THỜI SINH VIÊN ĐỘC THÂN
Người viết: NGUYỄN DUY AN
Bài số 768-1347-193-vb3061405
Tác giả Nguyễn Duy-An là cư dân Virginia, hiện là Vice President Information Technology của NATIONAL GEOGRAPHIC. Lần đầu tham dự Viết Về Nước Mỹ, ông gửi một tự truyện và một truyện t́nh, đều bắt đầu từ B́nh Giả, một địa danh quen thuộc của Việt Nam thời chiến. Chưa đầy 3 tuần sau khi bài lên Việt Báo online, đă có hơn 3,600 người đọc “truyện t́nh cờ”, hơn 3,000 người đọc tự truyện của chàng trai B́nh Giả. Cả hai bài hiện dẫn đầu trong số 10 bài có nhiều người đọc nhất. Sau đây là phần tiếp tự truyện.
Tôi rời nông trại của người
bảo trợ mấy ngày trước lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) của Mỹ v́ không muốn một ḿnh
ngồi nh́n cảnh gia đ́nh 9 người con và gần 20 đứa cháu nội ngoại của họ sum họp
quây quần vào dịp lễ.
Tới Virginia, nhờ sự giúp đỡ và giới thiệu của cha Trần Đ́nh Nhi, chánh xứ giáo
xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, tôi dọn đến ở chung với 3 người bạn khác trong một
chung cư 2 pḥng ngủ, và xin tiền trợ cấp học bổng, nộp đơn xin vào Đại Học Cộng
Đồng (Community College). Nhiều người khuyên tôi nên chờ một năm, sau khi đă trở
thành thường trú nhân của Tiểu Bang để khỏi phải chịu tiền học phí cao, nhưng
tôi đă quyết định xin vào học ngay từ mùa xuân 1985 v́ thấy ḿnh đă muốn già rồi!
Nhờ những người bạn cùng chung cư, tôi tới trường làm quen với những sinh viên
Việt Nam để học hỏi kinh nghiệm trong mấy tháng c̣n lại trước khi chính thức
nhập học. Lúc bấy giờ, đại đa số người Việt Nam theo học ngành kỹ sư điện
(Electrical Engineer) hoặc Vi Tính (Computer Science). Những ngày ở với cha Trần
Đ́nh Trọng ở Vinh Trung - B́nh Giả, tôi đă bị điện giật mấy lần v́ giúp sửa máy
điện của nhà thờ nên rất sợ điện. Do đó tôi quyết định chọn ngành Vi Tính.
Lúc nh́n vào những môn học cần thiết cho ngành Vi Tính, tôi mới thật sự hoảng sợ
v́ môn toán. Thực t́nh mà nói, hồi nhỏ tôi rất giỏi toán, nhưng lúc ở trong
chủng viện, từ lớp 10 trở lên, tôi phải theo chương tŕnh ban C (Văn Chương và
Sinh Ngữ), về sau đi học triết nên tŕnh độ toán của tôi lúc bấy giờ chỉ ngang
ngửa với một em học hết lớp 9 trung học.
Tôi ra thư viện mượn một số sách toán về học ngày học đêm để chuẩn bị cho tương
lai...
Trong lúc chờ đợi nhập học, tôi phải đi kiếm một việc làm ban đêm để sống qua
ngày chứ chẳng lẽ chiều chiều lên nhà thờ, giả vờ phụ giúp việc ǵ đó để ăn cơm
"chùa" măi cũng kỳ cục. Hai ngày cuối tuần không nói làm ǵ, chứ chiều nào cũng
thế chắc quê xệ lắm, mặc dầu bạn bè vẫn cho tôi là người "đẹp trai không bằng
chai mặt".
Cũng tại nhà thờ Việt Nam, tôi quen được một người chuyên thầu "cleaning" (quét
dọn các văn pḥng công sở sau giờ làm việc). Thấy tôi nói được tiếng Anh khá,
bác này cho tôi trông coi một building, mỗi tối làm 4 tiếng từ 6 giờ tới 10 giờ
đêm, đi về có người chở, mỗi giờ 4 dollars, không phải làm, chỉ sắp xếp công
việc cho những người khác làm (đa số là người Việt Nam) và làm bù lúc có người
nghỉ, thêm phần liên lạc với chủ nhân của building và ông chủ thầu người Việt
Nam.
Sau vài tuần, tôi thấy công việc cũng không đến nỗi nào, nên xin nhận làm một
phần như những người khác (3.50 dollars một giờ), và phải làm thật nhanh để xong
việc trong ṿng 3 tiếng thay v́ 4 tiếng như những người khác, v́ nửa giờ đầu và
nửa giờ cuối phải đi một ṿng phân chia công việc và ghi sổ sách giấy tờ. Từ đó,
đêm từng đêm tôi đi quét nhà, hút bụi, lau cầu tiêu để sống qua ngày.
Về sau, với tiền học bổng và làm việc trong trường, tôi cũng tạm đủ sống, nhưng
vẫn tiếp tục giữ cái "job" lau cầu tiêu này để kiếm thêm tiền mua quà gởi về
giúp gia đ́nh bên Việt Nam.
Việc mua hàng, đóng thùng và đi gởi quà về Việt Nam thời bấy giờ cũng là một
huyền thoại! Cha mẹ tôi và các em, các cháu bên nhà đâu có hiểu được những chai
dầu xanh, những xấp vải, radio-cassette... tôi gởi về từ đâu mà có. Nhưng tôi
rất vui mừng và hănh diện v́ trong gian nan khốn khó của những ngày đầu sống
kiếp tỵ nạn, tôi đă giúp đỡ gia đ́nh được phần nào qua cơn túng quẫn, đều đặn 3
tháng một thùng quà cho tới ngày có chương tŕnh chuyển tiền.
Tới ngày ghi danh các lớp vào mùa xuân 1985, người ta chỉ cho phép tôi lấy 12
credits (tín chỉ). Tôi cự nự và khiếu nại với counselor ở trường, cũng chẳng tới
đâu. Người ta gởi tôi lên gặp ông Dean (Khoa Trưởng) về Vi Tính (thời đó gọi là
Data Processing). Ông ta hỏi tôi tại sao muốn ghi nhiều lớp cho mùa đầu tiên,
tôi trả lời thẳng thắn: Tôi già rồi, qua trễ, tôi muốn chạy nước rút càng nhanh
càng tốt. Và cuối cùng ông ta đồng ư cho tôi ghi thử 18 credits, nếu qua tháng
đầu cảm thấy không học được phải "drop" xuống 12. Tôi hư hửng với tờ giấy ghi
danh có chữ kư của Khoa Trưởng để bắt đầu cuộc đời sinh viên tại Mỹ.
Những người bạn Việt Nam trong trường cho rằng tôi "hơi mát", nhưng tôi cứ bỏ
ngoài tai. Từ đó, mỗi ngày tôi lên trường từ 7 giờ sáng, chờ tới 5 giờ 30 chiều
có người chở đi làm.
Tiền mua sách vở cũng là một gánh nặng ở đại học. Tôi theo bạn bè t́m mua sách
cũ nhưng cũng không đủ, nên tôi nghĩ ra một cách là mượn sách của các bạn cùng
lớp, mỗi người một hôm lúc người ta không có lớp, ngồi trong thư viện chép lại
bằng tay v́ nghĩ rằng viết ra được cũng giúp ḿnh học nhanh hơn. Cái tai hại đầu
tiên tôi gặp phải là ông thầy không dạy theo thứ tự trong sách, nhưng nhảy qua
nhảy lại. Nguyên cái việc t́m ra chỗ trong tập của ḿnh đă khó rồi, nhưng có chỗ
ḿnh chưa viết tới nên c̣n khốn khổ hơn nữa. Nhưng rồi khốn khó cũng qua đi.
Sau kỳ thi giữa khóa (mid-term), tôi lấy được toàn bộ điểm A, kể cả môn Anh-Văn
(English Composition I), nên anh chị em sinh viên Việt Nam trong trường bắt đầu
nể phục tôi. Việc tôi thi tuyển được vào ngay English Composition I chứ không
phải học một lớp ESL (English As Second Language) nào cả cũng đặc biệt rồi, bây
giờ thấy tôi lấy A, bạn bè Việt Nam cứ theo hỏi cách học. Tôi thẳng thắn trả lời:
Tất cả đều nhờ công lao các cha các thầy trong tiểu chủng viện Xuân Lộc, chứ khả
năng tôi cũng như các bạn thôi. C̣n cách để học thêm từ ngữ mới (vacabulary) th́
tôi nói thật với mọi người là mỗi ngày tôi xé một tờ trong cuốn tự điển Anh Việt
của Trần Văn Điền bỏ túi, thỉnh thoảng mở ra học, kể cả lúc ngồi trong nhà vệ
sinh.
Lúc bấy giờ, mặc dầu là trường 2 năm, nhưng có người đang học năm thứ 3 hoặc thứ
4 v́ phải bỏ cả năm hoặc hơn nữa để học tiếng Anh (ESL). Cũng có người học gần
xong nhưng chưa xin chuyển trường được v́ chưa lấy English Composition I & II.
Từ đầu tháng 3 năm 1985, tôi có việc làm trong trường với số lương tối thiểu,
nhưng v́ là sinh viên mới, lại không bắt đầu từ mùa thu, nên người ta không biết
cho tôi làm việc ǵ... Cuối cùng, thấy tôi cứ ngồi ở thư viện suốt ngày, nên văn
pḥng counselor (kế bên thư viện) nhận cho tôi làm cái chân "lấy hẹn" cho sinh
viên gặp counselor, làm 20 tiếng một tuần với mức lương tối thiểu. Nhờ làm việc
ở văn pḥng couselor nên tôi quen biết hầu hết sinh viên, nhất là các anh chị em
người Việt ḿnh.
Sau khi biết tôi được điểm A về Anh Văn trong kỳ thi giữa khóa (mid-term), một
anh Việt Nam ngỏ ư mời tôi đi ăn trưa ở một nhà hàng Việt Nam, tôi ngại ngùng từ
chối, nhưng anh ta cứ theo nói măi nên tôi xiêu ḷng. Ăn xong anh ta mới cho
biết là đă qua Mỹ từ năm 1979, học ở trường hơn 3 năm, đang học lớp English
Composition II để cho đủ tiêu chuẩn đổi lên University. Lớp Anh Văn I anh ta cố
gắng lắm mới lấy được điểm C, nên muốn nhờ tôi giúp. Tôi ngại quá, nhưng "ăn của
chùa th́ ngọng miệng" nên đành nhận lời.
Lúc bấy giờ, trong các lớp Anh Văn, các bài viết hoặc thầy cho đề tài về nhà
viết, hoặc nói trước một vài đề tài cho sinh viên chuẩn bị, rồi vào lớp viết
trong ṿng 45 phút. Anh ta muốn tôi giúp viết sẵn một số bài tủ, anh ta sẽ trả
tiền, nhưng tôi không dám. Tôi chỉ hứa trong tuần kế đó, sẽ giúp anh viết bài
luận ở nhà (homework). Khi được báo đă có đề bài, tôi hẹn anh ta xuống cafeteria
của trường, mua sẵn một gói thuốc và một ly ca phê. Thời đó chúng tôi muốn hút
thuốc chỗ nào cũng được chứ không khó khăn như bây giờ, vả lại vào đầu tháng tư
tại Virginia trời c̣n lạnh lắm, nên làm liều ngồi viết bài cho người bạn ngay
trong cafeteria. Khi nhận lại bài luận với điểm B, anh bạn này bắt tôi phải nhận
20 dollars và c̣n khoe với người khác, nên thỉnh thoảng tôi trở thành người viết
bài tiếng Anh bất đắc dĩ cho bạn bè Việt Nam trong trường với giá cả $20 một bài
cộng thêm gói thuốc và ly cà-phê!
Vấn đề ăn uống trong thời gian này cũng nhiêu khê lắm. Mua thức ăn trong trường
th́ tốn kém, về nhà th́ xe cộ chưa có, nhờ cậy phiền hà, đi xe bus vừa vất vả
vừa mất th́ giờ. Để giải quyết vấn đề này, tôi cứ mang theo 3, 4 gói ḿ trong
cặp, xin nước sôi ở cafeteria là xong bữa. Về sau có người ở nhà thờ Các Thánh
Tử Đạo Việt Nam biết tôi ăn ḿ gói quanh năm để đi học, đă cho tôi về ở trọ, có
ǵ ăn nấy với gia đ́nh người ta chứ không phải trả tiền ăn, tôi mừng lắm, và lúc
nào cũng nhớ ơn, đi lại thăm nom như chú ruột vậy. Đó là chuyện về sau. C̣n bây
giờ, tôi cứ phải vật lộn với ḿ gói để sống qua ngày.
V́ sợ phải ghi ít lớp, học lâu xong, vả lại tôi cứ ngồi trong thư viện suốt ngày
nên cũng chẳng biết làm ǵ hơn là học. Tôi làm hết homework (thường là những bài
số chẵn, hoặc những bài số lẻ), c̣n th́ giờ, tôi làm hết cả những bài không phải
làm. Tôi dùng một cuốn tập làm những bài phải nộp cho thầy, một cuốn khác ghi
lại tất cả những bài khác. Những bài tập viết software cũng thế, tôi t́m ra ít
là 2 cách làm khác nhau. Việc làm này lúc đầu chỉ giúp tôi học khá hơn thôi,
nhưng về sau trở thành một dịch vụ! Số là cuối mùa học, tôi muốn tiết kiệm tiền
nên cũng rao bảng bán lại sách cũ như nhiều sinh viên khác vẫn làm.
Tôi c̣n nhớ măi chuyện t́nh cờ xảy ra lúc tôi muốn bán lại cuốn Calculus I. Cuốn
sách toán nặng cả kư này tôi đă phải trả 65 dollars, nếu tính theo lương tôi làm
việc tại trường lúc đó, mất hẳn một tuần lương! Tôi định bán khoảng $50, kể cũng
hơi cao so với những cuốn sách cũ khác, nhưng v́ tôi giữ sách rất cẩn thận nên
hy vọng bán được. Một cô bé người Mỹ tới xem rồi chê mắc, bỏ đi. T́nh cờ lúc đó
tôi làm rớt cuốn tập giải các bài homework xuống sàn nhà, cô ta cúi xuống nhặt
dùm. Tôi chưa kịp nói "thank you", cô ta đă nắm tay tôi kéo ra khỏi thư viện nói
chuyện. Cô ta đồng ư sẽ mua cuốn sách toán của tôi và tập bài giải với giá $100,
và sẽ mua hết những sách khác của tôi, hoặc giới thiệu người mua dùm để tôi
không gắn giấy rao bán trên "bulletin" nhà trường nữa, sợ người khác mua mất.
Chúng tôi trở thành bạn từ đó. Bạn thôi chứ không phải là bạn gái đâu nhé!
V́ muốn học nhanh nên tôi ghi tên học cả mùa hè 1985, nhưng chỉ ghi được 12
credits v́ mùa hè không có nhiều lớp để chọn.
Chuyện xảy ra vào mùa thu 1985 mới thực sự làm tôi nổi tiếng trong trường. Sau 2
mùa với 30 credits điểm A, tôi rất tự tin nên tôi ghi 27 credits trong tờ ghi
danh mùa thu. Lúc nhận được, nhân viên văn pḥng trợn tṛng cặp mắt xanh lè, nói
lớn như hét vào tai tôi, "Are you crazy?" làm cả pḥng nhốn nháo cả lên. Sau khi
nghe tŕnh bày sự việc, bà xếp pḥng "registration" chẳng nói chẳng rằng, bốc
điện thoại nói chyện ǵ đó, rồi đưa tôi mảnh giấy lên gặp ông Khoa Trưởng lần
nữa.
Ông ta khuyên tôi nên giảm bớt chứ không nói ǵ nặng lời v́ thấy tôi lấy toàn
điểm A. Tôi giải thích cho ông ta là tôi muốn chuyển trường vào mùa tới nên muốn
học cho xong. Thấy nói măi không thuyết phục được tôi, ông ta đành kư giấy chấp
thuận.
Mới học được 2 tuần, tôi phải giảm bớt việc "lau chùi quét dọn", chỉ trông coi
nhóm nhân viên làm ban đêm để lợi dụng thời giờ làm cho xong bài vở. Tôi cũng
làm đơn mượn nợ của chính phủ để đi học đại học, mặc dầu tôi thực sự chưa cần
lắm. Tôi cứ mượn v́ số nợ đó không phải trả trong lúc c̣n đi học. Tiền "student
loans" tôi cứ để trong quỹ tiết kiệm, không dám đụng đến, để dành pḥng khi "trái
gió trở trời".
Cha Nhi cũng gọi điện thoại hỏi tôi sao kỳ này ít lên nhà thờ chơi, chỉ đi tập
hát, lễ lạy xong trốn mất tiêu. Tôi đành nói sự thật, ngài hoảng quá, bảo tôi
học vừa thôi, coi chừng loạn óc. Thực ra ngài gọi tôi v́ thấy 2 tuần liền tôi
không ghé chơi chứ cũng chẳng trách cứ ǵ, và hơn nữa có người cho chiếc xe cũ
(10 năm hơn) nên hỏi tôi có lấy không. Đương nhiên là tôi nhận.
Chiếc xe cọc cạch đáng giá khoảng 300 dollars này đă làm phương tiện cho tôi
vượt qua những năm sống đời sinh viên tại Mỹ. Một lần nữa em xin cám ơn anh Hùng
(Virginia) đă giúp em, mặc dầu anh vẫn nói "cậu không lấy tớ cũng vất đi", nhưng
làm sao em quên được ân t́nh anh đă dành cho em lúc đó. Anh bán đi cũng được,
nhưng anh đă cho em v́ "để hắn có cái mà đi nhà thờ nhà thánh".
Nhắc đến việc "nhà thờ nhà thánh" tôi phải nhớ lại chuyện "cười ra nước mắt" của
chính ḿnh tại nhà thờ vào đêm lễ Phục Sinh 1985.
Kể từ ngày dọn xuống Virginia, tôi vẫn giúp tập hát cho ca đoàn, nhưng rồi anh
ca trưởng càng ngày càng bận rộn với công ăn việc làm và gia đ́nh, nên tôi trở
thành người tập hát thường xuyên. Trong những ngày đầu ở Mỹ, quần áo tôi mang
theo từ trại tỵ nạn vẫn c̣n dùng được, nhưng không hiểu sao càng ngày tôi càng
ph́ ra, mặc dầu chủ yếu chỉ có ḿ gói làm "lương thực hằng ngày". Thời đó tôi
đâu dám ra tiệm mua quần áo mới, chỉ quanh quẩn đi xin quần áo "cứu trợ", đặc
biệt là ở các nhà thờ Tin Lành. Kể cũng khổ, cái vừa bề ngang lại không vừa bề
dọc, nên nh́n luộm thuộm lắm. Mùa đông tương đối là "looking good" v́ trời lạnh
nên ai cũng phải mặc áo len, áo khoác dày bên ngoài, trông ai cũng như ai. Mùa
xuân và mùa hè mới thật là phiền. Lúc bấy giờ tôi cũng có một bộ đồ "vest" tươm
tất lắm — quà của một anh bạn trong ca đoàn. Tuy nhiên, áo sơ mi của tôi chỉ
toàn là loại "My Bo" (Mỹ bỏ), hoặc mua $1 một túi lớn từ các tiệm "Good Will"
nên cái dài, cái ngắn, cái lê thê...
Lễ Phục Sinh 1985, tôi vừa đánh nhịp, vừa phải hát Kinh Cầu Các Thánh lúc rửa
tội tân ṭng, nhà thờ chật cứng những người và người nên nóng lắm, mặc dầu là
ban đêm và trời mới vào xuân. Tới lúc chuẩn bị hát Ca Hiệp Lễ, v́ nóng quá, tôi
cởi cái áo vest ra cho đỡ nóng, lên bục đứng đánh nhịp. Ca viên lẫn giáo dân
ngồi phía sau cứ nh́n tới nh́n lui cười (cả mếu nữa!) chứ không chịu hát. Tôi
bực ḿnh lắm, nhưng vừa mới rước lễ xuống, chẳng lẽ lại quát tháo trong nhà thờ
(thời đó nhà thờ Việt Nam c̣n nhỏ lắm và cũng không có gác đàn). May quá, một
bác lớn tuổi bước vội lên bảo tôi khoác áo vest vào rồi hăy đánh nhịp, chứ "áo
quần cháu như thằng hề thế kia"! Tôi nh́n lại ḿnh th́ than ôi thật xấu hổ. Số
là cái áo sơ mi của tôi quá rộng và ống tay dài quá, tôi dùng giây thung cột hai
bên khửu tay để giữ ống tay áo khỏi ḷi ra ngoài nhiều quá lúc mặc áo vest,
nhưng bây giờ đă cởi áo vest ra rồi, hai tay lại khuơ khươ chuẩn bị đánh nhịp
nên trông cứ như cái h́nh nộm người ta treo ngoài đồng để dọa chim c̣ khỏi xuống
ăn hoa màu!
Sau thánh lễ, một cô bé trong ca đoàn đến "hạ lệnh" cho tôi: "Anh đưa hết quần
áo tới nhà em sửa lại cho. Chắc tụi em phải kiếm tiền mua quần áo cho anh chứ ai
lại để ca trưởng ăn mặc thế kia, làm xấu mặt cả ca đoàn". Tôi c̣n biết nói năng
chi, ngoài câu "chiếc áo không làm nên ông thầy tu". Bạn bè lúc bấy giờ cứ nghĩ
là tôi sẽ bồ cô bé ấy, nhưng không hiểu sao tôi chẳng bao giờ có một chút giao
động trong tim về nàng, chỉ xem nàng như một "người em bé nhỏ", và nàng cũng
muốn thế cho tới bây giờ.
Thú thật với các bạn là lúc đó tôi cũng cảm động lắm, nhưng có lẽ v́ trong tim
tôi thời bấy giờ vẫn c̣n âm thầm ủ ấp bóng h́nh một người con gái thôn B́nh, với
hy vọng sẽ tiến tới, nhưng rồi chuyện t́nh đó cũng "vỗ cánh bay đi" v́ nàng qua
Mỹ và lập gia đ́nh trước khi tôi ra trường.
Lúc bấy giờ cuộc sống của tôi tương đối cũng khá ổn định, tôi có thể mua cho
ḿnh một vài bộ quần áo tươm tất để đi lễ, nhưng cứ nghĩ tới gia đ́nh đang bữa
đói bữa no ở B́nh Giả nên tôi không dám chi tiêu một đồng cho bản thân ḿnh. Làm
sao tôi dám mua quần áo đẹp khi nghĩ tới cha mẹ và các em các cháu bên nhà phải
dằn bụng mỗi ngày với những bữa cơm độn bắp độn khoai!
Sau khi giảm bớt việc "lau chùi quét dọn" để có thêm th́ giờ học bài, tôi sợ
không đủ tiền mua quà gởi về gia đ́nh mỗi 3 tháng, nên tôi xin đi theo phụ việc
cho một người làm thợ mộc mỗi tuần 6, 7 tiếng vào ngày Thứ Bảy. Công việc vất vả
hơn, nhưng mỗi tháng tôi cũng kiếm thêm được vài trăm. Một vài người bạn khuyên
tôi nên đi làm nhà hàng, đỡ vất vả hơn và có thêm tiền "tip". Nhưng v́ phải làm
từ 11 giờ sáng cho tới gần nửa đêm cả 2 ngày cuối tuần nên tôi không thích, v́
tôi muốn có th́ giờ đi tập hát, đi sinh hoạt ở nhà thờ Việt Nam vào chiều Thứ
Bảy và Chúa Nhật nên tôi không làm.
Lúc bấy giờ tôi đă khá nổi tiếng ở trường, lại làm tại pḥng counselor và
tutorial service nên nhiều cô bé Việt Nam đến làm quen, nhờ giúp đỡ bài vở...
Một bóng hồng ấp ủ trong tim từ thôn B́nh đă làm tôi do dự không biết có nên đi
tu nữa hay không, bây giờ thêm mấy cô sinh viên nhơng nhẽo mỗi ngày, rồi các nữ
ca viên ở nhà thờ mỗi cuối tuần nữa nên tôi biết là ḿnh không tu được nữa thật
rồi! Đúng là Chúa gọi th́ nhiều nhưng chọn chẳng bao nhiêu. Có điều không biết
có phải Chúa không chọn tôi hay tôi không chọn Chúa! Lúc được tin cha bố tôi là
linh mục Trần Đ́nh Trọng đột ngột ra đi, tôi cũng suy nghĩ nhiều lắm và quyết
định đi cấm pḥng mấy ngày để xem có đi tu lại được không.
Tôi không nói chắc các bạn cũng biết là tôi đă không đi tu nữa nên bây giờ mới
làm bố đời ngồi đây viết lại chuyện đời ḿnh chia sẻ với các bạn, chứ nếu đi tu
th́ phải viết những bài "Suy Niệm Lời Chúa" cho trang VietCatholic.net như các
đấng bậc tu hành...
Ngoài tiền trợ cấp của chính phủ, tiền làm trong trường, tiền "student loans",
tôi c̣n trở thành một "trouble maker" cho pḥng "Financial Aid" của trường nữa.
Các bạn có tin không?
Mỗi tuần tôi ghé vào pḥng "Financial Aid" ít là một lần, thường là nhiều hơn,
để xem có cái học bổng hay trợ cấp nào không để làm đơn xin. Tôi xin được nhiều
tới độ ông giám đốc văn pḥng "Financial Aid" phải gặp riêng tôi nói nhỏ là
"you" để vài cái cho sinh viên khác được không. Thú thật với các bạn, tôi xin từ
trên xuống dưới bất kể loại học bổng hay trợ cấp nào, từ 5 trăm tới 5 ngàn (Nói
theo kiểu các cụ ở B́nh Giả là "nậy nhỏ tấm mén chi cũng mần hết").
Tại các trường đại học ở Mỹ, thỉnh thoảng có những vị hảo tâm, các hăng xưởng
hay hội đoàn cho tiền với mục đích giúp sinh viên nghèo có điều kiện theo học
đại học. Thường thường các học bổng này dựa vào điều kiện tài chánh của sinh
viên (tôi th́ nghèo quá rồi v́ đi làm ban đêm và cuối tuần lănh tiền mặt nên coi
như không có), học giỏi (dựa vào học bạ th́ tôi được toàn điểm A nên không có ǵ
trở ngại), và có một số học bổng dành cho những người "thiểu số" (minority) —
đối với Mỹ th́ ḿnh chẳng những là thiểu số, mà c̣n là loại thiểu số ở bậc dưới
âm độ nữa chứ lỵ. Tôi sống theo châm ngôn "muốn ăn th́ lăn vô bếp" nên cứ xin
liên tục, v́ "con khóc mẹ mới cho bú", ḿnh không xin th́ ai biết ḿnh cần mà
giúp, phải không?
Những năm ở Đại Học là "thời vàng son" của tôi tại Mỹ. Tuy vất vả, nhưng vui
nhiều. Với cây đàn guitar và một số vốn âm nhạc học được từ những ngày c̣n sống
trong chủng viện, tuy tôi hát không hay, nhưng cũng có nhiều cô sinh viên mủi
ḷng trong những lần sinh hoạt hội Sinh Viên Việt Nam ở trường khi tôi nghêu
ngao hát "con gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may" hay "chiếc áo quê hương theo anh
vượt trùng dương", và nhất là bài hát tự biên, tự diễn phổ nhạc một bài thơ t́nh
"mai anh đi rồi bé có buồn không, mai anh đi anh nhớ bé vô cùng"...
Lúc mới chuyển lên University tôi cũng hơi sợ nên mùa đầu chỉ dám lấy 15 credits
để dọ dẫm xem sao. Những mùa kế đó, tôi lại tăng lên lúc 18, lúc 21 credits. Lúc
này xét theo học bạ (transcript) của tôi, người ta xếp cho tôi việc trông coi
pḥng Lab máy vi tính của trường nên cũng hơi vất vả v́ sinh viên cứ hỏi hết
việc này tới việc khác: Khi th́ máy không chạy, khi th́ chương tŕnh (program)
bị bọ (bugs)...
Lúc bây giờ trong đầu tôi lúc nào cũng chỉ luẩn quẩn những Assembler, COBOL,
JCL, với C, rồi Pascal, v.v... Theo kinh nghiệm của những người đi truớc, tôi
ráo riết t́m ṭi để kiếm một cái việc liên quan tới ngành vi tính trong mùa hè
để học hỏi một ít kinh nghiệm bỏ vô đơn xin việc sau này, chứ chẳng lẽ đi xin
việc "Programmer/Analyst" mà chỉ thấy toàn kinh nghiệm đi lau cầu tiêu với đóng
"deck" th́ cũng kẹt. Tôi vẫn cứ vừa học, vừa làm ban đêm và cuối tuần, nhưng vẫn
mượn thêm "student loans" v́ từ năm thứ 3, chính phủ cho mượn mỗi năm 5 ngàn nên
tôi cứ mượn để dành đó.
Đúng là trời thương, trời đem đến. Trong lúc làm ở pḥng Lab tại trường, trong
một lần giúp một học sinh "debug software", tôi lọt mắt xanh một ông xếp Mỹ đi "xem
sinh viên cho biết sự t́nh". Thực ra đây là những người của các hăng xưởng gởi
tới trường để phỏng vấn những sinh viên sắp ra trường, giúp họ kiếm việc làm.
Trong lúc nghỉ giải lao, ông ta đi qua pḥng Lab, thấy tôi sửa một cái software
cho một sinh viên trong tích tắc, ông ta mở miệng khen v́ tưởng tôi là giáo sư ở
trường: "your teaching method is so great.”Tôi nói chuyện làm quen và hỏi xem
hăng ông ta có việc ǵ cho sinh viên làm mùa hè không, v́ tôi muốn đi làm mùa hè
tới để lấy kinh nghiệm xin việc sau này.
Ông ta ngạc nhiên quá, hỏi ra mới biết tôi chỉ là sinh viên năm thứ 3 chứ chẳng
phải giáo sư, "giáo cụ" ǵ cả. Nhưng cũng nhờ đó tôi kiếm được việc làm mùa hè
kế đó, và thay v́ trở lại trường học "full-time" cho 18 credits cuối, tôi đă ở
lại làm "full-time" và học "part-time" 2 mùa kế đó mới xong chương tŕnh.
Năm cuối ở đại học chương tŕnh học của tôi rất nhẹ v́ tôi đă ráo riết học thật
nhiều vào những mùa truớc, đó cũng là dịp may nên tôi mới dám nhận đi làm
full-time và tiếp tục đi học part-time.
Sau khi ra trường, mặc dầu đă có việc làm tốt, nhưng tôi không muốn trả ngay món
nợ 15 ngàn tiền student loans, nên ghi danh học tiếp cao học. Lúc đầu chỉ định
học cho vui và tránh trả tiền nợ thời c̣n là sinh viên càng lâu càng tốt. Nhưng
sau mới thấy học phí nặng quá, cái sở tôi làm lại không chịu trả tiền "graduate
school", v́ ḿnh đă có bằng và khả năng để làm việc rồi. Tôi bực ḿnh nên nộp
đơn xin việc khác, tuần nào cũng xem báo và gởi resume đi lung tung cả.
Trước khi chính thức đi học cao học, tôi tŕnh bày với ông chủ hăng thầu
"cleaning" để xin nghỉ việc v́ từ nay ban ngày tôi phải đi làm công sở, tối lại
phải đi học lấy bằng "master". Ông chủ tiếc lắm, nhưng cũng rất hănh diện v́ ông
đă giúp tôi có việc làm để sống qua ngày trong thời gian học đại học. Theo phép
lịch sự, tôi cũng đến gặp ông chủ building nơi tôi đă làm việc mỗi tối trong hơn
3 năm vừa qua.
Trong lúc nói chuyện, ông ta quá ngạc nhiên khi biết tôi đă học xong 4 năm đại
học trong thời gian đi quét dọn văn pḥng cho ông ta. Sau khi nói cho ông ta
biết là tôi đă có việc làm chính thức cả mấy tháng nay, từ lúc chưa ra trường,
nhưng bây giờ đang đi kiếm việc khác v́ muốn kiếm sở nào đồng ư giúp tôi trả
tiền học cao học v́ học phí nặng quá. Ông ta cho tôi cái hẹn để Thứ Hai kế đó
tới phỏng vấn với ông giám đốc "data processing" của hăng TRW. Tôi được nhận vào
làm và được giúp đỡ đi học lấy bằng cao học về điện toán tại hăng này. Lúc tôi
quyết định sẽ tiếp tục học lấy tiến sĩ, ban giám đốc hăng cũng đồng ư, nhưng
muốn tôi lấy ngay cái bằng MBA (Master - Business Administration: Quản Trị Kinh
Doanh) v́ họ mới cho tôi lên làm xếp nhỏ (manager), và nếu muốn đi lên trong
ngành quản trị (management) th́ phải có MBA. Tôi phân vân lắm, v́ lúc đó tôi đă
có gia đ́nh, và một cháu gái mới mấy tháng tuổi, nên chỉ muốn học tiếp cho xong
tiến sĩ chứ làm xếp chẳng làm th́ thôi.
Tôi lên hỏi ư kiến ông thầy bảo trợ của tôi ở đại học, ông ta cũng khuyên tôi
nên lấy MBA để dễ "thăng quan tiến chức" đă rồi trở về lấy Ph.D., v́ lấy tiến sĩ
ngay cũng chỉ oai thêm một tư, hoặc muốn đi dạy đại học th́ tốt chứ làm việc ở
ngoài họ cần cái MBA hơn. Tôi nghe theo, và phải mất thêm gần 3 năm nữa mới lấy
xong cái MBA, v́ lúc đó tôi đă có gia đ́nh nên không c̣n học nhiều như lúc c̣n
độc thân được nữa, và công việc cũng mỗi ngày một vất vả hơn v́ làm xếp Mỹ không
đơn giản tư nào cả.
Tôi không viết ra đây những chi tiết từ lúc học xong chương tŕnh 4 năm đầu đại
học, v́ tựa đề của bài này là "thời sinh viên độc thân". Khi có dịp, tôi sẽ chia
sẻ về thời gian vừa làm vừa học với sự nâng đỡ và khích lệ của nhà tôi, v́ nếu
không có nàng, tôi không thể nào vượt qua được.
Tôi chia sẻ "Nhật Kư Đời Tỵ Nạn" của ḿnh với các bạn để khuyến khích các bạn
trẻ đang miệt mài vất vả học hành hăy kiên tâm bền chí, v́ "qua đau khổ mới tới
vinh quang".
Lúc tôi bước lên khán đài (sân khấu) để nhận bằng tại Kennedy Center ở Hoa Thịnh
Đốn, h́nh ảnh đầu tiên tôi nghĩ tới là những buổi chiều cỡi ḅ từ ruộng trở về
nhà, miệng nghêu ngao đọc bài học thuộc ḷng ở B́nh Giả, và nhận biết rằng ḿnh
đă lớn, đă trưởng thành, nhưng cũng đă xa rồi, "Quê Hương Yêu Dấu" của tôi.
Trong những bước chân ngập ngừng đó, tôi thầm th́ trong tim: Cha ơi, con không
đi tu được, nhưng con đă học tới đầu tới đũa để kiện toàn ước muốn của cha. Giờ
này cha không c̣n nữa, nhưng bao nhiêu năm qua con vẫn ấp ủ trong ḷng câu nói
của cha để làm động lực vươn lên những khi chán nản, thất vọng... “Các con cố
gắng mà học, đời cha đă khổ v́ ông nội mất sớm, không được học nhiều nên cứ phải
cày sâu cuốc bẫm. Thời nào người có học cũng hơn, các con cố lên, đừng chán
nản.”
Nguyễn Duy-An