NHỮNG BÀI VIẾT ĐẶC SẮC
Thi viết:
Chuyện Vợ Tù Cải Tạo
Dĩ
Văng
Nguyễn Kim Ngọc
Mấy tuần vừa qua, tôi đă suy nghĩ thật nhiều về cuộc thi viết “Chuyện người vợ
tù cải tạo”. Có nên viết hay không khi câu chuyện đă xa mù và có thể người tù
cải tạo này đă quên hoặc không c̣n muốn nhớ đến nữa. Tôi rất phân vân, bởi v́
khi đi thăm nuôi người tù này tôi chưa thực sự là vợ anh, chúng tôi mới chỉ có
một lễ dạm ngơ sau hai năm rưỡi quen nhau. Và hôm nay, khi ngồi viết những ḍng
chữ này tôi lại không c̣n là vợ của anh nữa!
Sau những ngày âm u tang tóc của Saigon đổi đời, bố tôi run run cột dây đôi giày
lính, dặn ḍ tôi ở nhà lo cho mẹ và các em rồi lên đường tŕnh diện đi tù . Tiếp
theo, tôi lại tiễn anh. Vừa xốc chiếc ba lô trên vai, anh vừa bảo tôi: “Yên tâm,
anh đi như đi cắm trại thôi!”. Nghẹn ngào, tôi giấu những giọt nước mắt như hôm
bố tôi ra đi. Sự đảo lộn của một đất nước, sự chia ly cùng một lúc với hai người
thân khiến tôi cảm thấy như mất hết sinh lực . Rồi những căng thẳng đổi tiền,
những buổi học tập khu phố đầy xuyên tạc. Căn nhà mười mẹ con tôi đang ở hàng
ngày bị đe dọa bởi những nhóm người đeo băng đỏ, ôm súng. Họ yêu cầu chúng tôi
về vùng kinh tế mới . Mẹ tôi bàn với chị em chúng tôi đem bớt đồ trong nhà đi
gởi họ hàng, chỉ giữ lại mỗi người hai bộ quần áo thay đổi để lỡ họ vào uy hiếp
đuổi đi th́ cũng đă chuẩn bị. May mắn, bác cả anh ruột mẹ tôi từ ngoài Bắc vào
đă can thiệp kịp thời nên mẹ con tôi được ở lại căn nhà này cho đến ngày đi Mỹ.
Mẹ tôi gầy g̣, yếu đuối, bỗng chốc phải đương đầu với bao t́nh huống. Bà đă
nhanh trí đưa chị em chúng tôi vào tổ hợp đan len. Ngoài đan len gia công, chị
em tôi c̣n đan áo đem bán ở chợ . Ngày nào cũng thức đến 1,2 giờ sáng để làm
hàng, vậy mà đến khi thăm nuôi bố tôi, mẹ tôi vẫn phải bán vàng dự trữ .
Sau những ngày tháng bặt tin, tôi nhận được lá thư đầu tiên của anh viết từ
Trảng Lớn, Tây Ninh Tiếp theo, họ cho phép thăm nuôi. Từ Saigon đi Tây Ninh
tương đối cũng gần nhưng mẹ anh và tôi vẫn đi trước một ngày cho thong thả. Nhờ
chuyến đi này tôi biết được Ṭa Thánh Cao Đài, tôi đă vào cầu xin cho anh và bố
tôi sớm thoát ṿng tù tội .
Vài tháng sau, tôi lại nhận được thư anh viết từ Phước Long, và khá nhiều thư
“chui” (thư gửi lén, nhờ người khác đem về giùm). Biết anh mạnh khỏe và được
chọn trong nhóm người từ trại Bù Gia Mập ra ngoài làm việc nhẹ, tôi cũng có phần
yên tâm . Từ đó mỗi tháng nhận được giấy cho phép thăm nuôi tôi đều cùng mẹ anh
đi Phước- Long, trên những chiếc xe đ̣ cũ kỹ, ngang qua Đồng Xoài với những hố
bom, những ổ voi ( người lơ xe nói thế v́ những ổ này to hơn ổ gà) làm chiếc xe
cứ nẩy lên, nẩy xuống khiến những hành khách không lúc nào được ngồi đúng chỗ
của ḿnh, cả người nghe ê ẩm. Đă thế xe lại c̣n chết máy dọc đường, chúng tôi
phải xuống xe t́m một bóng mát bên đường dựa vào những chiếc làn cói cho đỡ mệt,
chờ xe nổ máy đi tiếp . Tôi không c̣n nhớ xe qua những đâu, nhưng đến một chỗ
người lơ xe bỗng la to : “Tới cây số đổ rồi nè!”, tôi chồm người nh́n về phía
trước thấy bên trái có một tấm bia đá ghi cây số bị đổ nằm chơ vơ ven đường. Chỗ
này là trại của anh nhưng sao chỉ thấy toàn cây là cây, có một lối đi nhỏ vừa đủ
một bàn chân bước tạo thành một vệt dài ngoằn ngoèo mất hút vào những lùm cây
chằng chịt trong rừng. Qua thư anh kể cho tôi nghe là nhóm của anh phải đốn hết
cây lồ ô, xới đất làm thành luống ươm cây cao su, sau người ta đặt chỗ này thành
vườn ươm.
Từ cây số đổ về chợ Phước Long chẳng c̣n bao xa nhưng trời đă gần tối, vẳng
tiếng chim rừng gọi bầy nghe hoang vu lẫn trong tiếng hú vang vọng thê lương
khiến tôi không thể phân biệt được là tiếng người hay tiếng con vật nào . Tôi
chợt thấy ớn lạnh và sợ, cảm thương cho anh và cho những người tù đang cùng
chung số phận . Trước khi đến chợ Phước Long, có vài mái nhà của người đi kinh
tế mới. Căn nhà đầu tiên là căn nhà mẹ con tôi thường hay tá túc, nơi đây tôi đă
học được cách trồng củ ḿ và bắp. Họ là những người lính Quân Đội Việt Nam Cộng
Ḥa về đây sinh sống nên rất cảm thông với những người đi thăm nuôi .
Thời gian vẫn cứ trôi, sự chờ đợi nào cũng ṃn mỏi như nhau, tôi đă nhiều lần
trả lời mẹ rằng: “Ḷng con đă quyết th́ sau này có làm sao con xin chịu!” khi có
người muốn xem mắt . Tôi làm sao khác hơn được nữa khi mỗi lá thư viết về, anh
đă xây với tôi bao chuyện tương lai, c̣n bảo ở ngoài nếu tôi thay đổi th́ trong
tù anh sẽ tính . Hàng ngày tôi chỉ biết đan áo, phụ mẹ lo cho các em và chờ giấy
báo đi thăm nuôi bố tôi và anh . Mỗi lần đi thăm nuôi anh, mẹ tôi đều xếp vào
cho những thứ nhà làm sẵn. Tôi c̣n giấu mẹ bán thêm ít nữ trang riêng để lo cho
anh được đầy đủ hơn . Đời sống càng ngày càng khó khăn, gia đ́nh tôi cũng chật
vật hơn. Mọi người t́m đường ra khỏi nước, gia đ́nh anh có giấy tờ đi Pháp.
Trước khi đi, bố mẹ anh muốn làm một lễ hỏi để giữ tôi cho anh với lư do ngày
anh ra tù làm đám cưới không có ông bà, anh cũng đỡ tủi. Chuyện hiếm có v́ đám
hỏi không có chú rể. Tôi cũng chẳng có ư kiến ǵ ngoài sự thụ động, mặc ḍng đời
đưa đẩy. Ngày về của anh vẫn biền biệt, tuổi xuân của tôi cũng lặng lẽ qua trong
buồn bă!
Đúng hai năm rưỡi trong tù, anh được thả về. Tôi không tin ở mắt và tai ḿnh khi
anh với chiếc ba lô dính đầy bụi đỏ đứng trước mặt, nước mắt nḥa nhạt cả khuôn
mặt. Ngày đoàn tụ với anh và ngày cưới mười hôm sau đó không có bố tôi khiến tôi
đă khóc thật nhiều . Tôi vẫn đan áo nhưng có anh phụ đan và gỡ len. Ngày sinh
con gái đầu ḷng là ngày anh có việc làm, đứa thứ hai ra đời tám năm sau trong
tràn ngập hạnh phúc và những tiếng cười. Cuộc sống chúng tôi tương đối khá giả,
công việc của anh cũng lên theo đà trọng dụng người cũ của chính quyền mới.
Sau sáu năm tù đầy, bố tôi được trở về. Đoàn tụ không được bao lâu th́ em trai
tôi mất sau chuyến vượt biên không thành. Tội nghiệp em không được bước lên máy
bay trong chương tŕnh HO mà cả gia đ́nh mười hai người cùng lên đường, vợ chồng
tôi và hai con được đi theo như một phép la!
Từ Dallas, Houston và cuối cùng chọn Cali làm quê hương thứ hai, chúng tôi đă có
hơn mười hai năm sống trên nước Mỹ với biết bao thử thách. Nhưng thử thách lớn
nhất trong đời tôi là chuyện một ngày anh cầm xấp đơn ly dị về lạnh lùng bảo:
“Em đọc và kư vào đây rồi trả tự do cho anh”. Trong suốt sáu năm anh đi sai
đường, tôi vẫn hy vọng một ngày anh nghĩ lại, vẫn ṃn mỏi như đă từng mỏi ṃn
chờ anh trong tù. Nhưng nay, anh vẫn đ̣i tự do ngay trên phần đất có tự do! Giờ
này, tôi vẫn c̣n giữ chiếc lược anh làm bằng vỏ đạn có khắc tên tôi và anh quyện
vào nhau ở giữa đôi chim phụng và chiếc thẻ bài khắc câu: “ Yêu em đến cuối....”
Đă gần ba năm qua kể từ ngày anh bỏ đi, tôi vẫn ở trong ngôi nhà đầu tiên trên
nước Mỹ hai vợ chồng hí hửng t́m mua, t́m từng món đồ khuân về xây thành một tổ
ấm. Nhưng chẳng được bao lâu, anh đ̣i giật sập ngôi nhà. Tôi như mất hết sinh
lực, hai đứa con là nguồn sống, là hơi thở giúp tôi đứng dậy, lau khô những ḍng
nước mắt cạn, giấu đi những bi lụy thường t́nh để các con yên tâm học hành . Nay
các con đă lớn, chúng đang bước vào cuộc đời như những cây xanh tràn đầy nhựa
sống vươn lên, đủ cho tôi thấy ḿnh thật hạnh phúc, b́nh an để vững chắc tin vào
lẽ phải và điều lành !.
Ở đây, tôi chỉ góp nhặt lại những mảnh vụn cuộc đời như một kỷ niệm đă qua. Kỷ
niệm dù hạnh phúc hay đắng cay, dù thế nào th́ tất cả cũng đă trở thành dĩ văng
. Những gian nan vất vả của tôi cũng chẳng là bao so với các bà vợ tù khác trên
khắp các miền đất nước . Như của một người đàn bà mải buôn hàng chuyến giữa
Saigon và Nha- Trang để nuôi chồng con, bị cườm mắt nhưng không có tiền chữa
chạy nên mù cả hai mắt . Của người đàn bà dắt mười đứa con đi kinh tế mới trồng
ḿ sinh sống nhưng đến lúc đào lên th́ ḿ không có củ, lại đói khát dắt díu nhau
về Saigon . Của mẹ tôi, ngược xuôi nuôi bố tôi trong tù, nuôi bà ngoại c̣n ở
ngoài Bắc, nuôi chín chị em tôi, nuôi con rể, nuôi các cháu....
Mẹ ơi, con muốn nói lời cám ơn mẹ, những cưu mang và hy sinh của mẹ, của một
người vợ tù cải tạo, một người MẸ VIỆT NAM.