Chuyến vượt biên
của gia đ́nh nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn
Nguyễn Ngọc Ngạn tự thuật
Đời
người, ai cũng có những kỷ niệm, đau thương hay hạnh phúc.
Kỷ niệm đôi khi chỉ thoáng qua, mờ nhạt như áng mây bay
ngang bầu trời, để lại chút h́nh ảnh bâng khuâng. Nhưng cũng
có khi hết sức sâu đậm, đến nỗi có thể coi là một biến cố,
khả dĩ tạo thành khúc rẽ quan trọng cho cuộc đời. Đó là
trường hợp của tôi với câu chuyện xảy ra hơn 20 năm về trước
mà giờ này ngồi ghi lại, tôi vẫn thấy hiển hiện như mới hôm
qua.
Ngày ấy, miền Nam vừa đổi chủ được 3 năm, t́nh h́nh chính
trị c̣n cực kỳ khắt khe. Đă thế, chính sách áp dụng lại
không đồng nhất, mỗi phường mỗi tổ là một lănh chúa, phát
huy sáng kiến mà bức chế nhân dân. Tôi ở trại cải tạo, cầm
tờ giấy tha vào giữa năm 78, về tŕnh diện Sở Giáo Dục Thành
Phố cho đúng thủ tục, dù biết trước sẽ không được thu nhận
trở lại nghề cũ.
Không có nghề nghiệp biên chế, tôi chỉ được tạm trú 3 tháng
tại Sài G̣n để thu xếp đi vùng kinh tế mới. Thời gian này,
miền Nam đang lên cơn sốt về phong trào vượt biên t́m tự do.
Những người ở vào hoàn cảnh của tôi, bị công an khu vực theo
dơi và hăm dọa thường xuyên th́ lại càng nôn nóng kiếm đường
bỏ trốn. Những người bạn tù chúng tôi ngày ngày đôn đáo gặp
nhau, đề tài chính đem ra bàn bạc chỉ xoay quanh một chuyện
duy nhất là vượt biên.
Thời gian trôi qúa nhanh, trong nháy mắt đă hết hạn tạm trú,
tôi trở thành kẻ sống lậu không hộ khẩu tại thành phố. Giữa
lúc lao đao tuyệt vọng, không biết ngày nào bất ngờ bị bắt
lại, th́ một hôm em trai tôi giới thiệu cho tôi một đầu cầu
qúy giá: đó là ông Ân, một người đàn ông trí thức, tuổi vừa
50, tính t́nh hiền hoà và đứng đắn. Ông là nhân viên lâu đời
của cơ quan viện trợ Hoa Kỳ trước 75, đồng thời góp phần
chuyển âm Anh-Pháp cho hăng phim Cosunam ở Sài G̣n. V́ làm
ăn chung với em tôi từ sau 75, nên ông có ḷng tốt rủ em tôi
cùng đi với ông trong chuyến vượt biển bán chính thức vốn
dành riêng cho người Hoa đang rầm rộ đăng kư lúc đọ Thông
cảm hoàn cảnh bấp bênh của tôi,em tôi giới thiệu tôi với ông,
để xem ông có giúp ǵ được tôi chăng?
Đi bán chính thức lúc ấy đắt tiền lắm, v́ đang là những đợt
đầu. Có người nộp tới 12 hoặc 14 cây vàng, v́ phải qua nhiều
trung gian. C̣n gía trung b́nh th́ ít ra cũng phải 10 lượng
một người. Tôi mới ở tù ra, làm ǵ có số tiền khổng lồ ấy!
Bà xă tôi bận con nhỏ -- khi tôi đi tù th́ cháu mới hơn 1
tuổi -- cho nên chỉ buôn bán vớ vẩn, đủ nuôi con và tiếp tế
cho chồng là giỏi lắm rồi. Số vốn ít ỏi của vợ tôi lại cứ
vơi dần sau mấy chuyến đi chui bất thành. Con đường bán
chính thức mua vé bằng cả chục lượng vàng, là điều vượt qúa
sự kỳ vọng của tôi, trừ khi có một phép lạ! Vậy mà phép lạ
dường như đang xảy đến!
Hôm ấy, một buổi tối khoảng đầu tháng 11, gia đ́nh em tôi
đưa tôi lại quán ḅ bảy món Duyên Mai bên Chi Lăng, để gặp
ông Ân lần đầu tiên. Tôi lúc này đang trốn chui trốn nhủi v́
đă hết hạn nộp hộ khẩu từ lâu, phải xoay đủ mọi thứ giấy tờ
lao động để qua mặt công an khu vực, nấn ná lưu lại thành
phố được ngày nào hay ngày nấy. Khu vực Công giáo tôi cư ngụ
lại hay xảy ra những vụ bắt bớ bí mật, v́ những tin đồn về
các tổ chức Phục Quốc -- cả thật lẫn giả -- làm liên lụy đến
khá nhiều người vô can. Trước năm 75, tôi có dạy một ít giờ
tại 2 trường tư thục Công giáo là trung học Quang Minh ở nhà
thờ Vinh Sơn đường Trần Quốc Toản, và trung học Saint Thomas
trên đường Trương Minh Giảng. Nhà thờ Vinh Sơn là nơi phát
khởi vụ nổi dậy chống chính quyền đầu tiên, sau 30 tháng 4
năm 75, và linh mục Nguyễn Quang Minh bị bắt ngay sau đó.
Cha Vàng ở trường Saint Thomas cũng đă bị bắt, v́ nghe đồn
bị vu cáo có giấu vũ khí trong khuôn viên trường học. Khi
tôi ở trại cải tạo về, công an có gọi tôi ra và thẩm vấn về
quan hệ của tôi với hai vị linh mục này. Có thể đó chỉ là
những câu hỏi thủ tục về lư lịch, nhưng cũng làm tôi hết sức
lo sợ, bởi xă hội không có luật pháp rơ ràng. Một khi công
an nghi ngờ, th́ sớm muộn ǵ cũng vào tù. Bởi vậy, tôi càng
nôn nóng muốn trốn đi.
Tối hôm ấy, gặp ông Ân ở nhà hàng, tôi bàng hoàng xúc động
khi ông cho biết ông sẵn ḷng đóng tiền cho vợ chồng tôi đi
cùng chuyến với ông và em tôi. Nghĩa là ông cho tôi vay 20
lượng vàng, qua Mỹ đi làm trả lại. Vợ chồng tôi chỉ cần góp
5 lượng cho đứa con mà thôi! Tôi như người đi trên mây, buồn
ngủ gặp chiếu manh, không ngờ đời ḿnh có lúc gặp qúi nhân
dễ dàng như thế này!
Dĩ nhiên, qua trung gian em trai tôi, ông Ân mới dám tin là
tôi sẽ trả ông sau khi đến Hoa Kỳ. Nhưng dù sao đi nữa, việc
ông giúp một người xa lạ như tôi, trong hoàn cảnh này, phải
coi là một phép lạ mà tôi không mường tượng trước được, nhất
là ở thời kỳ gạo châu củi quế năm 78. Bà Ân ngồi cạnh chồng
chỉ cười hiền hoà không có ư kiến gị Lúc đó bà 39 tuổi, thua
chồng hơn 10 tuổi. Sáu đứa con, đứa nào cũng xinh xắn và
ngoan hiền. Sau đó, tôi c̣n được biết thêm. Ông Ân cho tới
18 người vay tiền đi, tổng cộng là gần 200 lượng vàng!
Những ngày hồi hộp trôi qua rất chậm, tôi nôn nóng chỉ sợ
chuyện bất trắc xẩy ra trước khi lên đường. Tôi vẫn hăng hái
tham gia công tác thủy lợi tại địa phương, hoặc tự nguyện
dạy lớp bổ túc văn hóa ban đêm trong tổ dân phố, để tránh sự
chú ư của công an khu vực. Song song với những việc đó, tôi
âm thầm mua giấy tờ, lấy tên giả, học nói dăm câu tiếng Hoa,
và cuối cùng ra đi vào một ngày cuối năm khi sóng biển đang
gầm thét dữ dội ngoài khơi.
Khi những chiếc ghe nhỏ đưa người ra thuyền lớn ở Kiến Ḥa,
th́ một chuyện bất ngờ xảy ra: công an cùng với chủ ghe đọc
danh sách lên tầu, và quyết định bỏ lại 17 người đă đóng
tiền, trong đó có toàn bộ gia đ́nh em trai tôi gồm 4 người.
Em trai tôi là người giới thiệu tôi đi, vậy mà phút chót lại
bị Ở lại! Tôi lên tầu, hết sức hoang mang, ngờ ngợ linh cảm
trước là sẽ có chuyện chẳng lành trên cuộc hành tŕnh đầy
sóng gió sắp tới. Tầu đi bán chính thức chỉ được một lợi thế
là không sợ bị bắt ở bến hẹn, nhưng luôn luôn chở qúa trọng
tải, có chuyến vừa ra tới cửa biển đă ch́m. Chiếc thuyền gỗ
tôi đi nom rất mong manh, mà chủ tầu và công an chất lên tới
hơn 300 người, cố nhét càng nhiều càng tốt để thu vàng tối
đa. Họ gạch tên bỏ lại 17 người, để thay vào bằng những hành
khách khác bằng ḷng nộp nhiều vàng hơn.
Đây là loại tầu đánh cá có hầm chứa nước đá để ướp cá, bây
giờ được dọn sạch để đưa người vượt biển. Hơn 100 người đàn
ông chúng tôi bị dồn xuống hầm, cấm không được leo lên, và
chỉ có mỗi cái cửa vuông ở giữa tầu để ngày ngày bên trên
ném thức ăn xuống. Đàn bà con nít th́ được ngồi ở tầng trên
cùng với thân nhân của chủ tầu và tài công. Có nghĩa là từ
lúc bước chân xuống tầu, tôi không được liên lạc với vợ con
nữa. Tôi không biết, trong số hơn 100 người đàn ông ngồi
dưới hầm tầu, có bao nhiêu người Việt; chỉ nghe tiếng chuyện
văn chung quanh toàn là tiếng Hoa. Ông Ân với 3 cậu con trai
tuổi từ 14 tới 18, ngồi dưới hầm bên cạnh tôi. Vợ Ông cùng
cô con gái đầu ḷng 19 tuổi, đứa áp út 13 và đứa con út 3
tuổi ở trên boong cùng với vợ con tôi. V́ là người Việt,
không dám tranh căi với đại đa số người Hoa, chúng tôi bị
dồn vào cuối hầm tầu, ngồi chịu trận tại chỗ, nước lúc nào
cũng ngập từ thắt lưng trở xuống, và có khi lên tới ngực.
Thức ăn cũng ít khi đến lượt ḿnh, v́ những người ngồi gần
cửa lấy hết, lâu lâu mới quẳng vô phía chúng tôi cái bánh
tét hay ổ bánh ḿ đă cứng như thanh củi. Tuy vậy, ai cũng tự
an ủi là cuộc hành tŕnh sẽ không lâu, cố gắng chịu đựng vài
ngày là tới bến, tha hồ thong dong.
Sang đến ngày thứ tư, rồi thứ năm, tất cả đều mệt mỏi v́ con
thuyền nhỏ bị sóng nhồi liên tục. Nước biển rỉ vào hầm tầu
mỗi lúc một nhiều hơn, mà chẳng ai buồn múc từng thùng đổ ra
ngoài như hai hôm đầu. Chỗ tôi ngồi càng ngày càng thê thảm
hơn. Nước ngập tới ngực, mà rác rến lại nổi lềnh bềnh chung
quanh, Lá bánh chưng bánh tét, vỏ quít, vỏ bưởi cùng các thứ
linh tinh không tên, trôi vật vờ, chẳng ai thèm vớt mà đem
quăng xuống biển. V́ quá chật chội, di chuyển rất khó khăn,
nên ai cũng ngồi ĺ tại chỗ, đứng lên không nổi, đi tiểu
luôn chỗ ḿnh ngồi cho tiện. Trong hầm tầu, chúng tôi mất
hết ư
niệm thời gian, không ngày hay đêm, cũng chẳng biết tầu đang
chạy hay đứng tại chỗ. Đến ngày thứ năm, v́ nóng bức qúa, có
người ngộp thở ngất xỉu dưới hầm, tài công mới cho khoét một
cái lỗ vuông mỗi bề hơn một gang tay ngay trên đầu tôi,
nghĩa là phía dưới tầu, để lấy không khí từ trên lùa xuống
cho hơn 100 người phía dưới. Vị ân nhân của tôi, ông Ân và
các con, lúc đầu c̣n nói chuyện với tôi, sau mệt qúa, ai
cũng nhắm mắt dựa vào nhau mà sống cho qua cuộc hành tŕnh
dài lê thê.
Bước sang ngày thứ bảy, buổi sáng tinh mơ, chắc chưa đến 6
giờ, tôi đang thiu thiu ngủ, th́ nghe có tiếng gọi nhỏ:
- Anh Ngạn Anh Ngạn ơi!
Tôi giật ḿnh ngơ ngác ngước nh́n lên, th́ thấy bà xă tôi
tḥ mặt qua cái lô thông hơi để t́m tôi. Tôi không nhận ra
mặt vợ tôi v́ trời c̣n tối thẳm, nhưng nhờ giọng nói tôi
biết vợ tôi cần gặp tôi có chuyện khẩn cấp. Tôi hồi hộp t́m
cách đứng dậy. Tàu chật ních, lại thêm đă gần một tuần ngồi
một chỗ, hai chân tê cứng dưới lớp nước mặn, tôi loanh quanh
khá lâu mới đứng lên được. May cho tôi là quanh tôi mọi
người c̣n đang ngủ cả. Chứ nếu họ thức th́ tôi khó ḷng di
chuyển, v́ họ sẽ lôi lại và dí đầu tôi bắt ngồi xuống.
Bà xă tôi giục nho nhỏ:
- Lên đi anh! Lên đại đi! Chui lỗ thông hơi này lên đi!
Tôi lo lắng nh́n quanh. Lúc ấy tôi c̣n gầy yếu lắm. Thời
gian ở trại cải tạo bị sốt rét nặng, kéo dài 21 ngày, bước
đi phải nhờ người vịn, bạn bè cùng tổ cứ tưởng tôi là sắp
phải đem tôi đi chôn trên đồi tranh ở Bù Gia Mập. Giờ này
vượt biển, tôi vẫn chưa lại sức, mới chỉ lên cân được chút
ít. Nhà tôi lại bảo:
- Đêm qua băo lớn. Cái áo của con bị rách tung rồi bay mất.
Nó phải cởi trần cả đêm lạnh tím cả người. Anh lên một chút
đi!
Nghe nhắc đến đứa con hơn 4 tuổi, tôi vùng đứng lên, bước
đại qua vào người đang ngồi ngủ, rồi chui liền lên, cái lỗ
nhỏ, phải lách người khó khăn, làm trầy sứt cả hai vai,
nhưng tôi không có cảm giác ǵ lúc đó. Từ hôm lên tầu, tôi
vẫn mặc cái jacket nylon của Không Quân ngày trước và chiếc
quần tây màu vàng đục. Lúc ngồi, dĩ nhiên phải cởi hết nút
quần, kéo fermeture xuống cho thoải mái. Bâygiờ đứng dậy,
vội vă dùng hai tay đu lên khỏi hầm tầu, có người nào đó đă
nắm ống quần tôi kéo lại, làm tôi chỉ c̣n mỗi cái quần đùi
khi lên tới tầng trên. Trời mưa không nặng hạt lắm, nhưng
gió biển thổi phần phật trong không gian mờ tối. Tôi cúi
xuống ôm đứa con đang run cằm cặp. Nhà tôi ưu tư bảo:
- Tầu sắp đắm mất, anh ạ!
Tôi đảo mắt nh́n quanh sau sáu ngày bảy đêm chui trong bóng
tối dưới hầm. Chỉ một phút sau, tôi nhận ra ngay là ḿnh sắp
chết! Vợ tôi nói đúng. Là bởi v́, khi ở dưới hầm, tôi cứ
tưởng tầu đang chạy. Hóa ra tầu bị bỏ neo đậu tại chỗ suốt
cả đêm rồi, mặc cho gió mưa và sóng dữ cuối năm vùi dập. Tuy
cùng ở trên tầu, nhưng những tin tức bên trên không được
thông báo cho người dưới hầm biết, sợ gây cảnh náo loạn, dẵm
đạp lên nhau. Bởi vậy, tôi hoàn toàn không biết ǵ cả, cho
đến bây giờ leo lên mới thấy kinh hoàng, Tôi nh́n lại phía
buồng máy. Một cảnh tượng hăi hùng và thê lương: không có
tài công, không có người phụ máy. Chiếc tầu không người lái
cứ bập bềnh nghiêng ngửa
theo từng đợt sóng khổng lồ đưa vào, đẩy ra, phó mặc sinh
mạng mấy trăm người cho đại dương. Với sức sóng như thế này,
tôi biết chắc tầu sắp vơ. Đàn bà con nít, người đứng người
ngồi lố nhố, quên cả cái ướt lạnh, nhớn nhác hỏi nhau, không
biết phải làm ǵ trong hoàn cảnh tuyệt vọng này. Bà xă tôi
bảo:
- Tài công bỏ tầu từ nửa đêm rồi!
Bấy giờ tôi mới hiểu đầu đuôi câu chuyện. Đêm qua, khi
thuyền chúng tôi vào c̣n cách bờ Mă Lai khoảng nửa cây số,
th́ có tầu cảnh sát Mă Lai ra đuổi.
Rồi họ dựng mấy cây đại liên và đèn pha trên bờ bắn ra xối
xa. Mười mấy người tài công cùng với thân nhân chủ ghe đeo
phao nhảy xuống bơi vào, nói là để điều đ́nh rồi sẽ ra đưa
tầu vô. Nhưng rồi họ đi luôn, không ai trở lại! Người ngoài
khơi cứ đợi. Người đă lên bờ th́ bỏ mặc. Đàn bà con nít trên
boong không ai biết lái tầu. Hơn 100 người ngồi dưới hầm th́
tưởng tầu vẫn đang chạy b́nh thường! Tôi biết ḿnh sắp chết,
nhưng cố làm ra vẻ b́nh tĩnh bảo con tôi:
- Con ơi! Đằng nào tầu cũng sắp ch́m. Bây giờ con ôm lấy cổ
ba, để ba nhảy xuống biển khơi, bơi vào...
Tôi không biết bơi. Mà có biết th́ cũng không c̣n sức, bởi
bờ ở qúa xa, tôi cố nhướng mắt nh́n mà chỉ thấy lờ mờ trong
mưa. Đứa con trai hơn 4 tuổi, quấn chiếc khăn quanh người
ướt đẫm từ đầu xuống chân, run lẩy bẩy nh́n tôi im lặng gật
đầu. Dường như nó cũng linh cảm thấy chuyện chẳng lành sắp
đến, cho nên chỉ nh́n tôi chia sẻ. Quanh tôi, có vài cái
b́nh nylon đựng nước ngọt đă uống hết, nằm lăn lóc trên sàn.
Tôi nắm bàn tay lạnh ngắt của vợ tôi và bảo:
- Em lấy cái b́nh nylon, ôm vào người rồi nhảy xuống. May ra
sóng đánh vào bờ! Thà nhẩy xuống trước, chứ để tầu vỡ th́
khó ḷng mà sống được, v́ cả trăm người sẽ níu chặt lấy nhau
và cùng chết hết!
Vợ tôi nh́n tôi bằng ánh mắt ly biệt, đưa tay làm dấu đọc
kinh. Tôi và con trai tôi cũng làm dấu Thánh giá và cầu xin
Chúa che chở trong cơn nguy khốn.
Tôi vừa đưa cho vợ tôi cái b́nh nylon, chưa kịp nói ǵ thêm
th́ một đợt sóng vĩ đại ấp tới, làm chiếc tầu lật ngang, vỡ
tung buồng lái ở tầng trên. Tiếng người đồng thanh kêu ru
lên, bị tiếng gầm của sóng át đi. Buồng máy, kính cửa sổ,
mui tầu, mái gỗ bọc tôn và bao nhiêu thứ ngổn ngang trên tầu
đều rụng hết xuống biển, kéo theo qúa nửa hành khách gồm đàn
bà và trẻ em. Tôi té lăn trên sàn tầu trong khối nước mặn
khổng lồ vừa ập tới, đôi tay quờ quạng bám víu bất cứ thứ ǵ
để sống c̣n. Từ giây phút ấy, tôi không c̣n nh́n lại được vợ
tôi lần nào nữa! Đứa con tôi cũng vuột khỏi tay tôi và văng
xuống biển. Tôi níu được một sợi giây nào đó trên tầu, nên
chỉ bị văng mất đôi mắt kính cứ chưa rơi hẳn xuống nước.
Nhưng ngay sau đó, tôi chưa kịp
hoàn hồn, chưa kịp đứng vững th́ lớp sóng khổng lồ vừa đẩy
vô bờ,lại rút ra mạnh hơn, làm tầu lật ngang một lần nữa ra
phía ngoài, và lần này trên boong tầu không c̣n sót lại một
ai. Tất cả đều rụng xuống biển. Những lớp ván, lớp kính và
những ǵ chưa vỡ qua đợt sóng trước, lần này tan tành hết.
Nhưng đau đớn hơn cả là chiều tầu ch́m dần xuống đáy biển mà
hầm tầu lại chưa bể, cho nên hơn 100 người đàn ông ngồi với
tôi suốt tuần lễ vừa qua, đều chết ngộp hết trong hầm, trong
đó có cả cha con ông Ân, người đă đóng tiền cho gia đ́nh tôi
đi!
Tôi rớt xuống biển, cố gắng vùng vẫy theo bản năng sinh tồn,
mặc dầu không biết bơi. Trên mặt biển bao la, sóng nhồi
khủng khiếp, tôi thấy từng mảng gỗ thật lớn của ván tầu, rồi
thùng phuy, va li, nồi niêu, áo quần, thùng gạo và hàng chục
thứ đồ lặt vặt khác trôi nổi theo triền sóng, đôi khi lao
vào mặt ḿnh. Đàn bà con nít ngụp lên lặn xuống, bán lấy
nhau mà cùng chết. Tôi uống no nước, ch́m sâu xuống, đụng
phải bao nhiêu xác người c̣n bấu chặt không rời nhau. Tôi
nín hơi ngoi lên được một chút để thở, rồi lại bị sóng cuốn
đi không định được phương hướng. Là người Công giáo trong
lúc lâm chung, tôi cố gắng đọc kinh sám hối để chuẩn bị ĺa
đời. Đọc kinh, nhưng không cầm trí tập trung được. Tôi uất
ức lắm, bởi thấy ḿnh chết tức tưởi ở tuổi 32 sau khi đă
ḱnh qua bao nhiêu năm gian khổ. Ngày c̣n trong quân đội,
mấy năm tác chiến, tôi đă kề cận tử thần mà tại sao không
chết ngay trên chiến trường cho xong?
Tôi nhớ một lần hành quân ở Cái Bè, tôi đứng dưới đường
mương bên gốc xoài, VC từ cánh đồng trước mặt bắn đạn pháo
trúng ngọn xoài chỗ tôi đứng, miểng văng tung tóe, làm bay
mất cây súng Colt tôi đang đeo bên hông và cắt đứt sợi giây
ống liên hợp máy truyền tin PRC 25 tôi đang nói chuyện với
Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Lúc ấy tôi thấy số ḿnh c̣n lớn lắm,
chỉ bị trầy sát nhẹ Ở bên đùi! Rồi khi ở trại cải tạo Sông
Bé, tôi lại bị sốt rét nặng nề đến kiệt sức, tưởng không c̣n
sống nổi tới ngày được tha về. Vậy mà cũng không sao! tôi
uất ức tự hỏi tại sao vược biển gần đến nơi th́ lại chết?
Thế rồi tôi uống no nước, đuối sức không vùng vẫy nổi, đành
buông xuôi tay ch́m xuống đáy bể, không biết ǵ nữa!
Khi tôi tỉnh lại trên bờ, thấy ḿnh nằm sấp trên đống xác
chết ngổn ngang. Nước ộc từ trong bụng ra giúp tôi hồi sinh.
Tôi mơ màng tưởng ḿnh đang nằm chiêm bao.. Đứa con trai 13
tuổi của ông Ân chạy lại lôi tôi dậy và nói:
- Chú Ngạn ơi! Tỉnh dậy! Tỉnh dậy! Đắm tầu, chú Ngạn ơi!
Tôi ngơ ngác nh́n nó, chưa nhận ra ai bởi qúa đuối sức và v́
không có mắt kính. Thằng bé lay tôi và nhắc lại:
- Chú Ngạn ơi! Đắm tầu! Ba cháu, chị cháu với 3 người anh
của cháu chết hết rồi! Vợ chú với con chú cũng chết cả rồi!
Tôi vùng đứng dậy, đưa mắt nh́n quanh. Lính Mă Lai đang quây
những người sống sót vào gốc dừa. Họ cũng như tôi là những
người được sóng đẩy vào bờ và may mắn thoát khỏi tử thần.
Nhưng họ không được phép cứu những người bị ngộp nước như
tôi. Nếu được cấp cứu, tôi tin chắc trong đám người nằm kia,
ít lắm cũng có cả chục người sống dậy. Lính Mă Lai không cho
cứu là bởi v́ những kẻ xa lạ và bất nhân ấy đang lột quần áo
người chết để lấy vàng và dollars giấu trong gấu quần, gấu
áo, cổ áo, vạt áo. Moi của xong, họ lôi xác chết tập trung
lại một chỗ chở xe mang đi chôn tập thể. Tôi từ gốc dừa ḅ
tới, t́m trong đám 97 cái xác, thấy con trai tôi đă chết hẳn.
Tôi bế cháu lên và nhận ra ván tầu hoặc ghềnh đá đă đánh vỡ
trán con tôi, c̣n để lại một vệt dài thật rơ. C̣n vợ tôi th́
sóng biển đánh trôi đi mất, không t́m được xác!
Mọi chuyện diễn ra chỉ trong chớp nhoáng. Ngoài kia, biển
vẫn ầm ầm gào thét, chỉ thấy sóng xô chập chùng, không c̣n
dấu tích ǵ của chiếc thuyền định mệnh. Hôm sau, từ trại tạm
cư, chúng tôi được đưa trở lại băi biển, thả bộ dọc xuống
hướng Thái Lan, t́m thêm được một số xác chết nữa, nhưng
cũng không thấy vợ tôi. Tổng số 161 người chết, chỉ vào bờ
được khoảng 100 cái xác, phần c̣n lại bị sóng đưa đi mất
tích. Có hai nhà sư Mă Lai gốc Hoa đem vải và nhang đến làm
lễ cầu siêu trước khi lính Mă Lai đem chôn tập thể.
Trên băi biển Mă Lai dài thăm thẳm tôi dừng chân, ngồi dưới
hàng dừa trông ra đại dương, nao nao mường tượng lại chặng
đường đă qua. Nhớ những buổi sáng Chúa Nhật vợ tôi lên thăm
ở Khu Tiếp Tân trường Bộ Binh Thủ Đức. Rồi những lần từ
thành phố xuống miền Tây chờ tôi ở hậu cứ tiểu đoàn. Khi
sinh con đầu ḷng, tôi từ đơn vị hành quân, không kịp thay
quân phục, vội vă đón xe về thăm ở bảo sanh viện Đức Chính
trên đường Cao Thắng. Nhớ hơn nữa là những lần vợ tôi gánh
quả nặng trĩu đi tiếp tế cho tôi trong trại cải tạo, băng
ngang 17 cây số đường rừng từ thị xă Phước B́nh vào Bù Gia
Mập. Tất cả đều đă qua đi, chỉ c̣n lại mặt nước mênh mông
xanh thẳm trước mặt, từng cuốn mất bao nhiêu xác người đồng
hương trên hành tŕnh t́m tự do!
Vợ tôi mất đi ở tuổi 26, sau những tháng ngày vất vả v́
chồng. Lấy tôi khi tôi đă vào quân đội, thường xuyên xa nhà,
vợ tôi cũng giống như bao nhiêu người đàn bà khác trong thời
khói lửa, chẳng mấy khi được gần chồng. Khi tôi được biệt
phái về lại Bộ Giáo Dục, dạy học tại Sài G̣n, đă tưởng vợ
chồng có thể sống đời dân sự yên ổn lâu dài, nào ngờ chỉ hơn
một năm sau th́ mất nước, bắt đầu cuộc sống mới lao đao gấp
bội. Đoạn đường trầm luân ấy, có ngờ đâu rút cuộc lại kết
thúc bi thảm bằng cái chết trên đại dương cùng với đứa con
đầu ḷng hơn 4 tuổi!
Tôi tin chắc cái chết của vợ tôi đă làm thay đổi hẳn cuộc
sống của tôi. Nếu nói theo niềm tin thiêng liêng, th́ chính
vợ tôi đă cứu tôi vào phút chót, trước khi đắm tầu. Bằng
chứng là hơn 100 người đàn ông ngồi chung với tôi dưới hầm
tầu đều chết cả v́ ngộp nước. Em tôi -- người giới thiệu tôi
cho ông Ân -- nếu đi cùng tôi chuyến ấy, chắc chắn cũng đă
bỏ xác trên đại dương. Nhờ bị bỏ lại, nửa năm sau, em tôi
cùng gia đ́nh vượt biển thành công và gặp lại tôi tại
Vancouver, Canada vào giữa năm 80. Bà Ân và hai đứa con nhỏ
được sóng đánh vào bờ thoát chết, đi định cư ở Texas, tôi
vẫn liên lạc cho đến khi trả xong 20 lượng vàng chồng bà cho
tôi vay.
Biến cố hăi hùng của chuyến tầu định mệnh làm tôi càng vững
tin rằng đời người có sự sắp đặt của định mệnh, hay nói theo
đức tin Công giáo, th́ đó là sự an bài của Thiên Chúa. C̣n
đó rồi mất đó! Kiếp người mong manh như chiếc bách giữa ḍng,
cho nên các cụ ngày xưa thường ví là cuộc phù thế nhân sinh.
Vợ con tôi chết trước mặt tôi. Hơn 160 người chết ngay bên
cạnh tôi. Mà một kẻ yếu đuối như tôi lại sống sót! Đó phải
là quyền năng của Thiên Chúa chưa muốn tôi ĺa trần. Lúc
ngồi trên tầu, ông Ân thường tâm sự với tôi: những ngày gần
mất nước, gia đ́nh ông đă có thể đi Mỹ dễ dàng, bởi ông làm
việc cho cơ quan viện trợ Hoa Kỳ suốt hai mươi năm. Nhưng
ông thấy ḿnh tuổi đă lớn, muốn ở lại quê nhà khi đất nước
hết chiến chinh, nên ông từ khước quyền lợi di tản mà người
Mỹ dành cho ông. Ba năm sau, đất nước qúa lầm than, mà chiến
tranh vẫn không dứt. Các con ông chuẩn bị bước vào tuổi
nghĩa vụ quân sự phục vụ cuộc xâm lăng Kampuchia, thúc đẩy
ông phải ra đi. Năm 75 ông từ chối di tản bằng máy bay. Năm
78 ông phải trốn bằng thuyền, để rồi chính bản thân ông cùng
với 4 đứa con lớn đều chết cả!
Có thể do những suy nghĩ về cuộc đời sau chuyến hải hành
khủng khiếp mà tôi thoát nạn chỉ trong đường tơ kẽ tóc, tôi
bắt đầu có những thay đổi lớn trong tâm tư. Tôi trở nên dễ
tính, ít chấp nhất và không nuôi ḷng thù ghét với bất cứ ai.
Tôi tâm nguyện rằng cuộc đời ḿnh, hễ làm được điều ǵ cho
cộng đồng, cho xă hội, cho tha nhân, tôi đều cố gắng để đền
đáp lại phép lạ của Chúa đă cứu tôi trên biển.
Những ngày trống vắng ở trại tị nạn Mă lai chờ đi định cư,
tôi suy nghĩ nhiều về nửa thế kỷ trầm luân của đất nước, và
nhận ra một điều đơn giản rằng: trong xă hội Việt Nam người
đàn bà mới chính là thành phần chịu nhiều gian truân nhất,
thời chiến tranh cũng như thời hậu chiến. Cảm thông cái thực
tế chua xót ấy, cùng với nỗi nhớ thương người vợ mới mất,
tôi bắt đầu viết truyện dài "Những người đàn bà c̣n ở lại"
trong 3 tháng ở trại tạm cư.
Cuốn sách đầu tiên ấy, tuy kỹ thuật chưa cao, nhưng chứa
đựng nhiều cảm xúc.
Nó là bậc thềm thứ nhất, là nấc thang khởi đầu, để rồi từ đó
đến nay tôi đă có được gần 30 tác phẩm xuất bản.
Hai mươi năm đă qua, trên mặt báo chí Việt ngữ, tôi chưa hề
viết lại những ḍng này để mô tả tỉ mỉ cái chết của vợ tôi
với đứa con đầu ḷng. Tuy vậy, từ thâm sâu, tôi vẫn tin chắc
một điều rằng: chính cái chết của vợ tôi đă mở ra cho tôi
một cánh cửa mới tôi chưa hề dự trù trong qúa khứ. Đó là thế
giới văn chương mà tôi miệt mài theo đuổi cho đến hôm nay.
Nguyễn Ngọc Ngạn