Tết Con Heo Nhớ Xuân Con Mèo (Kết)

Minh Vơ


Trong khi ông McNamara dùng từ CULPABLE th́ Tổng Thống Nixon đă dùng hai từ critical mistake.(19) Trong No More Vietnams, trang 62 ông viết: We made our third critical mistake in South Vietnam in 1963. The Kennedy administration, increasingly frustrated with President Diệm, encouraged and supported a military coup against his government”. Tạm dịch: Chúng ta đă phạm lỗi lầm nguy kịch thứ ba tại Nam Việt Nam vào năm 1963. Chính quyền Kennedy càng ngày càng thất vọng về Tổng Thống Diệm, đă khuyến khích và ủng hộ cuộc đảo chính quân sự, lật độ chính phủ ông... (20)
 

Tổng thống HK, 1969-1974 Richard Milhous Nixon (9/1/1913 – 22/4/1994)
Nguồn: Minh Vơ


Những từ culpable của McNamara, worst mistake của Nixon, nhất là những từ organize và set in motion của McNamara mà chúng tôi vừa nêu trên, chứng tỏ các giới chức cao cấp trong chính quyền của đảng Dân chủ, cũng như của đảng Cộng ḥa đều nh́n nhận tội lỗi trong cuộc đảo chính và có trách nhiêm về cái chết của hai ông Diệm, Nhu.

Sự hiện diện của trung tá CIA Lou Conein tại bộ chỉ huy đảo chính, với máy liên lạc đặc biệt và số tiền 3 triệu đồng để “trợ cấp”, “mua chuộc” (21)..., và câu nói của Lou Conein với tướng Đôn nguyên văn On ne fait pas d’omelette sans casser les oeufs (không đập vỡ trứng th́ không có trứng tráng được) chính tướng Đôn trưng dẫn trong Việt Nam Nhân Chứng trang 228, cũng như việc hai tướng Đôn, Kim theo lệnh của Lou Conein ngay chiều (3 giờ) ngày 2/11/63, khi cuộc đảo chính vừa xong phải đến tŕnh diện đại sứ Mỹ Cabot Lodge để nhận lời khen C’est formidable” (tuyệt), rồi lại được ông ta dẫn xuống gặp thượng tọa Thích Trí Quang ở ngay tầng dưới ṭa đại sứ ngay trang sau đó... đủ nói lên rằng ông McNamara dùng 2 từ organize và set in motion là chính xác nhất. V́ thế ông viết We were culpable cũng là thật ḷng và phục thiện.

Thứ đến, cả hai người (McNamara và Lưu Doăn Huỳnh) đều cho rằng ông Diệm bị giết làm mất một cơ hội tránh đại chiến, mặc dầu mỗi người giải thích một cách khác.

McNamara th́ chỉ nghĩ đến việc Hoa Kỳ phải tham chiến và thất trận. C̣n Lưu Doăn Huỳnh th́ lại đưa ra một nhận xét độc đáo khá ngộ nghĩnh: Nếu ông Diệm không bị giết và c̣n nắm quyền th́ ông ta sẽ làm cho hàng ngũ “cách mạng” thêm lớn mạnh và giúp cho “cách mạng” chiến thắng dần dần mà lại tránh được chiến tranh với Mỹ. Do đó ông Diệm đáng có một chỗ đứng trong chính phủ tương lai, mặc dù sẽ không có một vai tṛ quyết định.

Đặc biệt đáng chú ư là chỉ sau 8 tháng phát biểu của phía Cộng Sản Việt Nam đă có một biến chuyển quan trọng. Nghĩa là 8 tháng trước họ hoàn toàn tránh né, không dám xác nhận những ǵ McNamara yêu cầu họ xác nhận. Nhưng 8 tháng sau th́ Lưu Doăn Huỳnh đă ngang nhiên xác nhận trước hai phái đoàn rằng hội nghị trung ương kỳ 9 vào tháng 12 năm 1963, nghĩa là chỉ một tháng sau khi ông Diệm bị giết, đă bàn thảo về nguy cơ Mỹ can thiệp vào cuộc chiến do cái chết của ông Diệm tạo ra để đi đến những quyết định vô cùng quan trọng.

Sau hết, nhưng không phải kém quan trọng, ông McNamara nhiều lần nhắc trong hội nghị rằng ông ta đă nghe những người có mặt tại hội nghị nói với ông (ở ngoài hội trường) về sự lo buồn (deeply distressed) của Hà Nội khi biết tin ông Diệm chết và xin họ xác nhận. Không có ai dám xác nhận trong phiên họp tháng 6 năm trước (1997). Nhưng xin lưu ư là cũng không có ai lên tiếng phủ nhận. Điều đó nói lên sự khống chế tập thể của đảng đối với các cán bộ dù cao cấp đến mấy. Nói nơi riêng tư th́ dám. Nhưng trong hội nghị, có thể có ghi chép, hay ghi âm, th́ không dám xác nhận. Như vậy, khi Lưu Doăn Huỳnh trong hội nghị năm sau đă dám lên tiếng xác nhận th́ hẳn ông ta đă phải có sự đồng ư, cho phép của cấp trên?
 

The Vietnam War: Vietnamese and American Perspectives, do Jayne Werner và Lưu Doăn Huỳnh biên soạn
Nguồn: Armonk (New York): M.E. Sharpe. 1993. xxv


Tóm lại, chỉ ngần ấy ư kiến cộng thêm ư kiến của sử gia Marilyn Young cũng đủ để có thể kết luận một cách thuyết phục rằng nếu ông Diệm không bị lật đổ và sát hại cuối năm 1963 th́ Hoa Kỳ và Việt Nam đă tránh được một cuộc chiến tranh khốc liệt từ 1965 đến 1975, khiến 58 ngàn chiến binh Mỹ và khoảng 3 triệu người Việt chết.

Đó là chưa kể đến triển vọng cuộc chiến âm ỷ giữa hai miền Nam Bắc c̣n có cơ được giải quyết một cách ổn thỏa, để hoặc là thống nhất trong ḥa b́nh, hoặc hai miền tiếp tục tạm thời cùng tồn tại như hai quốc gia cùng nhau thi đua, tranh đua, thậm chí tranh đấu, đối đầu với nhau bằng những h́nh thức phi quân sự, phi vũ trang (như tranh đua về kinh tế, ngoại giao, văn hóa, tuyên truyền v.v...). Trong hoàn cảnh đó, miền Nam tự do sẽ phát triển phồn vinh không kém, nếu không muốn nói là hơn những “con rồng”, “con hổ” trong vùng.

Trước khi kết thúc, chúng tôi xin nhắc lại (đă tŕnh bày chi tiết ở bài Hoa Đào Và Máu Đào) hai sự kiện lịch sử có sắc thái chính trị hoàn toàn trái ngược nhưng lại cùng có tác dụng chứng minh một chân lư chính trị học duy nhất, chân lư của chiến tranh ư thức hệ.

Thứ nhất, Liên Xô và các nước Đông Âu cuối cùng sụp đổ không bằng những cuộc giao tranh vũ trang, mà bằng những chiến lược, sách lược phi vũ trang.

Thứ hai, Bắc Việt đă thắng Việt Nam Cộng Ḥa và cả Mỹ, mặc dù Mỹ đă đổ vào Việt Nam 2 triệu quân, với trên nửa triệu có mặt thường trực, sử dụng một số bom đạn kinh khủng không kém thế chiến II, mặc dù Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă anh dũng chiến đấu, nêu nhiều chiến công hiển hách. (Viết đến đây chúng tôi không khỏi xúc động đến rơi lệ cho một đoàn quân anh dũng bị sử dụng cho một chiến lược sai lầm bởi những nhà lănh đạo Việt cũng như Mỹ không am tường về chiến tranh ư thức hệ của cộng sản).

Hai thực tế lịch sử nói trên cho thấy muốn thắng cộng sản trong chiến tranh ư thức hệ toàn bộ, toàn diện vũ khí chủ yếu không phải quân sự mà phi quân sự, trong đó có tuyên truyền. Chúng tôi nói chủ yếu, v́ đă nói toàn bộ, toàn diện th́ không loại trừ biện pháp quân sự khi cần. Nhưng dầu sao tuyên truyền chính trị vẫn là chủ soái.

Mà tuyên truyền th́ cần có chính nghĩa. Cái chính nghĩa tự vệ th́ thời ông Diệm rơ ràng là có. Nhưng miền Bắc lại giật lại được sau khi mọi nền tảng pháp lư của Đệ Nhất Cộng Ḥa sụp đổ cùng với ông Diệm, và nhất là sau khi chính phủ Phan Huy Quát, với một vị phụ tá đầy ảnh hưởng làm một thứ quân sư (trong chức vụ bộ trưởng phủ thủ tướng), đă làm ngơ cho Mỹ ồ ạt đổ quân vào Việt Nam. Khởi sự bằng cuộc đổ bộ 3.500 thủy quân lục chiến với chiến xa, trọng pháo vào ngày 8-3-1965. Khi mở cửa cho Mỹ đem quân vào mà không có một hiệp ước song phương nào được quốc hội thông qua, nghĩa là bất chấp ư dân và quyền dân, khiến chủ quyền quốc gia không c̣n nữa th́ cái chính nghĩa tự vệ hay ái quốc đă nghiêng về phía Bắc Việt. Lúc ấy hiến pháp và quốc hội đă mất cả rồi, c̣n ǵ đâu, để hỏi ư dân. (22)

Tổng Thống Richard Nixon của đảng Cộng Ḥa đă phải đổ đống rác tầy núi do chính quyền của đảng Dân Chủ để lại ở Việt Nam sau khi chủ trương lật và giết ông Diệm. Ông đă can đảm, kiên tŕ trải nhiều cam go (vừa thương thuyết, vừa đặt ḿn phong tỏa hải cảng Hải Pḥng, vừa thả bom tới tấp Hải Pḥng, Hà Nội vào dịp Giáng Sinh năm 1972) mới rút chân ra khỏi cái “vũng lầy của Bạch Ốc”. Không chỉ có Nguyễn Kỳ Phong mô phỏng theo David Halberstam (The Vietnam Quagmire) gọi cuộc chiến Việt Nam là vũng lầy. Ngày nay nh́n lại cuộc chiến nhiều người cũng phải công nhận đó là vũng lầy, đầm lầy. Cứ thử tưởng tượng một con trâu, hay một thợ cầy khi sa lầy nó như thế nào, th́ đó chính là h́nh ảnh của quân Mỹ bị sa lầy trong chiến cuộc Việt Nam lúc ấy.

Nhờ khôn khéo áp dụng sách lược chiến tranh ư thức hệ, coi trọng ngoại giao, thương thuyết (không chỉ với Hà Nội, mà cả với và nhất là với Trung Cộng và Liên Xô) ông mới có thể rút ra khỏi cuộc chiến một cách an toàn, và c̣n đặt nền tảng cho những bệ phóng “phi-hỏa-tiễn” của Ronald Reagan, George Bush cha, và Giáo Hoàng John Paul II để triệt hạ Liên Xô và toàn bộ khối cộng sản Đông Âu 17, 18 năm sau.

Ông Nixon, người coi trọng sách lược phi vũ trang, là một trong những người Mỹ hiểu ông Diệm – là người không chấp nhận biện pháp vũ trang của Mỹ – hơn hết. Ông đă viết trong No More Vietnams:
“Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm ổn định miền Nam, ví như tảng đá đỉnh ṿm (keystone of a dome) giữ cho cái ṿm của ṭa nhà đứng vững. Các thế lực chính trị từ mọi phía quy vào ông mà chống nhưng bằng cách thăng bằng các thế lực, cho cái nọ chống cái kia, ông đă đóng chốt tất cả lại. Chỉ khi nào đá đỉnh ṿm được lấy đi, người ta mới thấy là nó quan trọng. Cũng y hệt như vậy, chỉ khi nào ông Diệm chết rồi, toàn thể hệ thống chính trị miền Nam sụp đổ tan tành người ta mới nhận rơ vai tṛ sinh tử của ông ta. (...) Ông Diệm là một lănh tụ kiên cường của một dân tộc đang rất cần một nhà lănh đạo cương quyết. Ông ta mất rồi, chính quyền ở miền Nam Việt Nam trở thành cái mà ai cũng chụp giật được.” (23)
Có lẽ đối với Tổng Thống Nixon, chỉ có “lănh tụ kiên cường” Ngô Đ́nh Diệm mới đủ khả năng đấu trí với “lănh tụ gian hùng” Hồ Chí Minh trong cuộc chiến ư thức hệ để tránh đại chiến, duy tŕ một nền ḥa b́nh tạm thời mà Nixon trong cuốn 1999 đă gọi là ḥa b́nh thực tiễn (real peace, so với hoà b́nh hoàn hảo perfect peace), và rất có thể sẽ thắng ông Hồ bằng các biện pháp phi vũ trang, đem lại thống nhất và ḥa b́nh trường cửu cho Việt Nam chăng?

Tiếc rằng cành đào Xuân Con Mèo đă không có được cơ may đưa những hy vọng, phỏng đoán, ước mơ vào hiện thực. Âu cũng là định mệnh và vận nước.

Một chiều Đông cuối năm Bính Tuất

Copyright © 2006–2007 DCVOnline
 
(19) Trong cuốn 1999: Victory Without War, (trang 123) Nixon thay 2 từ critical mistake bằng 2 từ worst mistake (lỗi lầm tệ hại nhất). Những từ culpable của McNamara, worst mistake của Nixon, nhất là những từ organize và set in motion của McNamara mà chúng tôi vừa nêu trên chứng tỏ các giới chức cao cấp trong chính quyền của đảng Dân Chủ, cũng như của đảng Cộng Ḥa đều nh́n nhận tội lỗi đă làm cuộc đảo chính và có trách nhiêm về cái chết của hai ông Diệm, Nhu.

Hai h́nh ảnh đá đỉnh ṿm và nắp hộp Pandora (theo thần thoại Hy Lạp là hộp dùng để nhốt các thần phiến loạn) mà hai ông Nixon và Taylor dùng để chỉ ông Diệm cho thấy các ông ấy coi việc lật đổ ông Diệm là nguyên nhân chính đưa đến sự rối loạn cực kỳ và sự tan hoang của miền Nam lúc ấy, để rồi dần dẫn đến sự mất miền Nam 12 năm sau.

(Về ư nghĩa của hai h́nh ảnh này và phát biểu của Tổng thống Richard M. Nixon và Thống tướng, Đại sứ Maxwell Taylor xin xem No More Vietnams, 1985 trang 70 và các trang từ 62- 65; Swords & Plowshares, Norton & Company Inc., NY. 1972, trang 401 và 93.)

(20) Những nhà lănh đạo Mỹ (chúng tôi chỉ kể hai vị tiêu biểu, một của đảng Dân Chủ, McNamara, và một của đảng Cộng Ḥa, Nixon) đă nh́n nhận việc lật đổ Tổng thống Diệm là có tội (culpable), là lỗi lầm nguy kịch nhất, tệ hại nhất (critical mistake, worst mistake). Không lạ ǵ nhiều người Việt Nam kể cả những cán bộ cộng sản hay cựu cộng sản như Lưu Doăn Huỳnh, Bùi Tín cũng cho rằng việc lật đổ Tổng thống Diệm là một sai lầm hay lỗi lầm chiến lược.

Riêng về trường hợp ông Bùi Tín, ngoài nhận xét vừa nêu trong Hoa Xuyên Tuyết, trong một bài tham luận đọc tại trung tâm Việt Nam ở Lubbock, Texas, tháng 10 năm 2003 kỷ niệm 40 năm ngày Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bị hạ sát, ông c̣n so sánh ông Diệm với ông Hồ và khẳng định:
về nhiều mặt ông Diệm đă hơn hẳn ông Hồ. Chúng tôi chỉ xin trích dẫn một đoạn vắn trong bài tham luận của ông Bùi Tín:“Tôi cho rằng ông Diệm là một nhân vật chính trị đặc sắc, có ḷng yêu nước sâu sắc, có tính cương trực, thanh liêm, nếp sống đạm bạc, giản dị. giờ đây chúng ta đă có những bằng chứng về lập trường của ông Ngô Đ́nh Diệm: chống thực dân Pháp, giành lại quyền nội trị đầy đủ, không muốn Hoa Kỳ can thiệp sâu, chống lại việc ồ ạt đưa quân chiến đấu Mỹ và nước ngoài vào. Ông đă phải trả giá bằng cả sinh mạng ḿnh cho lập trường dân tộc ấy.
Về bằng chứng ḷng yêu nước sâu sắc của ông Diệm, ông Bùi Tín đă thuật lại những ǵ cha ông và hai người bác là các cụ Bùi Bằng Phấn, Bùi Bằng Thuận kể lại trường hợp và lư do ông Diệm từ chức thượng thư Bộ Lại (tương đương với chức thủ tướng ngày nay) năm 1933, ở tuổi 32. (Các ông Nguyễn Hữu Bài, Tôn Thất Hân khi giữ bộ Lại đều trên 60 và 70).(Trích từ kỷ yếu của Hội Ái Hữu Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại, tháng 11 năm 2003).

Cụ Phan Bội Châu khi nghe tin ông Diệm từ chức thượng thư bộ Lại đă gọi ông Diệm là chí sĩ, vĩ nhân và làm một bài thơ tặng ông. (Xem Ngô Đ́nh Diệm Lời Khen, Tiếng Chê, chương 2).

Nhân nhận định về ông Diệm của nhà cách mạng lừng danh Phan Bội Châu và ông Bùi Tín là những người không theo đạo Thiên Chúa Giáo, chúng tôi nhớ lại những ư kiến của một vài độc giả DCV khi phát biểu về bài Hoa Đào Và Máu Đào cũng như về những bài của ông Nguyễn Văn Lục, và cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Văn Ngân của nhà báo Trần Phong Vũ. Quư độc giả này gọi các tác giả, kể cả ông Nguyễn Văn Ngân là “những kẻ chống cộng đeo thánh giá” chỉ bênh kẻ đồng đạo (là ông Diệm). Tôi thiết nghĩ quư vị ấy không đọc kỹ, thậm chí tôi nghi ngờ không biết họ có đọc những bài đó không, trước khi hạ bút một cách chua cay như vậy. V́ nếu có đọc qua, th́ đă biết, ngay từ đầu ông Nguyễn Văn Ngân đă nói rơ, ḿnh chẳng theo tôn giáo nào. Ông Ngân lên án nặng nề cuộc đảo chính lật ông Diệm, gọi đó là trọng tội nên họ đả kích thậm tệ ông Ngân và gán cho ông ấy “đeo thánh giá”.

Không biết quư vị ấy có định “đeo thánh giá “ cho hàng chục người không Thiên Chúa Giáo nữa đă có những nhận xét tốt về ông Diệm. Ví dụ các ông Nguyễn Xuân Nghĩa, một kinh tế gia, Đặng Văn Nhâm, kư giả, Hoàng Hải Thủy, Duyên Anh, 2 nhà văn kiêm kư giả, Trần Bích Lan Nguyên Sa, nhà giáo, nhà thơ, Phạm Kim Vinh (tức Trương Tử Pḥng), nhà văn, nhà báo, giáo sư, Đỗ Thọ, đại úy, Nguyễn Hữu Duệ, đại tá, Hà Thượng Nhân, nhà thơ, nhà báo, Nguyễn Xuân Vinh, Bửu Hội, Hà Vĩnh Phương, những khoa học gia nổi tiếng thế giới, Hoàng Ngọc Thành, tiến sĩ sử gia, Vĩnh Phúc, nhà báo (BBC), Tôn Thất Thiện, tiến sĩ, nguyên giáo sư (đại học Ottawa, Canada), cựu bộ trưởng Thông Tin Đệ Nhị Cộng ḥa v.v....hay bà Dương Thu Hương, nhà văn nữ nổi tiếng, cựu đảng viên cộng sản đă từng phê b́nh Hoa Kỳ có “thói quen đảo chính như rán trứng” đă hạ ông Diệm v́ ông này “trót có tinh thần dân tộc”, v.v... Riêng nhà thơ Hà Thượng Nhân và khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh đă đề tựa và giới thiệu tác phẩm Ḍng Họ Ngô Đ́nh. Hà Thượng Nhân Phạm Xuân Ninh đă viết: “Nói ǵ th́ nói, miền Nam từ 1948 đến 1975, chỉ duy nhất có chế độ Ngô Đ́nh Diệm là xứng đáng. Chỉ dưới chế độ ông, quốc gia mới có kỷ cương, có thể thống....”(Xem Ḍng Họ Ngô Đ́nh, Giấc Mơ Chưa Đạt, NXB Hoàng Nguyên, Nam Cali, năm 2003, Lời Tựa, ở đầu sách)

Đó là chúng tôi chỉ nêu một vài tên tuổi trong số những tác giả khá quen thuộc Tất cả những nhân vật và sử gia, kư giả đó đều bị gán cho cái nhăn “Cần Lao” hay “bọn chống cộng đeo thánh giá” sao? Thật ra họ đều là Phật tử, trừ hai người đến cuối đời mới cải giáo thành tín hữu Thiên Chúa Giáo là Duyên Anh Vũ Mộng Long, và Nguyên Sa Trần Bích Lan.

Xin lỗi bạn đọc, tôi đă phải nói lên điều này ở phần chú thích, v́ nó không trực tiếp liên hệ đến bài viết. Sở dĩ thấy cần phải nói, v́ gần đây nhiều độc giả DCV đă không tiếc lời mạt sát ông Nguyễn Văn Lục, v́ ông đă nêu lên một số sự kiện và nhận xét về Ông Diệm trái với quan điểm hay thành kiến của họ.

Một số vị khác khuyên không nên mất th́ giờ nhắc lại những chuyện dĩ văng chỉ gây thêm chia rẽ, mất đoàn kết. Các vị đó bảo, hăy để th́ giờ bàn về những điều thiết thực cho công cuộc chống cộng, hay dân chủ hóa đất nước. Theo ngu ư th́ chính những sự thật bị chôn vùi mới phá hoại đoàn kết. Theo tôi th́ chính những nỗi oan không được giải tỏa mới làm cho cộng đồng các tôn giáo hiểu lầm nhau và khiến cho đoàn kết không thực hiện được. Biết bao Phật Tử chân chính ngay lành chỉ v́ nghe, đọc những lời những sách chuyên vu khống, dựng đứng về những tội giết tướng Tŕnh Minh Thế, phản bội lời thề trung thành với quốc trưởng Bảo Đại, kỳ thị, đàn áp Phật Giáo v.v...của ông Diệm Thiên Chúa Giáo, rồi đem ḷng nghi kỵ thù hận người Thiên Chúa Giáo, đạo Thiên Chúa.

Xin chỉ lấy một ví dụ sau đây đủ cho thấy sự lầm lẫn của những người bảo ông Diệm chỉ dùng người Thiên Chúa Giáo hay người trong gia đ́nh:
 

Cựu Đại tướng Cao Văn Viên
Nguồn: generalhieu.com


Hầu hết bộ tham mưu của Tổng Thống Diệm đều là Phật Tử: Đổng Lư Văn Pḥng Quách Ṭng Đức, Phó đổng lư văn pḥng Đoàn Thêm, Tổng thư kư Nguyễn Thành Cung, Bí thư Trần Sử, Chánh Văn Pḥng Vơ Văn Hải, Tham mưu biệt bộ Cao Văn Viên, Lê Như Hùng, Kỳ Quang Liêm. Lê Khắc Lư, Giám đốc báo chí phủ Tổng Thống Tôn Thất Thiện, Tổng Giám Đốc Truyền Thanh Bửu Thọ, rồi Hà Thương Nhân Phạm Xuân Ninh, ngoài ra từ phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, bộ trưởng phủ tổng thống kiêm phụ tá Quốc Pḥng Nguyễn Đ́nh Thuần, Bộ trưởng Ngoại giao Vũ Văn Mẫu cho đến Tổng tham mưu trưởng, đại tướng Lê Văn Tỵ, Tham mưu trưởng trung tướng Trần Văn Đôn, các tư lệnh vùng, trừ thiếu tướng Huỳnh văn Cao, tất cả đều là Phật Tử.

Riêng ông Ngô Đ́nh Nhu, v́ không giữ chức vụ ǵ chính thức trong chính phủ nên không có bộ tham mưu. Nhưng 3 người thân tín ông dùng lúc ấy cũng toàn là Phật Tử: Thiếu tá Phạm Thu Đường, chánh văn pḥng, ông Cao Xuân Vỹ, phó thủ lănh Thanh Niên Cộng Ḥa, ông Lê Văn Thái đặc trách liên lạc với giới trí thức.

Tưởng cũng nên nhắc lại, sĩ quan tùy viên duy nhất được Tổng thống Diệm tin cậy, chọn xách chiếc cặp riêng của vị nguyên thủ Quốc Gia đi theo ông trong giờ phút cuối cùng là đại úy Đỗ Thọ cũng là một Phật Tử. Sau đó Đỗ Thọ đă viết hồi kư hết lời ca tụng ông Diệm. Trong cuốn Nhật Kư Đỗ Thọ viết dở dang ấy (dở dang v́ ông bị đột tử trong một tai nạn máy bay khi lái phi cơ ra Huế để đón tướng Nguyễn Khánh) tác giả c̣n dám tiên đoán rằng lịch sử sẽ coi Tổng Thống Diệm như Tổng Thống Abraham Lincoln (Anh hùng dân tộc Mỹ, cũng đă bị ám sát chết như Thánh Cam Địa của Ấn Độ...).

C̣n chuyện ông Diệm phản bội lời thề trung thành với ông Bảo Đại th́ chỉ cần đọc chính lời của vị cựu hoàng này trong hồi kư Le Dragon D’Annam, mà Nguyễn Phước Tộc đă dịch và xuất bản với nhan đề Con Rồng Việt Nam (Nam Cali, 1990, trang 515) th́ sẽ thấy ông Diệm đứng thề trước Thánh Giá trung thành với Tổ Quốc, chứ không phải quỳ trước ông Bảo Đại để thề trung thành với ông Bảo Đại, hay bà Nam Phương, như có người c̣n thêu dệt thêm cho lâm ly bi đát.

Thiết tưởng muốn giải nỗi oan cho người đă khuất để đánh tan mây mù chia rẽ, cần có cả một bộ sách mới đủ v́ những người có trách nhiệm trực tiếp hay gián tiếp trong cuộc đảo chính 1.11.63 đă, đang và sẽ c̣n bằng mọi cách cố nêu những tội không có thực hay những lỗi lầm nhỏ bé được phóng đại của ông Diệm để bào chữa cho hành động của họ. (Chỉ cần nêu tên một số người trong số ấy đă viết sách tự biện minh và đổ cho ông Diệm hết tội này đến tội khác như các ông Đỗ Mậu, Tôn Thất Đính, Bùi Diễm, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Văn Đôn, Vương Văn Đông, Phạm Văn Liễu, Nguyễn Chánh Thi. Riêng về trường hợp 2 ông Đỗ Mậu và Nguyễn Chánh Thi, ít người nghĩ các ông ấy đủ khả năng viết được như vậy. Chúng tôi không nêu danh tính của một số tác giả khác, tuy không trực tiếp tham gia các cuộc đảo chính chống ông Diệm, nhưng đă tích cực ủng hộ những cuộc đảo chính đó.) C̣n những thân nhân, bạn hữu của ông Diệm, th́ phần th́ đă khuất, phần th́ nghĩ chủ quan rằng, sự thật vẫn là sự thật. Lịch sử sẽ trả lại sự công b́nh, cần ǵ phải lên tiếng. Nhưng nếu ai cũng nghĩ thế th́ sự thật cứ bị chôn vùi và nỗi oan cứ chồng chất. Lịch sử có thể bị xuyên tạc lâu dài sẽ gây tại hại cho đà tiến của dân tộc.

(21). Chú thích này rât quan trọng đối với những ai c̣n tin lời các tướng đảo chính và những người thù ghét ông Diệm thường viết rằng vụ đảo chính hoàn ṭan do ḷng dân bất măn, và chỉ một ḿnh mấy tướng thực hiện mà không có bàn tay ngoại nhân nhúng vào. Về điểm này chính người chủ chốt trong cuộc đảo chính về phía Việt Nam là tướng Trần Văn Đôn đă ghi rơ trong tác phẩm Việt Nam Nhân Chứng (NXB Xuân Thu, 1989, trang 269):

Lucien Conein, người organize cuộc đảo chánh 1963
Nguồn: spartacus.schoolnet.co.uk

“V́ đă chuẩn bị trước, Conein đem theo ba triệu đồng Việt Nam (tương đương với 42.000 đô la) mà Conein nói là để trả tiền ăn uống và trợ cấp cho những gia đ́nh binh sĩ tử nạn trong lúc đảo chính. Trước đó vài ngày, Lodge đề nghị với ṭa Bạch Ốc là dùng tiền này để mua chuộc những thành phần không đồng ư với cuộc đảo chính. Ngoài số tiền đó, Conein mang theo một khẩu súng lục, một trái lựu đạn và một máy liên lạc đặc biệt. Trước khi rời nhà ông ta đă báo tín hiệu cho các nhân viên CIA là cuộc đảo chính đă bắt đầu bằng máy liên lạc này.

Tại bộ Chỉ Huy, các tướng lănh đă cho nối đường giây điện thoại với ṭa đại sứ và nhà Conein.”

Tôn Thất Đính tên thật của đồng chí Vân Anh (đảng Cần Lao) Nguồn: Nghĩa Biển T́nh Sông - (Hoài cảm của Trần khắc Kính)

Xét theo văn cảnh và văn phong, chúng tôi thấy, dường như những hàng trên không phải từ ng̣i bút tác giả Việt Nam Nhân Chứng, mà là trích từ một cơ quan ngôn luận nào đó của Mỹ. Nhưng ông Đôn đă trích mà không bác bỏ, th́ coi như ông cũng đồng ư.

Một vị đại tá hiện ở Quận Cam, chúng tôi tạm giấu tên, v́ chưa có tài liệu trên giấy trắng mực đen mà chỉ là lời nói đă tiết lộ với cựu trung tá Nguyễn Văn Minh, tác giả cuốn Ḍng Họ Ngô Đ́nh rằng chính mắt ông thấy viên trung tá CIA Mỹ này ngồi ngay tại văn pḥng của đại tướng Lê Văn Tỵ (lúc ấy đă đi chữa bệnh ở Mỹ) bên cạnh pḥng họp của các tướng đảo chính. Y c̣n hách dịch gác 2 chân lên bàn ngay cả khi có mặt tướng Khiêm và tướng Đôn.

Sự hiện diện của trung tá CIA tại bộ chỉ huy đảo chính với máy liên lạc đặc biệt và số tiền 3 triệu đồng để “trợ cấp”, “mua chuộc” đủ nói lên rằng ông McNamara dùng 2 từ organize và set in motion là chính xác nhất. V́ thế ông viết We were culpable cũng là thật ḷng hối hận.
 

Riêng về số tiền 3 triệu do Conein trao lại cho ông Đôn, ông này đă bắt những tướng tá nhận phải kư nhận trên giấy trắng mực đen và được photocopy in ở cuối sách (đặc biệt không có số trang, sau trang 562). Trong số những người biên nhận chúng tôi đọc được những danh tánh viết rơ ràng sáng sủa sau đây:
 

 

Thiếu tướng Tôn Thất Đính:

 50,000.

 

 

Đại tá Đặng Văn Quang:

500,000.

   (năm trăm ngàn)

 

Đại tá Nguyễn Văn Thiệu:

Cent Mille Piastres.

   Ghi chú (a)

 

Thiếu Tá Phan Ḥa Hiệp:

100,000

   Ghi chú (b)

 

Đại úy Lê Đ́nh Quế (Lữ Đoàn TQLC):

 100,000

 

 

Đại úy Đào Quốc Diệp (không rơ lắm)

 30,000.

 

 

Một chữ kư tháu không đọc được:

100,000

 

  v.v.v. .............  v.v....  

(a) Nguyên văn bằng tiếng Pháp với thủ bút của ông Thiệu: 4XI63. 5è Division.

(tức nhận một trăm ngàn Đồng Bạc VN, ngày 4 tháng 11 năm 1963. Sư đoàn 5 mà ông Thiệu lúc ấy là tư lệnh)
(b) (với chi chú “để trao lại cho trung tá chỉ huy trưởng trường Thiết Giáp”) Kư tên, ngày 9/11/63.
 

(22) Việc này th́ chính cựu đại sứ Bùi Diễm đă gián tiếp xác nhận trong cuốn hồi kư In The Jaws Of History (viết chung với David Channoff, NXB Houghton Mifflin Inc. Boston, 1987, trang 338) bằng cách “thanh minh Thanh Nga” rằng người Mỹ đă không hỏi ư ông và thủ tướng Phan Huy Quát. Viết như vậy cũng chẳng khác ǵ thú nhận ḿnh chỉ là bù nh́n. Nếu nhớ lại rằng chính ông Bùi Diễm đă từng vận động xin ông Diệm cho bác sĩ Phan Huy Quát được giữ bộ Quốc Pḥng trong chính phủ của thủ tướng Diệm mới về nước, rồi liên hệ sự kiện này với việc đại tướng Lawton Collins, bạn thân và đặc sứ của Tổng Thống Dwight D. Eisenhower, đă cả chục lần đề nghị với Tổng Thống Eisenhower hăy thay ông Diệm bằng bác sĩ Quát

 

(24), th́ ta có thể hiểu tại sao bác sĩ Quát giữ chức thủ tướng (ngày 16/2/65) chưa đầy 4 tháng đă phải từ chức (ngày 11/6/65). Có phải v́ vai tṛ mà người Mỹ muốn ông đóng đă xong? Đây chỉ là một câu hỏi. Chúng tôi vẫn kính phục Bác sĩ Phan Huy Quát, một chiến sĩ chống cộng kiên cường, một lănh tụ Đại Việt có uy tín, thanh liêm sau 30/4/75 đă bị Việt cộng bỏ tù cho đến chết. Nhưng tiếc rằng ông đă bị một số người cơ hội đẩy vào vị thế mất uy tín trong trường hợp này.

(23) SĐD trang 70.

(24) Xem America’s Miracle Man In Vietnam của Seth Jacobs, duke University Press, Durham & L’Oneon 2004, trang 199.