Coi Chừng Thực Vật Trong Vườn NhàNgay trong vườn nhà chúng ta, thực vật độc hại có rất nhiều. Với một số điều kiện nhất định nào đó, thực vật gồm cây ăn trái, cây ra hoa (cùng lá, cành, hạt, mầm, cuống...) có thể gây ngộ độc. Tuy nhiên, hiếm khi người bị ngộ độc vì lý do chúng ta không thể ăn cả lá cây, củ, hoa ... khi chưa chín hoặc chưa nấu chín. Những người có nguy cơ bị ngộ độc có thể chia làm 3 loại :-trẻ con dưới 5 tuổi : chúng thường dùng luỡi để khám phá thế giới xung quanh mới lạ đối với chúng.
-kẻ dùng ma túy : họ trồng cây ... đặc biệt có thể đưa họ "đi mây về gió".
-người trưởng thành:muốn ăn thử nghiệm rau cải hoang trong thiên nhiên.
Danh sách thực vật dưới đây cho ta biết những cây cỏ có độc chất. Cũng cần nhấn mạnh rằng dù có độc tính, rất ít trong số đó nguy hiểm thực sự cho con người, trừ khi ta ăn vào.Nếu trẻ con ăn phải lá hoa có độc chất, ta nên đưa ngay tới trung tâm cấp cứu nào gần nhất và cả phẩm vật lá hoa mà chúng ăn vào thì may ra chữa trị kịp thời !
Những cây dùng làm thức ăn :
1. Các loại củ cải (gồm cải trắng, cải đỏ, cải tím, củ cải đường)
-củ và lá có chứa một số chất nitrate và oxalate có thể ăn được khi nấu chín
-lá đầu ngọn bỏ đi không nên dùng vì 2 chất trên nhiều hơn nơi khác.
2. Các loại cải (cải xoăn, cải bắp, cải mù tạt, cải broccoli, cải dầu = rape)
-hạt đều có dầu mù tạt gây kích thích. Chúng đều có chất isothiocyanate gây bướu giáp trạng nơi trẻ em nếu ăn nhiều.
-lá nếu ăn sống nhiều có thể gây đau bụng, táo bón đôi khi kèm theo thiếu máu do tan huyết và do đái ra huyết cầu tố.
3. Khoai tây : nếu ta ăn khoai tây mọc mầm và vỏ củ đã có màu xanh thì sẽ dễ ngộ độc với những triệu chứng như đau bụng (bao tử+ruột), nôn mửa, đái ra máu, suy giảm hô hấp và thần kinh. Sở dĩ thế là vì tỷ lệ chất solanin tăng cao đến 0,02 % nhất là khi vỏ đã xanh. Khi cắt củ khoai tây rồi để lâu ngoài không khí thì vết cắt thành đen ra là do hợp chất polyphenol bị men polyphenoloxy-daza trong củ tác động lên.
4. Khoai sọ (colocasia antiquorum): còn gọi là khoai nước gây phỏng và sưng môi, lưỡi và đau bụng.
5. Khoai mài : hay củ mài, chế thành thuốc gọi là hoài sơn. Nấu ăn được nhưng coi chừng có chất tương tự chất saponin (để duốc cá).
6. Cây củ nưa : ăn được nếu nấu chín với vôi để giảm độc vì củ gây ngứa dữ dội.
7. Cây cà chua : (tomato = lycopersicon esculentum) dù trái chín bổ dưỡng nhưng trái chưa chín và lá thì hơi độc với triệu chứng tương tự do chất solanin (có trong khoai tây).
8. Sắn các loại : như cassava, manioc, tapioca nấu chín mới ăn được.
9. Cây củ đậu : củ ăn được nhưng lá và hạt độc vì có chất rotenon. Dùng lá làm thuốc diệt sâu, rệp và nhện đỏ rất hiệu nghiệm.
10. Cây táo : apple (malus sylvestris) bổ dưỡng nhưng ăn phải hột (pips) thì độc do có chất HCN.(hydrocyanic acid) có thể gây tử vong nếu nhiều.
11. Cây ô mai : stone fruit (prunus) có hạt chứa HCN. Trong nhóm này kể luôn cả cây hạnh nhân, mơ, đào, mận, lê. Triệu chứng gồm có xây xẩm, nhức đầu, hồi hộp, khó thở, co giật, kiệt sức rồi hôn mê nếu ăn qúa nhiều.
12. Đào lộn hột : Vỏ hạt chưa nấu chín có chất cardol là một loại resin có thể gây viêm da cấp tính.
13.Cây lạc tiên : hoa passion-flower ra trái p.fruit bổ dưỡng nhưng lá và hoa có chất HCN.gây độc hại nếu ăn qúa nhiều.
14.Cây sơn tra Nhật bản : còn gọi là cây nhót tây (loquat) ra qủa chứa hạt có HCN.nên cẩn thận.
15.Đậu phụng : nếu đậu bị mốc meo nên vất bỏ vì dễ ngộ độc do chất afla-
toxin.Xưa dầu thắp đèn được ép từ đậu phụng cho ra khô dầu,nếu cho trâu bò ăn khô dầu bị mốc cũng bị ngộ độc.
Những cây ra hoa và cây cảnh :
1. Cây sống đời : còn gọi là trường sinh, thổ tam thất, lạc địa sinh căn. Được dùng trị bỏng rất hay nên cũng gọi là cây thuốc bỏng. Cây này có chất bryo-
phyllin nên cẩn thận nếu dùng qúa độ.
2. Hoa huệ chuông: tên là convallaria majalis hay muguet (Pháp) hay lily-of- the valley(Anh). Mọi thành phần của nó (là, hoa, đài, cuống...) đều độc. Triệu chứng gồm có ói mửa, tiêu chảy và tim đập không đều.
3. Hoa huệ nhện : Anh ngữ gọi là spider lily, swamp lily, belladonna lily. Loại huệ này có độc tính gây viêm đường tiêu hóa, đôi khi gây co giật do belladonna.
4. Hoa huệ clivia : hay còn gọi huệ kaffir gây độc cho hệ thần kinh, đặc biệt chổ tận cùng dây thần kinh vận động, gây trụy tim và có thể tử vong.
5. Hoa huệ arum : ăn phải bao mo hoa (spathe) rất độc. Triệu chứng là miệng họng sưng phù, viêm dạ dày, tiêu chảy trầm trọng rồi kiệt sức.
6. Thủy tiên các loại :gồm narcissus, daffodil, jonquil có- hoa và cuống hoa đều độc. Triệu chứng ngộ độc là ói mửa, viêm bao tử-ruột trầm trọng, run rẩy và co giật, đôi khi gây tử vong.
- lá có thể gây viêm da.
7. Trúc đào : Anh ngữ là oleander (nerium oleanderi). Mọi thành phần đều độc vì có chất oleandrin và neriolin.
- trẻ tử vong nếu ăn 1-2 hoa còn người lớn thì 4-5 hoa. Thường ngộ độc do ăn thịt nướng xiên vào que cây trúc đào.
- triệu chứng là nôn mửa, đau bụng, xây xẩm, tiêu chảy, yếu người, tim đập bất thường, hôn mê rồi tử vong trong vòng 24-30 giờ.
- có trường hợp mù mắt do nhựa của trúc đào.
8. Cây hoa đỗ quyên : azalea (rhododendron) gây triệu chứng chảy nước bọt nhiều hơn bình thường, mửa, đi loạng choạng, co giật, khó thở nếu ăn lá, hoa...
9. Cây mù mắt : tên khoa học là lobelia longiflora Wild. Sở dĩ gọi thế là vì cây này chứa độc chất isotomin có tác dụng giống chất lobelin làm liệt dây thần kinh thị giác gây mù mắt và gây tim ngừng đập ở dạng tâm thu.
10. Cây hoa đĩa : hortensia (Pháp) hay hydrangea (Anh) gây triệu chứng nôn mửa, viêm dạ dày- ruột.
11. Cây mao địa hoàng : foxglove (digitalis purpurea) cho chất digoxin chữa trị bệnh tim, tuy nhiên uống qúa liều sẽ bị ngộ độc. Mọi thành phần của cây đều độc. Triệu chứng là buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy ra máu, rối loạn nhịp tim, tâm thần bất thưòng, choáng váng, run rẩy và co giật.
12. Lan dạ hương : hyacinth (hyacinthus orientalis) gây buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy mất nước trầm trọng có thể gây tử vong.Phấn hoa gây dị ứng cho mắt.
13. Cây phi yến : delphinium ajacis gây tiêu chảy, ói mửa, co giật và hôn mê.
14. Cây ông lão : clematis, còn gọi là cây leo chữa nhức đầu do đó có tên headache vine. Nhai lá gây bỏng rộp da nhưng hít thì làm giảm nhức đầu, tuy
nhiên nên cẩn thận có độc chất.
15. Cây bìm bìm tía : morning glory (ipomea violacca) có hạt chứa chất gây ảo giác.
16. Cây thụy hương : daphne (garland flower, spurge laurel) nước ép gây bỏng rộp da, mửa, tiêu chảy ra máu và cả niêm mạc ruột. Trẻ con có thể tử vong nếu ăn 1-2 trái.
17. Cây philodendron : gây độc với triệu chứng của viêm dạ dày cấp tính, kích xúc và ngạt thở gây tử vong.
18. Cây nhựa ruồi : holly (ilex aquifolium) lá độc gây ói mửa, tiêu chảy và mê sảng cho người.
19. Cây muồng hòe : cassia occidentalis L.hay là cây vọng giang nam có chất phytotoxin khá độc nhưng hạt chỉ gây độc hại cho loài vật.
20. Cây bồng bồng : calotropis gigantea R.Br.nên phân biệt 2 loại cây vì chỉ có một cây có độc chất :
- loại thuộc họ Thiên lý (Asclepiadaceae) trồng làm hàng rào có chất độc calotropin dùng chữa tim nên cẩn thận.
- loại thuôc họ Hành tỏi (Liliaceae) dùng nấu canh ăn được.
21. Cây lá ngón : còn có tên là đoạn trưòng thảo, hoàng đằng vì có hoa vàng.
Có 2 loại :
-gelsemium elegans Benth thuộc họ Loganiceae (mã tiền) là loại cây rất độc trong các cây vì có chất gelmicine giống chất strychnine.
-gelsemium sempervirens Art có hoa vàng rất đẹp. Thường thấy trồng ở Bắc Mỹ châu. Lá, hoa, mật hoa có chất semperverine và semperine khá độc. Có thể gây tử vong do suy hô hấp.
22. Cây ngọt nghẹo : còn gọi là cây cỏ cú nhú nhoái (glory lily hay climbing lily). Mọi thành phần lá, hoa, cuống ... đều độc, nhất là củ. Triệu chứng là ngứa rần lên, tê cóng môi, luỡi, họng, yếu tứ chi, tiêu chảy ra máu, khó thở và nhanh cùng mạch yếu. Nếu nặng hơn thì thân nhiệt giảm, mất ý thức rồi tử vong.
23. Cây cà dại hoa vàng : argemone mexicana có hạt và dầu từ hạt gây choáng váng và tăng nhãn áp. Cà có chất độc tương tự chất ricin.
24. Cà độc dược : atropa belladonna (datura), còn gọi là mạn đà la (phiên âm từ chữ Phạn) nghĩa là cây có màu sắc sặc sỡ. Cà có chất atropine gây nở con ngươi, ảo ảnh, tim đập nhanh, kích thích, co giật, sốt và có thể gây tử vong.25. Cây cam thảo dây : còn gọi là dây cườm, là abrus precacious (gidee-gidee, crab's eyes, rosary pea) có hạt chứa độc chất "abrin" tương tự chất "ricin".
Triệu chứng ngộ độc là buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy, yếu cơ, đứng không nổi, mạch nhanh và yếu rồi hôn mê.
26. Cây thầu dầu : castor oil plant hay c.o.bean (ricinus communis) có hạt cực độc. Độc tố ricin mạnh gấp 7 lần chất aconitin trong cây ô đầu. Triệu chứng ngộ độc như trên.
27. Cây xương rồng : euphorbia antiquorum có nhựa (mủ) độc, không nên để cho bắn vao mắt.
28. Cây xương khô : còn gọi là cây san hô xanh, cây cành giao giống như cây xương rồng trồng làm hàng rào cũng có nhựa độc. Cẩn thận tránh để dây vào mắt.
29. Cây trạng nguyên : Poinsetta (Anh ngữ) hay euphorbia pulcherima có mủ (nhựa) trắng như sữa không nên để bắn vào mắt vì gây mù mắt tạm thời (temporary blindness).
30. Cây thông thiên : thevetia nerifolia hay thevetia peruviana hay yellow oleander (trúc đào vàng). Mọi thành phần của cây đều có độc chất thevetin
dùng chữa bệnh tim nên phải cẩn thận. Thống kê cho thấy chỉ ăn hạt mới gây ngộ độc. Triệu chứng là miệng nóng bỏng, lưỡi ngứa dữ dội, họng khô, nôn mửa, choáng váng, đồng tử nở, mạch chậm và không đều.
31. Cây đậu tía : wisteria (Anh) thường trồng cho leo lên hàng rào, có hoa màu tím khá đẹp. Nếu trẻ em ăn qủa hay hạt trong nang sẽ bị ngộ độc với triệu chứng viêm bao tử-ruột, ói mửa liên tục.
32. Cây lựu : vỏ, rễ và thân có chất pelletierin gây bại liệt thần kinh trung ương và làm ngừng hô hấp rồi tử vong, dù chất trên dùng chữa sán. Cẩn thận không được cho trẻ em và phụ nữ có thai uống.
33. Cây cau : qủa có chất arecolin cũng gây bại liệt thần kinh. Dùng chữa sán cho súc vật.
Bảng liệt kê trên đây gồm những cây cỏ thông thường mà có thứ chúng ta hay trồng làm thức ăn hoặc có loại trồng làm cảnh, hàng rào. Tuy nhiên, tra cứu một số tên gọi thì chưa thống nhất cho lắm nên thiếu chính xác, ví dụ :
-Cây thổ tam thất có 2 loại:
1. Cây sống đời có tên khoa học là Bryophyllium calcinum Salish hay là kalan- choe pinnata Pers thuộc họ Thuốc bỏng (Crassulaceae)
2. Cây nam bạch truật hay tam thất giả có tên khoa học là Gynura pseudochina DC.hay Calabra bulbosa Lour thuộc họ Cúc (Compositae)
-Cây cứt lợn có :
1. Ageratum conyzoides L.thuộc họ Cúc (Compositae) trị viêm xoang mũi.
2. Lantana camara L.thuộc họ Cỏ đuôi ngựa (Verbenaceae) có lẽ nên gọi là cây ngũ sắc hay cỏ trâm hôi để phân biệt với loại trên.
Ngoài ra, cây kinh giới trồng ở Trung Quốc được gọi tên là Schizonopeta
tenuifolia Briq khác tên với cây kinh giới trồng ở VN.gọi là Origanum syriacum hay Elboltzia cristata Wild.
Dương Hoài Ninh (sưu tầm)
*Tài liệu tham khảo :
-Poisonous plants of Selwyn L.Everist
-Những cây thuốc và vị thuốc VN.của Đổ Tất Lợi (Hà Nội 1986)