THẰNG BÉ ĐÁNH GIÀY NGƯỜI NGHĨA LỘ
Trích HinhTran.com
Mấy
ngày ngắn ngủi ở Sài g̣n, tôi thường đến ăn tối tại một quán ăn gần khách sạn
tôi ở, đi bộ chừng năm phút, có tên Nhà Hàng Thanh Niên, nằm phía sau nhà thờ
Đức Bà. Một nơi tương đối yên tĩnh, khu vườn lộ thiên nhỏ nhưng với những khóm
trúc dễ thương, và nhất là được nghe lại những bản nhạc t́nh ca -kể cả t́nh lính-
của miền Nam thuở trước.
Sài g̣n dường như không kịp thở vào những ngày cuối năm. Ngoài đường tấp nập xe
cộ và trên vĩa hè cũng kín cả người. Tất cả đều hối hả ngược xuôi, làm như tất
cả không c̣n đủ thời gian để kịp “đổi đời”. Tôi thấy ḿnh lạc lơng trong cái
không gian ấy.Tốt nhất là t́m một nơi vắng vẻ ngồi một ḿnh để suy tư và hồi
tưởng về Sài g̣n của một thời xưa cũ, mà bây giờ mơ hồ như chỉ c̣n trong cổ tích.
- Chào chú, cháu đánh giày cho chú nhé.
Tôi
giật ḿnh khi nghe một giọng rặt bắc kỳ, chưa kịp quay lại th́ ba chú bé đă đến
trước mặt tôi. Thằng bé nhất và cũng đứng gần tôi nhất nh́n tôi gật đầu chào :
- Sao chú ngồi một ḿnh buồn thế? Trông chú hơi lạ. Chắc chú là Việt Kiều mới về
thăm quê ?
Tôi
ngạc nhiên, không hiểu tại sao thằng bé biết ḿnh là “Việt kiều”. Bởi tôi ăn mặc
rất đơn giản. Có thể nói là đơn giản nhất so với những thực khách có mặt ở đây.
Và mặc dù không ưa cái danh xưng “Việt kiều” này, nhưng thấy thằng bé lễ phép dễ
thương, tôi giả tiếng bắc đùa :
- Chú ở nước ngoài về chứ không phải Việt Kiều. Thế ngoài ấy quê cháu ở đâu.
- Cháu ở tận Nghĩa Lộ - Yên Bái
Tôi
nắm tay nó :
- Thế hóa ra ḿnh là đồng hương đấy. Chú cũng từng ở Nghĩa Lộ một thời gian lâu
lắm.
Thằng bé tṛn xoe đôi mắt :
- Chú cứ đùa. Trông chú chẳng phải người quê cháu.
Tôi
bèn kể một mạch về Nghĩa Lộ cho thằng bé nghe, từ con sông, con đường cho đến
cái dốc Cổng Trời và cái thung lũng Hang Dơi nằm sâu trong vùng núi rừng cực bắc.
Thằng bé ngạc nhiên thích thú, nhưng đôi mắt cứ nh́n tôi không chớp. Tôi bật
cười, vổ vai thằng bé :
- Xin lỗi cháu. Chú đùa cho vui. Đúng là chú từng ở Nghĩa Lộ gần năm năm. Nhưng
mà chú bị tù cải tạo ngoài ấy.
Cả
ba thằng bé cùng nhao lên :
- À, đúng rồi, con đường ô tô từ dốc Cổng Trời về huyện, bây giờ người ta vẫn
gọi là Đường Tù Cải Tạo. V́ nghe mấy ông bà cụ bảo do các chú trong nam ra cải
tạo đắp con đường ô tô ấy.
Ba
thằng ở ba nơi khác nhau ngoài Yên Bái. Cả làng đang đói, nên rủ nhau bỏ quê vào
miền nam kiếm sống. Khởi nghiệp là đi xin, sau đó cũng chạy theo “nền kinh tề
thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa”, ba thằng chung vốn làm ăn,
kiểu công ty hợp doanh. Một thằng bán vé số, một thằng bán báo, c̣n thằng bé
nhất đánh giày. Vậy mà cũng sống thoải mái (dù chỉ trên vĩa hè) lại c̣n dành dụm
tiền gởi về cứu trợ gia đ́nh. Thằng bé nhất đang nói chuyện với tôi quê ở Thôn
Thượng Sơn, thuộc huyện Nghĩa Lộ. Một cái huyện miền núi nghèo xơ xác, có thể là
một trong những nơi nghèo nhất nước, nằm cực bắc tỉnh Hoàng Liên Sơn ngày trước,
cách thị xă Yên Bái khoảng một ngày đường. Và cũng là nơi đă từng nhốt nhiều tù
cải tạo từ miền nam chuyển ra, từ anh binh nh́ TQLC bị bắt trận Hạ Lào, cho đến
hơn ba mươi tướng lănh, mà đa số đă không bỏ rơi đồng đội của ḿnh vào giờ thứ
hai mươi lăm. Đă hơn ba mươi năm, và bây giờ đang ngồi giữa thủ đô Sài g̣n xưa,
tôi cứ tưởng là ḿnh đă quên rồi cái tên Nghĩa Lộ. Vậy mà hôm nay tôi có cảm
giác như đang đứng giữa núi rừng Hoàng Liên Sơn, nh́n những thằng bạn tù - và
thấy cả chính ḿnh nữa - đang bị hành hạ, đói khổ khốn cùng.
- Cháu đánh giày cho chú nhé. Cháu đánh để kỷ niệm, đề đền ơn chú đă từng đắp
con đường ô tô cho quê cháu, chứ không phải xin tiền xin bạc ǵ chú dâu nhá.
Câu
nói hơi dài của thằng bé làm tôi bật cười, trở về thực tại. Tôi cười bởi nghe
thằng bé rất nhà quê này xài hai tiếng kỷ niệm, và nói năng ra điều nghĩa hiệp.
Mà có thể là nó nghĩa hiệp thiệt. Ngày xưa khi c̣n trong lính, sau mỗi lần hành
quân về phố, tôi cũng từng quen, và đở đầu cho những em bé đánh giày. Tụi nó
nghèo, ít học, nhưng biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau, và chí nghĩa chí t́nh.
Sau ngày ở tù về, trong lúc làm lơ xe, bất ngờ tôi gặp lại hai đứa đang làm bốc
vác ở bến xe Tuy Ḥa. Bây giờ là hai cậu thanh niên khỏe mạnh. Có điều sống dưới
chánh quyền mới, “nhân dân làm chủ tập thể” nhưng hai thằng không có một
mảnh đất cắm dùi, ngày làm ở bến xe, tối ngủ ở chợ. Nghề đánh giày cũng không
c̣n. Không phải v́ những thằng bé đánh giày giàu lên sau cuộc đổi đời, mà v́
chẳng c̣n ai mang giày nữa để mà đánh. Vậy mà gặp lại tôi, hai đứa nhận ra, mừng
rỡ như gặp lại người thân, vẫn một tiếng “anh Ba”, hai tiếng “anh Ba” như hơn
mười năm truớc. Tôi t́m mọi cách từ chối, nhưng hai đứa bảo tôi nhất định phải
nhậu với tụi nó một chầu, mừng cho cuộc trùng phùng này mới trọn nghĩa anh em.
Khi chia tay, c̣n nhét vào túi tôi một mớ tiền nhăn nheo, bảo là gời quà cho các
cháu. Tôi thực sự cảm động trước ḷng thủy chung cùa tụi nó, trong lúc có bao
nhiêu thằng vốn học thức đầy ḿnh, nhưng mới một sớm một chiều đă trở mặt phản
thầy phản bạn chạy theo nịnh bợ những thằng “cách mạng 30”, mà mới hôm qua hôm
kia c̣n khinh rẽ là đám lưu manh, xích lô xe kéo!
Anh tiếp thị của nhà hàng mang thức ăn đến và đuổi ba thằng bé ra khỏi quán. Tôi
vui vẻ nói với anh là tôi mời ba cậu bé, rồi quay sang bảo ba đứa kéo ghế ra
ngồi và gọi bất cứ thức ăn nào các cháu thích. Tất cả tṛn mắt ngạc nhiên rón
rén kéo ghế ngồi và mỗi đứa chỉ kêu một đĩa cơm chiên dương châu.
Điều đặc biệt làm tôi lưu tâm tới thằng bé nhỏ nhất bọn này, bởi quê nó ở thôn
Thượng Sơn. Một làng quê xa nhất của cái huyện Nghĩa Lộ đèo heo hút gió. Vậy mà
có lần tôi đă đến đó và ở lại đó gần cả một tuần. Môt tuần duy nhất được no,
được vui và hạnh phúc trong tám năm tù tội.
Khi mới ra bắc, tôi được “biên chế” về trại 3 Hang Dơi. Sau ba năm đuợc chuyển
vể trại 6 Nghĩa Lộ, nằm cách trại 5 của mấy ông tướng mấy cái ao nuôi cá trám cỏ.
Sau một trận kiết lỵ, tôi chỉ c̣n da bọc lấy xương, đứng không vững th́ c̣n sức
ở đâu để mà biến “sỏi đá thành cơm”, nên được điều từ đội trồng trà sang đội
“tăng gia”, tức là trồng rau, mà nhiều nhất là rau muống. Vào mùa đông, vùng
Ḥang Liên Sơn khá lạnh, nên các lọai rau không mọc ra được, đám chúng tôi phần
đông chuyển qua trồng sắn, phát rừng, c̣n lại luân phiên nhau mấy toán, vào vùng
núi mua thực phẩm, chủ yếu là cho “cán bộ trại”, chứ c̣n đám tù bọn tôi th́ đă
có “sắn” (khoai ḿ) để “khắc phục”.
Toán bốn thằng chúng tôi, do một chàng vệ binh dẫn đi, kéo theo hai cái xe cải
tiến (lọai xe đóng bằng gỗ giống như chiếc xe ḅ nhỏ) vào Thượng Sơn, nằm cách
trại khoảng 60 cây số. Trong thời gian tù tội, những ngày được đi xa như thế này
thật là hiếm hoi, hạnh phúc ghê gớm lắm. Chẳng khác ǵ người trong nước bây giờ
được xuất ngoại. Ít nhất cũng được tự do hơn, ăn uống khá hơn, và nhất là được
sống với dân để nghe họ nói những điều chân thật. Có một trùng hợp lư thú là
trong bốn thằng tù bọn tôi đều có đủ bắc, trung, nam. Một thằng chính gốc Hà Nội
54, một thằng xứ Huế, một thằng Nha trang là tôi và một thằng nữa là dân Cần Thơ,
nam bộ.
Khởi hành từ sáng sớm, chiều chúng tôi đến làng. Nếu không đến đây có lẽ chẳng
ai ngờ là giữa núi rừng xa xôi hẻo lánh này lại có một cái làng với khỏang một
trăm nóc nhà nằm dọc bên bờ con suối lớn dưới những tàng cây che kín mặt trời.
Vậy mà trông rất sạch sẽ và thơ mộng. Từ cổng làng, bọn tôi đă nghe tiếng chim
hót líu lo ḥa trong tiếng suối chảy róc rách giữa một vùng núi rừng tĩnh mịch.
Bọn tôi được sắp xếp ở trong một căn nhà mái lá cọ, có vách bằng nứa, nằm dưới
một tàng cây cao, sát bên bờ suối. Chủ nhà là một bà già trọng tuổi. Điều làm
chúng tôi ngạc nhiên là trông bà không giống những người dân mà chúng tôi thường
gặp ở vùng này, từ cách ăn mặc tới cử chỉ nói năng. Lúc nào bà cũng vui vẻ niềm
nở với chúng tôi, trên môi lúc nào cũng có sẳn nụ cười.
Thằng bạn tù gốc Hà Nội của bọn tôi quả quyết là bà nói đúng giọng Hà Nội, cái
thời c̣n một Hà Nội thanh lịch. Trên vách, treo một tấm giấy khen với một cái
tên cũng rất Hà Nội, không hợp với khung cảnh núi rừng này : “Bà Vương Chu Khánh
Hà “. Cái tên trùng tên một cô ca sĩ miền nam, làm chúng tôi dễ nhớ.
Bà ở với người con trai, vừa làm y tá cho thôn, vừa làm rẫy, trồng thơm (dứa),
trồng nhản. Một phần đất anh dành ra trồng rau và nếp nương. Anh nói năng hiền
lành dễ mến. Đặc biệt rất thương và chiều mẹ.
Ngày đầu tiên, bà chỉ cười chào bọn tôi, không dám đến gần “quan hệ”. Nhưng hôm
sau, bà mua chuộc anh vệ binh và giới thiệu cô thợ may ở nhà kế bên cho anh ta,
nên anh ta đóng đô luôn bên ấy. Bà cho chúng tôi ăn xôi, ăn thịt rừng, c̣n thêm
đủ lọai trái cây bà mua được trong làng. Ở đây, ăn uống như thế là thuộc hàng
“tư bản”. Ban ngày chúng tôi đi khắp nơi mua thực phẩm các lọai, chiều về lại
nhà, kéo nhau xuống suối tắm, rồi đuợc ăn một bửa cơm “thịnh sọan”, bọn tôi có
cảm giác như đang ở đâu đó trên thiên đàng.
Đêm nào bà cũng mang đến một ấm trà tươi, ngồi tâm sự với bọn tôi tới khuya.
Đúng như thằng bạn tù gốc Hà Nội nhận xét, bà dân Hà Nội chính tông. Ngày xưa
gia đ́nh bà giàu có. Vợ chồng làm chủ một hăng dệt lớn nhất nh́ Hà Nội. Sau hiệp
định Genève, chia đôi đất nước, chần chờ tiếc của, chưa kịp xuống tàu há mồm
chạy vào nam th́ bị đánh tư sản. Chồng bà chết trong tù, nhà cửa bị tịch thu, bà
bị bắt buộc phải dắt theo hai đứa con, một trai một gái, đứa nhỏ nhất chỉ mới
sáu tuổi, cùng một số “đối tượng” khác lên vùng núi non này, lúc ấy gọi là Khu
Kinh Tế Mới Thượng Sơn.
- Ngày ấy, cả khu này chỉ là rừng thiêng nước độc. Chỉ ba tháng sau là con bé
gái chết v́ sốt vàng da, mà không t́m dâu ra một viên thuốc.
Bà
nh́n lên trời mơ màng, kể lại cho bọn tôi những ngày đầu mới đến, nước mắt chảy
dài trên má
Sau đó, v́ bản năng tự tồn, những người “Hà Nội lưu đày” (chữ của bà), ngồi lại,
cùng bàn bạc nắm tay vượt lên số phận. Trong số những người lên đây, có nhiều
thành phần, đa số là tư sản và trí thức. Với bộ óc và với kinh nghiệm trên
thương trường, vậy mà họ đă tận dụng được để cùng nhau vươn lên trong chồn thâm
sơn cùng cốc này. Dù nghèo khổ, ho vẫn giữ được cái t́nh, cái thanh lịch của
người Hà Nội. Điều mà chính quyền cần họ phải gột rửa.
Ngày tiễn chúng tôi đi, bà năn nĩ và đút lót anh vệ binh cho chúng tôi được nhận
một kí nếp, một ít thịt rừng muối mặn, nhưng bị chối từ, mặc dù anh ta cũng rất
quí bà. Cuối cùng để cho bà vui, anh vệ binh cho chúng tôi được ăn tại chỗ một
bữa no nê, lần này c̣n có cả rượu nếp, do chính tay bà cất.
Một tháng trước ngày rời Nghĩa Lộ, bọn chúng tôi ngày đêm phải đắp cho xong một
con đường ô tô kéo dài từ Nghĩa Lộ lên tận dốc Cổng Trời. Chúng tôi thắc mắc
không biết để làm ǵ, v́ gần năm năm ở đây, thỉnh thoảng chỉ thấy vài người đạp
xe đạp hoặc thồ ngựa trên con đường ngoằn ngoèo heo hút này. Đến ngày chuyển
trại vào Nghệ Tĩnh, chúng tôi mới biết con đường này dùng để chuyển quân lên
Lạng Sơn ngăn chặn bọn bá quyền Trung Quốc vừa xua quân tràn qua biên giới đ̣i
“dạy cho người anh em một bài học”.
Hơn ba mươi năm, con đường “làm lại cuộc đời” của riêng tôi cũng thăng trầm,
quanh co không kém, đă làm tôi tạm quên một quá khứ buồn thăm, dù tất cả vẫn c̣n
nằm sâu chôn chặt tận đáy ḷng. Bất ngờ hôm nay, thằng bé đánh giày gợi tôi nhớ
lại. Có điều trong bao nhiêu đau đớn chất chồng cũng có đôi điều vô cùng đẹp đẽ,
chẳng khác ǵ một đóa hoa nở trên sỏi đá, một cành lan mọc giữa rừng già, trên
một thân cây héo khô cằn cỗi.
- Thế cháu ở Thượng Sơn có biết bà Vương Chu Khánh Hà. Bây giờ chắc cũng đă hơn
tám mươi ?
Tự
dưng tôi buộc miệng hỏi thằng bé, để rồi ngẩn người ra khi nghe nó trả lời :
- Ố, đó là bà nội cháu. Bà mất hơn năm năm rồi!
Ḷng tôi chùn xuống
Thằng bé kể lại những ngày cuối cùng của bà nội, lúc ấy nó mới tám tuồi. Khi mà
ở Hà Nội đầy dẫy quán bar và nhà hàng sang trọng, dành cho khách nước ngoài và
những ông quan lớn, th́ cái thôn Thượng Sơn này vẫn cứ nghèo xơ xác. Một số đă
phải bỏ làng t́m về thành phố cũ, sống trước mái hiên nhà của chính ḿnh ngày
trước. Bà nội nó chỉ về đuợc một lần, đứng nh́n ngôi nhà của ḿnh bây giờ đang
là một khách sạn mấy tầng, mà chủ nhân là một ông ngồi trong Ủy Ban Cải Tạo Tư
Sản ngày xưa, bây giờ đă là ông lớn, chức hàm cở bộ trưởng. Tài sản duy nhất c̣n
lại của gia đ́nh bà là ngôi mộ hoang của ông chồng, ngày xưa nằm trong một nghĩa
trang ở ngọai ô thành phố, nhưng bây giờ nhà cửa mọc kín chung quanh. Cây cối và
cỏ rác như muốn phủ lấp mộ phần. Bà phải ở lại đó mấy ngày mới dọn dẹp xong. Sau
lần ấy, bà về nhà rồi ngă bệnh. Vợ chồng cậu con trai bán đủ thứ trong nhà, cùng
với hảo tâm của mấy người hàng xóm, nhưng cũng không đủ tiền đưa bà đi bệnh viện.
Trước khi chết bà chỉ ước ao duy nhất một điều là đuợc chôn cất bên cạnh mộ
chồng dưới thủ đô Hà Nội, cũng là vùng đất của ḍng họ qua bao nhiêu đời. Vậy mà
cái điều ước ao trối trăn duy nhất đó của bà, cũng không ai thực hiện được, bởi
cái nghĩa trang đó bây giờ nằm trong qui họach thành phố, tấc đất tấc vàng,
không dễ ǵ mua được.
Nghe thằng bé kể, nh́n nhà thờ Đức Bà trước mặt và nhớ tới bà, tôi lại thầm nghĩ
là Thượng Đế đă không có mặt trên đất nước tôi. Thực ra điều này tôi cũng đă
từng nói với mấy thằng bạn tù, sau tháng 4/75. Bởi nếu có Thượng Đế, sao ngài
lại bắt dân chúng miền Nam, những người hữu thần, đă bao nhiêu đời hằng tin và
thờ phụng ngài, lại phải vác cây thánh giá nặng nề, để tan tác điêu linh như thế.
Ḷng tôi thấy xốn xang và tôi nghiệp cho bà. Tôi thầm trách ḿnh cũng chỉ là kẻ
vong ơn, đă quên mất ḷng tốt của bà trong những ngày ḿnh vô cùng khốn khó. Mà
lẽ đời là thế. Khi đă sang sông c̣n có mấy ai nghĩ tới con đ̣.
Thằng bé lại nhắc tôi về chuyện đánh giày, đền ơn đáp nghĩa. Tôi đưa chân ra, cả
đám cười ồ, tôi đang mang dép. Thằng bé lấy một tập báo đủ lọai trên tay thằng
bạn, để trước mặt tôi :
- Vậy th́ chúng cháu biếu chú mấy tờ báo, về khách sạn chú đọc cho vui. Toàn
chuyện mấy ông lớn tham nhũng ăn chơi tiền tỉ đấy!
Tôi
cám ơn và hỏi mua một xấp vé số. Trả tiền xong tôi chia đều cho ba đứa, coi như
món quà may mắn, rồi hẹn ngày mai đến gặp tôi ở khách sạn, tôi sẽ dẫn đi chơi
bất cứ nơi nào các cháu thích. Khi chia tay tôi ôm vai thằng bé đánh giày :
- Ngày mai cháu nhớ đến nhá. Chú rất cần gặp cháu.
Suốt ngày hôm sau, sau khi dắt ba thằng bé vào chợ Bến Thành mua sắm một số áo quần, cho các cháu một ít tiền, tôi thuê xe chở cả đám đi Vũng Tàu. Cả ba đứa đều mong ước được đến đây một lần cho biết thành phố biển nổi tiếng này, và cũng muốn xem “t́nh h́nh” để chuyển xuống đây kiếm sống, bởi nghe nói ở đây có nhiều khách ngọai quốc đến du lịch, hơn nữa ở Sài g̣n càng lúc càng khó khăn, v́ số trẻ em ( và cả nguời lớn ) từ ngoài bắc vào kiếm ăn ngày càng đông. Trong lúc ngồi trên băi sau, tôi tâm t́nh thật nhiều với thằng bé đánh giày, kể cho nó nghe chuyện ngày xưa bọn tôi có lần đến ở nhà bà nội nó một tuần và được bà thương yêu giúp đỡ. Nó ngồi bên tôi nghe rơm rớm nước mắt, rồi dùng ngón tay viết tên của bà nội trên cát.
Trên đường về lại Sàig̣n, tôi ghé lại Nghĩa Trang Quân Đội cũ, nằm bên xa lộ Biên Ḥa. Khó khăn lắm, phải hỏi thăm nhiều người, anh tài xế taxi mới t́m đựợc lối vào. Bức tượng Tiếc Thương đă từng tạo huyền thọai một thời, không c̣n nữa, nhưng Nghĩa Dũng Đài c̣n đứng sừng sững giữa những ngôi mồ hoang phế, im ĺm. Tôi nghe trong gió như có tiếng oan hồn tử sĩ. T́m đến ba ngôi mộ của ba thằng bạn lính cùng đơn vị cũ, mà chính tôi là người thân quen duy nhất chào tiễn biệt tai đây vào những giờ phút thứ hai mươi lăm của cuộc chiến, cùng với những người lính chung sự vẫn âm thầm tận tụy như từng bao nhiêu năm mai táng những đồng đội chưa bao giờ gặp mặt.
Ba
thằng bé phụ tôi h́ hục dựng lại mấy tấm bia găy đổ. Tôi ngồi trước những nấm mộ
sụt sùi. Ba thằng bé chưa từng biết những ǵ đớn đau và bất công của cuộc chiến
bắc-nam, cũng ngậm ngùi cảm động, trịnh trọng hứa với tôi sẽ thường xuyên rủ
nhau đến đây để hương khói và chăm sóc các mộ phần.
- Bạn đồng đội của chú chắc chắn là những người tốt.
Ba đứa bé nói với tôi trên đường ra xe về lại Sài g̣n, trong lúc tôi c̣n đang miên man về cách hành xử tàn tệ từ những con người không có trái tim, không c̣n biết thế nào là “nghĩa tử nghĩa tận”
Về khách sạn, ba cháu xin được ở lại với tôi đêm nay, để khuya đưa tôi ra phi trường. Không ngờ những đứa bé từ một vùng núi non Việt bắc xa xôi lại chí t́nh với một người miền nam, và bây giờ chỉ c̣n là.. “khúc ruột ngàn dặm”, như tôi. Tôi lấy thêm một pḥng, cho hai đứa kia, c̣n thằng bé đánh giày nhỏ nhất, ở cùng pḥng với tôi. Trước khi đi ngủ, tôi cho thằng bé một ngàn đô la, bảo nó ngày mai mua vé xe lửa về lại Nghĩa Lộ, đưa cho ba má nó. Tôi viết một mảnh giấy kèm theo, bảo với ba nó tôi là một trong bốn người tủ cải tạo lúc xưa, và dùng số tiền này t́m mọi cách đưa bà cụ về Hà Nội nằm bên ông cụ như lời bà trăn trối lúc lâm chung. Tôi có cho địa chỉ để anh ta liên lạc. Tôi c̣n căn dặn thằng bé phải hết sức cẩn thận, v́ các chuyến xe Thống Nhất bắc-nam sẽ rất đông người vào những ngày giáp tết. Nó tṛn mắt nh́n tôi ngạc nhiên, rồi nắm chặt bàn tay tôi, nói ngày mai, sẽ may thêm một cái túi bên trong chiếc áo để khâu tiền vào trong đó.
|
“ Kính thưa Anh,
Vợ chồng em và chắc chắn là vong linh của mẹ em nữa, xin muôn vàn cảm tạ ơn Anh.
Kính thư
Bố mẹ cháu Khiêm |
Bức thư tôi nhận được đúng một tháng sau ngày tết nguyên đán. Suốt cả đêm trằn
trọc, tôi không biết có đúng là ḿnh đă trả ơn Bà, hay là lại mang thêm tai họa
đến cho gia đ́nh Bà. Th́ ra trong cái xă hội đang có nhiều ông lớn và đại gia
giàu có, th́ cái sinh mạng của những người nghèo khổ khốn cùng cũng vẫn chỉ là
cỏ rác. Dường như tôi có nghe ai đó nói “cuối niềm vui nào cũng có xót xa, sau
cuộc trùng phùng nào cũng có mầm mống của ly tan”.
phạmtínanninh
(vương quốc Nauy)