NHỮNG BÀI VIẾT ĐẶC SẮC
Ông
Thầy
Sapy Nguyễn Văn Hưởng
Tôi rời đất nước ra đi vào cuối tháng 7 năm 1976 rồi qua Mỹ định cư tại thành
phố San Diego từ năm 1977. Tuy sống ở một nơi có đông đồng hương, lại gần Little
Saigon, thủ phủ người Việt Tỵ Nạn. Nhưng đối với các sinh hoạt hội đoàn tôi chỉ
là người đứng bên lề, mặc dù trong ḷng lúc nào cũng thao thức nghĩ về quê hương
đất nước. Rồi không hiểu sao, khi hay tin các cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trường Bộ
Binh Thủ Đức San Diego ngồi lại bàn tính việc thành lập hội trong năm 2001, tôi
lại đến tham dự và sau đó ghi danh xin gia nhập để chính thức trở thành một hội
viên. Cũng trong phiên họp ấy, ḷng tôi bùi ngùi xúc động, ngây ngất ngắm nh́n
một vài anh em gọn gàng trong bộ quân phục ka ki vàng đi phép ngày nào, trên cầu
vai lóng lánh hai chiếc Alpha bóng lộn. Quân phục số hai là bộ quần áo tôi ngắm
nghía nhiều nhất, ngắm đến mấy tuần lễ liên tiếp. Cho đến một ngày, tôi mừng đến
phát run lên khi được mặc nó trên người để đi nhận tấm giấy phép xuất trại lần
đầu, sau sáu tuần lễ huấn nhục. Giờ tôi lại muốn mặc lại nó, để được quay về quá
khứ, sống với đồi Tăng Nhơn Phú, với Vũ Đ́nh Trường, với những giờ phép ngắn
ngủi lang thang nơi Sàig̣n hoa lệ và cả với những đêm dài nằm trong nhà giam
301...
Buổi họp tan, tôi đem luôn những giây phút ngây ngất ấy về nhà. Rồi theo lời bạn
bè chỉ dẫn, tôi đi lùng t́m mua bộ quân phục số hai. Nhưng khi đứng trước rừng
quân phục trong một cửa hiệu bán quân trang quân dụng, tôi lại lưỡng lự. Màu
xanh ô liu bộ quân phục người lính Bộ Binh Việt Nam Cộng Ḥa mà tôi mặc mỗi ngày,
trong suốt cuộc đời lính; cũng quyến rũ, làm tôi phân vân không biết nên chọn bộ
nào để khoác lên người sau hơn một phần tư thế kỷ tự tay cởi bỏ nó ra. Tuy ngôi
trường Thủ Đức, nơi khắc ghi một dấu ấn đậm nét trong tôi, nhưng tôi sống ở đó
chỉ vỏn vẹn mười sáu tuần lễ. C̣n với bộ quân phục màu ô liu và huy hiệu Sét
Miền Tây Sư Đoàn 21 Bộ Binh, theo tôi những hơn sáu năm dài. Nghĩ vậy, nên tuy
đă là thành viên của hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Đức, một hội đoàn duy nhất mà
tôi gia nhập sau gần nửa cuộc đời sống lưu vong nơi thành phố San Diego hiền ḥa
này, tôi lại quyết định mua cho ḿnh bộ quân phục trây di.
Khoác bộ trây di lên người, tôi đứng nh́n ngắm ḿnh trong gương thật lâu. Tôi
thấy tôi đúng là một Tân Khóa Sinh. Rồi h́nh ảnh đoàn xe GMC, chở gần một ngàn
Khóa Sinh Dự Bị Sĩ Quan Khóa 1/69 từ Quang Trung lên Thủ Đức ngày nào ngời sáng
lên trong tâm thức tôi, c̣n bên tai, văng vẳng những khúc quân hành được mọi
người đồng loạt hát vang trên suốt đoạn đường di chuyển. Cả khóa tôi đều tưởng
phải ra Đồng Đế học tiếp giai đoạn hai. Nên khi nhận tin, được lên Thủ Đức, được
ở sát cạnh Thủ Đô Sàig̣n th́ mọi người đều hớn hở vui mừng. Lúc đoàn xe qua khỏi
cổng chính tiến vào khuôn viên nhà trường, niềm vui dâng cao thêm, làm tiếng hát,
tiếng vỗ tay càng rộn ràng hơn. Tiếng hát chợt ngưng bặt lúc đoàn xe sửa soạn
dừng lại nơi Vũ Đ́nh Trường. Mọi người trố mắt nh́n ngắm khoảng một trung đội
Sinh Viên Sĩ Quan, mặc đồng phục ka ki vàng thẳng nếp, giày máp bóng lộn, alpha
sáng chói, đang nhịp nhàng hùng dũng đều bước. Đoàn quân dừng lại bên cạnh những
chiếc GMC vừa đỗ lại. Cả toán quân nhanh chóng tỏa ra đứng ngay phía sau xe, rồi
đồng loạt chào đón chúng tôi bằng những tiếng thét kinh hồn, thúc dục mọi người
mau chóng nhảy xuống xe. Những tiếng thét làm tôi khiếp đảm. Tôi tuy không được
nghe tiếng hét danh tướng Trương Phi bên cầu Trường Bản, nhưng tôi nghĩ Trương
Phi hét to lắm cũng chỉ tương đương với tiếng thét các Cấp Trưởng dằn mặt chúng
tôi vào những giờ phút đầu hội ngộ với ngôi trường Thủ Đức. Bầu không khí “hắc
ám” phủ kín đoàn xe, làm lịm tắt ngay mọi nỗi vui mừng hớn hở. Riêng tôi, chưa
kịp vác túi quân trang lên vai đă gặp ngay một Cấp Trưởng đứng nghiêm chỉnh
trước mặt bảo tŕnh diện. Tôi những tưởng sau chín tuần lễ thụ huấn căn bản quân
sự ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung xong là đương nhiên đă trở thành một Sinh
Viên Sĩ Quan. Nên tôi dơ tay lên chào Cấp Trưởng rồi ha to tŕnh diện:
- Sinh Viên Sĩ Quan Nguyễn Văn Hưởng...
Tôi nói chưa dứt câu, Cấp Trưởng đă dơng dạc hô to hơn cắt ngang lời tôi:
- Ai gắn Alpha cho anh mà anh dám tự xưng là Sinh Viên Sĩ Quan? Ra làm cho tôi
20 cái bơm.
Như một cái máy, tôi đáp lại:
- Tuân lệnh!
Lời tôi nói chỉ là một phản xạ tự nhiên, chớ tôi đâu hiểu h́nh phạt “bơm” là ǵ.
Thấy tôi ngơ ngác, vẫn đứng trong tư thế nghiêm, Cấp Trưởng chống tay xuống theo
tư thế hít đất, vừa nhấp nhô lên xuống vừa hét to:
- Bơm là làm như vầy này. Hiểu chưa!
Nh́n Cấp Trưởng “biểu diễn” tôi mới hiểu ra “bơm” là ǵ. Thế là tôi chống hai
tay xuống đất bơm lên bơm xuống thi hành lệnh. Kể từ đó tôi yêu tiếng bơm ngắn
gọn gợi h́nh hơn tiếng hít đất thường dùng.
Ngay cái giây phút đầu hội ngộ ấy, chẳng phải riêng tôi, mà ai cũng bị phạt, mỗi
người mỗi kiểu, người thụt dầu, người nhảy xổm, người ḅ, người trườn...Chúng
tôi như biến thành những con chuột nhũn ra trước tiếng thét kinh hoàng của đàn
mèo cấp trưởng. Thi hành lệnh phạt xong chúng tôi như bầy vịt xách túi quân
trang, sắp ngay hàng thẳng lối để đàn anh phân chia đại đội. Khi hàng ngũ đă
chỉnh tề. Một Cấp Trưởng hùng dũng đứng trước hàng quân dơng dạc tuyên bố:
- Kể từ giờ phút này các anh chính thức gia nhập hàng ngũ Tân Khóa Sinh Quân
Trường Bộ Binh Thủ Đức. Các anh đang ở trong giai đoạn huấn nhục, kéo dài đúng
sáu tuần lễ. Trong suốt thời gian này, các anh phải tuân hành tuyệt đối mọi mệnh
lệnh do các Sĩ Quan Cán Bộ, Sinh Viên Sĩ Quan khóa đàn anh ban ra. Là Tân Khóa
Sinh, các anh như người không tên tuổi. Tôi cho các anh đúng năm phút, tháo gỡ
hết các bảng tên được may trên áo ra. Các anh hiểu rơ chưa?
Tất cả đều đồng loạt hô to:
- Rơ!
Tiếng rơ vừa dứt, mọi người hối hả mở túi quân trang lục t́m dao kéo, lưỡi
lam...rồi giúp nhau cắt hết các bảng tên may trên miệng túi áo ḿnh. Vài phút
ngắn ngủi sau, cả khoá tôi ai cũng trở thành người vô danh tiểu tốt.
Những giây phút đầu tiên được các đàn anh dàn chào dằn mặt nơi Vũ Đ́nh Trường,
làm tôi nhớ măi. Trong lúc đó, nếu có một ai đến hỏi tôi, người tôi sợ nhất trên
đời này là ai, tôi không ngần ngại trả lời ngay: Đó là các Cấp Trưởng. C̣n hạng
người tôi “thù” nhất cũng chính là các Cấp Trưởng. Tôi “thù” họ tận xương tận
tủy, quyết sống để bụng, chết mang theo. Nhưng chỉ vài tháng sau. Lịch sử lại
tái diễn. Khi trên cầu vai, trên cổ áo tôi được gắn lên “con cá”, rồi được cắt
cử đi làm Cấp Trưởng hù dọa, nạt nộ đàn em ḿnh. Đến lúc đó tự nhiên “mối thù”
ấy tan biến trong tôi. Cho đến bây giờ, đă hơn ba mươi lăm năm không c̣n phải
bơm, phải ḅ, phải móc chân lên tường, phải bị phạt dă chiến...nhưng h́nh ảnh
thời Tân Khóa Sinh vẫn không nhạt phai trong tôi. Tôi xem đó là thời gian tôi
được cung cấp thêm bản lănh, lấy đi cái mặc cảm yếu đuối sợ sệt có sẵn trong tôi,
giúp tôi nhận ra ḿnh có đủ khả năng đương đầu với mọi khó khăn, nguy hiểm, sóng
gió... Trường học trang bị cho tôi kiến thức, c̣n trường Bộ Binh Thủ Đức đem đến
cho tôi sức mạnh, niềm tin, can đảm...và đưa tôi lao thẳng vào đời.
H́nh ảnh hôm đầu tiên lên Thủ Đức, nay tôi lại nh́n thấy nó trong tấm gương
trước mặt. Bởi bộ quân phục tôi mới mua về cũng không có bảng tên, không phù
hiệu. Tôi chợt mỉm cười với ḿnh rồi bước ra khỏi pḥng cho bà xă nh́n ngắm lại
“người hùng” năm xưa, rồi tôi năn nỉ ỉ ôi nhờ thêu cho một bảng tên lên trên túi
áo. Bà nhà tôi cũng muốn đồng hành cùng chồng quay về dĩ văng, nên đi t́m kim
chỉ thêu ngay tấm bảng tên cho tôi. Thế là hơn một giờ sau, mặc lại chiếc áo lên
người, tôi thấy ḿnh như đă vượt qua giai đoạn huấn nhục, không c̣n là một Tân
Khóa Sinh nữa.
Ngắm lại ḿnh trong gương, tôi cảm thấy như vẫn c̣n thiêu thiếu một cái ǵ. Liếc
ngang liếc dọc, quay tới quay lui một lát, tôi nhận ra, trên cổ áo không c̣n
những bông mai nở đẹp. Tôi chau mày phân vân tự hỏi: “Có nên gắn những bông mai
ngày cũ lên cổ áo hay không?”. Tôi biết, chỉ cần nhờ một tiếng là tôi có ngay.
Ngày xưa chính tay nhà tôi nắn nót thêu lên cho tôi những bông mai ấy. Đắn đo
suy nghĩ măi, cuối cùng tôi quyết định, chỉ đóng vai người lính trơn.
Cầm trong tay huy hiệu “Cư An Tư Nguy” của trường Bộ Binh Thủ Đức mà ḷng tôi
lại mơ đến một phù hiệu có vệt sét vàng ở ngay trung tâm, tỏa lan thành 21 nhánh
màu xanh hy vọng. Làm sao tôi có được huy hiệu Sét Miền Tây của Sư Đoàn 21 Bộ
Binh??? Nhưng thôi, có c̣n hơn không! Tôi tự nhủ với ḷng như vậy. Rồi huy hiệu
Cư An Tư Nguy được nhà tôi may lên tay áo. Tôi thấy vẻ đẹp ḿnh được “nâng cấp”,
ngắm thêm một lát nữa, tôi tưởng như ḿnh vừa được thuyên chuyển về trường làm
cán bộ hay huấn luyện viên.
Tuy đă quyết định không mang lon lá trên cổ áo, nhưng điều ấy vẫn c̣n trăn trở
trong tôi. Sự việc này măi cho đến hôm đi họp thường niên, bầu lại ban chấp hành
mới cho hội Thủ Đức San Diego niên khóa 2003 – 2005, mới chấm dứt hẳn trong tôi.
Hôm ấy, tôi thấy có vài đồng môn đeo lon trên cổ áo. Nh́n họ, tôi nhận ra quyết
định trước đây của tôi là đúng.
Giải quyết việc đeo lon lá trên bộ quân phục xong, tôi lại nghĩ đến việc đeo lon
lá nơi cửa miệng. Măi cho đến bây giờ, sau gần ba mươi năm chế độ Việt Nam Cộng
Ḥa bị bức tử và Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa tan ră. Mỗi lần anh em đồng đội ngày
xưa gặp lại nhau, việc xưng hô dường như mỗi người mỗi ư. Có người vẫn gọi nhau
bằng cấp bậc, chức vụ cũ, có người gọi nhau theo tuổi tác...Với tôi, việc này
đúng hay sai là “tùy người đối diện”. Tiện đây tôi xin chia sẻ với các bạn đồng
môn một vài việc đă xảy ra với tôi, để giải tỏa bớt những đá sỏi trong ḷng.
Hay tin ông Đơn Vị Trưởng cuối cùng của tôi được sang Mỹ theo chương tŕnh HO
sau hơn 10 năm bị tù cải tạo. Từ San Diego tôi chạy lên Los Angeles thăm ông
ngay. Bởi mặc thường phục nên tôi không thể giơ tay lên chào kính ông, mà chỉ
đưa tay ra bắt rồi lên tiếng hỏi thăm ông:
- Thiếu Tá dạo này có khỏe không?
Giọng ông rầu rầu nửa như mỉa mai, nửa như chua xót bảo tôi:
- Tôi xin anh đừng xưng hô bằng cấp bậc với tôi như ngày trước nữa, giờ chúng ta
xem nhau như anh em đi cho thân mật.
Ngay trong giây phút đầu gặp gỡ, tôi không biết phải xưng hô với ông làm sao cho
phải đạo. Lời chào hỏi trong giây phút ngỡ ngàng, là lời thốt ra tự nhiên, hoàn
toàn không có chuẩn bị trước. Nhưng sau khi “nhận lệnh” thay đổi cách xưng hô,
tôi thấy hơi xốn xang đôi chút, rồi càng về sau càng thoải mái hơn cho cả ông
Đơn Vị Trưởng lẫn tôi. Sự chuyển đổi này cũng không làm giảm sút sự tôn kính cá
nhân ông trong tôi mà nó c̣n tăng thêm nhờ sự thân thiết, nhờ mất đi khoảng cách
giữa cấp chỉ huy và người thuộc cấp. Ngày xưa, sự tôn kính rất có thể phát sinh
ra từ cặp lon trên cổ áo, từ chức vụ ông đảm nhận. Giờ đây những thứ ấy mất đi
và được thay bằng sự tôn trọng lẫn nhau, bằng những kỷ niệm: “sống chết có nhau
là huynh đệ chi binh”
Về thăm quê hương lần nào tôi cũng ghé lại Bạc Liêu, nơi tôi đóng quân ngày
trước để t́m lại anh em cùng đơn vị. Dù đă hơn một phần tư thế kỷ trôi qua, các
chiến hữu tôi bây giờ mỗi người mỗi hoàn cảnh, mỗi người, mỗi cuộc sống khác
nhau. Nhưng kỷ niệm, tâm t́nh những ngày sống bên nhau th́ hoàn toàn không thay
đổi. Nó là những bảo vật nằm sâu kín trong ḷng mà không ai có thể đụng chạm tới
để vứt bỏ nó đi được. Nói chuyện với nhau, tôi cảm nhận được, cái t́nh nghĩa bây
giờ c̣n đậm đà hơn cả ngày trước rất nhiều.
Chuyến về nước trong dịp Tết Quư Mùi 2003, tôi dọ hỏi măi mới có được địa chỉ
Phan Thành Nghiệp, người binh sĩ thân cận với tôi ngày nào. Nghiệp ở thật sâu
trong ruộng, nên tôi phải ghi chép kỹ lưỡng từng lời người chỉ dẫn đường đến nhà
Nghiệp, để mong t́m đến đúng nơi. Từ ngoài tỉnh Cà Mau, tôi thuê Honda ôm đi t́m
Nghiệp. Người lái xe phải dừng xe hỏi thăm đường năm lần bảy lượt mới đưa tôi
đến đúng nơi. Lúc xuống xe, nh́n vào trong nhà, tôi thấy một ông già hom hem
ngồi hướng mắt trông ra bờ kinh. Nh́n kỹ ông ta thêm, tôi nhận ra đó chính là
Nghiệp, tự nhiên niềm đau xót dâng lên ngập ḷng tôi. Nghiệp hơn tôi vài tuổi,
chỉ mới ngoài sáu mươi thôi mà nom như ông cụ. Đến bên Nghiệp, tôi lên tiếng hỏi
để thử xem Nghiệp có nhận ra tôi không:
- Anh có phải là Sáu Nghiệp không?
- Đúng rồi! Mà cậu hỏi tui có chuyện chi không?
Vậy là Nghiệp không nhận ra tôi. Khi xưa tôi cân nặng không đến 50 kư lô, nay đă
hơn 75, th́ làm sao Nghiệp nhận ra cho được. Tôi vẫn cố hỏi thêm:
- Bộ anh không nhớ tôi sao?
Quan sát tôi thêm một chặp nữa, Nghiệp lắc đầu:
- Tui không quen biết cậu!
Nghe giọng Nghiệp, tôi đoán Nghiệp tưởng tôi là công an đến điều tra việc ǵ. Để
gây ngạc nhiên và nhân tiện “hù dọa” Nghiệp một chút cho vui trong ngày đầu hội
ngộ, tôi hỏi tiếp:
- Có phải ngày trước anh đi lính trên Bạc Liêu không?
Nghiệp tỏ vẻ hơi hốt hoảng, lính quưnh trả lời:
- Đúng, nhưng hồi đó tui bị bắt quân dịch.
Tôi nghiêm nét mặt làm như người đang thẩm vấn:
- Anh cho tôi biết ai là Tiểu Đoàn Trưởng của anh?
- Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Thẩm.
- Ai là Trưởng Ban Một?
- Thiếu Úy Lê Văn Đào.
- Trưởng Ban Hai?
- Thiếu Úy Nguyễn Văn Hưởng.
Tôi cười bảo Nghiệp:
- Anh nh́n kỹ tôi xem có giống Thiếu Úy Hưởng không?
Mắt Nghiệp hơi kém nên nheo lại, ghé mặt sát gần thêm, cố nh́n kỹ tôi thêm một
lần nữa, rồi xác quyết:
- Cậu không phải là Thiếu Úy Hưởng, ông Hưởng tạng người ốm cao, có đeo kính
nhốp.
Ngày trước mắt tôi cận thị, nay đă mổ mắt nên Nghiệp không t́m thấy cái kính
nhốp trên gương mặt tôi. Biết Nghiệp không tài nào nhận ra, nên tôi nói nghiêm
chỉnh trở lại:
- Tôi là Hưởng đến thăm anh đây, tôi không nói giởn chơi đâu, anh cố nh́n và nhớ
lại xem.
Nghiệp lại tiếp tục nh́n ngắm tôi. Bỗng nhiên anh nhảy dựng lên, vỗ mạnh vào vai
tôi nói như hét:
- Đúng rồi, tôi nh́n ra “Ông Thầy” rồi, nhờ cái nhân trung này nè. “Ông Thầy”
dạo này mập quá làm sao tôi nh́n ngay ra cho được, c̣n cái kính nhốp “Ông Thầy”
đâu rồi???...
Nghiệp cứ thao thao bất tuyệt hỏi hết chuyện này đến chuyện khác, Nghiệp nói như
muốn tuôn ra tất cả những điều chất chứa trong ḷng. Nghiệp cứ nói, cứ hỏi nhưng
tôi không thể nào chen vào ngắt lời được. Tôi nghĩ sự hiện diện của tôi trong
căn nhà lá này đă đủ để trả lời cho mọi câu Nghiệp hỏi. Nghĩ vậy nên tôi đứng im
nh́n Nghiệp, để mặc Nghiệp nói ǵ th́ nói, để mặc cho ḷng tôi bồi hồi thổn thức.
Nghiệp dứt lời, đứng nh́n tôi đăm đăm, tôi thấy đôi giọt lệ lăn trên má nhăn
nheo của Nghiệp. Để cho niềm xúc động lắng xuống, Nghiệp mới bảo người nhà rót
nước mời khách, rồi kêu vợ con ra “tŕnh diện” tôi.
Nghiệp kể tôi nghe những gian truân sau ngày quê hương hoàn toàn lọt vào tay
người Cộng Sản. Người vợ trước của Nghiệp mất gần hai chục năm nay, Nghiệp cưới
vợ sau để có người hủ hỉ lúc tuổi già. Nhưng hủ hỉ thiếu kế hoạch nên lại có
thêm mấy đứa con nheo nhóc. Nh́n đám con Nghiệp tôi lắc đầu. Nh́n lên bàn thờ,
đă gần Tết mà chưa có mâm hoa quả nhang đèn bày ra. Nh́n lên cái mái căn cḥi lá,
vài tia nắng xuyên qua làm tôi chóa mắt. Câu hát “giúp đỡ lẫn nhau là huynh đệ
chi binh” lại vang lên trong tôi. Tôi rủ Nghiệp cùng vợ con ra chợ xă sắm sửa
Tết. Nh́n mấy đứa con Nghiệp vui tươi, hớn hở, rạng rỡ xúng xính trong bộ quần
áo mới khiến tôi thấy được ngày Tết năm ấy đến sớm hơn mọi năm. Tôi bảo Nghiệp
cứ tự nhiên mua sắm, miễn làm sao cho cả nhà có một cái Tết ấm cúng no đủ là
được. Lúc sắp ra về, đứa con gái Nghiệp lại nắm tay tôi thủ thỉ:
- “Ông Thầy” ơi! Mua cho con đôi bông tai được hông?
Nghe vậy Nghiệp vội la con:
- “Ông Thầy” mua cho tụi mày gần hết cái chợ rồi c̣n đ̣i hỏi ǵ nữa!
Đứa bé lấm lét bỏ đi. Tôi vẫy gọi nó lại rồi bảo:
- Để “Ông Thầy” mua cho con đôi bông tai.
Tôi kể chuyện đi thăm người chiến hữu Phan Thành Nghiệp ra đây không phải để
quảng cáo ḷng “hào hiệp” của ḿnh. Tất cả những ǵ tôi làm được cho Nghiệp cùng
gia đ́nh, tôi đă được đền trả gấp bội rồi. Hôm ấy tôi hết sức vui sướng, khi
nh́n gương mặt con cái Nghiệp tươi cười rạng rỡ, khi thấy nàng Xuân đă hiện diện
trong căn nhà Nghiệp qua những bộ quần áo mới, qua mâm hoa quả, nhang đèn trên
bàn thờ...và nhất là hai tiếng “Ông Thầy” Nghiệp gọi tôi, con Nghiệp gọi tôi.
Hai tiếng “Ông Thầy” này không xa lạ ǵ với mỗi người lính. Nhưng từ hôm đến
thăm Nghiệp, tôi mới cảm nhận hết cái hay ho của nó. Qua cách xưng hô này, tôi
và Nghiệp vẫn giữ được t́nh xưa nghĩa cũ, tránh được cách xưng hô theo lối cũ
không c̣n hợp thời. Chúng tôi có thể nói chuyện thoải mái trước mặt nhau, trước
mặt mọi người, kể cả trước mặt người Cộng Sản mà vẫn không bị một trở ngại nào.
Tuy hai tiếng “Ông Thầy” đối với tôi thật hay, nhưng câu ông bà ta dạy vẫn luôn
là kim chỉ nam cho mọi người: “Lựa lời mà nói cho vừa ḷng nhau”.