Phóng sự: Trở Lại Bidong – Galang 8.2005

Với thời gian chuẩn bị vỏn vẹn ba tuần lễ v́ nhu cầu cấp bách, chuyến đi “Về bến Tự do” lần thứ nh́ do Văn khố Thuyền nhân VN tổ chức vào cuối tháng 8.2005 đă được thực hiện trong hoàn cảnh khó khăn muôn bề tưởng như không thể nào vượt qua nổi.

Dư âm của chuyến đi lần đầu vào tháng 3.2005, với 150 người tham dự nhân dịp đánh dấu 30 năm định cư của các cộng đồng người Việt hải ngoại, vẫn c̣n tươi nguyên cảm xúc. Ban Tổ chức c̣n hàng trăm công việc không tên phải được giải quyết và tường tŕnh. Các dự án tương lai về chương tŕnh trùng tu di tích thuyền nhân VN ở Indonesia (Nam Dương) và Malaysia (Mă Lai) mới chớm h́nh thành, chưa kịp bắt tay vận động. Những thành viên trong Ban Tổ chức hầu như chẳng có một giờ để thở...

Nhưng hành động bôi xóa dấu tích thuyền nhân tỵ nạn VN qua việc đục bỏ tấm bia tri ân và tưởng niệm trên đảo Galang (và có thể, cả tấm bia trên đảo Bidong trong tương lai) v́ áp lực từ phía chính quyền CSVN hồi tháng 5 đă thôi thúc họ xắn tay áo lên một lần nữa. Những oan hồn vất vưởng trong các nấm mồ hoang lạnh từ hai, ba chục năm qua không người lai văng nhang khói dường như cũng níu chân họ trở lại. Dù không có đủ thời gian để quảng bá sâu rộng như lần đầu, 50 người từ Úc và Hoa Kỳ đă gác lại những bận bịu lo toan cơm áo hàng ngày để cùng góp mặt trong chuyến đi lần này. Nhu cầu tâm linh, t́nh nghĩa đồng bào và tiếng nói sự thật của cuộc vượt biển di cư bi tráng nhất trong lịch sử dân tộc đă đưa những bước chân của họ đến với nhau.

Và tôi, một người tham dự nhỏ nhoi trong cả hai chuyến đi, chân thành ghi lại những mẫu chuyện dọc đường trong cuộc hành tŕnh 10 ngày thắm thiết đáng nhớ ấy như một chia xẻ chung với những người đă hoặc chưa từng sống và cảm một đoạn đời tỵ nạn chập chùng khốn khó nhưng vô cùng quư giá.

Singapore, những người bạn một đời

Tôi trở lại thành phố bán đảo Singapore phồn thịnh và kỷ luật này với một tâm trạng nặng trĩu ưu sầu nhưng cũng nao nức chờ đợi.

H́nh ảnh cái lỗ trống thô bạo và ô nhục trên tấm bia tưởng niệm ở trại tỵ nạn Galang, nơi tôi và hơn 250,000 đồng bào khác từng được sống những ngày tháng hồi sinh trong ṿng tay bảo bọc nhân ái của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc vào những giai đoạn khác nhau suốt hai thập niên từ sau biến cố 30.04.75, cứ chờn vờn trong giấc ngủ. Mới năm tháng trước, ḷng tôi yên b́nh thanh thản biết bao sau khi được cùng các vị tu sĩ Phật giáo và Công giáo dâng lời cầu nguyện cho những thuyền nhân oan thác trong vô vàn t́nh cảnh đau thương trên đường t́m tự do. Mới năm tháng trước, tôi đă cùng những người bạn mới quen trong đoàn bùi ngùi xúc động đặt những đóa hoa tưởng nhớ họ dưới chân tấm bia đó. Mới năm tháng trước, tôi đă thầm hy vọng thời gian sẽ phôi phai và giải oan cho cuộc biển dâu của dân tộc để, ít nhất, vong linh của những người nằm xuống không c̣n vướng mắc cừu hờn oán hận và các thế hệ tương lai, dù ở chân trời góc biển nào, sẽ nhận diện được anh em cùng chung một bọc. Vậy mà...

Nhưng tôi cũng bồi hồi trông ngóng được gặp lại những khuôn mặt chắc chắn sẽ lưu lại đậm nét trong suốt phần đời c̣n lại của ḿnh. Nếu quả thật có nhân duyên từ tiền kiếp, tôi tin rằng họ đă “mắc nợ” với đoàn người trở về thăm lại mái nhà xưa và, nói rộng hơn, với cả dân tộc Việt Nam. Một món nợ không thể trả được bằng tiền tài vật chất mà chỉ bằng sự trang trải không một chút tính toán nào qua từng cử chỉ ân cần, ánh mắt thông cảm, nụ cười hồn nhiên, trái tim chan ḥa... theo những bước chân của đoàn người trở về.

Tôi quá lời chăng? Bạn có thể nghĩ như vậy, nhưng tôi không nói khác được. Chứ không, sao họ lại gắn bó với đoàn trong suốt 10 ngày đường, có hôm thức gần đến trắng đêm để tận tụy chăm sóc từng bữa ăn giấc ngủ, vận động cho các buổi tiếp xúc với chính quyền địa phương, giải quyết tại chỗ những trục trặc dọc đường, tham dự các buổi liên hoan cũng như cầu nguyện tại mỗi nơi viếng thăm, cùng cười cùng khóc với niềm hạnh phúc và đau khổ của các thành viên trong đoàn. Nếu đơn thuần chỉ là một cái job, họ có thể nhẹ nhàng trao lại những nhiệm vụ đó cho các hướng dẫn viên của ḿnh để về nhà với gia đ́nh sau khi đón khách như những chuyến du lịch khác. Nhưng Bidong và Galang dường như có một sức hút đặc biệt, một sự dấy động tâm linh huyền nhiệm khiến họ gắn kết với người Việt như ruột thịt dù không cùng chủng tộc, văn hóa, ngôn ngữ...

Làm sao lấy cái lư thường t́nh để luận về việc làm ân nghĩa của cô Anne Oh, ông Wong Yahao, anh Alex Lee? Làm sao đem tấm ḷng nhân gian để đo lường những giọt nước mắt xúc cảm chân thành của kư giả Fadli của tờ Jakarta Post, của nhà nghiên cứu sử học Alcoh Kwong, của giám đốc Yusof bin Abdullah thuộc Viện bảo tàng Terenganu...

Cô Anne, người được nhiều thành viên trẻ trong đoàn nhận làm mẹ và chị em kết nghĩa, đă âm thầm móc nối với các cơ quan truyền thông địa phương, cạy cục gơ cửa những cơ quan thẩm quyền để đề đạt ư nguyện của đoàn về việc tái tạo tấm bia tưởng niệm ở Galang và trùng tu di tích thuyền nhân trên đảo Bidong. Cô đă đến tận những địa điểm dự định thăm viếng từ nhiều ngày trước để thỉnh mời các vị tu sĩ Phật giáo và Công giáo hộ niệm và cầu nguyện tại các ngôi mộ tập thể từ lâu không người nhang khói. Cô cũng tự nguyện đóng vai điều hợp viên trong dự án phục hồi Đồi tôn giáo và Khu nghĩa trang Bidong, một công tác đ̣i hỏi sự hy sinh thời gian và công sức trong nhiều năm mà không mảy may mong đợi một chút đền đáp.

Ông Wong, một thương gia thành công và tiếng tăm ở Singapore, cũng “ai đến đâu, tôi đến đó” với đoàn. Dù công việc làm ăn bận bịu nhưng ông rất sẵn ḷng nhận lănh không công vai tṛ giám sát cho dự án xây dựng Nghĩa trang Galang, một sự đóng góp cụ thể và thiết thực từ một gia đ́nh cựu thuyền nhân VN từ Sydney trong chuyến đi này. Công việc tưởng như rất đơn giản đó thật ra chẳng dễ dàng chút nào. Ông sẽ phải đối diện với hàng đống giấy tờ về danh sách những người quá cố, thủ tục hành chánh phức tạp, những yêu cầu của thân nhân về việc cải táng hoặc di dời phần mộ v.v.. Với tuổi đời đă xấp xỉ 60, ông vui vẻ và hăm hở nhận lănh “việc chùa” đó như một cậu thanh niên 20.

Anh Alex, chủ nhân trẻ tuổi của Công ty du lịch Ping Anchorage bề thế hàng đầu ở Mă Lai, cũng vậy. Là boss lớn, anh sẽ thoái mái hơn trong văn pḥng máy lạnh ở thủ đô Kuala Lumpur thay v́ chân dép đầu trần lặn lội đến tận các đảo hoang dưới cái nóng như đổ lửa để đích thân đôn đốc nhân viên đốn cây phá rừng mở đường cho chuyến đi, để lo liệu những bữa ăn đặc sản tươm tất “ngoài tiêu chuẩn” cho đoàn người trở về. Anh từng thực hiện nhiều chuyến du lịch trị giá bạc triệu đô-la nhưng chúng chẳng để lại một ấn tượng ǵ đặc biệt. Theo lời anh tâm sự, chương tŕnh “Về bến Tự do Bidong – Galang” đă lôi cuốn anh một cách kỳ lạ dù nó không mang lại lợi nhuận tài chánh nào. Chính anh cũng là người đă thu xếp các buổi dạ tiệc tiếp tân State Dinners trang trọng với các cấp chính quyền tiểu bang mà chắc chắn Ban Tổ chức sẽ không làm nổi bằng nỗ lực đơn phương.

Tôi cũng không thể nào quên được ông Kwong, một nhà nghiên cứu về lịch sử di dân Mă Lai được nhớ ơn như một đại ân nhân của thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam. Lần này, ông cũng quanh quẩn bên đoàn, đưa chúng tôi đến những ngôi mộ tập thể mới phát hiện ở các tiểu bang miền bắc Mă Lai mà vài chục năm qua không người thăm viếng nhang khói. Động cơ nào đă thúc đẩy ông kiên tŕ t́m kiếm, lập danh sách, xây bia mộ, làm trang web, trả lời từng lá thư hỏi thăm cho các cựu thuyền nhân VN muốn t́m dấu tích các thân nhân bất hạnh của họ? Một điều tôi biết chắc chắn: ông làm việc đó không phải v́ quyền lợi vật chất hoặc danh vọng. Một quăng thời gian lớn trong đời ông âm thầm làm việc này có ai biết đến? Sự hy sinh và mất mát cá nhân của ông lớn hơn gấp vạn lần những ǵ mà bất cứ ai trong chúng ta có thể đền bù. Và nay, ông trao lại tất cả gia tài tinh thần vô giá đó cho Văn khố Thuyền nhân VN mà không ràng buộc một điều kiện nào...

C̣n phải kể đến ông Yusof, Giám đốc Viện bảo tàng Terengganu lớn nhất Đông Nam Á. Trong hơn hai mươi năm trời, ông đă chắt chiu từng h́nh ảnh, tài liệu, di vật của bao lớp thuyền nhân như một kỷ niệm thân thương trong cuộc đời ḿnh. Ông là người chứng kiến từ đầu các đợt thuyền nhân VN đến Bidong và cũng là người cuối cùng thực hiện công tác thu thập di sản của cuộc vượt biển t́m tự do vĩ đại đó để lưu trữ trong văn khố quốc gia Mă Lai lúc nhà chức trách địa phương thực hiện cuộc “hỏa thiêu” tổng vệ sinh trước khi trại đóng cửa. Trong nhiều năm sau đó, ông đă vận động với Chính phủ để công nhận Bidong là một di tích lịch sử, một địa điểm cần được bảo tŕ như biểu tượng của khát vọng tự do cho mọi cộng đồng trên toàn thế giới. Có nhiều lúc cuộc vận động của ông bị ch́m trong quên lăng giữa những nhu cầu thiết thân hơn của Mă Lai nhưng nay, tiếng gào tưởng chừng như tuyệt vọng đó đă bật lên một âm thanh hy vọng với những bước chân trở về của các đoàn cựu thuyền nhân. Sau hơn nửa đời người làm việc trong công tác bảo tàng, ông kể bằng một giọng bùi ngùi về “di sản Bidong” như một đứa con tuy nghèo khó mà rất thủy chung.

Và c̣n ông Fadli nữa, một nhà báo tận tụy với nghề nghiệp và hănh diện với lương tri làm người. V́ lư do dù không ai nói nhưng mọi người đều hiểu, ông bị mất job sau khi công bố lên mạng internet những tấm h́nh bia tưởng niệm ở Galang bị đục bỏ hồi tháng 5.2005, chỉ hai tháng sau khi phái đoàn người Việt hải ngoại trở lại viếng thăm ḥn đảo tỵ nạn này lần đầu tiên. Nếu không có những lời báo tin khẩn cấp đó, cả ba triệu người Việt ở hải ngoại liệu có biết về sự kiện âm thầm trên ḥn đảo vắng vẻ này không? Ông cười măn nguyện khi gặp lại chúng tôi: “Có lẽ những linh hồn trên đảo Galang đă xui khiến tôi trở lại đúng lúc tấm bia bị đập bỏ. Tôi có một cảm giác rất khó tả sau khi tháp tùng các bạn đến thăm đảo lần đầu và thầm nguyện với ḷng phải viết thêm về hoàn cảnh bi đát của những người nằm xuống ở đây. Tiếng gọi từ cơi vô h́nh đă kéo tôi trở lại, đúng vào thời điểm đó. Bây giờ gặp lại các bạn tôi mừng lắm!”

Lưu Dân
 

Trở lại Bidong – Galang 8.2005 (Phần 2)     *       Hồn Ma Trên Đảo Galang

Indonesia, dấu xưa c̣n nguyên đó

Đối với những người trở về lần đầu, trại tỵ nạn Galang bây giờ không phải là h́nh ảnh trong kư ức của họ lúc rời đảo. Con đường tráng nhựa phẳng phiu từ Batam, ḥn đảo chính của đặc khu Riau và là trung tâm phát triển và đầu tư quy mô nhất của Nam Dương, qua những chiếc cầu thênh thang đến Galang đă rút ngắn thời gian cho bước chân của những người trở về. Trước đây, những thuyền nhân từ Galang được đưa đến Singapore trên đường đi định cư phải mất hơn một ngày bằng tàu lớn do Cao ủy Tỵ nạn LHQ (UNHCR) thuê bao. Trước đây, những người được phép sang ḥn đảo Tanjung Pinang kế cận để mua bán hoặc thăm bệnh phải ở lại đêm mới có chuyến ghe khứ hồi. Bây giờ, chỉ sau chưa dầy một giờ trên chiếc xe bus tiện nghi, chúng tôi đă nh́n thấy cổng chào “Galang, memory of a tragic past” (Galang, kư ức của một quá khứ đau thương).

Mà đau thương thật. Vẫn là địa h́nh thiên nhiên đó nhưng cả đảo vắng hẳn những sinh hoạt nhộn nhịp của hàng chục ngàn người lưu lạc tạm cư ở đây hai, ba thập niên trước. Những mái nhà đơn sơ của vài trăm gia đ́nh ngư dân địa phương trên đảo – trong đó có một số từng sống ở đây trong thời gian tiếp cư thuyền nhân từ Việt Nam – không gợi lên được khung cảnh thân quen cũ. Tuy được họ đón tiếp với t́nh cảm nồng hậu nhưng dường như linh hồn của Galang đă tàn phai theo thời gian. Thậm chí, nhiều người cảm thấy ngỡ ngàng như đang đứng trên một mảnh đất xa lạ dù nơi đây từng lưu dấu những kỷ niệm sâu đậm nhất trong đời họ.

Galang I, nơi ngày xưa tràn ngập âm thanh và h́nh ảnh của những đoàn người tỵ nạn đến và đi mỗi ngày, bây giờ không c̣n nhận diện được. Những dăy barrack chắc chắn nằm san sát nhau dọc theo con đường chính đă hoàn toàn biệt dạng và được thay thế bằng khoảnh rừng um tùm xanh ngắt. Đây đó, ở phía xa bên trong, một vài căn barracks hoang tàn siêu vẹo được rào lại để ghi dấu chứng tích một thời. Các địa điểm chính như Văn pḥng Cao ủy, Ban điều hành trại, Trung tâm huấn nghệ, Ṭa soạn báo Tự Do, Đạo quán Hướng Đạo, Đồi Nhà thờ, Bệnh viện ICM v.v.. chỉ c̣n trơ nền hoặc bị phủ lấp mất dấu dưới lớp cây cỏ vô t́nh.

Cầu tàu jetty, nơi chứng kiến hàng trăm cuộc đón tiếp mừng tủi và chia ly đau buồn của đoàn người ly hương, nhờ được xây dựng bằng bê-tông chắc chắn, vẫn c̣n gần như nguyên vẹn như nhân chứng kiên tŕ của một thời dâu biển. Bên cạnh đó, xưởng mộc, từng là nơi dạy nghề cho những thanh thiếu niên không thân nhân, chỉ c̣n khung sườn ọp ẹp với vài tấm tôn rỉ sét nằm mấp mé bờ nước rừng tràm. Đối diện với cầu tàu, ngọn gió vi vu trong những tàng cây già trên đồi tạm biệt – ngày xưa là băi đất trống - như một bản nhạc chia tay không tên cho những mối t́nh chớm nở hoa nhưng chưa kết trái trên dặm đường viễn xứ...

Tại cầu tàu, chúng tôi được dẫn đi xem chiếc ghe huyền thoại của một chuyến vượt biển kinh hoàng. Nó vẫn c̣n cột neo bên cạnh một ngôi nhà sàn của dân địa phương, gỗ ván tuy đă nhuốm màu phong trần nhưng vẫn c̣n khá tốt dù bây giờ không thể nào liều lĩnh vượt đại dương như thời trai trẻ. Đó là chiếc TV-4050TS, đến đảo vào khoảng năm 1986-87 với vỏn vẹn 5 thuyền nhân sống sót. Họ được UNHCR lập tức cách ly và bảo vệ trong một khu riêng biệt sau khi nghe về chuyến hải hành quá sức thương tâm đó. Theo lời kể của một người cùng thời, chiếc ghe vật vờ trôi vào đảo sau hơn một tháng lênh đênh v́ băo tố, hỏng máy, hải tặc và thiếu nước uống. Không ai biết chắc chắn đă có bao nhiêu hành khách trên chuyến vượt biển này nhưng khi đến nơi, trên ghe chỉ c̣n 5 bộ xương thoi thóp thở...

Linh nghiệm trên đảo Galang

Tuy thời gian có xóa mờ nhiều dấu xưa nền cũ nhưng Galang được coi như một trại tỵ nạn được bảo tŕ và tân tạo tốt đẹp nhất trong số các địa điểm tiếp nhận thuyền nhân Việt Nam ở Đông Nam Á. Dọc con đường từ cầu tàu đến Galang I và Galang II, cây cỏ được cắt xén gọn gàng, nhiều di tích được trùng tu và bảo quản tươm tất như Chùa Quan Âm, Nhà thờ Đức Mẹ Vô nhiễm, Trung tâm Sinh hoạt Thanh thiếu niên và đặc biệt, Khu trưng bày Di tích Thuyền nhân... Dù vậy, mọi người tham dự chuyến đi đều mang một cảm giác trống vắng và rờn rợn khi đặt chân lên đảo.

Đêm trước ngày lên đường, tôi nhận được một cú điện thoại từ Singapore gọi về Úc của anh Trần Đông, trưởng ban tổ chức, về một hiện tượng lạ ở Galang: “Này ông nhà báo, hồn ma đang chuẩn bị đón tiếp chúng ta đó!” Tưởng là chuyện đùa, v́ tôi biết anh và tôi đều không tin những chuyện hoang đường như vậy, nhưng khi được nghe chính cô Anne kể lại, gai ốc tôi tự nhiên nổi lên cùng ḿnh. Cô nói khi đến Galang vài ngày trước để chuẩn bị cho chuyến viếng thăm của đoàn, người coi giữ pḥng bảo tàng di tích thuyền nhân đă kể cho cô nghe về chiếc đánh máy chữ trong pḥng tự động gơ mấy chữ “people coming” (có người trở về) trên trục quay phủ đầy bụi. Đó là chiếc máy chữ kiểu cũ, thời thập niên 1970 được dùng làm phương tiện dạy nghề cho thuyền nhân trên đảo, được giữ lại cùng với hàng trăm vật dụng khác trong pḥng bảo tàng. Nét chữ rơ ràng trên chiếc trục quay mà không có dấu tay trên phím bấm khiến ông ta xác quyết những tiếng động lạ lùng trong pḥng vào đêm trước là do kẻ khuất mặt tạo nên. Quả nhiên, hôm sau cô Anne đến và cho biết sẽ có một đoàn cựu thuyền nhân VN thứ nh́ về thăm lại đảo.

Nhưng câu chuyện mà tôi tận mắt chứng kiến đă làm chấn động tâm tư và thay đổi suy nghĩ của ḿnh về vấn đề siêu h́nh. Thật có một cảnh giới huyền bí khác bên ngoài – hay song song với – thế giới chúng ta đang sống hay không? Tôi chưa dám trả lời câu hỏi này nhưng cũng xin ghi lại đây câu chuyện đó.

Trong những ngày đầu của chuyến đi, tôi ở cùng pḥng với một thanh niên tên Hiếu từ Melbourne. Người bạn trẻ này ở đảo Galang khi c̣n là một cậu bé mười mấy tuổi và đă tham dự với đoàn để t́m lại dấu vết “những ngày thơ ấu xưa” mà anh chỉ c̣n nhớ mang máng. Khi đi, anh được người quen nhờ một việc: t́m giúp ngôi mộ của một người thân.

Khi đoàn đến Galang III (tên gọi của chính thuyền nhân đặt cho Nghĩa trang Galang), anh cùng tôi lần lượt đi từng ngôi mộ để thắp nhang và t́m kiếm. Trong tiếng kinh cầu râm ran giữa ánh nắng trưa gay gắt của miền nhiệt đới, hai chúng tôi vuốt mồ hôi đầm đ́a trên mặt và kiên nhẫn vạch cỏ, gạt đất, cắm nhang, tưới nước trên những phần mộ. Thời gian ít oi khiến chúng tôi không thể làm xong việc cho hơn 500 ngôi mộ tại đây. Khi tiếng loa gọi mọi người trở lại xe, anh bạn trẻ lâm râm khấn nguyện cầu xin hương hồn người quá cố dẫn đường: “Chú ơi, cô nhờ con t́m mộ của chú nhưng chưa thấy. Chú sống khôn thác thiêng xin chỉ đường cho con...”. Trong nỗi thất vọng, chúng tôi đốt nén nhang cuối cùng trên tay để cắm lên những phần mộ quanh đó như một cử chỉ giă biệt trước khi ra xe. Lọng cọng thế nào, người bạn trẻ đánh rơi chiếc bật lửa xuống đất. Nó chun lọt vào đám cỏ dầy khiến chúng tôi phải bươi lên t́m kiếm. Khi nh́n thấy nó, bàn tay người bạn trẻ cũng vừa chạm một tấm bia trên đó ghi rơ tên tuổi của người mà anh muốn t́m. Giữa buổi trưa nắng gắt, hai chúng tôi bỗng rùng ḿnh lạnh ngắt...

Cũng chứng nghiệm một hiện tượng lạ lùng khác trong buổi cầu siêu, một gia đ́nh gồm bốn chị em từ Sydney về thăm lại ngôi mộ của đứa con nhỏ chôn cất ở Galang đă phát nguyện trùng tu khu nghĩa trang này. Trong nỗi bùi ngùi khi nh́n thấy những nấm mộ điêu tàn, người mẹ bày tỏ ước vọng của ḿnh trong tiếng nấc thổn thức: “Gần hai chục năm rồi tôi mới có dịp về thăm lại đứa con vắn số. Chỉ sau một đêm bị sốt cao, nó chết khi mới lên một tuổi, chưa biết kêu tiếng Mẹ... Dù bây giờ cuộc sống của chúng tôi đă ổn định và thời gian đă nguôi ngoai sự thương nhớ nhưng tôi không bao giờ quên được đứa con nằm lại bơ vơ trên ḥn đảo tỵ nạn này...”

Miếu Ba Cô, hồn hăy bay đi...

Một địa điểm khác nổi tiếng về sự linh thiêng trên đảo là Miếu Ba Cô. Dưới một tàng cây bồ đề rậm mát, Miếu Ba Cô (trước đây chỉ là Miếu Hai Cô) nằm chếch phía đối diện của Văn pḥng UNHCR ở Galang II, bên cạnh một con lạch nhỏ. Nhiều huyền thoại khác nhau đă được truyền miệng về nguyên nhân sự quyên sinh của hai chị em thuyền nhân trẻ đẹp này (và sau đó, của một người con gái khác) vào quăng cuối thập niên 1980 và hầu như ai cũng tin rằng oan hồn của họ chưa siêu thoát, vẫn c̣n lẩn quẩn trong cội bồ đề...

Ông Joseph Lâm, một cựu thuyền nhân VN định cư ở Nam Dương sau khi trại Galang đóng cửa, đă đến thăm đoàn khi nghe tin chúng tôi trở về. Quanh quần bên ba ngôi miếu được giữ ǵn tương đối quang đăng với các chiếc b́nh hương c̣n tươi chân nhang, ông Lâm kể: “Tôi đến Galang khi đă có Miếu Ba Cô và được nghe nhiều câu chuyện về hoàn cảnh thương tâm của họ. Lúc đầu, nơi đây chỉ có hai ngôi miếu và về sau, thêm một người nữa mượn sợi giây oan nghiệt để rửa sạch tiếng đời.

Hai Cô là thuyền nhân của một chiếc ghe xuất phát từ miền tây VN. Họ là nạn nhân của nhiều vụ hải tặc tấn công tàn bạo trong cuộc vượt biển bi thảm. Là những cô gái có nhan sắc, họ đă cắn răng mang lấy sự bất hạnh của đời ḿnh sau những tai biến hăi hùng đó nhưng lại không chịu đựng nổi tiếng đời thị phi, nghiệt ngă. Ánh mắt lạnh nhạt khinh rẻ, lời b́nh phẩm hoặc chọc ghẹo ác độc của những người cùng thân phận tỵ nạn nhưng may mắn hơn đă đẩy họ vào một tâm trạng tủi nhục và cô độc tận cùng trong hoàn cảnh tạm cư hỗn tạp.

Giọt nước làm tràn ly khiến cả hai chị em cùng quyết định kết liễu cuộc đời là khi họ bị vu oan về một vụ mất cắp chiếc ví của một nhân viên Cao ủy. Trớ trêu thay, ngày hôm sau họ có tên trong danh sách được đi định cư. Kẻ cắp chiếc ví về sau đă thú nhận hành động của ḿnh và đă bị điên loạn trong thời gian c̣n lại ở đảo. Ông ta cuối cùng được một nước Âu châu chấp nhận theo diện nhân đạo nhưng nghe đâu cũng đă qua đời một thời gian ngắn sau đó trong một bệnh viện tâm thần...”

Cũng theo lời kể của ông Lâm, một trong những người sau cùng ở lại trại, ngôi miếu Ba Cô thường xuyên có người chăm sóc và chiêm bái. Một ông già đă dựng căn lều dưới gốc bồ đề, tự nguyện làm kẻ giữ miếu cho đến ngày rời đảo. Nhiều người thành tâm đă đến miếu để khấn vái hoặc cầu nguyện cho hoàn cảnh của họ và đă được linh ứng.

Trước khi về lại Galang lần này, tôi được anh Thân Đức Nhy, một người bạn từ chuyến đi lần đầu, dặn ḍ làm giúp một chuyện nhỏ: đọc lời truy điệu và tạ ơn Hai Cô. Tôi đă thực hiện điều đó âm thầm trong ḷng, như một lời khấn nguyện cho vong linh người quá văng được nhẹ nhàng siêu thoát. Câu đối anh viết trên tấm giấy b́a carton để lại tại Miếu Hai Cô thay lời giă biệt trước ngày lên đường định cư bây giờ không c̣n nữa nhưng một người nào đó đă đắp bằng xi-măng những ḍng chữ đó trước cổng miếu:

“Kiên trinh rất mực vẹn toàn, nêu khí phách ḷng son gái Việt
Cương quyết giữ tṛn danh tiết, tiếng thơm lừng bất diệt trời Nam”

Lưu Dân
(Tuần báo Dân Việt – Sydney, Australia)