Nguyễn Văn Lục:

Twenty years and twenty days miền Nam Việt Nam

(Phần I)


Hai mươi năm miền Nam Việt Nam, từ 1955–1975. Đó là những trang sử của người Việt Quốc Gia mà vào những trang chót có thể tóm gọn trong một câu: Sauve qui peut, mạnh ai nấy chạy. 10 năm sau, đại sứ Martin đă tuyên bố trên tờ New York Times, 30/4/85 như sau: Cuối cùng, chúng ta chỉ lo tháo chạy. Ư chí dân tộc Hoa Kỳ đă sụp đổ (In the end, we simply cut and ran. The American national will had collapsed). (1)

Trong hồi kư Tháng Ba Găy Súng, Cao Xuân Huy nói tới cảnh Đại tá lữ đoàn trưởng và Trung tá lữ đoàn phó trong cơn quẫn bách đă bỏ lại 4000 quân sĩ dưới quyền chạy thoát thân. Thiết vận xa nằm gục bên vệ đường. Ṇng súng đại bác 155 ly c̣n sáng choang.

Cái cảnh đó, nỗi nhục đó chả thể nào quên được.

22 đường Gia Long, ngày 29 tháng 4, 1975
Nguồn/Ảnh: digitaljournalist.org/Hubert Van Es


Nhưng h́nh ảnh rơ nét nhất vẫn là h́nh ảnh sau đây. Buổi chiều hôm ấy, Polar, trùm mật vụ ra lệnh cho viên phi công Latz lái trực thăng đến điểm hẹn là băi đáp sân thượng cao ốc (apartment) Pittman, theo Vĩnh Phúc trong Huyền Thoại về chế độ Ngô Đ́nh Diệm th́ căn nhà ở số 39 đường Gia Long, cạnh trụ sở hội Alliance Francaise để đón Út và khoảng 30 người Việt. Bất đồ có một phóng viên nhiếp ảnh (*) đă chụp được bằng ống kính tầm xa một bức ảnh những người Việt Nam đang trèo thang lên mái nhà để lên máy bay trực thăng. Trong số này, có cựu bộ trưởng Quốc pḥng Sàig̣n Trần Văn Đôn: Bức h́nh được gửi đi và cả thế giới được coi bức h́nh lịch sử đó và nó trở thành biểu tượng của ngày sóng gió ấy. (2)

 

Bật lửa Zippo


Trong khi đó, phía bên kia – những kẻ thắng cuộc – có người chỉ thấy rằng cuối cùng cuộc chiến hơn 10 ngàn ngày chỉ là ảo mộng hay một thứ Thiên Đường Mù (Dương Thu Hương), hơn thế nữa, một h́nh thức tự thực dân hoá chính dân ḿnh autocolonisation, chữ dùng của Jean Lacouture. Có nghĩa là bóc lột và vơ vét thẳng cánh. Đó là một thứ chủ nhân ông mới hănh tiến hưởng thụ, bóc lột cho đă trong một căn bệnh vĩ cuồng coi ḿnh là nhất. Và một cựu thứ trưởng bộ ngoại giao, ông Trần Quang Cơ, trong Hồi ức và suy nghĩ đă viết:Tôi thật sự đau xót v́ ta đă bỏ lỡ mất cơ hội củng cố thế đứng của Việt Nam trong ḥa b́nh để tập trung phát triển đất nước … sau bao nhiêu năm chiến tranh, lỡ cơ hội san bằng khoảng cách với các nước cùng khu vực. Trong From this world to First, Lư Quang Diệu đă nhận xét: Năm 1975, Tp. Hồ Chí Minh có thể sánh ngang với Băng Cốc (Bangkok), nhưng nay, năm 1992, nó tụt lại đằng sau hơn 20 năm”(3)

Lại có những anh bộ đội như Vũ Văn Giáo, anh là người lính cùng với đồng đội trên chiếc xe tăng thứ tư vào chiếm dinh Độc Lập, nh́n mấy lon bia Budweiser mà anh cứ tưởng là lựu đạn do mỹ ngụy cài lại. Kỷ niệm duy nhất là anh nhặt được chiếc bật lửa Zippo có khắc hàng chữ: “Tổng thống Việt Nam Cộng Ḥa Nguyễn Văn Thiệu thân tặng”. Một tuần sau, anh được điều lên biên giới đánh Campuchia. Mẹ chết, anh không được về thăm.

Hận chế độ bất nhân. Năm 1981, Giáo vượt biên và đă đến được Hồng Kông. (4)

Nguồn: photo.tcworks.net


Kẻ thua, người thắng đều trốn chạy. Thua chạy trước, thắng cũng chạy theo. Nguyễn Văn Thiệu, kẻ thua, chạy đă đành. Hà cớ ǵ kẻ đại diện nhận sự đầu hàng của Tướng Dương Văn Minh như ông Bùi Tín cũng bỏ vợ con và cháu ngoại chạy trốn, đồng thời để con trai vượt biển sang tỵ nạn ở Hồng Kông?

Đó là ư nghĩa lớn nhất của cuộc chiến tranh này.

Nh́n lại 20 năm đó, tôi xin dùng những trang sách của ông Nguyễn Cao Kỳ viết trong Twenty Years and Twenty Days cũng như trong Buddha’s Child như điểm tựa, như dàn phóng cho bài viết này. Hai cuốn sách mà nội dung trải dài suốt 20 năm lịch sử miền Nam Việt Nam. Nhiều chỗ viết đậm, chỗ viết nhạt, chỗ viết sơ sài, bỏ qua nhiều biến cố lịch sử then chốt. Gần như không có tham chiếu sách vở, tài liệu. H́nh như ông thản nhiên trước hàng núi tài liệu viết về Việt Nam? Ông chỉ viết theo những ǵ ông đă sống, đă có mặt.

Ông viết như người làm chứng.

Nguồn: amazone.com


Có lẽ ông Nguyễn Cao Kỳ sẽ măi măi chỉ là một người lính ngoài mặt trận. Nhưng hoàn cảnh đất nước năm 1963 đă thay đổi tất cả.

Hoàn cảnh 1963 là ngơ quặt lịch sử của miền Nam Việt Nam. Nếu những năm 55–63 ít ra có một miền Nam pháp trị, kỷ cương, có đường lối, có trên, có dưới, th́ sau 63 là một xă hội bát nháo, xáo trộn, mất kỷ cương, phi pháp luật.

Sự thật nó là như thế. Bát nháo ở chỗ vai tṛ đổi ngược. Nay “Người lính” không đánh nhau ngoài mặt trận nữa và các nhà tu hành th́ rời khỏi tu viện để trở thành những nhà lănh đạo đất nước hay làm chính trị và đưa đẩy miền Nam vào những hỗn loạn nghĩ lại đến là phiền muộn.

Đó chẳng qua là những tập tành học vỡ ḷng bài học dân chủ chưa xong. Dân chủ nhố nhăng, dân chủ bát nháo là kinh nghiệm, là cái giá phải trả ở thời kỳ ấy. Đất nước có chiến tranh, kẻ thù lúc nào cũng t́m cách quấy phá và khơi dạy những bất đồng từ mọi phía, hậu phương lại bất ổn với vô số các cuộc biểu t́nh, xuống đường với biểu ngữ.

Biểu t́nh là h́nh thức thực hiện dân chủ bạo động nhất. Kẻ xuống đường trở thành tiếng nói có trọng lượng nhất mà mọi người phải nghe theo.

Ai biểu t́nh, ai xuống đường, người đó thắng.

Trong khi đó, các chính quyền bắt buộc phải chọn lựa sự ổn định như mục tiêu hàng đầu cho việc chiến thắng được cộng sản. An ninh là chọn lựa ưu tiên trước khi nói đến đ̣i hỏi thực thi dân chủ. Mất an ninh, nước mất vào tay cộng sản th́ cơ hội thực thi dân chủ cũng không c̣n nữa. Cho nên an ninh và ổn định ở hậu phương đôi khi là chọn lựa sống c̣n đối với những người lănh đạo đất nước.

Chọn lựa đă hẳn là không dễ.

V́ thế, thể chế của đệ nhất và đệ nhị Cộng Ḥa cứ bị dằng co, xâu xé giữa ổn định và đ̣i hỏi thực thi dân chủ.

Và nói cho đến cùng, thứ dân chủ nhập cảng từ Tây phương đến miền Man đôi khi chỉ là một món hàng xuất cảng giả hiệu. Thứ dân chủ được thực thi trên đất Mỹ và thứ dân chủ mà họ mang ra áp đặt ở Việt Nam là hai món hàng cùng nhăn hiệu, cùng Made in America, nhưng phẩm chất một bên là món hàng thật và một bên là món hàng giả.

Đó là nỗi thiệt tḥi, sức ép đè nặng đến cân năo lên những quyết định của những người lănh đạo miền Nam. Đối với người Mỹ, chỉ có một thứ dân chủ nghe (Mỹ) hay không nghe (Mỹ) mà thôi. Nghe họ th́ xong, không nghe th́ có chuyện, ngay cả chuyện lật đổ và sát hại.

Và phải chăng trong suốt thời gian cầm quyền, ông Nguyễn Văn Thiệu chỉ có nỗi lo phập pḥng sợ người Mỹ ám hại như người tiền nhiệm?

Bi kịch đời ông như ông thú nhận là ông có đến hai kẻ thù ở hai phía: cộng sản và người Mỹ.

Thời điểm đó, ông Nguyễn Cao Kỳ đă là một tướng lănh trong quân đội Việt Nam Cộng Ḥa. V́ thời cuộc đưa đẩy mà ông trở thành nhà chính trị. Từ quăng đời binh nghiệp nhảy sang chính trị rất tay mơ nên nhiều người không biết ông là ai cả.

Chính v́ vậy khi có kư giả ngoại quốc cắc cớ hỏi De Gaulle nghĩ ǵ về ông Nguyễn Cao Kỳ? De Gaulle dí dỏm diễu cợt, nhưng Kỳ là ai mới được chứ?

Qui est Kỳ? (**)

Yvonne Vandrroux (de Gaulle),

người vợ thảo, kín đáo của Tổng thống Charles de Gaulle

(1900-1979)
Nguồn/Ảnh:

charles-de-gaulle.org


Câu hỏi xách mé của De Gaulle trở thành câu hỏi thời danh một thời. Câu hỏi đó có chứa một phần sự thật. Nhưng ông Kỳ không vừa trả miếng. Kỳ là ai hả? Nguyễn Cao Kỳ là người chắc chắn có vợ đẹp hơn vợ tướng De Gaulle.

Thật ra theo Nguyễn Cao Kỳ, ông trước sau chỉ là một người lính ngoài mặt trận. Ông đă từng nhắc đi nhắc lại nhiều lần như thế: từng vào sinh ra tử, từng lái máy bay trong các phi vụ ra Bắc, và hănh diện hơn ai hết từng là chiến sĩ. Và cũng không ai ngờ và có thể tiên đoán rằng, một ngày nào đó, từng đă có thời là người lănh đạo Quốc Gia trong vai tṛ Phó Tổng Thống, Thủ Tướng.

Nhưng nh́n lại tất cả những ǵ ông đà làm th́ rơ ràng ông lại là một nhà chính trị của thời cuộc, thứ chính trị biết thức thời, biết kết nạp, biết âm mưu, biết mua chuộc, biết ít mà dám làm như thể biết nhiều.

Tỉ dụ, khi làm Phó Tổng Thống, ông biết dùng phe cánh miền Nam trong nhóm liên trường như Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc, Tổng trưởng thanh niên Vơ Long Triều, Tổng trưởng giáo dục Nguyễn Văn Trường, Tổng Trưởng kinh tế Âu Trường Thanh v.v... Khi mua chuộc Phật giáo, ông lấy ngân quỹ Quốc Gia bỏ ra cho vay 50 triệu đồng để xây Việt Nam Quốc Tự mà biết không bao giờ đ̣i lại được.

Trong cuốn Bạch Thư ngày 31/12/1993, HT Tâm Châu đă thẳng thắn cho biết, để xây Việt Nam Quốc Tự, Tướng Nguyễn Khánh đă cúng 10 triệu, tướng Nguyễn Cao Kỳ cho vay 50 triệu. Số tiền này được giao cho cho các TT Thích Thiện Ḥa, Thích Thiện Hoa, Thích Trí Thủ và Thích Từ Nhơn, nhưng các Thượng Toạ này giữ tiền luôn, không chịu xây cất chùa. Chi phí xây cất Việt Nam Quốc Tự lúc đó được ước lượng khoảng từ 60–70 triệu đồng Việt Nam trên một thửa đất rộng 45.000m2 được thành phố cho thuê với gíá tượng trưng.

Cũng vậy, Nguyễn Khánh, để mua chuộc Phật giáo đă bỏ ra số tiền 200.000 đô la cho các Thượng Toạ Tâm Châu và Trí Quang. Dĩ nhiên, những số tiền này dùng để xây dựng cơ sở Phật giáo chứ không phải để cho riêng các Thượng Toạ ấy: Manoeuvrant afin de revenir au pouvoir, Khanh rencontra Tri Quang et Tam Chau pour échanger des promesses de soutien mutuel et scella le marché en versant aux Boud dhistes l’équivalent de 200.000 dollards” (5)

Về nguồn tin của Stanley Karnow viết, ông Khánh đă hiến tặng 200.000 đôla cho hai Thượng Toạ Tâm Châu và Trí Quang, xin viết lại với sự dè dặt thường lệ. Không có bằng cớ hiển nhiên nào về điều đó. Thượng Toạ Tâm Châu như tôi được biết có tiền là lo xây dựng chùa chiền, trong nước cũng vậy mà ở Hải ngoại cũng vậy. Riêng Thượng Toạ Trí Quang, cứ bề ngoài xem ra sống rất đơn giản, không tự ḿnh có được mái chùa, mà phải đi ở nhờ, th́ cuộc sống hẳn là cái ǵ khác. Có thể ông không thiếu tham vọng, mang trong ḿnh nhiều chuyện đội đá vá trời nên không quan tâm đến chuyện tích lũy tiền bạc.

Ḷng nghĩ thế nào th́ tôi viết như vậy. Theo cái kiểu có sao nói dzậy. Không viết thêm mà cũng không viết bớt.

Nhưng trên thực tế th́ cả người cho lẫn người nhận đều không muốn nói ra. Tướng Kỳ c̣n đó, Thượng Toạ Tâm Châu c̣n đó, Thượng Toạ Trí Quang c̣n đó, và đôi khi c̣n dùng vấn đề tiền bạc để bôi bác nhau. Trong Bạch thư, Thượng Toạ Tâm Châu đă nói rơ: “Tại Sàig̣n, Thượng Toạ Trí Quang và nhóm tranh đấu vu khống cho tôi là người Mỹ cho tôi 1 triệu mỹ kim và trả lương cho tôi mỗi tháng là 20 ngàn mỹ kim. Thực ra, tôi chưa được một đô la của Mỹ, chứ nói chi đến vạn triệu.”

V́ không phải người làm chính trị chuyên nghiệp, ông ghi nhận ông c̣n nhiều khuyết điểm và lỗi lầm về chính trị: “When I made mistake, they were honest mistakes. I was doing my best, I was no corrupt and I want to help my country. Despite my lack of experience, I survived …”

Cái survive đó là do cái thức thời nhạy bén của ông. Quả thực, ông và Nguyễn Văn Thiệu, thêm Dương Văn Minh là mấy khuôn mặt trổi bật cuối cùng của các tướng lănh tham gia chính trị sau khi lật đổ ông Ngô Đ́nh Diệm.

Ra hải ngoại sống đời tỵ nạn, ông đă từng làm việc 14 tiếng đồng hồ trong một tiệm rượu để kiếm sống. So I start my exile’s life first become liquor – liquor store owner. Sau đó từng làm ngư phủ trên biển để câu tôm cá như bất cứ người tỵ nạn nào.

Óc phiêu lưu một lần nữa có cơ hội thử thách ông. Tại sao không làm nghề đánh cá nhỉ? Ông đă tự hỏi ḿnh như thế và rồi cùng với mấy ngư dân lái xe về vùng Vịnh Mexico (Gulf of Mexico). Đó là mùa đánh cá thê thảm nhất trong 10 năm nay mà ông dính líu vô. Năm sau mùa đánh cá cũng không hơn ǵ. Sau 21 ngày lênh đênh trên biển, sau khi trả tiền cho công nhân, Ông c̣n được lại 5 đồng. Không hề thấy ông than văn về những năm tháng ấy. Điều chắc chắn là ông không có tiền của ǵ mang theo. Ông nghèo. Mà nghèo ở Việt Nam là có quyền tự xếp ḿnh vào loại người liêm chính như một chứng chỉ đạo đức rồi.

Và sau hai năm về sống ở Việt Nam, nay ông trở lại Hoa Kỳ thăm con cháu, mừng sinh nhật ông. Nh́n lại quăng đời hơn 70 năm qua, ông thấy những người sống đồng thời với ông trong vai tṛ lănh đạo quốc gia đă lần lượt ra đi. Lê Duẩn, Vơ Chí Công ngoài Bắc đă ra đi. Richard Nixon và Lyndon Johnson cũng không c̣n nữa. Phía Việt Nam Cộng Hoà th́ ông Diệm, ông Nhu đă chết tức tưởi, ông Thiệu chết trong sự im lặng tuyệt đối không một lời trối trăn.

Nh́n lại chỉ thấy c̣n ḿnh ông. Ông vẫn có cách để cho ngườt ta phải nhắc nhở tới ông.

V́ thế, trong bài diễn văn đọc ngày 13 tháng 6, năm 2003 tại trường Đại học DeAnza, Cupertino, California, ông nói:

Tôi là người cuối cùng.

Tiếp theo đó, ông trích dẫn lời của danh tướng Douglas McArthur nói: Người lính già không bao giờ chết, họ sẽ dần dần mờ nhạt đi thôi”. Và nguyện vọng của ông là: “Trong những năm tháng c̣n lại, người lính già này luôn luôn hướng về Việt Nam, quê cha đất tổ. Tôi xin dâng hiến phần đời c̣n lại để phụng sự cho quê mẹ và cho dân tộc tôi mà không có một tham vọng nào và không đ̣i hỏi một sự báo đáp nào”.

Phải chăng đây là một thứ chúc thư ông nhắn lại cho những đồng đội và bạn bè của ông? Ông là nhân vật chính trị gây ra rất nhiều tranh căi và những lời phê phán suốt nhiều năm nay. Hiểu như một phản bội đồng đội cũng có, nguyền rủa cũng không thiếu. Theo như tờ Việt Weekly có bài phỏng vấn ông vào ngày 3/2/2006, khi ở Sài G̣n, ông ở khách sạn Sheraton, có bác sĩ trông coi và vệ sĩ giữ an ninh. Có vẻ như ông được trọng vọng ở trong nước v́ người ta cần một mẫu người như ông. Người ta hỏi ư kiến ông, những ư kiến cụ thể, trực tiếp mà không ngại mất ḷng.

Nghe hay không lại là chuyện khác.

Nhưng phần đông người Việt hải ngoại th́ không thiếu những lời chê trách cả nguyền rủa, khinh miệt. Sẽ có dịp để chúng ta bàn căi về vấn đề này ở phần sau. Những người quen biết ông như tướng Nguyễn Bảo Trị, cựu phụ tá Bùi Diễm, cựu thứ trưởng thanh niên Vơ Long Triều đều có tiếng nói về vấn đề này. Nói chung phần đông là không đồng ư về những chuyến về Việt Nam của ông.


1.–Viết về tướng Kỳ trước tiên là viết về những giai thoại đời ông.

Viết về những giai thoại mà chỉ có ḿnh ông dám nghĩ, dám mói, dám làm, dám chơi, dám sống, dám hết ḿnh. Có thể có người đọc không đồng ư, nhưng dù đồng ư hay không đồng ư, chính những cái dám đó làm nên con người ông.

Thời ông c̣n đi học lái phi cơ vận tải ở bên Pháp, lúc đó ông Nguyễn Cao Kỳ đă là sĩ quan bộ binh rồi nên lương bổng có cao. Mỗi tháng ông bỏ túi 60 ngàn quan, 30 ngàn tiền lương sĩ quan, 30 ngàn do gia đ́nh gửi sang mà một ly cà phê vào những năm 1950 chỉ có 50 fr. Sau một thời gian ở Bourges, phía Nam nước Pháp, ông đă để dành được một số tiền lớn là 200000 quan, tính về Paris mua một chiếc Citroen mới. Về Paris, thay v́ đi mua xe, ông la cà các cabarets, các Club, gặp các phụ nữ xinh đẹp, cặp một cô rồi nổi hứng: Champagne pour tout le monde ... đăi rượu Champagne cho mọi người. Prince Nguyễn Cao Kỳ. Người ta đă gọi ông như thế. Và chính trong dịp này, ông quen biết một cô gái Pháp sinh đẻ ở Algérie, một thứ pied noir để chỉ dân Pháp sinh đẻ ngoài nước Pháp. Ông la cà đến những khu sang trọng như Montparnasse và Montmartre của Paris. Đến đó để rải tiền. Để uống. Để ăn. Để xa hoa lăng phí. Để thoả cái tính ngông nghênh, tính chịu chơi. Đăi rượu ṿng ṿng mọi người. Rồi mỗi người đẹp một bó hoa. Chơi trội. Để rồi sáng thứ hai, lấy xe hoả xuôi Nam. Tuổi trẻ là như thế. Nhưng phải thú nhận là tuyệt vời. Mặc dầu túi rỗng tuếch. Xuôi Nam bằng xe lửa tức là không mua được xe. Ăn nói làm sao với bạn bè? Thây kệ. Ngông và phét lác một chút. Đó cũng là cung cách con người Nguyễn Cao Kỳ. (6)

Đám cưới giữa Nguyễn Cao Kỳ và cô tiếp viên phi hành Đặng Tuyết Mai cũng gây dư luận ồn ào v́ tính cách vĩ đại của nó. Nhiều người cho rằng chỉ thua đám cưới con gái ông Thiệu và con trai ông Nguyễn Tấn Trung. Có hai bữa tiệc cưới, một dành cho bạn bè và họ hàng tại Chợ Lớn và một khoản đăi tại Hotel Caravelle dành cho các vị quan tước lớn như ngoại giao đoàn, các cấp chỉ huy quân đội, các nhân vật cao cấp Việt–Mỹ mà theo lời ông Đỗ Mậu đă mở đến 7800 chai rượu sâm banh cho 1000 quan khách.

Tôi có cảm tưởng, ông Đỗ Mậu đă thêm thắt quá đáng. Vài trăm chai sâm banh th́ c̣n hiểu được. Sâm banh đâu phải nước lă? Làm sao một người có thể uống 6, 7 chai sâm banh được? Đọc ông, cần một mắt nhắm, một mắt mở. Ông rất là lộng ngôn trong chữ nghĩa.

Một đám cưới xa hoa như thế, trong t́nh h́nh đất nước như thế quả là không mấy thích hợp. Nhất là sau này, khi làm Thủ Tướng, ông nói đến một chính phủ của dân nghèo. Ai có thể tin được những lời nói của ông?

Qua đám cưới này cũng như cái cách ông đi làm bằng máy bay trực thăng mỗi buổi sáng như chọc tức ông Thiệu. Câu chuyện máy bay trực thăng nó như thế này. Đại tướng Westmoreland có cho riêng ông Kỳ hai cái máy bay trực thăng Bell UH–IB. Ông Kỳ đă dùng máy bay để đi làm mỗi ngày. Ở trên đất nước Việt Nam mà đi làm bằng máy bay trực thăng th́ kể là chướng quá. Đă vậy, ông Thiệu có thói quen ngủ dạy trễ, ông Kỳ dạy sớm, 7 giờ ông đă có mặt ở văn pḥng. Mỗi lần như thế như đánh thức ông Thiệu dạy luôn. Ông Thiệu kiên nhẫn, không nói một lời phàn nàn. Chỉ qua bà Thiệu, bà phàn nàn máy bay trực thăng mỗi lần đỗ xuống, cánh quạt trực thăng làm nát các luống hoa của bà … Ông Kỳ nghe thế đậu chỗ khác. Theo ông Kỳ, qua sự việc nhỏ này cho thấy ông Thiệu là người không muốn đối đầu với ông Kỳ và ngay cả khi bầu cử xong, dù có đủ quyền hành của một tổng thống, ông Thiệu cũng không bao giờ trực tiếp bàn hoặc nói với ông Kỳ phải làm ǵ.

Điều đó sau này thấy rơ hơn hố chia cách giữa hai người không cách chi hàn gắn được. Tính nết đối chọi nhau, quyền lợi mỗi bên không dung hợp. Cứ thế mà chia rẽ hai người, cứ thế mà quốc gia thiệt tḥi về sự chia rẽ đó trong suốt nhiệm kỳ tổng thống và phó tổng thống.

Như thế, chắc hẳn, ông chắc không phải là đứa con của Phật Buddha’s child như ông thường tự hào nữa.

Có lẽ đúng hơn, ông là “Cậu” ông Trời.

William Colby: Princeton khoá 1940, chỉ huy t́nh báo trong chiến tranh Việt Nam, GĐ CIA 1973-76 (1920-1996)
Nguồn/Ảnh: ngothelinh.tripod.com


Cũng con người đó, khi vị chỉ huy trưởng không quân lúc bấy giờ là Trung Tá Nguyễn Xuân Vinh hỏi ông có muốn t́nh nguyện đảm nhiệm các phi vụ chở biệt kích ra Bắc không? Ông đă nhận lời không do dự. Các chuyến bay ra Bắc bằng C47 theo lời ông kể là thập phần nguy hiểm, phải bay là là sát mặt biển, cách chừng 2 mét với vận tốc 300 cây số giờ để tránh sự phát hiện của radar địch. Chỉ khi nào tới mục tiêu th́ mới ngóc đầu lên để khỏi đụng mái nhà hay cột điện. Ông đă thực hiện hai chuyến bay thả biệt kích ra Bắc an toàn. Nhưng chuyến thứ ba, ông có nhờ một sĩ quan dưới quyền bay thế. Ông này đă ngộ nạn và chỉ ḿnh ông ta sống sót và bị bắt làm tù binh. Chuyến thứ tư th́ trên đường về lạc hướng và khi đáp được xuống Đà Nẵng th́ cũng vừa hết xăng dầu. Khi bay trở về căn cứ Tân Sơn Nhất, trùm CIA Colby nói với đùa với ông rằng:
          - Lần sau, tôi sẽ theo ông ra Bắc và mang theo một cái cần câu cá.(7)

Cũng ông, sau này đă chỉ huy một đoàn 24 chiếc khu trục cơ Skyraider ra ném bom Đồng Hới vùng sát vĩ tuyến 17. Trước khi đi ném bom, cả đoàn sĩ quan phi công đă ra Huế giă từ dân chúng. (8) Ông được các thanh niên nam nữ Huế đón tiếp nồng nhiệt. Ông nói với họ bằng những lời lẽ như sau: Ngày mai chúng tôi sẽ vượt biên giới và có thể không một ai trở về, nhưng chúng tôi đến đây để cho thấy rằng chúng tôi sẽ chiến đấu với kẻ thù. Hăy nhớ đến chúng tôi, nếu chúng tôi không trở về. Hăy nhớ rằng chúng tôi đă đến, hăy nhớ rằng, chúng tôi đă nói lời giă biệt.(9)

Đă hẳn những lời tuyên bố của ông Kỳ, nhân danh những người phi công trẻ trước ngày lên đường thi hành những nhiệm vụ khó khăn đă làm nức ḷng đám đông những người trẻ tuổi. Tác dụng tinh thần là quan trọng. Tác dụng về quân sự qua cuộc dội bom đó có thể không đáng kể v́ chỉ có tính cách tượng trưng và tiêu biểu. Bởi v́ trước đó máy bay phản lực của Mỹ đă dội bom mở đường, dọn dẹp sạch một phần các ổ pḥng không rồi. Thứ đến về kỹ thuật, máy bay một động cơ cánh quạt kể như lỗi thời rồi. Bằng chứng là những khu trục cơ cánh quạt ấy khi về đến căn cứ cũng bị thương tích đầy. ḿnh, trong đó có hai chiếc hy sinh, phi công phải nhảy dù xuống biển trước khi đến phi trường Đà Nẵng. Chiếc khu trục cơ đầu đàn do ông điều khiển cũng lỗ chỗ vết đạn ngay tại chiếc ghế, chỗ ông ngồi.

Mỗi lần như thế và mỗi lần thoát hiểm, ông đều tin rằng có Phật phù trợ ông. Viết tựa đề cuốn sách Buddha’s child chắc hẳn cũng v́ lẽ ấy, tin rằng ḿnh là con Phật, được Trời Phật phù trợ. So my mother and my family, you know, believe that I’m really, you known, the son of Buddha. It means I come from Buddha.

Theo tin tưởng của người Việt Nam, ông Kỳ tự coi ḿnh là đứa con cầu tự, được Trời Phật phù hộ.

Theo hồi kư ghi lại của kỹ sư Vơ Long Triều, một số cấp chỉ huy quân đội cũng như dân sự phải tập trung lại để ông Ngô Đ́nh Nhu tŕnh bày về quốc sách ấp chiến lược. Tối phải ngủ lại. Ông Vơ Long Triều ghi nhận chỉ có Nguyễn Cao Kỳ trốn trại và không ngủ lại ban đêm.

Cũng vẫn là phong cách Nguyễn Cao Kỳ.

Nhưng lưu ư bạn đọc, cũng trong dịp này, ông Ngô Đ́nh Nhu đă gián tiếp than phiền cáo buộc là Mỹ can thiệp vào miền Nam nhiều quá. Họ yêu cầu đưa cố vấn đến các cấp đại đội và trung đội. Chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă không đồng ư.

Đây là dấu hiệu rạn nứt rơ nét giữa chính quyền Ngô Đ́nh Diệm, ông Nhu và người Mỹ, dẫn đến chuyện lật đổ không tránh được chính quyền đệ nhất Cộng Ḥa.

V́ thế, có thể nói thật với nhau rằng, không có người Mỹ, không có biến cố 1–11–63.

Đă đến lúc người Mỹ thấy rằng phải thay thế hai anh em ông Ngô Đ́nh Diệm?

Thật vậy, bài báo của David Halberstam, mùa xuân năm 1963 đăng trên tờ New York Times đă là một cảnh báo rơ rệt như một bản tin dự báo thời tiết chính trị rồi: Có điều ǵ không ổn ở Việt Nam. Bob Kennedy đă đưa ra ư kiến như sau ở thời kỳ đó: Vấn đề đặt ra cho chúng ta là có thể t́m ra được một người có thể thay thế Diệm để tiếp tục cuộc chiến tranh và bảo vệ được sự thống nhất xứ sở. Nhưng chính là nan đề khó khăn nhất đă gây lo ngại lớn lao cho chúng ta ở thời kỳ đó. Đặc biệt, không ai thích ông Diệm. Nhưng làm thế nào để thay thế ông và t́m ra được cái người tiếp tục cuộc chiến đấu, sẽ tránh cho việc chia đôi đất nước và từ đó, một sự thất bại và việc để mất Việt Nam.

Và đó là vấn đề lớn lao nhất.

Cho đến 1962–1963, chúng ta hầu như có thể thắng cuộc chiến tranh này. Nhưng kể từ tháng 5, 1963 .. Chúng ta đă gặp tất cả nhừng khó khăn với những người Phật giáo. Và bởi v́ Diệm xem ra không muốn chấp nhận bất cứ một nhượng bộ nhỏ nhoi nào. Thật là khó để lư luận với ông ta. “
(10)

Tướng Kỳ tại một trại họp bạn hướng đạo.
Nguồn: larryray.com/press.htm


Trước 1963, Với vai tṛ một sĩ quan không quân hay một chỉ huy trưởng, ông Nguyễn Cao Kỳ tỏ ra một mẫu người hùng, đôi chút ngang tàng, phá phách, với t́nh đồng đội cao trong lúc chiến đấu và chịu chơi lúc về thành phố với vô số tật xấu như gái, nhảy đầm, xoa mạt chược, uống rượu. Ngay cái đêm Việt Cộng tấn công dịp tết Mậu thân th́ trong nhà ông ở căn cứ Tân Sơn Nhất, các sĩ quan đang lo xoa mạt chược.

Với bộ đồ bay màu den, kính râm rất thời thượng, rất sexy, ông có cái bề ngoài rất đàn ông, hợp nhăn các cô gái trẻ thời đó. Ông nhắc đến những Tường Vân là mối t́nh đầu và nhất là Cẩm Vân. Những mối t́nh có vẻ như ông không bao giờ quên được. Ông lại có thêm bộ râu mép rất Nguyễn Cao Kỳ với biệt danh Kỳ râu kẽm. Ông kể có lần tướng Lê Văn Tỵ chọn ông làm sĩ quan phi hành mỗi lần ông đi công tác. Ông Tỵ thuộc lớp sĩ quan quân đội Pháp, kỷ luật sắt trong vấn đề quân phục của các sĩ quan. Ông Tỵ không thích có một sĩ quan trong quân đội lại có thể để râu. Vậy mà sau đó đă chấp thuận cho ông Kỳ để râu kèm theo một giấy phép độc nhất trong quân đội cho phép một sĩ quan để râu.

Phần đời đó với những cá tính khá đặc biệt cũng in dấu không ít th́ nhiều trong những hoạt động chính trị của ông sau này.

Đến như không biết con người Nguyễn Cao Kỳ th́ cũng không hiểu rơ tại sao ông đă hành xử như vậy


(C̣n tiếp)

Copyright © 2006 DCVOnline
 
 

DCVOnline – (*): Tác giả bức ảnh là phóng viên Hubert Van Es của hăng thông tấn UPI, chụp cảnh di tản ngày 29 tháng 4, 1975 từ văn pḥng của UPI ở tầng cao nhất trên khách sạn Saigon cách apartment Pittman vài dăy phố. Địa chỉ của Pittman Apartment là số 22 đường Gia Long.

(**): Theo Tướng Lâm Quang Thi trong bài Ex–Premier's Vietnam Trip: A Mistake for Both Bush and Hanoi, Tổng thống De Gaulle hỏi sấc “Qui es Kỳ?” sau khi kư giả cho biết Thủ tướng Kỳ doạ cắt đứt ngoại giao với Pháp v́ đề nghị giải pháp Trung lập cho toàn cơi Đông Dương kể cả Việt Nam của De Gaulle (1966).

Chú Thích:

(1) Trích Khi đồng minh tháo chạy của Nguyễn Tiến Hưng.
(2) Trích trong Cuộc tháo chạy tán loạn, bản dịch cuốn The decent interval của Frank Snepp, trang 343, nxb tp. HCM.
(3) Tài liệu in lại trong Truyền Thông số 14–15, trang 9, 2004–2005
(4) Trích lại trong Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975 của Bùi Văn Phú (5) Trích Vietnam, Stanley Karnov, trang 227
(6) Tướng Kỳ râu kẽm để râu có giấy phép. Ông là một phi công lành nghề nên được tướng Lê Văn Tỵ tin cậy. Mỗi khi đi đâu thường đ̣i phi công Nguyễn Cao Kỳ lái . Có lần tướng Tỵ thắc mắc tại sao lại để râu trong quân đội. Ông Kỳ trả lời v́ các bạn gái của ông thích bộ râu của ông. Tướng Lê Văn Tỵ cười và đă cho ông giấy phép để râu
(7) Khi nhắc về những người chỉ huy trực tiêp của ông trong không quân, cũng là nhừng bạn đồng khoá huấn luyện căn bản ở Marakech như Nguyễn Xuân Vinh, Hùynh Hữu Hiền.. Ông thường tỏ ra coi thường họ, xêp vào loại sĩ quan bàn giấy, sợ tác chiến, xếp hàng vào đảng Cần lao, chỉ lo cho sự an nguy của chính họ như một thứ sĩ quan văn pḥng.
(8) Những kế hoạch của CIA đưa biệt kích nhảy dù ra Bắc ḥan ṭan thất bại và bị phát giác và bị bắt ngay trong những ngày đầu tiên. Theo tướng Kỳ, ngoài đó, người ta di dép râu, các biệt kích của ta lại đi giầy. Thế là lộ.
(9) “Tomorrow we cross the border, and perhaps none of us will return . But we are here to show that we will carry the fight to enemy. Remember us if we don't come home, remember that we came today, remember that we said good–bye” Trích Buddha's child, trang 122
(10) Trích trong Robert Kennedy, trong Témoignages pour l’histoire, trang 316 và 317