PHÂN HÓA HỌC

 Hai  Hướng


Scotts® Turf Builder® WinterGuard¿ Fall Lawn FertilizerTrong ngành nông nghiệp, phân hóa học đóng một vai tṛ rất quang trọng  trong những yếu  tố chính để giúp nguời tồng trọt thành công. Từ ngày có phân hóa học đến giờ cây cối mới cho năng xuất cao, thế giới  mới đỡ được thiếu hụt lương thực. Phân hóa học có rất nhiều thể loại [dạng], có nhiều lọai phân đặc tính rất là khác nhau. Khi trồng cây để cho có năng xuất tối đa, chúng ta phải hiểu rơ từng thể loai một và từng đặc tính của từng loại phân th́ chúng ta mới áp đụng được chính xác trên từng loại cây, từng vùng khí hậu, từng loại đất, từng giai đọan phát triển của cây, như vậy ta sẽ tiết kiệm được nhiều tiền bạc mà thâu hái về nhiều cây trái hơn. Để hiểu biết tuờng tân chứng ta hăy coi phần đưới đây:


     1-Các dạng phân hóa học: phân hóa học có rất nhiếu thể loai. Căn bản có ba lọai chính: lọai nứơc, lọai viên, lọai bột.


             - Trong lọai nước có nhiều màu sắc khác nhau tùy theo nhà sản xuất họ thích màu nào th́ họ bỏ phẩm màu vào, mục đích chính họ pha màu là dùng màu sắc để đánh vào thị hiếu của khách hàng, mục đích thứ hai là khi chúng ta đem phân pha vào nước chúng ta có thể tương đối nhận diện được nồng độ của nó. Thứ ba là để khi phân tưới theo phuơng pháp cho chảy theo ḍng nước, chúng ta có thể theo dơii chinh xác được phân theo ḍng nước đă đến được tới đâu, có phân phối được đến từng gốc cây trồng hay không, hay đang nghẹt ở lối nào trong ống nước tưới. Lọai phân này thường được dùng xài cho cây cảnh trong nhà hay trong greenhouse [nhà kính]


          _Trong lọai viên th́ đươc chia làm hai lọai, không ḥa tan đươc, chỉ đem bón trực tiếp ra đồng ruộng mà không cần phải pha nước, rồi phân nằm trong đất từ từ nhả ra cung câp cho cây đang trồng trong đồng ruộng. Loại cũ [thông thường] rẻ tiền, phân nhả ra trong đất tương đối nhanh hơn loại dạng phân mới. loại củ này chỉ xài cho đồng ruộng [Farm grade], không xài cho greenhouse. Loại thứ hai rất đặc biệt, mới có trên thị trường, rất đắt tiền, phần lớn chỉ dùng xài trên sân Golf, lọai nầy có tên là Slow Release [nhả ra từ từ chậm cho cây xài], lọai nầy khi rải vào cây hay bón vào sân cỏ, lâu lâu nó mới bể ra vài hạt dể cung cấp dương chất cho cây xài, bón môt lân có thể ba bốn năm tháng sau mới bón lại, tiêt kiệm được công đi bón phân, và bón với môt số luong hơi lớn vào cây, sẽ khó bị qúa liều lựơng làm hư cây.


       -  Lọai bột có hai loại: loại bột pha nước [water soluble], và lọai bột không pha nước đuợc, loại này cũng được trộn phẩm màu như lọai nước ở trên. Lọai nầy dễ tồn trữ, dể vận chuyển, và rẻ tiền hơn loại nước, khi cần xài đem pha nuớc mà xài. Loại pha nước nầy phần lớn đươc dùng trong greenhouse.


     2- Chú ư đặc tính loại phân:   
           Khi bón phân ta phải chú ư đến đặc tính của loại phân để cho thích hợp đất đai khí hâu, và tiền bạc. Trong phân hóa học có ba chất chính [main element] và khoảng mười hay muời một chất phụ [seconddary element and minor element].

 

           Ba chất chính là N [Nitrogene: đạm] P [Phosphate: lân] và K [bồ tát hay là Kali]  và những chất phụ là đồng [cu], sắt [fer] , kẽm [z: zine], lưu huỳnh [s: sulfure],  vôi [ca] v. v. . . . . . mỗi chất có sự tác dụng trên mỗi bộ phận của cây khác nhau hay nói một cách khác mỗi chất có sự hoà hợp được hay không ḥa hợp lại nhau được và mang môt nhiêm vụ khác nhau. Tôi không viết nhiều về công dụng, nhiệm vụ của từng loại nầy v́ trong mục nầy có ông BA QUANG viết rất rỏ ràng và chi tiết. Tôi không muôn viết dài ḍng và chỉ muốn nhấn mạnh đến nhửng đặc tính đặc biệt mà ít người để ư tới nhưng không kém phần quang trọng.


           Để đi vào trực tiếp phần tôi muôn nhấn mạnh trong vấ đề phân bón hóa học ít người để ư tới là độ chua của phân [pH], Độ mặn của phân [độ EC hay goi đơn giản là sodium], thời gian tác dụng của phân.
       

           Trong phân hóa học mỗi lọai phân có những đặc tính khác nhau, dù là cùng một lọai phân đạm [Nitrogene] hay một loại phân lân [Phosphate] v. v. . . . Một số nguời cứ lầm lẫn cứ tưởng phân đạm là phân đạm, hay phân lân, Đăc tính đều giống nhau. Không đúng như vậy. Lân th́ nó có nhiều lọai lân. Đạm th́ nó có nhiều lọai phân đạm, khi nó đă có nhiều lọai th́ bắt buộc đặt tính nó cũng khác nhau. Tôi sẽ lấy ra những lọai phân thông dụng chúng ta thường gặp, và cách áp dụng không đúng cách chúng ta sẽ thấy rơ ràng sự khác biệt của chúng. Chúng ta hăy coi ví dụ để phân tích phân duới đây ta sẽ thấy rất là rơ ràng những ǵ chúng ta muốn nói đến trong bài nầy:


       a_ Về phân đạm:
           Ví dụ và phân tích giữa phân đam. Phân đạm th́ có nhiều lọai, nhưng loại thường gặp nhất là Urea, Sulphate Ammonium
[ SA], Nitrate calcium. Trong ba loại nầy cũng là đạm, nhưng:
         - Đạm Urea có độ pH trung tính, thời gian hiệu qủa khi bón vào cây là khoảng mười ngày,
         - Đạm SA có pH là chua [gốc Acid], thời gian tác dụng là khoảng hai mươi bốn giờ.
         - Đạm Nitrate Calcium có độ  pH  hơi kiềm [Alkaline], kỵ với lọai phân có Phosphate [lân]. Gặp phosphate sẻ đóng cục [kết tủa] không nhả ra [release] cho cây xài.


        So sánh ba loại phân đạm trên ta sẽ thấy có nhiều đặc tính khác nhau. Nếu chúng ta không để ư th́ chúng ta phí tiền mà kết qủa lại ngược lại. Nếu đất của chúng ta bị chua [đất phèn hay đất acid]  mà chúng ta dùng phân SA  mà bón vào th́ phân SA có gốc Acid sẽ làm đất càng chua thêm, làm cây không phát triển. Trường hợp ta trông dứa [Thơm]: Cây dứa th́ thích đất phèn [Chua] mà ta dùng phân Nitrate calcium có gốc kềm bón vào. Phan Nitrate Calcium hay Vôi gốc là Kiềm và rất đắt tiến làm giảm độ chua [độ phèn] thích hợp cho cây dứa th́ làm sao cho cây dứa tốt được mà c̣n phải tốn tiền mua loại phân đắt tiền.


      b- Về phân lân: Phân lân cũng có nhiều loại thông thường ưa găp là Supper phosphate và Rock phosphate [phosphate tricalcique, hay lăn Văn điển, apatite]. Chúng ta sẽ thấy đặc tính khác nhau.
         - Supper phospate gốc Acid [chua], ḥa tan nhanh, nhưng cũng dể thất thóat nhanh khi bón, chỉ dùng nhiều trong green house, không đuợc tưới trên lá v́ làm lá có đóm trắng nhỏ làm mất phẩm chất bông hoa rau cải. Đắt tiền!
         - Rock phosphate, khó ḥa tan, gốc kiềm [Alkaline], dể ḥa tan dần trong đất acid [nhờ acid trong đất làm chất lân nhả dần cho cây xài], cải thiên đưoc độ chua của đất, [cải thiện phèn] nhờ chứa vôi [Tricalcique]. Rẻ tiền!


      Ta để ư đến đặc tính của phân lân trên ta sẽ thấy: dù là phân lân nhung mỗi loại đều có đặc tính khác nhau. Nếu ta không chú ư th́ ta không thành công được. Thay v́ cây trồng trên đất phèn mà bón Supper phosphate  thí đất sẽ bị phèn thêm. Thay v́ đem Rock phosphate  mà bón vào th́ cải thiện được phần nào độ phèn của đất.


    Tóm lại: Tôi viết bài nầy với mục đich để ta chú ư thêm trong việc xử dựng phân bón. V́ thấy một số quốc gia chỉ xài một loại phân như SA hay Supper phosphate cho tất cả loại cây trồng và cho tất cả lọai đất mà không để ư tới độ chua của đât ở quốc gia có thích hợp không, làm phí tiền, phí công và làm giảm phẩm chất của cây trái.


    Đáng lẻ tôi viết dài hon và phân tích nhiều hơn, nhưng bài dài qúa rồi, hy vọng bài nầy gây được sự chú ư về khía cạnh đặc tính này của phân để các bạn đang xài phân hóa hoc hay đang chỉ đạo về nông nghjiệp thành công hơn.


                                                                                                                                                   VAN.  BC, CANADA
                                                                                                                                                    APR. 30 /08
                                                                                                                                                   HAI  HƯỚNG