Tài Liệu Điện Toán  8

Ipod, MP3, vị MP4

— Pham Huy (VNN)

Một trong những loại máy vi tính thu gọn cầm tay được giới trẻ tiêu thụ nhiều nhất trong năm qua đó là máy Ipod. Máy Ipod thật là dẹp, hình dáng như hình chữ nhật, với kích thước nhỏ gọn nằm trong lòng bàn tay của người sử dụng hoặc có thể bỏ túi trong lúc di chuyển. Một trong những đặc biệt của Ipod ngoài sự thiết kế gọn nhẹ rất thời trang về màu sắc, Ipod có một sức chứa dữ kiện rất lớn 30G và 60G. Với sức chứa dữ kiện này Ipod rất hữu dụng liên quan đến sự lưu trữ âm nhạc và phim. Hai dạng được nói đến nhiều nhất khi sử dụng Ipod đó là MP3 và MP4.
Tiểu sử của Ipod phát xuất từ ông Ben Knauss đã từng giữ chức vụ tổng quản trị trong công ty PortalPlayer (công ty portalplayer ứng dụng kỹ thuật semiconductor (kỹ thuật chất bán dẫn điện tử), nhu liệu và những con chip mini IC (intergrate circuit) để sáng chế ra thành một sản phẩm và sản phẩm này chỉ trực thuộc trong lãnh vực âm nhạc và thông tin âm nhạc). Sau đó công ty điện toán Apple hợp tác và đã chuyển hoá một Ipod thông dụng với nhiều chức năng tổng hợp, đa dạng trên thị trường điện toán như: có thể chuyển những phim DVD vào trong Ipod để xem, lưu trữ bản nhạc trong Ipod với dung lượng chứa các bài nhạc này thuộc dạng MP3 rất nhiều và song song đó Ipod còn có thêm các chức năng khác như chuyển các phim trong DVD sang dạng MP4 lưu trữ và xem trực tiếp trong Ipod hoặc Ipod nối vào mạng nhện Itunes trong Internet. Từ mạng nhện Itunes này có thể mang tất cả những thông tin trong ngày như thời tiết, email, địa chỉ, bài vở vào trong Ipod v.v... nói chung Ipod trở thành tiện nghi vì sự đa dạng trong sử dụng và với kích thước nhỏ gọn nhưng sức chứa có thể lên tới 60Giga bytes và trong tương lai gần đây sức chứa còn được nâng cao hơn nữa lên đến 80Giga bytes.
Liên quan đến hình ảnh và âm thanh có hai dạng điện số (digital format) rất quan trọng người sử dụng Ipod cần phải am tường đó là hai dạng MP3 và MP4.



MP3: Danh từ nguyên thủy viết tắt của Moving Picture Experts Group - Audio Layer III. Đây là một loại dạng ghi chép dồn nén (compressed file) từ một dạng âm thanh nguyên thủy wav ký hiệu tắt của dạng WAVE (wide area voice exchange). Kỹ thuật ghi chép dồn nén MP3 với tỷ lệ ép là 10:1 (10M Wav thành 1M MP3 hoặc 3 phút âm nhạc MP3 chiếm khoảng 4Mega bytes). Dĩ nhiên ngay những thời gian ban đầu của 1995, MP3 còn gặp rất nhiều trở ngại về chất lượng âm thanh sau khi bị dồn nén. Mãi cho đến khi Công ty Mricosoft sử dụng WinAmp trong windows và MP3 bắt đầu lưu ý, phát triển và âm thanh dần được cải thiện và ngày nay MP3 trở thành một trong những format chính để lưu trữ âm thanh trong internet và người sử dụng trong internet cũng download dễ dàng và nhanh chóng.

MP4: Nguyên thủy của MP4 không có liên hệ gì với nguồn gốc danh từ MP3 ở trên, kỹ thuật MP4 được sử dụng trong lãnh vực điện ảnh. Và MP4 phát xuất từ nguồn gốc của Quick time. Quick time là nhu liệu do công ty điện toán Apple phát minh, quick time là sự tổng hợp của các màn hình nhỏ (mutimedia framwork), sự tổng hợp này là tạo nên các hình ảnh thật rõ nét như hình ảnh 3 chiều (3D - 3 Dimension). Quick time player có thể hợp tác với nhiều loại video format khác nhau như digital video, media clips, sound, text music, animation, và rất nhiều loại dạng phim ảnh video khác nhau. Nhanh chóng trong một thời gian ngắn QuickTime đã chuyển sang một dạng mới MPEG-4 khi lưu trữ được viết tắt thành MP4. Đây là một dạng MP4 được sử dụng trong cả âm thanh số (digital audio) và hình ảnh số (digital video) dưới dạng thu gọn.

Hỏi: Quicktime player có khác biệt gì với Windows Media Player hay các nhu liệu khác hay không?
Đáp: Ngay từ khởi thủy ban đầu, quicktime player đa số được ứng dụng cho hệ thống Macintosh (hay Apple computer) sau đó được phát triển và ứng dụng cho máy điện toán luôn. Các nhu liệu media player (WMP, Power DVD, Real Player...) đa số đều không có sự khác biệt để đọc tất cả các loại format của âm thanh (audio) như WAV, AIFF, MP3 và hình ảnh (video) như TIFT, PICT, JPEG tuy nhiên Quicktime player ít được ứng dụng trong PC, nhưng ngược lại trong Ipod, Quicktime player đã trở thành nhu liệu chính và trong nhu liệu này ứng dụng chuyển mã các dạng code thành hình ảnh, sự giải code này danh từ chuyên môn gọi tắt là Codec cho tất cả các dạng như cinepak, sorenson codec, mp3, jpeg, Divx, hoặc PNG. Quickplayer có thể nói đã trở thành nhu liệu chính trong PC về lãnh vực phim ảnh, trong khi đó windows media player hoặc real player cũng còn bị trở ngại trong kỹ thuật chuyển mã codec đưa đến tình trạng thấy hình không nghe tiếng nói hoặc nghe tiếng nói nhưng không thấy hình. Muốn giải quyết những bế tắc về kỹ thuật codec này phải cài đặt thêm một vài nhu liệu hỗ trợ như Codec Xvid chẳng hạn thì mọi hình ảnh và âm thanh sẽ hiện lên rõ ràng.
Mong quí vị đọc gỉa điện toán đón đọc trong bài viết kỳ tới trong lãnh vực tìm hiểu Ipod và các chức năng điều hành giữa Ipod và máy điện toán như thế nào, những điều kiện căn bản, những nhu liệu (software) cần thiết trong công việc điều hành Ipod từ PC.
Ban khoa học thường thức

Phạm Huy


T.S.M.G.

 

Ipod, MP3, và MP4 #2 (tiếp theo)

Pham Huy (VNN)

Qua bài viết tham khảo và những câu vấn đáp quí đọc giả đã có khái niệm và sự tiện lợi của máy cầm tay Ipod. Đi sâu vào chi tiết kỹ thuật hầu hết các chức năng của máy Ipod đều giống nhau trong vấn đề truyền thông như nghe nhạc, chơi game, xem phim, cập nhật hóa các địa chỉ email, dự báo thời tiết trong ngày v.v... các Ipod chỉ khác nhau ở khía cạnh sức chứa của Ipod là bao nhiêu Gigabytes. Chính vì sự khác biệt về sức chứa này nên giá thành cũng khác nhau.
Ipod đựợc chia làm 3 loại căn bản:
Ipod Shuffle: Đây là máy Ipod đầu tiên tung ra thị trường với chức năng rất đơn giản cho người sử dụng nghe nhạc đã được lưu trữ trong Ipod. Muốn thêm bớt nhạc phải nối với máy điện toán qua dây cable USB, và sau đó dùng máy điện toán để chuyển nhạc hoặc bớt nhạc trong Ipod. Dĩ nhiên tất cả các loại nhạc lưu trữ trong Ipod đều phải chuyển thành dạng MP3. Hiện nay loại Ipod Shuffle này không còn đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng vì chức năng qúa đơn giản, sức chứa bài nhạc không nhiều và bất tiện lợi khi muốn chọn bài nhạc để nghe vì không biết được tên bài nhạc kế tiếp tên là gì.
Ipod Nano: Đây là sản phẩm kế tiếp trên thị trường điện toán từ công ty Apple. Loại này trong một thời gian ngắn đạt danh hiệu sản phẩm bán nhanh nhất và nhiều nhất trong năm. Một trong những sự khác biệt với Ipod Shuffle là có trang bị thêm một màn hình nho nhỏ 1.5 inches, nhìn vào màn hình này có thêm chọn bài nhạc và xa hơn thế nữa có thể lưu trữ hình ảnh, địa chỉ, lịch ngày tháng năm để xem v.v... Tùy thuộc vào sức chứa bao nhiêu Giga bytes của loại Ipod này, sức chứa thấp nhất là 2G và nhiều nhất là 8G trung bình 1Giga bytes có thể chứa 250 bài nhạc. Một trong những đặc điểm nhờ vào kỹ thuật thiết kế màn hình 1.5 inches, đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng có thể chọn bất cứ bài nhạc nào mà mình thích nghe, hoặc lưu trữ các địa chỉ, điện thoại, thông tin liên lạc cần thiết. Tuy Ipod Nano vẫn còn được ưa chuộng trên thị trường nhưng trong khoảng thời gian tới sẽ được thay thế bằng thế hệ thứ ba gọi là Ipod.
Ipod: Máy Ipod được tung ra trên thị trường điện toán khoảng hơn một năm nay. Khác hẳn với máy Ipod Shuffle và Nano, Ipod với hình dáng thu gọn trong lòng bàn tay, có sức chứa từ 30G lên tới 80G. Một trong những bước tiến nhảy vọt về kỹ thuật đó là công ty Apple đã áp dụng Ipod giống như là một máy xem phim thu gọn. Với màn hình có kích thước 2.5 inches, người xử dụng có thể xem phim, nghe nhạc, địa chỉ email, điện thoại, dự báo thời tiết trong ngày, chơi game v.v... rất tiện lợi cho người sử dụng khi đi du lịch xa và nguồn điện sử dụng cho Ipod được kéo dài trên 24 tiếng. MP3 trong Ipod được sử dụng để lưu trữ âm nhạc và MP4 là danh từ chuyên môn sử dụng các phim ảnh đã được dồn nén.


Hỏi: Làm thế nào để thêm bớt âm nhạc, phim vào trong Ipod?
Đáp: Ipod không khác hơn chỉ là một máy hát hay một máy chiếu phim thu gọn trong khuôn khổ hình dáng và kích thước của lòng bàn tay. Vì có tính cách như là một máy hát nên mọi sự điều hành cho Ipod đều phải qua trung gian của máy điện toán. Giữa máy điện toán và Ipod nối với nhau qua sợi dây USB cable và hub USB là 2.0. (chỉ số USB này càng cao thì tốc độ chuyển file (transfer rate) càng nhanh.
Ghi Chú: Một vài máy điện toán cũ vẫn còn xài loại USB connector 1.1 sẽ có nhiều trở ngại khi sử dụng Ipod vì điều kiện đầu tiên USB hub phải thuộc loại tốc độ 2.0. Nên muốn sử dụng Ipod cần phải gắn thêm một PCI USB 2.0 card vào sẽ không có trở ngại cho Ipod.
Quay lại sự liên hệ giữa Ipod và máy điện toán. Một nhu liệu rất phổ thông đại đa số người sử dụng điện toán đều biết đó là nhu liệu Itunes. Có hai loại Itunes cho máy PC và Itunes cho Mac (hay còn gọi là máy apple). Nhu liệu Itunes với version mới nhất là 7.0. Với nhu liệu điều hành Itunes này nhạc, phim, hình ảnh, âm thanh địa chỉ thêm bớt một cách dễ dàng. Ví dụ như trên Itunes có một Icon tên là Movie. Chỉ cần nhấn vào đây sẽ có một danh sách phim bạn muốn download vào máy, dĩ nhiên các loại phim này đã được chuyển sang dạng format của Ipod đó là MP4.

Hỏi: Ngoài nhu liệu đó ra, ngoài Itune có những nhu liệu khác trong vấn đề hoán chuyển các dạng DVD sang MP4 không?
Đáp: Dĩ nhiên là có, danh từ chuyên môn để diễn tả sự hoán chuyển sang dạng MP4 này là converter như một trong những nhu liệu khá nổi tiếng Ipod converter. Ipod converter chuyên hoán chuyển các DVD sang dạng MP4 và trong khổ resolution thu gọn. Một trong những điều kiện duy nhất là Ipod conveter không hoán chuyển trực tiếp từ dĩa DVD, phải dùng một nhu liệu khác để giải mã hoặc phá những blocking code trên mặt dĩa danh từ chuyên môn gọi là DVD decrypter. Và sau đó vào DVD decrypter để hoán chuyển sang dạng MP4 chuyển sang Ipod.

Tóm lại Ipod là một trong những bước thiết kế nhảy vọt, đáp ứng được thị hiếu của người sử dụng. Mong độc giả điện toán đón đọc bài viết kỳ tới trong khuôn khổ sự làm việc giữa Ipod và các hệ thống home theater như thế nào cũng như một hệ thống wireless điện toán.


T.S.M.G.

DVD/DVD-RW và các kiến thức tổng hợp căn bản

— Pham Huy (VNN)

Quí vị đọc gỉa đã từng nghe danh từ DVD trong máy điện toán. DVD viết tắt của chữ Digital Video Disc. Trong bài tham khảo kỳ này chúng ta sẽ đào sâu về ổ DVD-R/RW như thế nào với kỹ thuật mới và cũ. Ngoài DVD-R/RW còn nhiều câu hỏi liên quan tới mother board, memory v.v... dĩ nhiên trong thời gian ngắn không giải thích hết những câu hỏi thắc mắc của quí vị. Chúng tôi sẽ cố gắng đi từng bước một, giải thích tường tận, căn bản và vững chắc cho tất cả quí vị đọc giả yêu thích điện toán. Vì khi đã hiểu tường tận các bộ phận trong điện toán, qua đến phần tham khảo về mother board, về nhu liệu (software) quí vị sẽ cảm thấy không bị lạc lõng, khô khan và khó hiểu.
Khi nói tới ổ CD-R/RW cũng không quên nói tới ổ DVD-R/RW. Nhu cầu đòi hỏi sự ra đòi của DVD-R/RW cũng tương tự sự ứng dụng CD-R/RW trong kỹ thuật điện toán. DVD-R/RW bắt đầu phổ biến rộng rãi vì giá thành cho một ổ DVD-R chỉ còn khoảng trên dưới $65 USD đại đa số hiệu Sony và Pioneer được tiêu dùng nhiều nhất hiện nay.
DVD được chia làm 3 loại: DVD player, DVD recorder và DVD rewritable.
Ổ DVD-R/RW: DVD-R/RW nguyên từ ngữ là Digital Video Disc-Recordable và Digital Video Disc-Rewriteable. Từ hay được gọi là ổ DVD-R hoặc DVD-RW. Công dụng của ổ DVD-R/RW cũng giống như ổ CD-R/RW đều có thể ghi chép trên mặt dĩa DVD. Có hai loại máy ghi chép khác nhau trên mặt dĩa nên có hai loại ổ khác nhau. Một loại dùng ghi chép cho âm nhạc (audio), nhu liệu v.v..., thì ổ DVD-R/RW ngoài ghi chép cho âm nhạc, nhu liệu còn có thể ghi chép hình ảnh (video) như ký hiệu được dùng ghi chép trên mặt tape VHS rất phổ biến trong thập niên 1980.

ổ DVD-R/RW có thể ghi chép dưới các dạng hình ảnh, cũng như âm thanh khác nhau như: âm thanh nổi hay âm thanh ba chiều (stereo), âm thanh Dolby Digital hay còn gọi là DTS (âm thanh này giống như trong các rạp hát xinê hay trong hệ thống home movie theater). Và ngoài ra có thể ghi chép các tiêu đề, phụ đề trên màn hình trong khi phim ảnh đang ghi chép. ổ DVD-R/RW đa dạng và thông dụng như vậy nhờ vào hai yếu tố:

1) Sự tinh vi về software cho phép ghi chép ký hiệu hình ảnh, âm thanh dưới nhiều dạng khác nhau. Đơn giản hơn nữa nhờ vào nhu liệu của DVD-R/RW (nhu liệu DVD thường gọi tắt là DVD softer, còn ổ DVD-R/RW gọi là DVD burner) cho phép người sử dụng có thể trích, cắt, hoán chuyển, đổi, thêm bớt hình ảnh cho phù hợp và chuyển sang ghi chép ký hiệu với chất lượng trưng bày (display quality) thật cao.
2) Thời gian tính để ứng dụng ổ DVD burner vào trong điện toán đòi hỏi về thời gian thâu hình ảnh trên mặt dĩa và chất lượng trình bày. Một trong những thời điểm phát triển quan trọng trong ngành điện toán:
           a). Công ty nhu liệu Microsoft tung ra thị trường Windows XP và sau đó là Window 64 Vista.
           b). Và Intel cho ra con chip Pentium 4 và cao hơn nữa.
Làm vận tốc máy điện toán trong thời gian thật ngắn nhảy vọt từ vận tốc 1Ghz (Giga hz - Mega chu kỳ) hiện giờ vượt qua 3.0Ghz (Gigahz - Giga chu kỳ) và softer càng tinh vi, dễ ứng dụng trong Windows đủ để đáp ứng sự đòi hỏi của người tiêu thụ muốn dùng kỹ thuật ghi chép DVD vào trong điện toán. Trong nhu cầu này muốn gắn thêm một ổ DVD-R/RW, máy điện toán ít nhất phải đạt đến tốc độ 2.GMz và memory ít nhất 512Mb. Quí vị chỉ nhớ những điều kiện tiêu chuẩn tối thiểu sau:
- Thêm ổ CD-R/RW chỉ cần trên 350Mhz và 128M memory
- Thêm ổ DVD player máy ít nhất 450Mhz và 128Mb memory
- Và thêm ổ DVD-R/RW máy ít nhất là 1.0GHz và 512Mb memory

Dựa theo những điều kiện tiêu chuẩn này khi mua sắm một dàn máy điện toán, quí vị có thể trả lời ngay máy này có thể nâng cấp gắn thêm ổ DVD burner được hay không. Tiêu chuẩn căn bản cho một dàn máy điện toán tốt bao gồm DVD và CD-R/RW, ổ DVD-R/RW còn là bộ phận chọn lựa (option). Nên trong tương lai nếu đổi ý muốn gắn thêm thì mình biết chắc điều kiện vận tốc và bộ nhớ (memory) cho phép quí vị gắn thêm DVD burner.
Cũng giống như ổ CD-R/RW vận tốc của một ổ DVD-R/RW được qui định theo chỉ số X, số X càng cao thì tốc độ thâu (record) hoặc xoá/thâu (rewrite) càng nhanh. Hiện nay trên thị trường tốc độ ghi chép nhanh nhất cho loại DVD là 16X và trung bình giá thành một ổ DVD-R khoảng $65 USD.
Dĩ nhiên khi nói đến ổ DVD-R/RW cũng không quên nói đến dĩa DVD-R.


Diã DVD-R/RW: Tương tự như dĩa CD, dĩa DVD-R có những cấu trúc đặc biệt trên mặt dĩa có thể ghi chép các ký hiệu của hình ảnh (video) và âm thanh nổi (stereo), hiện nay trên thị trường có ra hai loại dĩa DVD-R/RW
         - Dĩa 4.7G/120 phút dữ kiện, dĩa này chỉ dùng có một mặt, từ chuyên môn hay gọi là DVD-5
         - Dĩa 9.4G/210 phút dữ kiện, loại này mới tung ra trên thị trường trong vài tháng gần đây, và dữ kiện được ghi chép cả hai mặt, từ chuyên môn gọi là DVD-10

Thông thường thì các loại DVD-R/RW đều có thể sử dụng loại DVD-5, nhưng khi chuyển qua dùng loại dĩa DVD-10 không phải bất cứ loại máy nào cũng có thể thâu loại này được, những DVD-R/RW với vận tốc 2.4X không dùng DVD-10 được, hoặc một số ổ DVD-R/RW cũ vì đầu laser trong ổ DVD-R/RW và độ dày của dĩa phải tương xứng với nhau có nghĩa là khi đầu laser phát ra ánh sáng, luồng ánh sáng từ trường này phải đọc được hoặc ghi chép được các dữ kiện theo độ dày của dĩa DVD. Nếu không ghi chép được có nghĩa là đầu laser không đủ mạnh để đọc các dĩa có độ dày đặc biệt như loại dĩa DVD-10.
Dĩ nhiên là khi dùng dĩa DVD-10 quí vị cũng phải lật mặt dĩa để ghi chép như là chúng ta phải quay đầu tape nhạc để thâu. Tuy vậy dĩa DVD-10 và ổ DVD-R/RW cho DVD-10 vẫn còn phức tạp vì mới tung ra thị trường và giá thànhcho một dĩa DVD-10 rất cao.
Mong quí vị độc gỉa điện toán đón đọc vào kỳ tới cũng xoay quanh vấn đề DVD burner và sẽ đi sâu vào chi tiết kỹ thuật về sự tiện lợi của DVD burner như thế nào cho các máy điện toán tại tư gia.

 


T.S.M.G.

CCh:  Bổ túc thêm về các dạng dĩa DVD là hiện giờ có dĩa DVD-9 và DVD-18:

DVD-5 - single sided, single layered (4.7 GB total capacity)
DVD-9 - single sided, dual layered (8.5 GB total capacity)
DVD-10 - dual sided, single layered (9.4 GB total capacity)
DVD-18 - dual sided, dual layered (17 GB total capacity)

DVD-9 chứa 8.5 Gb (ít hơn DVD-10 chứa 9.4 Gb) nhưng dĩa DVD-9 chỉ có 1 mặt nhưng chứa 2 lớp (dual layers) nên không cần lật mặt dĩa ... dĩa DVD-9 gồm có 2 layers khác màu

DVD-18 chứa 17 GB (2 mặt và mỗi mặt có 2 lớp) và phải lật mặt dĩa như DVD-10 để record hay play. (DVD-18 thì giống như dán 2 dĩa DVD-9 lưng-tựa-lưng - 2x8.5 = 17 Gb)

DVD-10 thì giống như dán 2 dĩa DVD-5 lưng-tựa-lưng (2x4.7 = 9.4 Gb)