thương xót cho những người như Lư Quí Chung.

Trước hết, về phần lời giới thiệu của nhà xuất đă bị sửa, bị cắt kể như toàn bộ. Trong đó có đoạn sau đây khá ư nghĩa đă bị cắt:

 

“Ngày toàn thắng của năm 1975, với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử: thần tốc-táo bạo-bất ngờ-chắc thắng, qua 55 ngày đêm chiến đấu (từ 9/3 đến 30/4/1975), quân và dân ta đă tiêu diệt và làm tan ră hoàn toàn quân đội ngụy, đập tan bộ máy chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ… Là hồi kư cá nhân, không phải một biên niên sử, tất nhiên, nên không tránh khỏi cách nh́n, cách phân tích chủ quan…

 

Trong phần mở đầu cuốn sách, cho thấy họ vẫn huyênh hoang đến nhàm chán, không biết ngượng. Vẫn giọng điệu mạ lỵ miền Nam Việt Nam. Rồi cũng bài bản chê nhẹ tác giả không khỏi cách nh́n chủ quan. Cũng v́ phần giới thiệu quá huyênh hoang trống rỗng, họ đă viết lại cho chừng mực hơn.

Bản lời giới thiệu mới bớt huyênh hoang, nhưng vẫn cái bệnh phải dạy đời một tư: “Hồi kư là một góc nh́n…, đánh giá mang tính chủ quan cũng là điều có thế chấp nhận. Xét cho cùng cũng là việc mà người đọc nên “rộng răi” khi đọc.

Phần lời giới thiệu của Trần Bạch Đằng bị cắt bỏ v́ nói sai: Cách mạng Việt Nam đa dạng. Góp phần vào bức tranh đa dạng ấy những đường nét riêng. Làm ǵ có đa dạng được, chỉ có một đường lối cách mạng thôi, v́ thế, cũng cắt kiểm duyệt phần nói về các hồi kư của Dương Văn Ba, Hồ Ngọc Nhuận.

— Chương 14 đă bị cắt khá nhiều, khá dài về việc trích dẫn hồi kư của Hồ Ngọc Nhuận và bà Ngô Bá Thành. Vấn đề t́m hiểu xem các nhân vật đó có c̣n có trong mắt đảng hay không?

— Chương 17. Ông Lư Quí Chung nhắc tới thành phần thứ ba, hay lực lượng thứ ba. Thế là phạm giới, phạm quy rồi. Đối với nhà nước Cộng sản, chỉ có lực lượng của phong trào đô thị là lực lượng ṇng cốt trong sự sụp đổ của nền Đệ nhị Cộng ḥa. Cựu Thủ tướng Vơ Văn Kiệt cũng mắc phải sai lầm này khi đề cao và đánh giá lực lượng thứ ba trong vai tṛ dứt điểm miền Nam. Ông Nguyễn Khoa Điềm đă kiểm duyệt và cắt bỏ những lời tuyên bố của cựu Thủ tướng Vơ Văn Kiệt đề cao vai tṛ của thành phần thứ ba là đặt lại vai tṛ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trong công cuộc chấm dứt chiến tranh ngày 30/4.

— Chương 19. Sang đến chương 19, Ông Lư Quí Chung lại vướng mắc vào cái bướu ung thư thành phần thứ ba, mà đảng muốn cắt bỏ. Khi ông viết: Từ 1973, đâu đâu cũng thấy những cá nhân tự xưng ḿnh là thành phần thứ ba. Với Hiệp định Paris, t́nh h́nh miền Nam mở ra nhiều khả năng khác nhau. Khi ấy, tôi nghĩ, lạc quan nhất lúc này là giải pháp một chính phủ ḥa giải, hoà hợp gồm ba thành phần. Nhưng không ai mường tượng cái chính phủ vận hành thế nào... c̣n thành phần thứ ba th́ không biết sẽ lựa chọn như thế nào”.

Ông vẫn c̣n ngây thơ quá, chưa nắm được ư đồ của đảng muốn ǵ. Thành phần thứ ba là một quả chanh đă vắt vỏ, đă vắt kiệt. Riêng các ông trong tờ Tin Sáng th́ được vắt thêm 5 năm nữa. Đă quá đủ, quá nhiều. Đóng cửa tờ Tin Sáng là phải. Đă đến giờ rồi.

— Chương: Phần sau ngày 30/4/1975.

Cái hớ hênh của một Lư Quí Chung sau 30 năm sống dưới chế độ mới vẫn chưa đủ. Thận trọng, gạn lọc, ngó trước ḍm sau mới viết mà vẫn có kẽ hở. Ông vẫn muốn nhắc đến ngày Đại hội Hiệp thương Thống nhất. Đây cũng là điều đảng không muốn nói tới nữa. Có hội nghị hay không th́ Việt Nam cũng đă thống nhất rồi. Muốn thống nhất th́ phải xoá tan những chiêu bài trước đó đă đặt ra như Mặt trận Giải Phóng Miền Nam v.v... Thật là không có ǵ là khó hiểu.

Đảng cũng kiểm duyệt những t́nh cảm sau giải phóng trong gia đ́nh ông như: “Những chuyện trong gia đ́nh tôi đă biến cha tôi từ một người hồ hởi đón nhận chào cách mạng, biến thành một người ác cảm với Cộng sản.”

Một đoạn văn như thế th́ cắt là phải rồi. C̣n kêu ca nỗi ǵ nữa.

— Phần gia đ́nh thân yêu.

Trong phần này lẽ ra không cần đọc, v́ có ǵ đụng chạm đến chính trị. Nhưng dù thế, nó cũng bị cắt đi ngót nghét một trang. Trong đó có một câu vài chữ không đáng ǵ. Nhưng nếu suy ra th́ viết một cuốn sách cũng không đủ. Các em tôi đều thành đạt tại Mỹ Canada...” Thế là cả đoạn văn sau đành cắt hết, đục bỏ hết chỉ v́ cái chữ thành đạt. Nói thành đạt là nói ngược lại Nhà nước Việt Nam thất bại. Cẩn thận lắm mới được. Viết thật cẩn thận.

Ng̣i bút của Lư Quư Chung có lệch cũng chỉ v́ 13 trang cắt bỏ này. Điều mà Lư Quư Chung không dám nói, điều mà Lư Quư Chung bị cắt trong 13 trang một cách không ngờ trở thành lời tố cáo chế độ ngoài cả ư muốn của người viết cuốn hồi kư. Không ngờ đến cuối đời, cuốn Hồi Kư không tên trở thành một chúc thư gửi lại cho đời mà tôi xin được phép đổi lại tên cuốn Hồi kư không tên: Nhật Kư Của Im Lặng, v́ im lặng cũng là một cách nói.
 


[1] Trích theo Hồi kư của Vơ Long Triều : » Tôi c̣n nhớ cóa lần Lư Quư Chung thố lộ với tôi rằng : Thằng Hồ Ngọc Nhuận được cộng sản móc nối, nó sẽ là cây dù che cho anh em sau này. Có lẽ v́ Hồ Ngọc Nhuận thú nhận với anh ta theo đề nghị  của Trầnn Bạch Đằng nên Chung mới biết được cái tẩy của Nhuận là có móc nối với tên cộng sản cao cấp này » 

 

 

[2] Trích Vơ Long Triều: sự thật anh ta chưa bao giờ thấy được pḥng họp của nội các chiến tranh ra sao mà dám khẳng định rằng « Trung tá Nguyễn Ngọc Loan  tự coi ḿnh là nhân vật thứ hai trong chính quyền của Kỳ. Các phiên họp nội các có sự hiện diện của Trung Tá Loan với khẩu súng ru lô mang kè kè bên hông. Sự bịa đặt khôi hài như vậy mà Lư Quư Chung dám viết ( Hồi kư Lư Quư Chung, trang 96)