36
nẻo thịt cầy: năm Tuất nói chuyện (thịt) chó ở Sài G̣n
Date: 05-02-2006
Đề tài: Chính Trị Xă Hội Việt Nam
Hiền Hoà
Theo một vài tài liệu xưa th́ người Việt ở phía Bắc đă ăn
thịt chó từ hàng ngàn năm nay, nhưng suốt lịch sử hành
phương Nam trong năm bảy trăm năm qua, người Việt ở phương
Nam lại không mấy mặn mà với món “vương nhục” này. Cụ thể là
tại Sài G̣n, những quán thịt chó xuất hiện lần đầu tiên vào
những năm 30-40 của thế kỷ trước, và cũng chỉ bó hẹp trong
cộng đồng những người Bắc vào Nam lập nghiệp, làm thuê làm
mướn. Trước 1975, tại một vài xóm đạo, chợ Ông Tạ, giáo xứ
Tân Hương ở Tân B́nh và Thủ Đức,… những “tông đồ” có thể t́m
cho ḿnh những thứ khoái khẩu, “nguyên zin” với cách pha chế
được bê nguyên từ phương Bắc vào. Vậy là khi nói về thịt cầy
Sài G̣n ngày nay, là nói về cái cột mốc 1975, khi nhiều
người ở đây bỏ xứ ra đi t́m tự do; và nhiều người khác từ
miền Bắc thiên di vài Sài G̣n t́m đất sống.
Hành tŕnh Mộc Tồn…
Chó là con vật được loài người thuần hoá đầu tiên, cách đây
khoảng 40 ngàn năm, v́ nó cực ḱ trung thành, lại là con vật
giữ vai tṛ chủ chốt trong các cuộc đi săn, giữ hang động,
giữ nhà… nên nhiều nơi thờ nó như vật tổ. Suốt từ Himalaya
đến sông Dương Tử, nơi cộng đồng Bách Việt và nhiều sắc tộc
khác, ngoài hệ thống Hán -Tạng sinh sống, người ta thờ chó
như linh vật; người Mán ngày nay vẫn c̣n xem chó như là thuỷ
tổ của ḿnh, nên được tôn thờ rất trang nghiêm. Mà nguyên
tắc của vật thờ là phải kiêng cữ, kính trọng.
Nhưng theo thời gian, cái tín ngưỡng thờ linh vật, mà cụ thể
là con chó bị phân hoá trong chính cư dân vùng Bách Việt, v́
nhiều lí do khách quan mà một bộ phận trong cộng đồng đó bắt
đầu nhận ra chó là con vật biết tự lo liệu, sinh sản và tăng
trưởng nhanh, không như những vật nuôi khác, phải tốn nhiều
công chăm sóc, nên việc ăn thịt chó cũng đáp ứng được những
khó khăn buổi đầu khi con người t́m nơi định cư. Tuy nhiên,
ban đầu người ta cũng chỉ ăn những con chó dư thừa (đă qua
độ tuổi nhanh nhạy), những con chó “đối nghịch” hay chó của
“đối phương”… Tuổi thọ của chó trung b́nh là 20.
***
Người phương Nam, mà cụ thể là Sài G̣n lúc trước không ăn
thịt chó, v́ có lẽ do họ chung sống với các cộng đồng người
Khmer, Phật giáo, Ấn Độ giáo… Khi Thiên Chúa giáo theo dân
di cư vào miền Nam, việc ăn thịt chó dù không phải là bản
sắc hay tín điều của đạo này, nhưng cũng có tác dụng phân
biệt, nên được người Công giáo miền Bắc khuếch trương mạnh
mẽ, và các quán cầy tơ mọc lên nhiều nơi. Bước đầu là để đáp
ứng nhu cầu tiêu thụ-ăn nhậu nội tại, và cũng để phân biệt
Phật-Công, Bắc-Nam, sau là nhằm tạo ra uy thế để lấn lướt
những bản sắc khác. Và có lẽ, Việt Nam, mà cụ thể là Sài G̣n
[sau 1975] là một trong số ít thành phố trên thế giới, thịt
cầy đă theo chân sâu sát và gần như trở thành bản sắc ngầm
của người Công giáo, và cả tín đồ Tin lành.
“Mộc tồn”; “A, đây rồi”; “Hạ cờ tây”; “Ô Ḱa…” là những cái
tên thường thấy ở những quán thịt cầy trước đây, cụ thể là
trước năm 1990, và cả ngày nay cũng c̣n, ở Sài G̣n. Cách đặt
tên quán thịt cầy cũng giống như kiểu trước quán bia đề hai
chữ: “Ca ngắn”, nghĩa là ở đó có tiếp viên, v́ ca ngắn là ca
không dài, ca không dài là cai không già, cai không già là
cai non, mà cai non là con nai. Có nai là có gái, đó là cái
lối dùng hệ thống thay thế rất phức tạp, và … thú vị.
Trong giới sành thịt chó tại miền Trung và Sài G̣n, nhiều
người hay nói đến quán Mộc Tồn trên đường Ông Ích Khiêm ở Đà
Nẵng, nơi lưu dấu của nhiều văn nhân nghệ sĩ nổi tiếng.
Trong hành tŕnh vào Nam, khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ
trước, chủ nhân của Mộc Tồn ngày nay chọn Đà Nẵng làm nơi
dừng chân, với bản sắc độc tôn của cầy Nhật Tân, Mộc Tồn Đà
Nẵng trong suốt một thời gian dài (khoảng 40 năm) đă giữ vai
tṛ độc tôn gia vị về 7 món tại khu vực miền Trung, nhiều
sinh viên Đại học Đà Nẵng, hay khách văng lai một lần tạt
ngang đều nhận về cho ḿnh một ấn tượng. Nhiều người c̣n gọi
Mộc Tồn là Đệ nhất giang hồ cầy quán. Có những ngày cao điểm,
vừa bán vừa bỏ mối cho các quán khác, Mộc Tồn Đà Nẵng đă
“chuyển vế đổi dấu” cuộc đời khoảng 20 con chó.
Và cái tinh thần mộc tồn từ phương Bắc ấy cứ vậy chuyển di
khắp miền Trung, Tây Nguyên, vào Hố Nai, Biên Hoà rồi đến
Sài G̣n, qua miền Đông, xuống miền Tây và cả Cà Mau. Rộ lên
từ sau 1975, khi cơ hội lịch sử làm cho nhiều cư dân không
phải là Công giáo cũng lên đường t́m kế sinh nhai... Ngày
nay Sài G̣n là chốn ngụ cư, chung sống nhiều bản sắc, nên
thịt cầy cũng ra sức nở rộ. Người ăn thịt cầy ngày nay không
nhất thiết phải phản ánh là bản sắc ǵ, đạo ǵ, Bắc, Nam hay
Trung, cứ sao ai thích uống rượu, và thích t́m món khoái
khẩu, ngon, bổ rẻ… th́ mời vào. Ngày trước, vua Càn Long vi
hành phương Nam, ăn được miếng thịt chó ngon sau nhiều ngày
rượu thịt ê chề, ông đă phong nó là “vương nhục” (vua của
các loại thịt), và sau này, khi chỉ đạo việc biên soạn sách
về ẩm thực phương Nam, ông vẫn đặt thịt chó ở vị trí đặc sản
đặc dị.
7 món hay 9 món
Số lượng món khẳng định tài nghệ và đẳng cấp của người đứng
bếp; nhưng cũng phản ánh cả thói quen ăn uống của vùng miền.
Lúc trước ở khu vực miền Trung chỉ có 5 món, hay cùng lắm là
7 món, thường th́ không có món đầu chó và dồi chó, nhưng lại
có thêm món cháo xương/huyết chó nấu với đậu đen. Sài G̣n
th́ phổ biến với 9 món, tuỳ quán sẽ chọn trong danh sách này:
luộc, hấp, tiết canh, rựa mận, nướng, xáo măng, chả ch́a,
dồi, hon, đùi nướng, đùi chiên (mà quen gọi là di động xối
mỡ hay thiên cẩu đánh rơi giày)… gần đây c̣n có cả lẩu, và
chó càri, chó quay. Thế nhưng, mùi vị “nguyên zin” và để có
thể xếp hạng được đẳng cấp bề trên "cầy quán" th́ món luộc/hấp
vẫn là quan trọng nhất.
Quán Huy B́nh- 555, góc Luỹ Bán Bích - Nguyễn Trường Tộ, quận Tân B́nh, nổi tiếng với món chả ch́a
Một đĩa luộc/hấp cùng vài lát dồi cũng như gan luộc tại Sài G̣n giá phổ biến từ 15 đến 20 ngàn, khoảng 1 đến 1,2 USD, kèm theo đó là chén mắm tôm với nhiều hương liệu pha chế như sả ớt băm, đường cát trắng, chanh và nửa muỗng café rượu trắng loại ngon, để đánh cho sủi bọt màu trắng. Kèm theo nữa là sả cây, vài lát riềng, lá mơ, lá ng̣ cưa, lá quế, rau ôm, chuối cây xắt mỏng,… nhiều nơi c̣n “chơi cả” củ tỏi, trái ớt, khế, chuối chát và bất ḱ rau ǵ ăn sống được, như đinh lăng, đọt xoài, rau thơm… Đĩa luộc thường là món khởi đầu, nên chuyện ngon dở của nó rất được quan tâm, với lại do thịt không bị tẩm gia vị nên mùi vị và độ “tơ” của miếng thịt rất dễ nhận ra. Giữa hàng trăm quán tại Sài G̣n, hệ thống quán có tên thịt cầy Nam Định thường có bí quyết riêng để làm đĩa luộc, thịt ngọt mềm và chén mắm tôm rất đặc biệt. Tuy nhiên, về chất lượng chung th́ có những khu vực chuyên gia hơn như Hà Nội Phố gần cầu Thị Nghè và Sở Thú, khu Nam Định ở Cống Quỳnh đối diện báo Thanh Niên, khu Hai Mơ và Nhật Tân ở cạnh ray xe lửa trên đường Lê Văn Sĩ, khu Chương Dương ở Luỹ Bán Bích, Tân B́nh... Ngoài ra, cũng có những quán nổi tiếng đứng riêng rẽ như Quốc Huy trên đường Nguyễn Thị Thập quận 7, quán Nhật Tân ở trên đường Độc Lập quận Tân B́nh, quán Nam Định trên đường Đinh Bộ Lĩnh, gần bến xe miền Đông, và một số quán ở khu vực chợ Ông Tạ, đường Phạm Văn Hai, đường Cộng Hoà… Các quận vùng ven, khu dân lao động th́ nhiều quán (b́nh dân) hơn, nhưng gần như, không có quận nào là không có các “vương quốc 9 món”. Nhiều quán không tạo được cho ḿnh bản sắc từ đĩa luộc, nhưng lại sành điệu về chả ch́a như quán Lá ở làng Đại học Thủ Đức, xáo măng ở quán Tiểu Nam Định trên đường Nguyễn Suư, hay đi động nướng tại quán 555 Gốc trên đường Vườn Xoài…
Quán Năm Chiến, mở đầu cho lối vào Hà Nội Phố, Thị Nghè; dành cho khách trung lưu
Kế đến
món luộc, mỗi người thường chọn cho ḿnh một “khoái khẩu”
riêng, có người chọn nướng v́ muốn ăn thịt chó uống bia, có
người chọn chả ch́a v́ không muốn nặng bụng lại có thể uống
nước ngọt, có người chọn rựa mận để ăn kèm bún, có người
chọn di động chiên v́ một cái th́ đủ cho cả cuộc rượu, có
người chọn xáo măng hay lẩu cho nhiều người, để được ăn thêm
cải xanh…; giá th́ chênh lệch từ 5-10 ngàn đến 15-20 ngàn
một món là cùng. Có chỗ bán một cái lẩu giá 30 chục, có chỗ
cao th́ 45 ngàn, có chỗ rẻ hơn một nửa v́ lẩu toàn xương; có
chỗ bán một gị sau nướng giá 15 ngàn, có chỗ th́ bán theo
thời giá, cân kí mà tính tiền. Có lẽ cao giá nhất phải kể
đến là pín hấp gia vị, hay tiềm thuốc bắc, một thố nhỏ với 2
pín, giá khoảng 120 đến 150 ngàn. C̣n thấp nhất có lẽ là 4
móng đeo nướng, sau đó chần nước lèo với măng non, giá phổ
thông là 8 hoặc 10 ngàn 4 cái… C̣n rượu, thường có khoảng 10
loại để chọn, nhưng đế G̣ Đen và nếp Bắc là bán chạy nhất,
v́ nó dễ uống và hợp khẩu với đa số các món. Giá rượu phổ
biến từ 3 đến 10 đồng 1 xị.
Hương vị chủ chốt trong thịt chó phải kể đến là lá mơ (trong
câu: Giây mơ, rễ má), nhiều nơi c̣n gọi là lá mơ lông, lá
thối địt hay thúi địt. Gọi như thế v́ lá mơ một mặt có màu
tím nhạt, một mặt th́ có nhiều lông, h́nh như lá bơ nhưng
nhỏ, mùi của nó nhiều người ngửi không quen dễ khó chịu. Khu
vực miền Trung, cũng có một giây leo như thế, lá màu xanh lơ,
ít lông, mỏng và ít bầu như lá mơ, nhưng mùi vị th́ y chang,
thậm chí đậm đặc hơn, dân các vùng này gọi chính danh nó là
lá thối địt, cũng dùng để ăn thịt chó. Ngoài ra c̣n có củ
riềng, có h́nh dáng và vị cay nóng như củ gừng, nhưng mùi
th́ khác, rất đặc trưng. Sở dĩ phải dùng hai thức này trong
món thịt chó v́ nó cầm tánh Dương/ấm, c̣n thịt chó cầm tánh
Âm/lạnh, ăn chung sẽ tạo ra sự quân b́nh. Cũng như thịt vịt
ăn với nước mắm gừng, thịt gà ăn với muối tiêu… Người phương
Tây, nhất là Mỹ với thức ăn nhanh, th́ ăn uống ít chú trọng
đến sự quân b́nh này nên hay bị bệnh dị ứng ngoài da, nổi
tàn nhang, viêm đường tiêu hoá và bị béo ph́, nhất là nới
kích cỡ đường kính bụng.
Đệ nhất giang hồ cầy quán
South Korea (Hàn Quốc) xem thịt chó là một trong 15 biểu
tượng về văn hoá và tâm linh. Mùa World Cup vừa rồi, chính
phủ Hàn Quốc c̣n đấu tranh với FIFA để thịt chó và nước ép
thịt chó được bày bán, kết quả họ đă được toại nguyện. Vậy
mà, để t́m được quán thịt cầy đệ nhất ở Hàn Quốc cũng thật
là khó, đâu ai chịu ai… Vậy nên, ngoài cái thời sơ khai với
danh quán Mộc Tồn ở Đà Nẵng, th́ ngày nay, trong thế cạnh
tranh và đi vào chuyên nghiệp hoá, rất khó để phán xét quán
nào ở Sài G̣n là đệ nhất. Có quán mỗi ngày phục vụ được hai
ba chục khách, có quán hai ba trăm khách, có quán nằm ở mặt
tiền thuận lối đi, nhiều người biết, có quán nằm trong hẻm
khó kiếm, lại độc xị… nhưng không phải v́ thế mà quán này có
thể dễ dàng cao hơn quán khác về hương vị.
Thịt chó ban đầu, trong xă hội tạm gọi là đă văn minh, được
lấy làm món giả cầy, v́ trên rừng, vùng trung du có con cầy
hương hay c̣n gọi chồn hương, mùi vị rất thơm nhưng khó kiếm,
khó bắt. Nhưng trong quá tŕnh biến tấu với đủ thứ, trong đó
có ngũ vị hương, thịt chó đă t́m được bản sắc và cách thức
cho riêng ḿnh. Ngày nay gọi thịt chó hay thịt cầy, không ai
c̣n thắc mắc nữa. Thịt chó cũng như phở Bắc Hải, phở Lư Quốc
Sư, hay bún ḅ Huế… gắn với một “Cái Tên”, mà ở đó “tính bảo
thủ công thức” luôn giữ được, nên dù có đi đâu (qua cả Mỹ,
Đức… trong riêng cộng đồng người Việt), nó vẫn cố giữ cho
được bản sắc. Cho nên, một lần nữa, rất khó để tôn vinh đâu
là đệ nhất. Để làm được điều này, có lẽ cần có những cuộc
thi chăng?
Ngày nay, sau khoảng 20 năm (kể từ 1985) thịt chó Sài G̣n đă
bắt đầu t́m cho ḿnh được bản sắc, cái bản sắc đó có khác
với những khu như Chương Dương, Nhật Tân… ngoài Hà Nội, hay
tại Nam Định, Hải Pḥng… Cái khác đầu tiên là ở cung cách
chế biến, thịt cầy miền Nam thường kèm theo nhiều rau lạ,
món lạ như quay, lẩu; thứ hai là ở cung cách phục vụ, cũng
những người từ Bắc vào, có những phục vụ c̣n rất trẻ, có
người sinh năm 1990, những đă học được cái cung cách phục vụ
tao nhă, cởi mở, lễ độ và lịch sự.
Có quán nằm trong hẻm, nhưng "hàng độc", chỉ toàn khách sộp
Cuối cùng,
thịt cầy Sài G̣n trên hết 36 nẻo đường của ḿnh, cũng trả
lời được câu hỏi là tại sao ngày càng có nhiều người ăn thịt
chó! Bởi chó đă không c̣n được ngồi trong địa vị kiêng cữ,
thờ cúng, và cũng không c̣n giữ vai tṛ trong công việc đi
săn, hay giữ nhà. Ngày nay, nhà phải giữ chó c̣n nhiều hơn
chó phải giữ nhà. Và cũng bởi ở đó – các quán thịt chó, c̣n
có một góc đời sống được diễn ra, mà người dân Sài G̣n th́
thường sống bằng mánh mung tại quán; c̣n có một nếp văn hoá
ẩm thực và sự chung đụng của các thói quen sinh hoạt khác
nhau. Quan trọng hơn, ăn thịt chó là v́ chó nuôi dễ. Mà quan
niệm trong ẩm thực mới, khá văn minh là con nào nuôi được
th́ ăn, c̣n những động vật hoang dă, dù có bổ bằng trời, đặc
sản hiếm quư, cũng xin miễn, v́ chúng ta chưa nuôi được nó,
sao được phép ăn. Và nếu ai cũng tôn trọng quy tắc này, th́
đâu có cảnh “con người mỗi ngày mỗi cô đơn” như ngày nay. v́
ở những nước, những xứ sở càng kém văn minh, các loài vật và
cây cối càng hết đất sống, càng có nguy cơ tuyệt chủng.
Sự tồn vong của bất ḱ một nền văn hoá, hay văn minh nào…
cũng phụ thuộc rất nhiều vào cái ăn của con người. Mà cái ăn
đó, dù bạn có kiêng cữ hay không, th́ cũng phải biết chấp
nhận sống chung với nó.
Sài G̣n tháng 1/2006