Tha La Trong Kư Ức

Trong thơ văn và âm
nhạc Việt Nam có vùng địa danh mà tên nghe dễ thương và lại
có nét tôn giáo là 4 chữ trong bản nhạc "Tha La Xóm Đạo" của
nhạc sĩ Dzũng Chinh. Phải nói là nhiều người đă nghe qua địa
danh này, nhưng chi tiết tại sao có tên lạ tai như vậy, mà
họ có thể không biết nhiều về Tha La. Tôi được anh bạn đồng
hương Tây Ninh Nguyễn Thành Đởm gởi cho bài tài liệu vô cùng
công phu do anh Lâm Thanh thu thập tài liệu mà anh biên soạn
lại thành bài viết mang tên "Tha La Xóm Đạo" đăng trong tập
san Tây Ninh Mến Yêu bên Úc châu, kèm theo tài liệu của giáo
sư Lê Tấn Tài và bài thơ "Tha La” của thi sĩ Vũ Anh Khanh,
cùng bài thơ của anh Lâm Thanh là “Tha La ngày trở lại". Cho
nên dựa theo tài liệu của quư báu của người Tây Ninh như anh
Lâm Thanh, Lê Tấn Tài, Trần Anh Dũng, Hà Đ́nh Huy, cũng như
chị nhà thơ Nhược Trần Ngọc Huệ, một người dành cho Tha La
cảm t́nh nồng nàn, dù chị không là người Tây Ninh. V́ vậy
tôi xin gởi bài viết về lại đất Tha La như kư ức cũ một lần
đặt chân đến, cũng như bao lần ghé qua Trảng Bàng, một vùng
đất dễ thương trong tiềm thức cũ.
Tại sao là "Tha La Xóm Đạo ?":
Tên Tha La phát nguyên do chữ của người Thủy Chân Lạp hay
Khmer là “Schla", được người Việt đọc trại thành "Tha La",
nó là vùng đất xưa nơi người Chân Lạp định cư, trước khi sát
nhập vào lănh thổ Việt Nam. V́ là tên của người Khmer nên nó
có âm thanh lạ tai của ngoại ngữ khi chúng ta dùng mà không
mang nghĩa Việt ngữ nào hết. Nhưng nếu phải dịch từ ngữ "Schla"
thí nó có nghĩa là trạm, trại, nhà lồng, nhà mát. Vùng Tha
La ngày xưa là rừng rậm hoang vu, đă được quan quân và con
dân chúa Nguyễn đến khai phá và định cư từ hơn 200 năm trước.
Đất Tây Ninh cũng có nhiều chỗ cùng mang tên Tha La. Tại
nhiều tỉnh khác như Châu Đốc, Trà Vinh, có đồng bào Khmer ở,
cũng có nhiều địa danh Tha La nhưng nó không nổi tiếng như
Tha La Xóm Đạo của Trảng Bàng để rồi địa danh này được đưa
luôn vào văn học và âm nhạc Việt Nam. Tha La theo dấu chân
của Trảng Bàng khi th́ v́ Trảng Bàng thuộc tỉnh Tây Ninh,
nên có dạo thời Pháp thuộc nó bị sáp nhập vào Gia Định, rồi
lại được tách riêng theo Tây Ninh thời đệ nhất VNCH, rồi
Trảng Bàng lại bị chia cắt vào đất tỉnh mới là Hậu Nghĩa
thời đệ nhị CH, rồi chính quyền CS lại sát nhập Tha La và
Trảng Bàng vào tỉnh Tây Ninh. Điều hiển nhiên mà nhiều người
Tây Ninh hay G̣ Dầu, Trảng Bàng cứ xem Tha La thuộc địa phận
Tây Ninh v́ sự gắn bó lịch sử từ nguyên thủy.
Đường về Tha La:
Đường đi đến Tha La không khó mà thật dễ đi. Ta cứ lấy Quốc
Lộ 1 từ Sài G̣n theo hướng tây bắc mà chạy thẳng về G̣ Dầu
hay về Tây Ninh. Con đuờng này đưa bạn về Trảng Bàng nơi có
địa danh Tha La Xóm Đạo. Nên biết đoạn đường Trảng Bàng và
Sài G̣n cách nhau khoảng 30 miles hay 50 cây số mà thôi. Từ
Trảng Bàng mon men về hướng tây thêm 3.5 miles hay 6 cây sô
th́ chúng ta vào đất Tha La, nơi có xóm đạo hiền ḥa, nơi có
nhiều trái ngọt cây lành. Người Tha La hay người Trảng Bàng
không thể nào không biết những món ăn địa phương tại đây là
món bánh canh gị heo hay bánh tráng cuốn thịt heo. Mỗi khi
tôi về G̣ Dầu mà xe đ̣ khi ngừng tại chợ Gia Huỳnh, nằm bên
phải quốc lộ khi dừng chân tại nơi đây cho hàng khách ăn
trưa, ở tuổi vừa lớn tôi đớp 2 tô bánh canh cho đỡ cơn đói
và không quên lót dạ thêm một dĩa thịt và gị heo luộc cuốn
bánh tráng, mẹ tôi thường nói đùa là ăn hàng kiểu đó chỉ có
nước ế vợ mà thôi, nhưng những ngày khôn lớn khi biết làm
dáng ghé Trảng Bàng tôi ăn bánh canh trong ngại ngùng, v́ sợ
lỡ có mấy cô nữ sinh áo dài trắng của đất Tha La hay của
quận Trảng Bàng thấy được sẽ bảo tôi rằng "nam thực như hổ"
th́ mất hết duyên con trai của tôi... và tôi sẽ buồn t́nh
lắm huhu... Sau khi ăn no nê muốn theo dấu chân của mấy cô
nữ sinh áo dài trắng vào thẳng địa danh này. Th́ bạn hăy rẽ
trái vô con đường đất đỏ dẫn vô xă An Hoà, cứ đi thẳng miết
sẽ gặp nhà thờ Tha La, và chắc chắn bạn sẽ không bị lạc đâu,
theo lời anh Hà Đ́nh Huy, bạn tôi dặn vậy. Tôi đă đến thăm
gia đ́nh anh Sơn một lần vào năm 1971 được uống nước mưa mà
có 2 cô nữ sinh áo dài trắng, em anh Sơn là Thu Nga, Thu Cúc
đă lâu rồi, tôi quên lối vào Tha La, nên khi viết bài phải
dọ hỏi lại những người bạn đồng hương Tây Ninh, Trảng Bàng,
th́ cái nhớ lại hiện về trong tôi.
Tây Ninh Quê Tôi có nhiều vùng đất mang tên của thảo mộc,
cây cối như Trăng Bàng, Trăng Dài, Trảng Sụp, Trăng Lớn, G̣
Dầu Thượng, G̣ Dầu Hạ, G̣ Chai, Giồng Riềng, Giồng Ổi v.v.
nói lên ư nghĩa của cây cối, của vị thế đất, chỗ cao, chỗ
thấp, chổ trũng. Tha La tuy nhỏ về diện tích, nhưng cũng
mang ít nhiều đặc tính đó. Toàn không gian hay khunh cảnh là
một bức tranh thật linh động, đẹp đẽ và mát rượi tâm hồn,
mát vô cùng tận của những vùng đất thiên nhiên ph́ nhiêu,
nào là đất g̣ nhô lên, đất đỏ, dất sét, đất trắng, đất ruộng
hay đất vườn. Tùy theo vị thế đất, cư dân ở đây trồng đủ các
thứ rau quả, cây trái như một nét tham lam của thiên nhiên.
Bước vào đầu ngỏ ta thấy nhiều nhất là tre, trúc và tầm vong.
Với thân thon, cành dịu, lá mỏng dài nằm dọc hai bên đường,
ngọn giao chụm vào nhau thành một cái ṿm như cái hang mát
rượi, chạy dài cả cây số. Đi trong bóng râm xanh um ấy, gió
thổi hiu hiu làm lao xao kẻo kẹt cành cây hay đánh rơi những
chiếc lá vàng khô, tung tăng theo những giọt nắng mang màu
huyền ảo. Hỏi rằng bạn có thích không chứ? Dọc theo hai bên
đường, sau hàng rào tre là những ngôi nhà đủ loại không đồng
bộ tùy theo t́nh trạng kinh tế của gia chủ, như nhà của anh
Sơn mà tôi quen, nhà anh có mái lợp tranh, vách đất, trước
nhà có cái lu nước đựng nước mưa, anh dùng gáo dừa khô múc
nước mời tôi uống mà có mấy con lăng quăng nhảy tango trong
màu nước trong trẽo, chúng tung tăng bơi lội, tôi rùng ḿnh
lưỡng lự, anh Sơn nói cá lia thia nhỏ xíu không sợ lăng
quăng chẳng lẽ tôi có thân h́nh bồ tượng như vậy mà e ngại
vài con lăng quăng, loài vi sinh vật này đang ve vẩy đuôi
kia sao. Bên cạnh là hai cô em Thu Nga và Thu Cúc cười khúc
khích v́ cái sợ sệt của tôi. Hai cô gái Tha La khiến tôi
nhắm mắt làm luôn ngay 5 con lăng quăng vô bụng. Láng giềng
nhà anh th́ có nhà lợp mái tôn hoặc mái ngói, trước mỗi nhà
là cây cối xanh um, phần lớn là cây ăn trái và cho bóng mát.
Nhà anh Sơn phía trước trồng hai cây xoài, một cây xoài
tượng và một xoài thanh ca, nhiều vú sữa, cây ly-ô-ma, măng
cụt, sa-pô-chê, nhà có con chó mực, phía sau nhà có hàng dừa,
bưởi, mận, tầm ruột, đu đủ và măng cầu xiêm mà ba anh trồng
kiểu sưu tầm. Sau nhà nuôi một bầy heo cho lợi tức. Đó là
một gia đ́nh tiêu biểu của miền quê mà tôi quen. Họ sống an
phận, hiền lành và tử tế.
Ai về Tha La Xóm Đạo ?:
Tha La là một địa danh đẹp về thắng cảnh thiên nhiên và đẹp
v́ t́nh người trong tiềm thức của tôi.. Thật vậy, tên Tha La
chỉ cho ta ư nghĩa tượng h́nh ra một họ đạo tại đất Tha La
này. Chính v́ mật độ dân cư không nhiều chỉ vào khoảng 3,000
người trước năm 1975, người ta không t́m thấy Tha La trong
bản đồ địa lư hay hành chánh. Đây là xóm đạo thuộc Xă An Hoà
được tổ chức khá ngăn nắp và qui củ, nhà cửa khang trang,
quây quần chung quanh ngôi thánh đường. Trải qua bao thăng
trầm của chiến tranh tàn phá, nhà thờ đă được trùng tu lại.
Cho tới năm1967 th́ việc sửa sang được hoàn tất. Chánh toà
nằm giữa với tường gạch bao quanh, với sân rộng lót đá, với
trường học và nhiều cơ sở phụ thuộc. Ngôi Chánh toà đồ sộ có
phần nguy nga, hai mái ngói xoải dài xuống thấp có sức chứa
chừng 400 con người ngoan đạo trong các buổi hành lễ. Tượng
Đức Mẹ trước mặt, và có một hang đá khổng lồ nằm bên hông,
tháp chuông không cao nhưng có kiến trúc lạ mắt như cái lồng
chim. Toàn bộ khu nhà thờ, nh́n chung, với lối kiến trúc đơn
giản, không mang nặng nét cổ điển của Tây phương, nhưng lại
được bao bọc xung quanh bằng những tàn cây cổ thụ cao to cho
bóng mát, mang vẻ u hoài, thanh tịnh như một ngôi chuà cổ
của một miền quê.
Xă An Ḥa, thuộc quận Trăng Bàng, có 8 ấp, dân số 12,000,
nh́n trên bản đồ thấy h́nh dạng bầu dục, nằm dọc theo rạch
Trăng Bàng mà đầu nhọn là ấp An Thới vươn ra tận Vàm Trăng
bên bờ sông Vàm Cỏ Đông. Đây là vùng đất ph́ nhiêu, trù phú
do phù sa sông bồi nên có lẽ từ lâu lắm rồi.. Ngoài đồng
ruộng, nương rẩy ra, khung cảnh c̣n thấy có những ḷ gạch
nung đất sét, rồi trại mộc trại cưa, hay những nhà máy xay
lúa. Ngành thủ công thịnh hành nhất là nghề đan lát các sản
phẩm gia dụng bằng tre, trúc hay nứa. Ấp An Phú được xem là
giàu có là nơi có chợ chính của xă, quán xá sung túc, nơi
tọa lạc trụ sở xă và có trường trung học địa phương công lập.
Trong xă có 3 ngôi chùa, và ngôi chùa cổ hay lâu đời nhất là
chùa tại ấp An Phú. Phần lớn dân trong những xă này nói
chung theo đạo Phật hay đạo gia tiên thờ cúng ông bà. Nhưng
nổi tiếng và gây ảnh hưởng nhiều nhất vẫn là xóm đạo Tha La
mà chúng ta đang bàn. Xóm đạo nằm trong địa phận hai ấp An
Hội 1 và An Hội 2. Hơn ba ngàn giáo dân ở đây là người cố
cựu đă định cư lâu đời, chỉ có 4 gia đ́nh người thuộc gốc
Bắc di cư 54. Như một tập tục từ lâu, ngày lễ Giáng Sinh
cũng như các ngày lễ Thánh lớn, đều là ngày hội chung của
đồng bào trong xă. Vào đêm Giáng sinh th́ cả mấy ngàn người
kéo nhau đi dạo mừng lễ đông đảo, nườm nượp ngoài đường.
Thật đông người khiến xe cộ đi qua không lọt, và chỉ toàn
người đi bộ hành. Do vậy nhiều khi không phải chỉ dân trong
xă không mà thôi, nhưng lại có có nhiều người ngoại đạo từ
chợ Trăng Bàng, chợ G̣ Dầu và các xă chung quanh về đây xem
lễ. Quả là ngày lễ hội vui chung của dân toàn vùng Hiếu
Thiện (hay G̣ Dầu) - Trăng Bàng kéo nhau tập trung về đây.
Diễn tŕnh xây dựng Tha La Xóm Đạo:
Theo sách Tây Ninh Xưa và Nay của tác giả Huỳnh Minh, xuất
bản năm 1972 và tái ấn bản tại Úc năm 1992 th́ vào cuối thời
Minh Mạng, khoảng 1840, có một nhóm giáo dân độ vài chục gia
đ́nh được cha Cosimo Trí d́u dắt, chạy nạn tới khu rừng Tha
La, khai quang lập ấp xây dựng cuộc sống, đồng thời cố gắng
bảo tồn gốc đạo và niềm tin. Để tránh sự theo dơi và phát
giác của viên chức triều Nguyễn đang ở thời kỳ e ngại đạo
ngoại lai khiến bị theo dơi, những buổi lễ thường phải lưu
động. Một tàn cây cổ thụ, một mái lá đơn sơ, hoặc túp liều
tranh ủ dột cũng mang đủ ư nghĩa và mang tính chất của cái
nhà thờ. Nhiều lúc phải làm lễ ban đêm. Khắp vùng xă An Hoà
xưa hầu như đều có dấu chân của con Chúa. Cha chủ chiên
Cosimo Trí đă thấp một ngọn nến giữa rừng âm u, vừa khai
hoang lập ấp vừa ẩn náu, vừa mưu sinh, vừa khai sáng nguồn
suối tâm linh tươi mát cho các con chiên, để nó trôi chảy
cho đến ngày hôm nay. Nếu triều đ́nh có lệ phong thần cho
những vị có công khai làng mở mang bờ cơi th́ chính cha Trí
cũng là vị rất xứng đáng được phong Thánh Hoàng bổn cảnh của
dân chúng An Hoà.
Sau năm 1863, khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Nam Nam kỳ th́ hoàn
cảnh thuận tiện hơn. Việc truyền đạo Chúa được nhà cầm quyền
Pháp khuyến khích và giúp đỡ. Giáo dân gom tụ lại Tha La
đông hơn và họ đạo Tha La được chính thức thành lập, trực
thuộc Toà Thánh La Mă. Nhà thờ có nơi cố định, đầu tiên được
xây cất, với vật liệu đơn sơ. Từ điểm nầy, các vị cha tiếp
nối đi đến các địa phương khác để truyền đạo và lập thêm xứ
đạo mới. Ngày nay ở Tây Ninh, đạo Công Giáo vẫn phát triển
song hành với các tôn giáo khác. Đi đâu cũng thấy nhà thờ,
ngay cả vùng thánh địa Cao Đài cũng có.
V́ nhờ sự cho phép của người Pháp họ đạo Tha La phát triển
ngày càng mạnh mẽ và vững vàng. Vào đầu thế kỷ 20 nhà thờ
được xây cất qui mô hơn. Tuy vậy người Công Giáo Tha La
không quay lưng lại với dân tộc. Chúng ta không đủ tài liệu
để biết Tha La có tham gia phong trào Cần Vương và Văn Thân
chống Pháp hay không, nhưng chắc chắn vào mùa Thu năm 1945,
thanh niên Tha La, nhất là thành phần trí thức đă tích cực
tham gia phong trào kháng chiến ở đất Nam Kỳ. Và chính thời
điểm nầy, nhà thơ Vũ Anh Khanh cũng gia nhập đi theo phong
trào kháng chiến, ông đă làm bài thơ để đời, trong đó có
những câu cho thấy rằng người Tha La đă đặt t́nh yêu quê
hương tổ quốc lên trên hết:
"Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng
Ngày hiu quạnh. ờ...Ơ...Hơ... Tiếng hát,
Buồn như gió lượn, lạnh dài đôi khúc nhạc.
Tiếng hát rằng:
Tha La hận quốc thù,
Tha La buồn tiếng kiếm.
Năo nùng chưa! Tha La nguyện hy sinh..."
Pháp là ân nhân của nền đạo, nhưng lại
là kẻ thù của dân tộc. Dù phải chọn lựa khó khăn, thanh niên
Tha La đă dứt khoát ra đi kháng chiến, bỏ lại ngôi nhà thờ
hoang vắng. Tha La đă trở thành một trong những địa bàn của
Đoàn Thanh Niên Tiền Phong. Đặc biệt, không phải chỉ có dân
thường mà cả những vị tu sĩ cũng tạm xếp áo ḍng để vô bưng,
ví dụ trường hợp của linh mục Nguyễn Bá Kính ra đi năm 1946.
Sau năm 1954, Tha La hồi sinh, được tái thiết, mỡ mang nhanh
chóng. Nhưng chỉ được ít năm sau th́ trận giặc khác nổi lên.
Đó là cuộc nội chiến nam bắc phân tranh mà nguyên nhân là
ngọn lửa căm thù đấu tranh giai cấp theo chủ thuyết Công Sản,
chủ trương giải phóng nguời dân trong xă hội bị cùm kẹp, hy
sinh cho một thế giới đại đồng vô sản của Marx-Lê (sic),
người CS vốn chủ trương đấu tranh sắt máu, cổ xúy vô thần,
vô tín ngưỡng, vô nhân tâm giết oan hơn tha lầm, và chiến
tranh đă ảnh hưởng đến sinh hoạt êm đềm của Tha La. Đoạn
trích thơ "Tha La" của Vũ Anh Khanh nghe sao năo nề trong
tâm hồn tôi:
"- Thôi hết rồi! C̣n chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà
Nay đă chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, năo nùng ai oán
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa
Ḷng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh
Khách rùng ḿnh, ngẩn ngơ người hiu quạnh
..."
Hay như ư thơ của Lâm Thanh, nghe trong bài "Tha La ngày trở lại" cho thấy hậu quả của chiến tranh tràn vào sinh hoạt Tha La, nghe trong buồn tênh:
"Ngày quê hương súng
nổ
Ta vật vă yêu thương,
Rẽ đôi đường sông núi
Nước vận trở về nguồn.
Ngày quê hương nhuộm đỏ
Anh tức tưởi ra đi,
Em ở cùng giặc dữ,
Nghe tim vỡ biệt ly.
Anh chim trời gẩy cánh
Hằn bao vết thương ḷng
Vẫn miệt mài viễn xứ
Mộ phần biết có không!..."
Cũng như bao địa phương khác trên đất
nước Việt Nam thân yêu khi giặc tràn vào thôn xóm, Tha La đă
đứng lên tự vệ cho chính ḿnh một cách oai hùng, Tha La của
sự kiên cường, của niềm tự hào bất khuất. Lần nầy th́ người
dân đất Tha La rời bỏ hàng ngũ những người bạn kháng chiến
cũ để trở về với người quốc gia, với lập trường dân tộc. Họ
yêu Chúa, yêu nước, yêu bờ ruộng nương, yêu con sông rạch,
yêu xóm làng, một cách cụ thể hơn là họ không yêu chủ thuyết
vô gia đ́nh, vô tín ngưỡng của Xă Hội Chủ Nghỉa. Tha La giữ
vững niềm tin, giữ vững lập trường với quê hương dân tộc
theo ḍng lịch sử đă qua. Sau đây chúng ta hăy xét Tha La
qua lănh vực thi ca và âm nhạc hay một truyền thống lâu đời
của đất Tây Ninh.
Tha La qua thi ca:
Như đă trích đoạn thơ ở phần trên, bài thơ "Tha La" của tác
giả Vũ Anh Khanh, dài 93 câu, được in trong phần mở đầu của
cuốn truyện dài có tên " Nửa Bồ Xương Khô", dày hơn 500
trang cũng của chính ông, ghi lại một số h́nh ảnh hào hùng
khi tác giả đi kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 -
1954). Sách xuất bản khoảng đầu thập niên 50. Bài thơ nầy đă
được anh Lê Tấn Tài sưu tầm và đăng trong Tây Ninh Mến Yên,
đặc san năm Mậu Dần 1998, trang 41. Rồi anh Duy Văn Hà Đ́nh
Huy chủ trương tờ Đời Mói tại bắc Cali, cũng là người Tây
Ninh rành rẽ về Tha La đă email cho tôi. Người bạn khác là
nhà văn Trần Anh Dũng ở Minneapolis, là người đồng hương G̣
Dầu Hạ đă in dấu chân tại đất Trảng Bàng và Tha La lắm lần
cũng cho tôi bài thơ này. Sáng nay nhà văn Hoàng Ngọc Liên
cũng gởi tôi bài tùy bút về Tha La của nhà thơ Nhược Trần
Ngọc Huệ tại Raleigh, North Carolina bàn về bài thơ bất hủ
này. Có lẽ nói không ngoa trong văn học khi nói về đất Tha
La, ta không thể bỏ quên bài thơ lịch sử của người Tha La Vũ
Anh Khanh. Hồn thơ của ông ấp ủ những t́nh tự về Tha La,
những nỗi ḷng của Tha La và những ḍng văn chương do chính
người Tha La ghi tạc vào bia đá vă n học Việt Nam. Nào, ta
hăy lắng nghe tâm t́nh của Vũ Anh Khanh:
Nếu bài thơ trên của Vũ Anh Khanh cho tôi một t́nh cảm xúc động t́nh hoài hương của đất Tây Ninh nói chung, th́ một bài thơ khác về Tha La do anh Lâm Thanh sáng tác khi anh trở lại thăm Tha La cũng làm tôi xao xuyến nỗi ḷng với Tha La không kém, hăy nghe tâm sự của Lâm Thanh trong bài "Tha La ngày trở lại" như sau:
"Đây Tha La xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
T́m lại bóng trời xanh
***
Hăm lăm năm không gặp,
Từ thuở em chưa chồng,
Anh xứ người mê măi
T́nh xa hơn biển Đông.
Năm xưa ḿnh ngây dại
Hẹn nhau bóng giáo đường.
Thiên đàng vừa mở cửa
Tim đỗ những hồi chuông.
Anh tay dài cánh hạc
Run run vuốt vai tṛn
Em thẩn thờ... khẻ nói:
"Tay anh! cánh thiên thần"
Em tóc mềm lụa rũ
Phủ dịu nắng chiều hanh,
Mắt rưng buồn khép lững
Nhốt trọn bóng trời xanh.
Anh khờ hơn đà điểu
Chúi đầu trong tóc em
Mong trốn đời dông băo,
Nhưng đời vẫn tối đen.
***
Ngày quê hương súng nổ
Ta vật vă yêu thương,
Rẽ đôi đườụng sông núi
Nước vận trở về nguồn.
Ngày quê hương nhuộm đỏ
Anh tức tưởi ra đi,
Em ở cùng giặc dữ,
Nghe tim vỡ biệt ly.
Anh chim trời gẩy cánh
Hằn bao vết thương ḷng
Vẫn miệt mài viễn xứ
Mộ phần biết có không!
Hăm lăm năm trở lại
Em đă hai đời chồng
Tóc dài pha mây xám
Vai ṃn gánh đau thương
Bên em bầy trẻ đói
Đứa gọi mẹ, gọi bà.
Anh sửng sờ, khách lạ!
Trẻ dáo dác ngờ... cha!
Tha La ngày trở lại,
Cở tươi... xanh giáo đường
Mộ t́nh chưa lấp kín
Đáy ḷng vẵng tiếng chuông
Chia tay hồn tê tái
Em ấp úng... nỗi niềm:
"Tay thiên thần anh nhé
Nhớ về vuốt mắt em!"
***
Quay đi, t́nh câm lặng,
Nghe lệ nhỏ sau lưng,
Giáo đường, sân nhạt nắng,
Lặng lẽ bóng chuông nghiêng!!!"
(Tặng Điền thị Gia B́nh, Lâm Thanh)
Tôi c̣n nhớ những năm đầu thập niên 60 khi nghe những bài t́nh ca thật là tuyệt tác đối với tâm hồn và ư thích âm nhạc của tôi như các bài: Những Đồi Hoa Sim, Màu Tím Hoa Sim, Đồi Thông Hai Mộ, Hàn Mặc Tử,... và hai bản nhạc về đất Tha La của Tây Ninh Quê Tôi là Tha La Xóm Đạo và Hận Tha La, nói lên nỗi buồn khi Tha La nhuốm màu chiến tranh có nỗi biệt ly hay sự quyết tâm bảo vệ xóm làng của người Tha La. Chính v́ sự ra đời hai bài hát này, mà một của nhạc sĩ Dzũng Chinh và bài kia của thi nhạc sĩ Sơn Thảo, đă khiến cho quần chúng biết đến Tha La và nhiều người biết tới Tha La với một ấn tượng đẹp đẽ trong ḷng kể từ ngày bài thơ của Vũ Anh Khanh được xuất bản vào thập niên 50, để sau này nhạc sĩ Dzũng Chinh đưa vào khung nhạc và làm nỗi hứng khởi cho Sơn Thảo hay Lâm Thanh.
Tha La Xóm Đạo
Nhạc: Dzũng Chinh
Lời/thơ: Vũ Anh Khanh
"Đây suối rừng xanh đồn quanh
Đây mây trắng ngh́n hoa với cây lành
C̣n ǵ viễn khách về đây chi hỡi người
Đất Việt giặc tràn lan
Biết Tha La hận căm
Nhẹ bước gặp cụ già, ngạo nghễ đang ngóng gió
Em chẳng biết ǵ ư
Cười run run dấu trắng
Đă từ bao năm qua khói loạn khu mịt mù
Khách về chi đây, nghe tiếng hát khách hận do đây buồn
Tiếng hờn ai oán, cời ra áo một chiều thu lửa dậy
Nghe năo nùng chưa,
Tha La buồn tiên kiếp, Tha La giận mùa thu
Ôi khi hết giặc xong
Hăy về thăm Tha La có trái ngọt cây lành
Cây lá ngẩn ngơ nằm trên ngh́n hoa máu làm hoen cả ven rừng
Ḷng người viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh với rừng già
mong manh
Đám mây tan phủ quanh, trời tối về bàng hoàng
Lạnh dài đôi khúc hát
Vang giữa chiến trường xa, giặc đang gieo tan tóc
Từng đoàn trai ra đi đă thề chẳng về nhạ"
Hận Tha La
Nhạc/Lời: Sơn Thảo
"Đây Tha La, đây xóm đạo tiêu điều
Cây buồn quanh hận thù dâng ai oán
Đây mênh mông, Tha La buồn quạnh quẽ
Ḱa rừng cây trái ngọt khách một dạo về thăm xóm
Hồn ngây ngất và buồn xưa lây lất
Nh́n hoa máu rưng sầu.
Đây Tha La, đây xóm đạo hoang tàn
Mây trời vây quanh màu tang khói lửa
Bao năm qua, Tha La c̣n chờ đó
Đoàn người đi giết thù đă hẹn về từ dạo ấy
Ḷng viễn khách, bồi hồi như thương tiếc
Mùa thu nắng hanh vàng.
Điệp khúc:
Tha La ơi, xóm đạo ơi
C̣n đâu nữa chiếc áo ngày xưa
Đành khép kín, khoác vào bộ chiến y
Ḷng hờn căm, một chiều xưa lửa dậy
Nghe năo nùng chưa, Tha La sầu khuất biếc
Xóm đạo chắc hận thù.
Đây Tha La, đây xóm đạo yên lành
Nay c̣n Đây một rừng xanh suối mát
Tha La ơi, khi nao giặc tan hết
Ngày vui xưa trở lại, khách sẽ hẹn về thăm xóm
Hồn lây lất, và buồn xưa chất ngất
Hận kia đến bao giờ."
Phần lớn những khúc nhạc nhập tâm đại đa số quần chúng là
nhạc về quê hương, lời đơn giản và ư mộc mạc dể hiểu. Hai
nhạc sĩ Dzũng Chinh và Sơn Thảo sáng tác nhạc theo cung cách
này với tiết tấu Bolero nhịp nhàng. Nên cả miền Nam tự do
ngày xưa đă tán thưởng hai khúc ca này nhiệt t́nh. Tha La là
một phần đất của quận Trảng Bàng như đă bàn, mà Trảng Bàng
lại là một phần đất của Tây Ninh. Do đó người Tây Ninh phải
có một niềm hănh diện đặc biệt, với những ai đă từng ghé qua
Tha La để hiểu t́nh người Tha La vốn chân chất và hiếu khách.
Phải chăng đó là nét đẹp của dân tộc Việt Nam?
Hơn nữa, khi nghe thơ hay nhạc về Tha La mà người ta không
khỏi dâng lên nỗi cảm thông và những niềm bâng khuâng trong
ḷng v́ có thể họ tự hỏi: Tha La là huyền thoại hay thực tế?
Nếu có thực th́ nó tọa lạc tại đâu, nó có từ hồinào, bây giờ
ra sao? Chính v́ những ẩn ư như vậy mà Việt Hải xin tham
khảo ài viết của thi sĩ Lâm Thanh có được bài viết này trong
loạt bài vè Tây Ninh Quê Tôi, có trái ngọt cây lành, có Tha
La Xóm Đạo, có kỷ niệm Tha La khi ghé Trảng Bàng ăn món bánh
canh nhớ hoài v́ nam thực như hổ, có những cô nữ sinh Tha La
cười khúc khích với ánh mắt duyên dáng, của nét vừa ngây thơ,
vừa bẽn lẽn khi ngắm nh́n tôi uống nước mưa có lăng quăng
tung tăng trong nước của ngày xưa; Ôi, kỷ niệm quê hương sao
lắm ngọt ngào, lắm nhớ nhung hôm nay khung trời Tha La bỗng
trở về từ kư ức cũ, mà tưởng rằng đă quên.
Việt Hải Los Angeles