Nguyễn Văn Lục:
Twenty years and twenty days miền Nam Việt
Nam
(Phần
II)
2. Thời đệ nhất Cộng hoà
Trong hai cuốn sách của ông, ông đă dành ra 25 trang trong cuốn Twenty Years and
Twenty Days và 75 trang trong cuốn Buddha’s child để viết về nền Đệ Nhất Cộng
Hoà. Viết kể ra c̣n ít, có thể bởi v́ lúc đó ông chỉ là cấp tá đóng vai tṛ thừa
hành. Thứ đến có thể vấn đề chính trị miền Nam chưa thực sự là mối quan tâm hàng
đầu của ông lúc bấy giờ.
Nhưng ông có thú nhận là đời phi công trong những thập niên 50–60 thật là hào
hứng tuyệt vời, mặc dầu phi công Việt Nam chỉ đảm nhận những phi vụ vận tải với
hầu hết các chiếc DC3 cũ kỹ.
Nhận xét của ông Kỳ về cá nhân và chế độ ông Diệm:
Ông Kỳ có cái nh́n hảo ư về ông Ngô Đ́nh Diệm. Ông cho rằng trong những năm đầu
chế độ Đệ Nhất Cộng Hoà kể là ổn định về chính trị, quân sự, và kinh tế.
Về cá nhân ông Diệm, có một chi tiết do một nhân chứng đă có cơ hội sống cận kề
ông Hồ Chí Minh tiết lộ cho biết và chưa tiện bạch hoá tên tuổi. Theo ông ấy,
khi ông Diệm bị bắt và giam ở Hỏa Ḷ mà những người trách nhiệm là Lê Giản, Tổng
Giám đốc công an Việt Nam, Chu Đ́nh Xương, giám đốc sở liêm phóng, ông Hồ Chí
Minh đă đ̣i đưa ông Diệm về giam ở Bắc bộ phủ và bàn với ông Vũ Đ́nh Huỳnh, bí
thư của ông Hồ.
Ông Hồ nói: Anh Huỳnh, tôi tính ḿnh phải thả Ngô Đ́nh Diệm và để ông ấy ở
một nơi nào đó. Ông Huỳnh và Giản th́ chống đối lại việc thả ông Diệm, v́
biết ông này là người chống lại Việt minh triệt để. Nhưng cuối cùng th́ cũng
theo lời ông Hồ Chí Minh, thả ông Diệm. Theo lời giải thích th́ có thể giữa gia
đ́nh ông Hồ đă có chịu ơn cánh gia đ́nh ông Ngô Đ́nh Diệm và v́ cái ân nghĩa đó
mà tha chăng?
 |
Ảnh: amazone.com
|
Trong Việt Nam, Stanley Karnow đă dành một trang để nói về cuộc đối đầu giữa ông
Diệm và ông Hồ trong việc bắt giam này. Ông Hồ nói chúng ta đều cùng mục đích là
giành độc lập. Ông về hợp tác, xin dành cho ông một vai tṛ xứng đáng. Ông Diệm
từ chối và c̣n lên án ông Hồ là kẻ tội phạm.
Xin ghi lại cuộc đối thoại ngắn ngủi giữa hai người.
Ông Diệm: “Vous êtes un criminel qui a brulé et dévasté le pays, vous me
retenez prisonnier.“ Ông là một tội phạm. Ông Hồ đă cải chính và cho rằng do
cấp dưới làm mà ông không được biết. Khi không thuyết phục được ông Diệm th́
quyết định thả ông ấy.
Ông Hồ: “Vous êtes un homme libre.” Kể từ nay, ông được tự do.
Sau này, vào năm 1981, khi Hoàng Tùng gặp Karnow, đă nhận xét và phê phán sự
khoan hồng của ông Hồ Chí Minh đối với ông Diệm: “Considérant les événements qui
suivirent, relâcher Diem fut une erreur (11)
Vâng, quả thật là nhầm lẫn đă thả ông Diệm. Và nếu thủ tiêu ông Diệm, miền Nam
Việt Nam đă hẳn là khác. Và tôi th́ khỏi phải viết những ḍng này.
Ngoài ra, có những vấn đề khá là quan trọng mà nay nhiều người cố t́nh viết
xuyên tạc như: Ai đă đưa ông Diệm về nước làmThủ tướng? Theo ông Bùi Tín trong
bài Nhân vật Ngô Đ́nh Diệm, (12) Hà Nội đă dàn dựng cho ông Diệm
là tay sai Pháp, Nhật rồi CIA Mỹ, do Hồng Y Spellman đào tạo trên đất Mỹ để làm
tay sai cho Mỹ. Vậy là ở hải ngoại có mấy nhà viết sử dựa vào tài liệu Cộng Sản
này để bôi nhọ ông Diệm (xin xem thêm phần chú thích) Rồi hậu quả sau biến cố
lật đổ ông Diệm năm 1963? (13) Đó là mấu then chốt thúc đẩy Hà Nội tiến
hành xâm chiếm miền Nam? Những vấn đề như thế lúc nào cũng cần được viết lại.
Không bao giờ là thừa khi viết lại một điều đă được viết sai.
Xin chứng dẫn lời của ông Bùi Diễm trong Gọng Ḱm Lịch sử về việc ông Bảo
Đại quyết định chọn ông Diệm làm Thủ Tướng. “Vào cuối năm 1991, tôi có dịp
trở lại thăm cựu hoàng Bảo Đại ở Ba Lê. Trở lại chuyện cũ, tôi có hỏi ông về vấn
đề này, th́ ông trả lời rằng: Vào thời kỳ đó, thái độ của Hoa Kỳ cũng không có
ǵ là rơ rệt, tuy nhiên, ông quyết định chọn ông Diệm v́ ông cho rằng trong số
những nhân vật làm chính trị ở miền Nam lúc đó, ông Diệm rơ rệt là người ít dính
líu đến người Pháp trong những năm về sau này nên có thể dễ được người dân ủng
hộ hơn những người khác. Đây là một sự trớ trêu của lịch sử… (14).
Nhưng kể từ ngày 26/4/1960, khi có một tuyên ngôn dân chủ của nhóm 18 trí thức
được gọi là nhóm Caravelle đă cho thấy mầm mống bất măn, chống đối nhen nhúm bắt
đầu. Phần đông nhóm trí thức này đă từng cộng tác trong chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm hoặc ủng hộ ông Diệm trong lúc ông Diệm mới về nước.
Tuyên ngôn của nhóm trí thức Caravelle mở ra sự đối đầu và thách thức và như một
trắc nghiệm đầu tiên về dân chủ đối với chế độ ông Diệm.
Trước đó, ông Diệm có cái tư thế chính trị không ai thay thế được để đương đầu
với miền Bắc. Stanley Karnow nhận xét: “Vào năm 1954, sau hiệp định Geneve,
thật hiếm có một người quốc gia nổi tiếng ở bên ngoài hàng ngũ của Việt Minh.
Rất nhiều người đă bị khai trừ bởi người Cộng sản hay người Pháp. C̣n những
người khác rút lui khỏi đời sống chính trị. Một số người sang lập nghiệp bên
Pháp tổ chức những buổi họp vô bổ, ra những tuyên cáo vô nghĩa, dựng những âm
mưu chính trị ở vỉa hè, các quán cà phê.
Ông Diệm phải là người lấp đầy khoảng trống đó. Mặc dầu ông là một người có
một quá khứ trong sạch, ông không có vóc dáng một người lănh đạo” (15)
Ông Kỳ nghĩ rằng, ông Ngô Đ́nh Diệm là người có thiện chí, muốn có một miền Nam
vững mạnh và ổn định về chính trị để có thể đương đầu được với miền Bắc. Và cũng
nhiều người cũng đều nghĩ như thế. Ông Kỳ thú nhận rằng:”The years
immediately following the division of Viet Nam into North and South, a
relatively peaceful time were for me the happiest and most transquil period of
my military career. In the South, the communist Viet cong kept a low profile.
Những người thù ghét ông Diệm và chế độ ấy không thiếu đâu. Nhiều lắm. Đa số
nữa. Và nhiều cấp độ. Sự thù ghét ông Diệm, nhất là ông Nhu là một điều không
chối căi được xuất phát ngay từ những nhân vật thân cận nhất như tướng Nguyễn
Chánh Thi, tướng Đỗ Mậu, tướng Trần Văn Đôn, Dương Văn Minh và vô số những người
đồng hương, những người từng có mối liên hệ hợp tác, làm việc với ông Diệm như
bác sĩ Trần Kim Tuyến, Huỳnh Văn Lang, Vơ Văn Hải.
Và không biết bao nhiêu nhà báo ngoại quốc cũng như chính khách Mỹ ghét ông
Diệm.
Và quan trọng hơn cả vẫn là nhận xét của ngoại trưởng Foster Dulles trong văn
thư để lại Bộ Ngoại giao chuyển cho tướng Collins, ngày 20/4 trước khi ông lên
đường sang Ba Lê (Paris) họp với các ngoại trưởng Anh và Pháp về vấn đề Việt
Nam, Dulles viết: “Tôi rất ân hận không có mặt ở đây, Hoa Thịnh Đốn, khi ông
đến. Dĩ nhiên, tôi sẽ gặp ông ngay khi tôi trở về vào ngày thứ hai. Trong khi
chờ đợi, đây là vài ư kiến của tôi.
“Diệm không phải do chúng ta cất nhắc, nhưng là do người Pháp. Chúng ta đă
ủng hộ ông ta (Diệm) và ủng hộ ông ta 100% …”
Như thế, vấn đề đă rơ ràng, không phải Mỹ mà chính người Pháp đưa ông Diệm về
làm Thủ tướng thay Bửu Lộc. Từ nay, hy vọng những kẻ viết sử xuyên tạc, xin hăy
suy nghĩ lại.
Thật ra đây chỉ là một vấn đề hoàn toàn có tính cách chính trị, nhằm t́m ra lối
thoát chính trị có thể đương đầu với Cộng Sản, sau những thất bại của các đời
Thủ tướng Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm và cuối cùng Bửu Lộc.
Nhưng theo như cụ Quách Ṭng Đức, đổng lư văn pḥng TT Ngô Đ́nh Diệm nhận xét
rằng ông Diệm là mẫu người “l’âme damnée” linh hồn bị đầy đoạ bởi ông Nhu mà
cả người đời nữa. Ai cũng có lư do để thù ghét ông Diệm cả. Đó là một con người
cương trực, khí khái, chống cộng cố hữu (anti–communiste invétére). Theo cụ
Quách Ṭng Đức, ông có cái uy để người ta kính nể, một con người cuồng nhiệt,
kiên tŕ, không nhân nhượng, làm việc bất chấp giờ giấc với nhịp độ làm các
người thân cận mệt nhoài .. Một con người kinh lư không biết mệt, có tuần đi
suốt hai, ba ngày, bằng đủ phương tiện: máy bay, ghe , tầu, xe jeep, trực thăng
… Ăn uống thanh đạm, dùng ngay tại pḥng ngủ gồm có cơm vắt, muối mè, cá kho và
rau. Vấn đề tiền bạc riêng th́ giao cho Vơ Văn Hải. Quỹ đen của ông Diệm là 98
triệu/một năm. Vậy nếu khi chạy xuống nhà Mă Tuyên, ông có cầm theo một triệu
đồng th́ cũng là chuyện b́nh thường thôi, có ǵ đáng nói. Quỹ den của ông Thiệu
là 450 triệu/năm. Vấn đề thủ tiêu các nhân vật đối lập như Nguyễn Bảo Toàn, Tạ
Chí Diệp, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn vv..Cụ Quách Ṭng Đức cho hay rằng không hề
nghe nói đến và có thể do các cơ quan công an, cảnh sát hay t́nh báo làm bậy.
Ngay cả Hà Minh Trí, một cán bộ Cao Đài ám sát hụt ông Diệm ở Ban Mê Thuột, ông
cũng chỉ ra lệnh tống giam và đă được thả ra sau ngày 30–4.
Và để kết thúc, cụ Đức đă nói: “Trong những ngày chót của một cuộc đời đấu
tranh gian khổ, Tổng Thống Diệm là người cô đơn nhất trên thế gian này: Dân tộc
bỏ rơi, đồng minh phản bội, gia đ́nh chia cách, kẻ thù cộng sản reo ḥ chiến
thắng, sự nghiệp chính trị ra tro, uất hận ngất trời v́ tương lai mù mịt của đất
nước, một quốc gia bị sức mạnh chèn ép. (16).
Tôi nghĩ nhận xét của cụ Quách Ṭng Đức nói lên đủ rồi. Người ghét có cái
lư của họ, người quư mến ông cũng có cái lư của họ. Nhưng đừng v́ thế áp đặt lên
người khác cái yêu ghét của ḿnh.
Và nói như học giả Úc Denis Warner: “The last Confucian, người hiền triết Khổng
giáo cuối cùng”
Ngay khi ông Diệm được chỉ định làm Thủ tướng th́ người Pháp có cảm tưởng ông
Diệm ngả về phía Mỹ. Người Pháp mở chiến dịch tuyên truyền bôi nhọ ông Diệm.
DeJean gọi ông Diệm là nông cạn, cứng cỏi, xa rời thực tế và quá trong sạch
để có thể thành lập được một chính phủ hữu hiệu. Ély đứng về phe tướng Hinh
t́m mọi cách phá ông Diệm, gọi ông Diệm là người thiếu trách nhiệm và điên
loạn. Thủ tướng Faure của Pháp cho ông Diệm không có khả năng mà c̣n điên
khùng nữa. Collins, tướng Mỹ ảnh hưởng tướng Ely của Pháp gửi điện văn về Mỹ
đ̣i thay thế ông Diệm. Nước Mỹ cũng chia ra hai phe tranh căi nhau suốt 3 năm
trời: Phe ủng hộ và phe chống ông Diệm. Ủng hộ có Mike Mansfield, Landsdale,
Nolting, Harkins, Maxwell Taylor, Mc Namara và Mc Cone. Muốn lật đổ ông Diệm có
Kennedy, Averell Harriman, Mike Forrestal, Roger Hilsman và nhất là Cabot Lodge.
Bob Kennedy đă nhận xét: “Đặc biệt là Đại tướng Harkins cho rằng quân đội đă
bị ngược đăi và điều đó thật trầm trọng. Quân đội th́ có một lập trường khác với
ông đại sứ và mỗi bên đi đến chỗ cực đoan. Thiếu tinh thần đồng đội đă đưa đến
những kết quả tai hại” (17)
Đối với đại sứ Cabot Lodge th́ bằng giá nào cũng phải lật ông Diệm: “À Sài
G̣n, Lodge était bien đécídé à renverser Diem… Les journalistes américains
disaient en riant: Notre mandarin va battre leur mandarin (18)
Mà lư do chính yếu của sự thay thế ông Diệm, không hẳn nhất thiết là vụ Phật
giáo, không hẳn là những đ̣i hỏi trong tiến tŕnh dân chủ miền Nam. Đó là những
yếu tố cần, nhưng chưa đủ. Theo ông Arthur M. Schlesinger, Jr , cố vấn đặc biệt
toà bạch ốc đă đưa ra những nhận xét cốt tủy sau đây: “Anh em Ngô Đ́nh Diệm
là những người Quốc gia không c̣n ǵ để nghi ngờ được nữa. Sự can thiệp của Mỹ
vào VN không được ông Diệm chấp thuận. Trong tờ New Yorker, Robert Shaplen đă
từng có mặt ở Việt Nam từ 20 năm nay viết: “Ông Diệm cũng như ông Nhu không bao
ǵờ đ̣i hỏi hoặc cho phép việc gửi 550.000 quân lính Hoa Kỳ vào VN cũng như cho
phép các cuộc tấn công dội bom xuống miền Bắc. Ông Nhu đă từng nói: “Sớm hay
muộn, chính là chúng tôi, những người Việt Nam phải giải quyết những bất đồng
giữa chúng tôi” (19)
Tướng Tôn Thất Đính trong 20 năm binh nghiệp cũng t́m ra nguyên nhân sâu
xa của biến cố 1–11–63 là do những nguyên do chính trị. (20)
Đường lối chính sách Mỹ có thay đổi. Phải thay ngựa giữa ḍng. V́ thế, xin đặt
câu hỏi với tướng Kỳ và những vị có trách nhiệm lănh đạo miền Nam hiện nay c̣n
sống là do văn kiện nào, sự thương thảo ra sao, ai cho phép để quân Mỹ ồ ạt đổ
quân vào băi biển Đà Nẵng sau cái chết của hai ông Diệm Nhu? Phải chăng chính là
lúc quư vị phó hội ba ngày ở Honululu đă đưa đến sự có mặt đông đảo người Mỹ ở
Việt Nam?
 |
“Đường Tự Do” (1954-55)
Nguồn/Ảnh: Truyền Thông số 16 (2005)/National Geographic
6/1955/ẢnhGertrude Samuel, Pix, Inc.
|
Mới đây, có cuốn hồi kư của ông Nguyễn Văn Hanh, nguyên Thống Đốc ngân hàng Quốc
Gia Việt Nam đăng trên Talawas mà tôi cho là khá trung thực, một lần nữa đă có
nhận xét như sau về ông Diệm: “ Trong chuyện này, tôi có dịp chứng kiến sự
chính trực và liêm khiết của ông Diệm. Tôi luôn luôn kính trọng ông Diệm về sự
thanh liêm của ông. Tôi nghe tin chính phủ Việt Nam bị lật đổ và vài giờ sau
nghe Diệm và Nhu bị giết. Đột nhiên nước mắt tôi chảy dài xuống má. Tôi cảm thấy
buồn vô cùng v́ đối với tôi, Diệm là một nhà lănh tụ lớn. Cái chết của ông làm
tôi cảm thấy đau ḷng suốt nhiều năm và nhớ lại tới ông ta là tôi lại buồn hết
sức. Khi tôi nói chuyện với ông Pinay, ông cũng tiếc là các tướng lănh đă giết
chết Diệm, thay v́ để ông ta lưu vong”.
Chúng tôi cũng cảm nhận như ông Kỳ. Chúng tôi cũng đă sống, đă trải qua thời kỳ
ấy, thời đă làm nền cho tuổi trẻ vào đời. Đó là những ngày tháng khó quên của
tuổi trẻ, nơi đă nuôi dưỡng, đă đào tạo nên lớp tuổi trẻ thành những chuyên
viên, giáo sư, trí thức, sĩ quan các cấp, các kỹ sư, các nhà giáo dục, các phó
đốc sự hành chánh.
Ai quên, mặc kệ họ. Ai phủ nhận, ai oán trách. Đó là quyền của họ.
Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng nếu không có cái miền Nam thân yêu ấy, không có cái hoàn
cảnh chính trị thuận lợi ấy, số phận những người trẻ đó sẽ ra sao?
Phải lấy làm hănh diện mà nói lên rằng, cái miền Nam ấy đă làm nên phần đời của
lớp người trẻ ấy.
Vào một ngày không nhớ nữa, tôi đă đặt chân lên bến cảng Sài G̣n. Bàn chân của
một thiếu niên như từ một hành tinh nào đến. Bàn chân thô dại vụng về, nhưng lại
chẳng khác ǵ bàn chân của người khổng lồ, nặng chịch biểu tượng của gần 2 triệu
bàn chân như thế đă đặt lên mảnh đất miền Nam.
Đó là bước chân lịch sử mở đầu cho kỷ nguyên mới của 20 năm miền Nam Việt Nam
Cộng Hoà.
Đó cũng là những bàn chân mang dấu vết lịch sử của những người đi t́m Tự Do. Tất
cả đều bỏ mà đi lênh đênh trên những chiếc tàu LSM của Hải quân Pháp. 2073 người
tỵ nạn đầu tiên đă có cái may mắn đặt chân lên bến cảng Sài G̣n trên chiếc tầu
Skagit của Hải quân Mỹ vào tháng 9/1954.
Và cứ như thế cuộc di cư chấm dứt vào ngày 26/5/1955 khi những người Pháp cuối
cùng đă triệt thoát khỏi Hải Pḥng và đảo Cát Bà. (21)
Đó là cuộc di cư vĩ đại trong lịch sử Việt Nam mà trên chiếc tàu há mồm số 516
người ta c̣n đọc được câu: This is your passage for Freedom. (22)
 |
“Sang phía tự do”, thuỷ thủ tàu USS LST 516 chào
đón đồng bào di cư vào Sài G̣n (1954)
Nguồn/Ảnh: Truyền Thông số 16 (2005)/All Hands Magazine/Ảnh của U.S.
Navy
|
Phải, chính v́ hai chữ đó mà gần 1 triệu người đă bỏ nhà bỏ cửa mà đi. Những ai
tỏ ra khinh miệt sự ra đi của những người di cư ấy th́ cũng cùng một lẽ ấy, họ
khinh miệt gần 3 triệu người di tản hiện nay mà chắc chắn họ cũng là thành viên
của con số triệu người ấy? Họ tỏ ra đă mất trí và mất gốc rồi.
Hạt gạo miền Nam đă nuôi dưỡng đôi bàn chân của tôi mà đă có một thời ở miền Bắc
v́ thiếu ăn nên chân tôi đă bị phù thũng không đi được. Từ nay, đôi bàn chân phù
thũng ấy bước những bước đi thế hệ hướng về tương lai như hàng triệu thanh niên
trí thức, chuyên viên, công chức, sĩ quan các cấp của miền Nam Việt Nam.
Ân huệ của miền Nam nhận không hết.
Nhưng thử nh́n lại ở vào thời điểm 1954–1955, chúng ta ra khỏi cơn khủng hỏang
mất c̣n đă là một phép lạ. Chúng ta đang đứng bên bờ vực thẳm về chính trị, kinh
tế và sự khuynh đảo của bên trong lẫn bên ngoài. Lúc bấy giờ, chỉ cần ổn định
được t́nh thế th́ đă được coi như một vị cứu tinh. Stephan Pan trong Viet Nam
crisis nhận xét: “Ngo Đinh Diem assumed the prime ministership in 1954 when
his country was facing economic chaos, political instability, and external
subversion, not on a massive scale, but on a scale that kept incresing
intensity. He led South Viet Nam through its initial crises, changed it from a
monarchy to a republic, and built the first national loyalty its people ever
knew” (23)
Tiến sĩ Phạm Văn Lưu trong cuốn Đệ nhất Cộng Hoà Việt Nam 1954–1963 đă
nói đến Những thách thức nghiệt ngă khi về nước chấp chánh. Nhưng cho đến
1963 đă có được sự ổn định về chính trị an ninh trên toàn lănh thổ miền Nam.
Không thể nhắm mắt phủ nhận được điều ấy.
Về an ninh vào năm 1956, 90% cán bộ cộng sản ở hạ tầng bị tiêu diệt. (24)
Nhất là ở miền Trung, kể như toàn bộ cán bộ CS hạ tầng bị tiêu diệt. Mười Hương
và một số cán bộ Cộng sản miền Trung đă nói về giai đoạn này và đă thú nhận tính
hiệu quả về các công tác chính trị, mật vụ thời ông Cẩn. Người Miền Trung có thể
căm hận ông Cẩn, nhưng cán bộ Cộng Sản lại nể sợ ông ấy. Sự an ninh trong giai
đoạn ấy là có thật, điều mà trong suốt 9 năm chiến tranh Việt Pháp, người ta đă
không làm được. Người dân có thể đi từ Cà Mau đến Bến Hải mà không sợ bất cứ một
rủi ro nào. (25)
Chính những cán bộ Cộng Sản ở t́nh trạng bị cô lập, bị bao vây, bị xua đuổi ra
khỏi các thành thị, theo một nhận định của giáo sư Pierre Asselin, đại học
Chaminade, Honolulu. Lê Duẩn, lúc c̣n ở trong Nam, đă phải tuyệt vọng nói lên
tâm trạng những người kháng chiến trong Nam: “Nắm bắt được cảm giác thất vọng
của những người chiến đấu và những cuộc cách mạng ở miền Nam Việt Nam (Theo
đài BBC). Họ thất vọng v́ có cảm tưởng bị miền Bắc bỏ rơi và bị cô lập ở miền
Nam.
Đó là t́nh trạng tuyệt vọng của những cán bộ tập kết c̣n đóng trụ lại ở miền
Nam.
Về phạm vi giáo dục, miền nam có sự phát triển giáo dục về mọi mặt và rơ nét.
Phải nhận như thế và thôi bôi bác chửi bới. Và nay những kẻ đang gióng to giọng
điệu chửi bới, tôi muốn hỏi họ rằng, họ ở đâu mà ra, bằng cấp của họ do ai cấp
phát? Ai đă đào tạo để họ được đi du học? Để có như ngày hôm nay?
Mọi nói xấu miền Nam một cách ác ư đều được coi như một bội phản, một vong ân
bội nghĩa.
Năm 1954–1955, ta có 1600 trường tiểu học với 7000 lớp học. Sang 1961–1962 ta có
4172 trường tiểu học với 21.817 lớp học. Nhất là tiểu học tư thục, từ 473 trường
tăng lên 2063 trường. Về Trung Học công lập, cùng thời gian ấy, tăng từ 29 lên
101. Trường tư thục tăng từ 89 lên 305 trường.
Giáo sư Lư Chánh Trung, Tổng thư kư bộ giáo dục cho biết có khoảng 200 trường
trung học được xây cất cho các tỉnh lỵ và quận lỵ. Ngau các vùng xa xôi , hẻo
lánh và nghèo nàn như Gio Linh, Bồng Sơn, Cà Mau đều có trường học. (26)
Về Đại học, Đại học Sài G̣n được trao trả ngày 11–5–1955. Chỉ hai năm sau, chính
phủ cho thành lập Đại Học Huế ngày 12–11–1957. Và đến 1958, thành lập Viện đại
học Đàlạt. (27)
Về cuộc đảo chánh tháng 11– 1963
Kể từ 1960, ông Kỳ nh́n chế độ đệ nhất công hoà như nhiều người khác đă nh́n
nhận: Đó là chế độ độc tài và tham nhũng. Về những lư do cá nhân mà người ta thù
ghét ông Diệm có thể là những nhân vật như bà Nhu, ông Tổng Giám mục, ông Nhu,
ông Cẩn? Nhắc đến bà Nhu, không thể không nhắc đến những người đàn bà nổi tiếng
như một so sánh cần thiết như bà Trần Văn Chương, mẹ bà Nhu với rất nhiều giai
thoại thuộc loại chẳng nên nói. Những người đàn bà như bà Trưởng Giới Thạch cũng
là cái nguyên cớ’ làm sụp đổ mau chóng chính quyền Trung Hoa Quốc Gia? Giang
Thanh (Jiang Qing) cũng phản ánh sự suy tàn của chủ tịch Mao Trạch Đông?
Có thể người ta hận ghét chế độ cũng v́ những người đàn bà như bà Nhu?
Từ những hoàn cảnh riêng trong binh chủng không quân, ông Kỳ nhận thấy những cấp
chỉ huy như Nguyễn Xuân Vinh, Huỳnh Hữu Hiền chỉ là do thế chính quyền, thế đảng
Cần Lao mà được trọng dụng. Ông Kỳ đă không ngần ngại tố cáo chống đối việc đem
chính trị vào trong quân đội. Ông viết: “I pointed out that few of these
officers had proven combat capability: They were merely active party members.
“That is wrong”. I Said “Doing this will destroy the leadership and then our
combat capability”.
The room went utterly silent.
Sau những lời tố cáo đó, ông nói sẵn sàng đi Pleiku hay bất cứ đâu. Ông cũng
gián tiếp ủng hộ việc ném bom dinh Độc Lập của hai phi công Nguyễn Văn Cứ và
Phạm Phú Quốc. Cứ may mắn đào thoát được sau khi bỏ bom. Phạm Phú Quốc th́ phi
cơ bị trúng đạn và sau đó bị ông Nhu bắt giam. Sau 1963, Phạm Phú Quốc lại không
may mắn một lần nữa, ông đă chết trong một phi vụ ra Bắc. Theo ông Kỳ th́ chính
ông đă yêu cầu Phạm Duy sáng tác bài Anh Quốc ơi, từng nổi tiếng một thời.
Biến cố đài phát thanh Huế
Bức công điện 9159 cấm treo cờ — Trong cuốn hồi kư Ḍng Họ Ngô Đ́nh
của Nguyễn Văn Minh, nguyên bí thư của ông Ngô Đ́nh Cẩn từ 1956–1963, trang
164–65 có ghi rằng Dương Văn Hiếu, trưởng đoàn công tác đặc biệt miền Trung,
có vào găp TT Diệm và ông Diệm có nói như sau với Dương Văn Hiếu: “Sau đó tôi
mới bảo Quách Ṭng Đức gởi công văn nhắc các tỉnh, chứ tôi có cấm chi mô. Không
hiểu tại răng hắn để tới ngày chót mới gởi công điện. Khi xảy chuyện, tôi kêu vô
hỏi, hắn xin thôi. Công chuyện đổ bể như ri rồi, xin thôi th́ ích chi?
Ư kiến thứ hai của TT Tôn Thất Đính có ư khiển trách ông Quách Ṭng Đức, đổng lư
văn pḥng phủ Tổng Thống: Ông đổng lư có thể hơan lại sau lễ Phật đản rồi mới
gởi bản văn đi cho các trường hợp sẽ được áp dụng trong tương lai sau khi đă hội
kiến với các cấp trong phủ Tổng Thống như bộ trưởng phủ tổng thống, ông cố vấn
Ngô đ́nh Nhu. Ở trường hợp này, vừa nặng về tôn giáo, vừa nặng về chính trị, thế
mà Quách Ṭng Đức không hề hỏi ư kiến bất cứ một ai, không đủ thông minh để nghĩ
đến các hậu quả, th́ đó là một lối làm việc tắc trách, chứ không phảI là một lề
lối khẩn trương để phục vụ cho một qiuyết định tự phát của một nhà lănh đạo quốc
gia. Cho nên lỗi lầm thứ nhất là lỗi lầm của Quách Ṭng Đức– nhân vật cao cấp
của văn pḥng Tổng Thống lúc bấy giờ – mà về bản chất thật ra không có quyền gởi
một công điện như vậy, và vượt quá quyền hành của một đổng lư văn pḥng … (28)
Khi được hỏi ư kiến về những đoạn trích dẫn vừa kể, ông Quách Ṭng Đức tỏ ra
ngạc nhiên v́ không bao giờ nhận được lệnh của ông Diệm thảo và gửi cho các tỉnh
trưởng công điện số 9159 do ông Minh nêu ra. Sau đó, TT Diệm có đ̣i ông Đức vào
để cho coi bức công điện và hỏi ai đă gửi đi bức công điện ấy? Ông Đức trả lời
không biết. Vậy th́ bức công điện do đâu mà có? Hiện nay th́ chưa có câu trả
lời.
Về bức điện văn này, Karnow có nhận xét là nó phải đến đúng lúc, sớm quá cũng vô
hiệu, mà sau một ngày th́ vô tích sự. Nó phải đúng thời điểm. Đó là nỗi oan
nghiệt của bức công điện đúng thời đúng lúc, có sắp xếp, dàn dựng.
Ông Kỳ nhận xét như nhiều người cho rằng chuyện thảm sát trước đài phát thanh
Huế là do Thiếu tá Đặng Sỹ trách nhiệm gây ra. Về vấn đề này, tôi đă có bài
viết: Lịch sử c̣n đó. Thiết nghĩ như thế tạm đủ, xin khỏi cần nhắc lại ở
đây. Ông cũng đưa ra một kết luận như sau: “Unable to grasp that the
so–called Buddhist crisis had little to do with religious issues but was
instead a struggle for political power orchastrated by a handful of ambitious
monks, Kennedy decided that Diem had to go“ (29)
Chỉ xin ghi lại ở đây ư kiến của Thiếu tướng Tôn Thất Đính để thấy rằng, biến cố
đài phát thanh Huế vẫn chưa có câu trả lời và sẽ không có câu trả lời.
“Đứng về phương diện khách quan lịch sử, cũng như về kỹ thuật quân sự trên cả
hai b́nh diện tác chiến và pḥng vệ, th́ đến nay chưa ai t́m ra manh mối của vụ
nổ kinh hoàng, tàn bạo và lạ lùng tại đài phát thanh Huế đêm rằm tháng tư âm
lịch”“. (30)
Tác giả cũng xác nhận đă hội kiến với các Thượng Toạ Trí Quang, Thiện Minh,
Mật Hiển ,Mật Nguyện, Thiện Siêu, đă đọc các hồi kư v.v… mà cũng không ai
xác định được một cách cụ thể, có đủ dữ kiện khoa học, có đủ căn bản thông tin
và bằng chứng, để có thể nói rơ “Ai là tác giả vụ nổ đài phát thanh Huế?”
Ngay cả Đặng Sỹ ở trong vụ nổ, nghĩa là người trong cuộc mà không phải là tác
giả cũng không biết nguyên do từ đâu?
Và trích dẫn lời Thượng Toạ Tâm Châu như sau: “Người Phật tử phải mở rộng tâm
hồn, nh́n vào sự thật, không cục hạn bởi không gian, thời gian, để đem lại sự
trong sáng cho ḿnh và cho người (Thích Tâm Châu 11/12/1963 )
Vụ tự thiêu của Hoà Thượng Thích Quảng Đức
Xin mượn nhận xét của Stanley Karnow như sau: “Tandis que Diem temporisait,
les Bouddhistes firent éclater une bombe.” Vâng đúng là trái bom làm xập chế
độ Đệ nhất cộng hoà của ông Diệm. Cái chết đó tự nó có ư nghĩa siêu việt trên
tất cả mọi toan tính chính trị và trong sáng, bi hùng không có ǵ để bàn căi nữa
như một phản đối tối thượng. Malcolm là một trong bốn người ngoại quốc duy nhất
có cái may mắn được báo trước và v́ thế, ông đă chụp được những bức h́nh có giá
trị lịch sử và đă được truyền đi khắp thế giới, gây chấn động toàn cầu.
 |
Ảnh: wikipedia.org
|
Có lẽ trong cao trào vận động Phật giáo c̣n có nhiều điều để tồn nghi, nhưng chỉ
có cái chết này là một phản đối tối thượng, trong sáng và nhân bản, vừa dũng
cảm, vừa ôn nhu, vượt thế nhân thường t́nh. Một cái chết đẹp và bi hùng tráng để
lại cho đời một bài học, một tấm gương sáng.
David Halberstam, phóng viên tờ New York Times ghi lại như sau: “Đằng sau tôi
là những tiếng sụt sùi của những người Việt Nam đă tụ tập ở đó. Tôi xúc động đến
không kêu lên được, lúng túng không biết đường ghi chép hay đặt câu hỏi, đầu óc
quá luẫn quẫN không nghĩ được ǵ nữa . Trong khi bị lửa đốt, không thấy bắp thịt
Hoà Thượng co giật, không thấy Ngài thốt ra một tiếng kêu, dáng bên ngoài vẫn
thẳng, khác hẳn với đám dân chúng đang chờ đợi chung quanh ngài” (31)
Và cái message để lại cho đời là: “Cầu hồng ân Phật tổ gia hộ cho Tổng thống
Ngô Đ́nh Diệm sáng suốt. Cầu cho Phật giáo Việt Nam được trường tồn. Cầu Đức
Phật gia hộ cho Đại Đức, Tăng ni tránh khỏi kiếp nạn. Cầu cho đất nước thanh
b́nh …”.
Người hy sinh là TT Quảng Đức, nhưng người sắp xếp, dàn dựng quy mô là đại đức
Thích Đức Nghiệp theo lệnh của TT Thích Tâm Châu và Thiện Hoa Và nhân chứng là
bốn nhà báo ngoại quốc.
Đại Đức Thích Đức Nghiệp sắp xếp thầy Chơn Ngữ đổ xăng từ đầu tới chân Hoà
Thượng Quảng Đức tại Ngă tư Phan Đ́nh Phùng, Lê Văn Duyệt. Thầy Hồng Huệ lo trật
tự. Thầy Đức Nghiệp ra lệnh cho 20 Tăng ni nằm 4 ngả đường chặn xe cứu hỏa và xe
Cảnh sát.
Nửa giờ xong. Thi hài của Hoà Thượng được rước về chùa Xá Lợi.
Cả thế giới kinh hoàng.
Chỉ có bốn nhà báo Quốc tế được thông báo về tin này từ đêm hôm trước. Đó là
Simon Michaud, đại diện hăng thông tấn AFP của Pháp, Malcome Browne, đại diện AP
của Mỹ, David Halberstam, phóng viên tờ New York Times và Neil Sheehan, đại diện
UPI và đặc biệt xe của đại tướng Harkins Mỹ cũng đến chứng kiến tận mắt cuộc tự
thiêu này. Có nhận xét là không có bất cứ phóng viên Việt Nam nào được thông báo
để có mặt. Chỉ cần sự có mặt của người ngoại quốc thôi. Trong xe, không nói rơ
có đại tướng Harkins có mặt hay không?
Phần trích dẫn ngắn ngủi này trích ra từ Hồi kư đặc biệt Vụ Tự Thiêu của Hoà
Thượng Thích Quảng Đức, do Hoà thượng Thích Đức Nghiệp, trên trang Khuông
Việt.com.
Chế độ ấy không có lư do ǵ để tồn tại lâu hơn nữa. Đó là ngày 11 tháng sáu
1963.
Ngày 22 tháng tám, máy bay chở Cabot Lodge hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn
Nhứt. Ông ta đến đây để châm ng̣i cho một cuộc đảo chánh. Bảy ngày sau, ngày 29
tháng 8, Cabot Lodge mất kiên nhẫn, điện cho Washington đ̣i phải có những biện
pháp rơ ràng và cụ thể: “Nous sommes embarqués sur une voie sans retour en
arŕere possible, parce que les États–Unis ont déjà publiquement engagé leur
prestige dans cette voie … et plus fondamentalemnt, parce qu’il n’existe selon
moi aucune possibilité de gagner la guerre avec le régime de Diem” (32)
Cabot Lodge đă đẩy Washington vào chân tường, bởi v́ không thể thắng cuộc chiến
này với chế độ ông Diệm. Đó là con đường không có lối quay trở về được nữa. Un
coup d’état imminent, một cuộc đảo chánh không thể không xảy ra.
Chỉ có một người duy nhất lúc bấy giờ là đại tướng Harkins cho rằng không một ai
khác có đủ cái cá tính mạnh như ông Diệm để đương đầu với Cộng Sản. Ngày 22
tháng 10 tại một buổi tiếp tân tại Toà đại sứ Anh, Harkins đă gọi riêng tướng
Đôn ra một nơi và cảnh cáo ông này về âm mưu lật đổ ông Diệm. Tướng Đôn lo sốt
vó, v́ âm mưu bị bại lộ. Ngày hôm sau gặp trùm mật vụ Conein. Ông này trấn an
Đôn là không có một Fuite nào về âm mưu đảo chính. Nhờ sự trấn an đó mà tướng
Đôn tiếp tục tiến hành cuộc đảo chánh.
Trong những t́nh huống càng bi kịch như thế như hoàn cảnh ở Việt Nam th́ bi kịch
đă hẳn về phía chúng ta lănh chịu, nhưng bi kịch đó lại trở thành bước nhảy, một
giấc mơ cho những nhà báo trẻ có cơ hội tiến thân như David Halberstam của tờ
New York Times, Neil Sheehan của thông tấn United Press Intertional và Malcom
Browne của Associated Press. Trong khi đó, những nhà báo thuộc đường lối chính
thức như b́nh luận gia Alsop đă cực lực lên án những đồng nghiệp trẻ này mở
những chiến dịch bôi bác chế độ ông Diệm và nhắc nhở họ rằng có những phóng viên
đă từng phê phán chế độ Chiang Kai–shek (Tưởng Giới Thạch) và họ là những nhà
báo trách nhiệm về sự sụp đổ của nước Trung Hoa vào tay Cộng Sản Tàu.
Vai tṛ báo chí quả thực không phải là nhỏ.
Bởi v́, chẳng bao lâu sau, trong biến động miền Trung, luận điệu của các nhà báo
đă đổi chiều. Những vụ tự thiêu không c̣n mang ư nghĩa cao đẹp như của Hoà
Thượng Thích Quảng Đức nữa.
Và đây là bằng chứng có những thay đổi của những nhà báo ngoại quốc trong nhữung
nhận định của họ:
Stanley Karnow cùng với các phóng viên ngoại quốc đă được chứng kiến một vụ tự
thiêu ngày 29 tháng 5, 1966 tại chùa Diệu Đế của ni cô Thanh Quang. Nhưng cái
nh́n của các nhà báo này không c̣n như trước nữa. Stanley Karnow viết như sau:”Losque
j’arrivai, le corps embrasé de la nonne était encore droit, les mains jointes
dans un geste de pŕère, et le rite religieux se transforma rapidement en
manisfestation polique …
Nghi lễ tôn giáo mau chóng biến thành những biểu lộ chính trị.
Chỉ sau khi vụ tự thiêu đă hoàn tất, nhà báo viết tiếp: “Bientôt, Tri
Quang apparut et distribua aux correspondants étrangers présents des copies
d’une lettre que la religieuse avait adreesée au président Johnson et et dans
laquelle elle condamnait le soutien “irresponsable” de l’Amérique au régime da
Sài G̣n. Trí Quang fit porter sur Johnson la responsabilité de la mort de la
nonne et accusa le chef d’État américain d’avoir: “dirigé la répression du
peuple Vietnamien“ …
Sau đó Tổng Thống Johnson đă tuyên bố cho rằng đây là những cái chết bi thảm và
vô ích (tragiques et inutiles) và kêu gọi dân chúng miền Nam ủng hộ chính quyền
Sài G̣n, điều đó cho thấy nay chính quyền Mỹ bỏ rơi những phong trào tranh đấu
Phật giáo và ủng hộ tướng Kỳ. (33)
Tôi rất bất nhẫn khi đọc đoạn văn này của Karnow. Nó trái ngược hoàn toàn với
đoạn văn của Halberstam viết về HT Thích Quảng Đức ở trên. Nó thản nhiên, lạnh
tanh, vô cảm xúc như coi một vở kịch, và nghĩ rằng phải chăng có những sự hy
sinh mạng sống một cách quá đắt. So sánh vụ tư thiêu của Hoà Thượng Quảng Đức và
các vụ tự thiêu sau đó: cái chết vẫn là một. Sự hy sinh tuần tiết của các vị đó
vẫn là vô giá. Tinh thần và lư tưởng của các vị đó vẫn là sáng ngời. Nhưng ư
nghĩa th́ đă không c̣n như trước nữa. Nên nhớ rằng, Thượng Toạ Trí Quang đă
không có mặt khi ni sư tự thiêu và chỉ khi cuộc tự thiêu đă hoàn tất, Thượng Toạ
mới xuất hiện để phân phát những bảng tuyên bố chống đối Sài G̣n đă được viết
sẵn bằng tiếng Anh gửi cho người Mỹ. Và rằng những nghi thức tôn giáo bỗng chốc
biến thành những Manifestation chính trị như nhận xét của nhà báo.
Tôi đặt nghi vấn về thái độ và cách hành xử của Thượng Toạ Trí Quang trong vụ tự
thiêu này nếu đúng như lời tường thuật của Karnow. Đến vô cảm, thiếu nhân tính,
thiếu t́nh người. Thiếu tất cả. Không hiểu được.
Chỉ một chữ Bientôt này thôi là chữ đắt giá nhất trong bài tường thuật của nhà
báo Karnow.
Bên cạnh Ni cô Thích Nữ Thanh Quang c̣n có các cô Hồ Thị Châu, Nữ sinh Nguyễn
Thị Vân, Ni cô Thích nữ Bảo Vân …Tất cả khoảng 10 người đều đă tự thiêu trong
thời gian này. Hơn hẳn thời kỳ tranh đấu Phật giáo thời ông Diệm.
Sau khi trừ khử xong ông Diệm Nhu, Đại sứ Cabot Lodge mời các tướng lănh đến văn
pḥng ông để khen ngợi chiến thắng của họ, cũng là chiến thắng cá nhân của ông,
vui mừng và không có ǵ để hối tiếc.
Sau đó, ông đă đánh điện về văn pḥng Tổng Thống Kennedy như sau: “Nous avons
maintenant la perspective d’une guerre plus courte.” (34)
Nay th́ chúng ta có một cơ may về một cuộc chiến tranh ngắn hạn hơn.
Vậy mà vào ngày 30/6/1964, ông dám tuyên bố trên New York Times 8 tháng sau biến
cố 1/11/63: “le renversement..du régime de Diem fut une affaire purement
Vietnamienne. Nous n’avons aucunement participé à sa préparation, nous n’avons
donné aucun conseil, nous n’avons rien eu à voir dans cette affaire”. Nhưng
trong một công điện phúc tŕnh gửi về Mỹ, ngày 6/11/63, người ta c̣n đọc được
như sau: “Il est égalemnt certain que c’est nous qui avons préparé le terrain
dans lequel la graine a germé pour donner une plante robuste et que le coup
d’Éat n’aurait pu se dérouler comme il fit sans notre préparation” ( 35)
Chúng tôi chẳng có chút liên quan ǵ đến chuyện lật đổ này, đó chỉ là một vấn đề
hoàn toàn của người Việt Nam. Nhưng phúc tŕnh gửi về Hoa Thịnh Đốn th́ lại nói
rằng, không có sự chuẩn bị của chúng tôi th́ cuộc đảo chính chẳng có thễ diễn ra
tốt đẹp như thế.
Điều đó cũng biểu lộ con người Cabot Lodge cũng như sau này từ chối không lật đổ
ông Kỳ theo lời yêu cầu của Thượng Toạ Trí Quang.
Copyright © 2006 DCVOnline
(C̣n tiếp)
Chú Thích:
(11) Trích Viet Nam, Stanley Karnow, trang 122–123
(12) Đăng trong báo Đi Tới số 75–76, tháng 11–12/2003
(13) Về câu hỏi ai đă làm áp lực Bảo Đại đưa ông Diệm về làm Thủ ttướng ?
Sử gia Hà Nội đă cố t́nh bôi vẽ bịa đặt. Sau này ở hải ngoại, có một số người
viết sử nhại lại những điều viết bịa đặt của sử gia Hà Nội đă cố t́nh viết bôi
bác, xuyên tạc về sự việc này như: Do âm mưu của Catô La mă, thời Giáo Hoàng Piô
12, toa rập với Hồng Y Spellman của Mỳ cùng với chính quyền Mỹ của TT
Eishenhower, ngoại trưởng Foster Dulles đă gây sức ép trên Bảo Đại để đưa ông
Diệm về làm Thủ tướng nhằm thực hiện ư đồ Catô hoá toàn thể miền Nam. Đây là
những luận điệu quen thuộc tuyên truyền bôi bẩn của Hà Nội.
Phải nh́n nhận rằng ngay từ 1945, trong hồi kư của vua Bảo Đại Le Dragon d’Annam
đă có quyết định chọn ông Diệm làm thủ tướng rồi, Bảo Đại viết:” Trois semaines
s’écoulent sans que Ngo Dinh Diem donne signe de vie. A mes đemandes de plus en
plus pressantes, l’ambassadeur Yokohama répond qu ‘il ne parvient pas à joindre
le président pressent ( Xem Le Dragon d ‘Annam, trang 106)…Vua Bảo Đại muốn mời
ông Ngô Đ́nh Diệm ra làm Thủ Tướng. Nhưng v́ lư do nào đó, người Nhật đă không
chuyển thư của vua Bảo Đại đến tay ông Diệm. Sau cùng không thể chờ đợi lâu hơn
nữa, cho nên vua Bảo Đại đă bắt buộc mời ông Trần Trọng Kim lúc bấy giờ đang có
mặt ở Huế ra làm Thủ tướng.
Cũng trong cuốn: “Nói chuyện với Hoàng Xuân Hăn và Tạ Trọng Hiệp của Thụy
Khuê, nxb Văn Nghệ, 2002. Lúc đó GS Hoàng Xuân Hăn cũng được vua Bảo Đại mời vào
Huế để tham khảo ư kiến, ông Hăn đă kể lại là khi được hỏi ư kiến th́ tất cả mọi
người đều đồng ư mời ông Ngô Đ́nh Diệm đứng ra thành lập chính phủ. “Cái vai
tṛ th́ lúc mà làm chính phủ, chúng tôi cũng bàn với nhau nhiều lắm, bởi v́ tôi
nói thực, cụ Kim lúc mà nhận lời rồi . Đầu hết, cụ không nhận đâu. Ai cũng
khuyên Bảo Đại là mời Ngô Đ́nh Diệm vào. Ngô Đ́nh Diệm được Nhật che chở từ
trước, mà cũng nhiều người ở Huế họ theo … Đối với tôi, đối với Hăn này, cụ vào
nói với ông Bảo Đại thế, cứ đưa Ngô Đ́nh Diệm về rồi th́ ông Ngô Đ́nh Diệm lấy
người của ông ta để làm việc” (Trích lại của Trần Đông Phong trong bài viết:
Trần Trọng Kim hay Ngô Đ́nh Diệm?)
Như thế đă rơ, việc mời ông Ngô Đ́nh Diệm làm Thủ tướng sau này cũng không phải
do sức ép, hay thế lực của Vatican hay Hồng Y Spellman làm áp lực theo sự bịa
đặt của sử gia Hà Nội.
Và đây là đoạn văn khá quan trọng mà vua Bảo Đại một lần nữa viết về việc chỉ
định ông Ngô Đ́nh Diệm làm Thủ Tướng thay thế ông Bửu Lộc. J’evoque devant
eux la nécessité de donner au Viet Nam une orientation plus marquée et leur
suggère de remplacer le prince Buu Loc à la tête du gouvernement par Ngo Dinh
Diem
Và tất cả:Tous approuvent avec enthousiasme ma propositiọn. Après m’être
entretenu avec Foster Dulles, pour lui faire part de mon projet, j’appelle Ngo
Dinh Diem et lui dis: Chaque fois que j’ai du changer le gouvernement, j’ai fait
appel à vous. Vous vous êtes toujours recusé. Aujourd’hui la situatuon est très
grave, le pays risque d’être coupé en deux. Vous devez prendre la tête du
gouvernement (Trích le dragon d’Annam, trang 328 )
Như vậy chính thức Bảo Đại tự xác nhận ḿnh bổ nhiệm Diệm làm thủ tướng. Và ngày
16/6/1954, ông Diệm chính thức được bổ nhiệm làm Thủ tướng tại Cannes
(14) Trích trong Gọng ḱm Lịch sử của Bùi Diễm, trang 146 nxb Phạm
Quang Khai, 200
(15) Trích Viet Nam của Stanley Karnow, trang 120
(16) Trích: 9 năm bên cạnh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm: mạn đàm với cựu đổng
lư Quách Ṭng Đức , Lâm Lễ Trinh .
(17) Trích Robert Kennedy trong Témoignages pour l’histoire, trang 324:”
C’était le cas de Harkins, en particulier, et le fait que l’armée eut été
maltraitée par Lodge a pesé très lourd. Les militaires aoptaient une position et
l’ambassadeur une autre, chacune tendant à l’extrémisme . L’absence d’esprit
d’équipe a produit des résultats désastreux”
(18) Xem Arthur M. Schlesinger, Jr trong Robert Kennedy et son temps,
trang 353, nxb Olivier Obrian
(19)Sách đă dẫn như trên, trang 354
(20) Xem trích dẫn trang 450 của Tôn Thất Đính trong 20 năm binh nghiệp
(21) Trích dẫn trong Việt Nam niên biểu 1939–1975. Tập 1–C: 1955–1963
(22) Truyền Thông, số 16, hè 2005, chủ đề 50–30
(23) Trích trong Vietnam crisis của Stephan Pan, Daniel Lyons 1966, trang
89 .
(24) Trích Vietnam của Stanley Karnow, nxb Presses de la cité, Paris,
trang 131, 1988
(25)Trích Vietnam, Stanley Karnow, trang 131, nxb Presses de la cité,
Paris 1988
(26) Trích T́m về dân tộc của Lư Chánh Trung, trang 101, nxb Tŕnh Bày
(27) Trích nguồn Đệ nhất Cộng Hoà Việt Nam 1954–1963, trang 155–162 của
Phạm Văn Lưu và Nguyễn Ngọc Tấn.
(28) Trích 20 năm binh nghiệp của TT Tôn Thất Đính, trang 308 …
(29) Trích trong Buddha’s child, Nguyễn Cao Kỳ, trang 91
(30) Trích dẫn 20 năm binh nghiệp của TT.Tôn Thất Đính, trang 320
, Tuần báo Chánh Đạo xuất bản
(31) Trích dẫn bởi Jolie Hicks
(32)Trích Vietnam, Stanley Karnow, trang 168
(33)Trích Vietnam, Stanley Karnow, trang 270
Trích Vietnam, Stanley Karnow, trang 184.
(35) Trích Vietnam, Stanley Karnow, trang 172
Trích DCVonline