|
Các vị
cha già là danh xưng vừa đầy ḷng kính
trọng vừa dạt dào t́nh cảm thương mến,
biết ơn của đồng bào di cư Công Giáo tị
nạn Cộng Sản 1954 dành cho các vị linh
mục có công dẫn dắt họ đi mở xứ. Mặc dù
là thế, nhưng trong bài này, chúng tôi
xin gác sang một bên khía cạnh tôn giáo,
chỉ thuần đứng trên phương diện đời,
phương diện dân sự để đánh giá công lao
của các vị cha già trong công cuộc di cư
1954 mà chúng tôi coi như là một cuộc di
dân vĩ đại, đưa dân đi từ Bắc vô Nam để
khai khai khẩn đất đai, tạo dựng đời
sống ấm no, an cư lạc nghiệp cho hàng
trăm ngàn đồng bào vào thời ḱ đặc biệt
của đất nước sau Hiệp định Genève chia
đôi lănh thổ năm 1954.
Chúng tôi
viết bài này v́ gia đ́nh chúng tôi cũng
ở trong đoàn lưu dân ấy. Lúc đó tuy tuổi
c̣n nhỏ, song chúng tôi vẫn c̣n nhớ t́nh
cảnh đồng bào di cư đă phải trải qua tại
các trại định cư lúc ban đầu đầy khó
khăn. Chúng tôi đă nh́n thấy vai tṛ
lănh đạo của các vị linh mục cần thiết
như thế nào trong việc ổn định cuộc sống
mới cho đồng bào. Sau này lớn lên đi ra
ngoài xă hội, mỗi khi có dịp trở về một
trại định cư năm xưa, chúng tôi đều kinh
ngạc về khả năng thay h́nh lột xác mau
chóng và tốt đẹp trong đời sống mọi
người. Công cuộc định cư đă thành công
tốt đẹp, chẳng những là ơn ích cho chính
những lưu dân mà c̣n là phúc lợi xét về
nhiều mặt cho đất nước nữa.
Nhiều
sách báo đă nói về cuộc di cư vĩ đại năm
1954, nhưng chưa có tác giả nào đề cập
tới công lao của hàng trăm vị linh mục
đă góp sức đáng kể vào sự thành công tốt
đẹp cho công cuộc này. Hôm nay nhân là
thời điểm kỉ niệm việc thành lập các
trại định cư được đúng một nửa thế kỉ,
chúng tôi cảm thấy cần phải nói lên t́nh
cảm biết ơn đối với các vị cha già bằng
cách tuyên dương công lao của các vị.
Các vị linh mục năm xưa ấy hầu hết đă ra
người thiên cổ, chỉ một số rất ít c̣n
sót lại nay đă lên bậc đại thọ. Tuy là
chậm trễ song vẫn hơn là không bao giờ.

Cuộc di cư tị nạn Cộng Sản năm 1954 đă
đưa vào Miền Nam gần một triệu đồng bào
miền Bắc. Trong số này, có khoảng 200
ngàn quân nhân, công chức và dân các
thành thị, đă cung cấp cho Miền Nam (VNCH) nhiều người có tài năng, học thức, đóng
góp xuất sắc trên các lănh vực: chính
trị, hành chánh, an ninh, quân sự, văn
hóa, giáo dục, văn học, nghệ thuật, kinh
tế, thương mại, khoa học kĩ thuật, v.
v.. Nhưng thành phần ưu tú này không
phải là đối tượng của bài này. Ở đây
chúng tôi chỉ nói tới khối đa số đồng
bào di cư thuộc thành phần thợ thuyền và
nông dân Công giáo. Họ là những người
b́nh dân, là nông dân chưa bao giờ ra
khỏi lũy tre làng, nay v́ nạn Cộng Sản
mà phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn,
trốn chạy vào Miền Nam xa xôi, tương lai
không biết sẽ ra sao. Họ mới là thành
phần cần có người lănh đạo, hướng dẫn
trong cuộc sống mới. Người hướng dẫn,
lănh đạo họ chính là các vị linh mục
được sai tới.
Trong t́nh h́nh rối loan lúc đó, mỗi
người, mỗi gia đ́nh trốn thoát Cộng Sản
một cách khác nhau. Chỉ có rất ít trường
hợp vị linh mục ra đi cùng giáo dân, đa
số là những cuộc vượt thoát cá nhân,
không có tổ chức. Gia đ́nh chúng tôi
trốn khỏi làng bằng 3 đợt khác nhau.
Cuối cùng chúng tôi được gặp lại nhau
tại trường trung học Dũng Lạc cạnh nhà
thờ lớn Hà Nội, trước khi được tổ chức
đi máy bay Dakota vào Sài G̣n. Không
biết vị linh mục chính xứ của chúng tôi
ra đi cách nào, chỉ biết chắc là ông đă
phải bí mật vượt thoát, bởi khi Cộng Sản
về làng, chúng tôi c̣n thấy ông mặc bộ
quần áo màu nâu, hằng ngày cuốc đất
ngoài vườn, mặt lúc nào cũng đăm chiêu
lo lắng. Cảnh ông linh mục cuốc đất
chúng tôi chưa từng thấy xẩy ra trước đó.
Lúc ban đầu, hàng trăm linh mục di cư
thuộc 10 giáo phận miền Bắc và Bắc Trung
phần sống tập trung với nhau tại những
địa điểm riêng của từng giáo phận di cư.
Đến khi các trại đinh cư được thành lập,
các linh mục lần lượt được giáo quyền
gửi đi theo với giáo dân. Đồng bào Công
giáo chiếm tới 80% tổng số dân di cư và
đa số họ là những nông dân, một số ít là
ngư phủ, cho nên hầu hết các trại định
cư cũng trờ thành các xứ đạo, họ có
khuynh hướng chọn làm nghề cũ và ở rất
nhiều nơi, những người đồng hương lại
t́m về với nhau. Do đó mà có các địa
danh như Hà Nội, Hà Đông, Hải Dương, Tân
Hà, Bắc Hà, Lạng Sơn, Bùi Chu, Tân Bùi,
Bùi Môn, Phát Diệm, Tân Phát, Bùi Phát,
Thanh Hóa, Tân Thanh, Tân Sa Châu, Kẻ
Sặt, Xă Đoài, Phúc Nhạc, Ninh Phát, Kim
Thượng, Bạch Lâm, Ngọc Đồng, v.v.

Theo luật lệ thuở trước, các linh mục
Công giáo được huấn luyện kĩ lưỡng qua 7
năm Trung học
(Tiểu chủng viện), rồi ít
nhất là 2 năm Triết học, 1 năm đi thử và
4 năm Thần học, trước khi có thể trở
thành linh mục. Do đó, vừa v́ niềm tin
tôn giáo của giáo dân vào thiên chức
linh mục, vừa v́ các linh mục, nói chung,
có kiến thức cao hơn giáo dân cho nên
giáo dân rất kính trọng các linh mục.
Gặp thời buổi quốc biến, trong lúc nông
dân Công giáo di cư tị nạn Cộng Sản đang
lâm cảnh biệt xứ, hoang mang, lạc lơng
th́ các linh mục được sai tới với họ tự
khắc trở thành người lănh đạo họ cả về
tinh thần lẫn vật chất.
Về tinh thần, hàng ngày, sớm tối, các
linh mục cùng với bổn đạo tụ họp để kinh
sách, lễ hạt, giảng giải, đem đến nguồn
an ủi vô biên, niềm tin kính tuyệt đối
vào t́nh thương của Chúa Nhân Lành, giúp
cho tín hữu cảm nhận đầy đủ nghị lực hầu
có thể vượt qua mọi đau thương thử thách.
Chúng tôi đă từng tham dự thánh lễ ở
ngoài trời tại một vài trại định cư, v́
cảnh chân ướt chân ráo trại chưa kịp
dựng lên một nơi thờ phượng, dù là bằng
cây lá thô sơ. Chính trong cảnh thiếu
thốn vật chất ấy, dường như lại thấy
giầu có hơn, sung măn hơn về tin tưởng,
sốt mến.
Lúc ban đầu này, vị linh mục không phải
chỉ chăm lo phần tinh thần cho đồng bào
mà c̣n đóng vai tṛ lănh đạo phần đời lo
đời sống vật chất cho đồng bào ở trại
định cư nữa, bởi v́ ông là người hiểu
biết luật lệ thủ tục hơn, có uy tín hơn.
Ở trại định cư nào chúng tôi cũng thấy
chính vị linh mục, cùng với vài ba giáo
dân thân tín, tương đối có tŕnh độ và
ḷng chung hơn, đă đôn đáo, đi đi về về,
lo tiếp nhận và phân phát những đồ viện
trợ như quần áo, thực phẩm, máy may,
nông cụ, v.v.. Có một số trại định cư v́
một lí do nào đó xét thấy không thích
hợp cho cuộc sống mới của đồng bào, vị
linh mục đă ‘nhổ’ toàn trại ra đi t́m
một nơi sinh sống thuận tiện hơn. Công
việc này thật sự khó khăn, nhưng các vị
linh mục ấy đă làm được, chẳng hạn như
linh mục Phạm Bá Nha đă đưa đồng bào từ
Đốc Vàng, Châu Đốc về tái định cư tại An
Hiệp, Bến Tre; linh mục Nguyễn Duyên Mậu
đưa đồng bào từ Hố Đồn, Tây Ninh về tái
định cư tại Ninh Phát, Long Khánh, v.
v.. Tại một số trại, Phủ Tổng Ủy Di Cư
đă làm nhà sẵn cho đồng bào, cách xếp
đặt trang trại do Phủ Tổng Ủy quy hoặch
có lớp lang thứ tự. Nhưng ở nhiều trại,
nhà cửa do đồng bào tự làm lấy với sự
trợ cấp từ Phủ Tổng Ủy. Trong những
trường hợp này, vị linh mục cùng những
người phụ tá đă cùng nhau vẽ phác sơ đồ
toàn trại, sắp xếp vị trí thánh đường,
trường học, nhà xứ, trạm y tế, chợ,
đường xá, các dẫy nhà của đồng bào,
nghĩa trang, v.v.. Đă có nhà thờ bao giờ
cũng có trường học kế bên. Nhiều nơi c̣n
có trường trung học đệ nhất cấp và đệ
nhị cấp (cấp ba ngày nay)
nữa. Nhờ vậy,
chỉ sau khoảng 10 năm, các trại định cư
đă cung cấp cho quốc gia rất nhiều sinh
viên, hạ sĩ quan, sĩ quan, công chức,
giáo chức, v.v.. Cũng do vị trí đặc biệt
của một vị lănh đạo vừa tinh thần vừa
vật chất, mà linh mục có thể đóng góp
tích cực, hữu hiệu vào việc giáo dục
thanh thiếu niên trong trại, góp phần
giữ ǵn an ninh trật tự. Những tội phạm
như trộm cắp, vô luân, ẩu đả, v.v., là
tối thiếu. Đă có một thời, vị linh mục
c̣n đóng được cả vai tṛ của một vị thẩm
phán ḥa giải cho những cặp vợ chồng bất
ḥa, bất trung, những vụ tranh chấp nhà
cửa, đất đai, v.v..

Ngày nay ai xuôi miền Hậu Giang - Rạch
Giá, tất phải đi qua vùng định cư Cái
Sắn trù mật bát ngát, sẽ thấy làng mạc,
kinh rạch, ruộng nương và các cơ sở văn
hoá giáo dục có lớp lang, ngoạn mục. Các
bô lăo kể lại trước khi đồng bào di cư
tới đây khai phá từ năm 1956, toàn vùng
này chỉ là cỏ lác cao ngút đầu và muỗi
ṃng th́ dầy đặc như trấu. Nếu có ai lên
xứ hoa đào qua quốc lộ 1, tiếp nối qua
quốc lộ số 20, sẽ chứng kiến các thị
trấn nhỏ sầm uất mọc lên như nấm, nhà
cửa đan kín dọc hai bên đường, dân chúng
đông vui tấp nập. Có ai ngờ trước năm
1955, vùng Hố Nai chỉ là vùng đất bạc
mầu, hoang vu và khô chồi; c̣n vùng Gia
Kiệm, Dốc Mơ, Túc Trưng, La Ngà, Phương
Lâm chỉ là rừng tre già và mây gai ra
tới tận lề đường; quốc lộ 20 hoàn toàn
mất an ninh, xe cộ không thể lưu thông
được. Rồi c̣n những Đức Lập, những Ban
Mê Thuột, những B́nh Giả, những Bảo Lộc...
Song dù thế nào, cuối cùng linh mục vẫn
chỉ là người có nhiệm vụ chuyên biệt lo
phần thiêng liên tôn giáo chứ không có
nhiệm vụ phần đời. Các vị ra gánh vác
giúp đỡ đồng bào di cư, v́ gặp hoàn cảnh
đặc biệt ngoại lệ. Cho nên tới ngày 10
tháng 4 năm 1956, giám mục Phạm Ngọc
Chi, phụ trách Ủy Ban Hộ Trợ Định Cư
Công Giáo, đă yêu cầu các linh mục
chuyển giao mọi việc thuộc hành chánh
cho dân chúng để trở về thuần túy lo
việc đạo. Từ nay, các linh mục có chăng
chỉ c̣n là vị cố vấn giúp đỡ chính quyền
xă, ấp địa phương mà thôi.
Trở lên, chúng ta đă thấy cuộc di cư tị
nạn Cộng Sản năm 1954 của gần một triệu
đồng bào miền Bắc và Bắc Trung phần
chẳng những có ư nghĩa chính trị, quân
sự quan trọng mà c̣n là một cuộc di dân
khổng lồ góp phần phát triển quốc gia.
Cuộc di cư ấy đă được chính phủ và quốc
tế giúp đỡ tích cực, đưa tới thành công
tốt đẹp. Từ bàn tay trắng, vậy mà các
trại định cư đă mau chóng ổn định cuộc
sống.
Riêng về các trại định cư mà hầu hết là
của đồng bào Công Giáo th́ các vị linh
mục đă góp công to lớn xây dựng cả về
mặt tinh thần lẫn vật chất. Các vị ấy,
nhà nước không mất công đào tạo, huấn
luyện, nhưng đă trở thành một thứ ‘cán
bộ’ đầy khả năng, giúp vào công tác có
tầm vóc quốc gia, xem ra c̣n cách đắc
lực hơn là các cán bộ nhà nước thứ thiệt.
Người ta hết sức cảm động chứng kiến lễ
tang của mỗi vị cha già, tất cả đồng bào
trong trại định cư xưa, không biệt tuổi
tác, có gia đ́nh gồm cả ba thế hệ, đều
chít khăn tang để tỏ ḷng kính trọng,
nhớ ơn vị ân nhân có công khai sáng.
Nhiều nơi đồng bào an táng vị cha già
ngay cạnh giáo đường để hằng ngày khi
tới giáo đường, đồng bào như c̣n được
nh́n thấy, như là ngài vẫn c̣n đấy, chưa
đi xa!
Ước mong các trại định cư xưa thu thập
lại những tài liệu, h́nh ành, những con
số thống kê trong lịch sử thành lập trại;
thâu thập tiểu sử và điếu văn của cha
già khai sáng để lưu truyền cho con cháu
hoặc là tập trung về tàng trữ tại một
trung tâm Công Giáo nào đó để trở thành
tài liệu lịch sử.
Cuộc đời dâu bể. Một nửa thế kỉ trôi mau
như bóng câu vút qua song. Năm theo mẹ
di cư vào Nam chúng tôi là cậu bé 9 tuổi
thế mà nay đă vừa chẵn 6 bó! Hồi tưởng
lại cuộc di cư, đối với số phận mỗi cá
nhân, mỗi gia đ́nh, việc ra đi hay ở lại,
có thể có cái hay cái dở, nhưng nói
chung cái hay là vượt trội. Song đối với
quốc gia, cuộc di cư ấy hoàn toàn là một
cuộc di dân chỉ đem lại lợi ích to lớn
mà thôi. Các vị cha già đă đóng góp tích
cực, làm cho cuộc di cư ấy thành công
tốt đẹp, tức là đă đóng góp đắc lực vào
cuộc di dân phát triển quốc gia.
Tham khảo:
* Văn Pḥng Tổng Thư Kư HĐGMVN. Giáo Hội
Công Giáo Việt Nam Niên Giám 2004. Nhà
xb Tôn giáo. Hà Nội, 2004.
* Trường Cao Đẳng Sư Phạm Tp. HCM & Cục
Đo Đạc Và Bản Đồ Nhà Nước. Việt Nam Tập
Bản Đồ Hành Chính Và Du Lịch. 1989.
* Phan Phát Huồn. Việt Nam Giáo Sử.
Quyển II. Cứu Thế Tùng Thư. Sài G̣n, VN.
1962.
* Đoàn Thêm. Hai Mươi Năm Qua 1945 -
1964 Việc Từng Ngày. Xuân Thu.
* Đoàn Thêm. 1969 Việc Từng Ngày. Xuân
Thu.
* Lâm Thanh Liêm & Gustave D. Meillon.
Từ Sàig̣n Tới Tp. HCM. Nam Á.
* Đỗ Hữu Nghiêm. Giáo Hội Và Các Đồng
Bào Thiểu Số Ở Việt Nam. Định Hướng 26.
* Tôn
Thất Tŕnh. Khảo Luận về Công Cuộc Phát
Triển Vùng Hậu Giang Việt Nam. Định
Hướng. Số 45. |