|
Điện Biên Phủ nh́n lại
Nguyễn văn Lục
(I)
Chiến thắng Điện Biên Phủ đối với người Việt Nam là một cuộc
tranh đấu dành độc lập, chấm dứt chế độ thực dân Pháp. Nó
chứng tỏ rằng nếu một quốc gia dù yếu, nhưng nếu có quyết
tâm và ḷng yêu nước th́ yếu có thể thắng mạnh.
Thật vậy, không ai ngờ rằng từ những ngày khởi đầu cuộc
Kháng Chiến Nam Bộ những người dân đi chân đất với gậy tầm
vông đă lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại: một dân tộc
nhỏ bé đă đánh bại một nước mạnh. Sức mạnh tinh thần đă đưa
Việt Nam đến thắng lợi là: Ḷng quyết tâm của cả một dân
tộc. Và vị tướng giỏi nhất trong trận chiến này là nhân
dân. V́ không hiểu rơ điều đó nên cho đến ngày nay một số sử
gia như Benjamin Stora cho rằng: có
một sự ám ảnh Điện Biên Phủ trong giới nghiên cứu sử người
Pháp. Hay như lời diễn tả của Alain Ruscio, trong
cuộc Hội thảo 27-28 tháng 4 tại Hà Nội “Từ lạc quan cuồng
nhiệt đến chấn thương v́ thất bại”. Và đúng như Charles
Fourniau, người đă gặp ông Hồ Chí Minh trong những ngày cuối
cùng đă nhận xét: “Đó là sự mù
quáng của thế giới thuộc địa muốn được áp đặt sức mạnh và
lợi ích của nó đối với một dân tộc”.
Những lời phê phán ở trên đúng, nhưng chưa đủ.
- Điều thứ nhất là phải nh́n nhận rằng, chế độ thuộc địa sau
thế chiến thứ hai đă có xu hướng đi đến
trào lưu giải thực trên toàn thế giới. Nó tạo
điều kiện khách quan cho các dân tộc ư thức và vùng dạy giải
phóng đất nước họ ra khỏi cảnh bị đô hộ.
- Điều thứ hai không kém quan trọng là cuộc chiến thắng đó
do ḷng yêu nước, sự quyết tâm của cả một dân tộc, không
phải là độc quyền của một đảng phái nào. Đảng phải nào biết
lợi dụng, khai thác triệt để th́ sẽ thành công. Đó là trường
hợp đảng Cộng sản Việt Nam đă làm.
- Điều thứ ba, chiến thắng này đă mở ra xu hướng giải Thực ở
nhiều nước bị trị, đặc biệt ở Algeria, Maroc và Tunisia. Nó
mở đầu cho một làn sóng chiến tranh giành độc lập của các
nước bị trị ở khắp nơi nhằm đánh đổ các đế chế kể từ sau thế
chiến thứ hai.
Phần 1:
Những cơ hội
Một nền hoà b́nh dang dở – Chiến tranh là điều bất
đắc dĩ. Người Việt Nam hiển nhiên là không muốn điều ấy. Vậy
mà người Pháp vừa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh thế giới,
tại sao lại tiếp tục cuộc chiến tranh khác? Nước Pháp phải
chăng muốn tái lập lại chế độ thuộc địa bằng mọi giá? Cơ hội
ḥa b́nh dang dở rơi vào cái mà người ta gọi sau này là nền
Cộng Hoà đă chết. Thật ra, không có bất cứ một người Pháp
nào muốn bỏ Đông Dương. Nhưng nếu phải trả giá bằng một cuộc
chiến tranh lâu dài th́ họ không đồng ư với nhau.
D'Argenlieu không đồng ư với đại tướng Leclerc; Leclerc
không đồng ư với Valluy hay đại tá Debès. Debès là người rất
hiếu chiến và cứng rắn, chính ông này gửi tối hậu thư cho
chính quyền đương cuộc ở Hải Pḥng buộc rút quân trước 9 giờ
tối. Rồi sau đó ra lệnh tấn công bộ đội Việt Minh. Phát súng
mở màn cuộc chiến tranh ở phía Bắc. Ngay cả đảng Cộng sản
hay đảng Xă hội Pháp cũng chủ trương chiếm giữ Đông Dương và
v́ thế đă chấp nhận ngân sách chiến tranh đầu tiên do Quốc
Hội bỏ phiếu ngày 19/03/1947.
Theo Jean Lacouture, Charles de Gaulle muốn khôi phục lại
chế độ thuộc địa và những lợi nhuận từ chế độ đó mà ra. Đó
là những ảo tưởng lớn về chính trị nơi de Gaulle. Một con
người được mô tả bề ngoài là tự cao đến phách lối, ích kỷ,
tự coi ḿnh như trung tâm của vũ trụ. mặc dầu vẫn được coi
là một nhân vật vĩ đại. Nhưng dưới mắt Churchill, trong
chuyến viếng thăm Paris về, ông đă viết thư cho Tổng thống
(TT) Mỹ coi de Gaulle như một người đầy mặc cảm tự ty, mặc
cảm yếu thế cần được nâng đỡ.
Hai ngày sau khi mặt trận Điện Biên Phủ bị mất, de Gaulle dự
trù xuất hiện trước dân chúng Paris có khoảng từ 100,000
người tham dự trở lên. Kết quả thật thảm bại mà sau này Léon
Noel đă thuật lại trong “sa Traversée du désert”:
Cuộc hành tŕnh qua sa mạc mà de
Gaulle và nhiều người khác đă trải nghiệm sau chiến thắng
Điện Biên Phủ.
Cái thất bại trải qua một sa mạc đó 4 năm sau vào năm 1958,
de Gaulle lại chạm chán với với vấn đề Algeria mà tự ông
không t́m được lối ra “Một bước quan
trọng đưa tới sự thất bại ở Phi Châu” (Important étape dans
la voie qui nous conduit à la perte de l'Afrique.)
|
 |
|
Georges
Thierry d'Argenlieu, Cao Uỷ Đông Dương, Đô Đốc hải
quân,
Sư huynh Louis of the Trinity, OCD
Nguồn: andrewcusack.com
|
Nhưng điều chính
yếu là người Pháp không muốn Mỹ dính líu vào nội t́nh Việt
Nam (VN). V́ thế mà D'Argenlieu, người của Charles de Gaulle
được cử sang là để thi hành sứ mệnh ấy.
D'Argenlieu cứng rắn và không nhượng bộ Việt Nam bất cứ
điều ǵ.
Stanley Karnow cũng có nhận xét tương tự khi ông viết:
“Vào năm 1942, với mục
đích nâng đỡ những người Pháp tự do của Charles
de Gaulle trong việc chống lại chế độ Đức Quốc
Xă, TT Roosevelt có hứa để người Pháp duy tŕ
những quyền lợi của họ ở hải ngoại. Nhưng năm
sau, ông lại nói với con trai ông là Elliott,
ông sẽ làm tất cả mọi cách để chống lại 'tham
vọng đế quốc' của nước Pháp. Năm sau, ông đă đề
nghị đặt Đông Dương dưới quyền bảo hộ quốc tế và
yêu cầu nước Pháp trao trả nền độc lập cho nước
này.”
Ba tháng
trước khi chết, ông TT đă nói với ngoại trưởng
Edward R. Stettinius “Bất
cứ một quyết định nào về Đông Dương lúc này đều quá
sớm.”
Bernard Fall đă nhận định về vấn đề này như sau:
“Tất cả chúng ta đều có trách
nhiệm. Thật vậy, bởi v́ mọi người đều muốn lợi dụng
cuộc chiến tranh này. Kể từ 1952 đến 1954, cuộc
chiến tranh đă đem vào cho ngân quỹ của chúng ta cả
tỷ Mỹ kim của viện trợ Hoa Kỳ… Đă có lúc, hàng xuất
khẩu lớn nhất của chúng ta không phải là những xe
hơi 'Dauphine' của hăng Renault hay nước hoa của
vùng Grasse, mà là chiến tranh Đông Dương. Đó là một
cuộc buôn bán mà cả nước Pháp đă tham dự.”
Cơ hội hoà b́nh và độc lập cho VN bị dang dở. V́ có
rất nhiều người Pháp “sợ hoà b́nh”, sợ mất quyền lợi
của họ ở Đông Dương. Họ không lư ǵ đến nội dung hội
nghị Postdam đă giao quyền giải giới và kiểm soát
Nhật ở phía Nam cho Anh và Trung Hoa Tưởng Giới
Thạch, từ vĩ tuyến 16 trở ra.
Đến người kế vị TT Roosevelt, TT Truman với phe nhóm
của ông đă ủng hộ nước Pháp về những đ̣i hỏi về
quyền lợi của nước này đối với Đông Dương. Một lần
nữa. Hoà b́nh bị bỏ rơi và chẳng lạ ǵ sau này, nước
Mỹ đă bỏ ra 2 tỷ 500 triệu cho Pháp trong cuộc chiến
này, số tiền c̣n lớn hơn cả số tiền mà người Pháp
nhận được trong khuôn khổ kế hoạch Marshall.
|
 |
|
Tướng “Phi Hổ” Claire Lee Chennault
(1893-1958)
Nguồn: warbirdforum.com
|
Phần ông
Hồ, biết ḿnh c̣n yếu thế, phải ép ḿnh đi giây lúc
với Pháp, lúc với Tưởng Giới Thạch, lúc với Nhật,
lúc với các đảng phái Quốc gia và với cả CIA của Mỹ
ở Côn Minh (Kunming ). Qua việc cứu một phi công Mỹ
bị rớt máy bay ở Sài G̣n, ông Hồ được tiếp xúc với
tướng Claire Chennault và đă xin ông này một ảnh
chụp như bằng cớ bảo đảm có tiếp xúc với Mỹ. Và qua
đó cơ quan OSS của Mỹ có giúp đỡ ông Hồ vào đầu năm
1945 trong một cuộc nhảy dù có bí hiệu Deer ở căn cứ
của ông Hồ. Sự giúp đỡ bao gồm súng cá nhân, súng
cối và lựu đạn. Mặc dầu vậy, sau này ông Hồ trong
một dịp nói chuyện với Bảo Đại đă chán nản cho rằng,
Mỹ chỉ là bọn con buôn tư bản mà thôi.
Ông Hồ Chí Minh th́ muốn thương lượng, người Pháp
th́ không. Ông đă hạ bút kư Hiệp định Sơ bộ 06/03,
tạm ước 14/09. Người Pháp c̣n muốn ǵ nữa? V́ thế,
chẳng lạ ǵ khi ông Hồ Chí Minh vừa lên đường sang
Pháp dự hội nghị Fontainebleau vào ngày 12 tháng 6
năm 1946, ông dừng chân ở Biarritz th́ một ngày sau
đó ở Sài G̣n, Cao Ủy D'Argenlieu lập chính phủ Nam
Kỳ tự trị, đưa ông Nguyễn Văn Thinh lên làm Thủ
tướng. Và sau này một số tay sai làm việc cho Pháp
như Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Xuân, Lê Văn Hoạch,
Nguyễn Văn Tâm.
Ông Hồ Chí Minh đă phải nằm chờ ở bên Pháp cho đến
khi lập xong chính phủ do Bidault làm Thủ tướng,
Moutet giữ bộ Pháp Hải ngoại. Theo lời thuật lại của
Sainteny trong Histoire d'une paix manquée
rằng, vừa tới phi trường Bourget, Hồ Chí Minh bước
ra ngoài cửa phi cơ th́ có hàng ngàn thợ thuyền và
chính khách đón tiếp: “Ông
Hồ hai tay run nói nhỏ bên tai tôi: ‘Anh đừng rời
tôi, thiên hạ đông quá’”. Sau thất bại ở
Hội nghị, phái đoàn Việt Nam đă lên đường về nước.
Riêng Hồ Chí Minh ở lại. Đêm 14 tháng 9, Hồ Chí Minh
đến gơ cửa nhà Moutet ở số 19 đường Courcelles để kư
tạm ước tay đôi giữa Moutet và Hồ Chí Minh. Kư xong,
Hồ Chí Minh nói với viên thanh tra đi theo hộ tống:
“Tôi vừa kư bản án tử h́nh
tôi.” Sau đó, ông Hồ đă chọn đi tầu thủy
để về Việt Nam thay v́ đi bằng máy bay, ông đă bị
đồng bào (VN) ở Pháp phản đối khi đi qua các ga
Marseille, Toulon.
Hồ Chí Minh chỉ muốn tránh một cuộc chiến tranh
không đồng sức nên phải thương thuyết, thương thuyết
không được th́ phải nhượng bộ để kéo dài thời gian.
Ông đă làm hết cách những ǵ mà ông có thể làm, ngay
cả cái nhục kư các các hiệp định sơ bộ cũng như tạm
ước.
Cũng cần nhắc lại là c̣n một cơ hội có thể cứu văn
được t́nh thế đưa đến chấm dứt chiến tranh dựa trên
đàm phán vào năm 1952. Chính quyền Pháp của TT
Vincent Auriol được thông báo qua Tướng Grossin là
cần t́m một giải pháp cho một cuộc ḥa đàm, mà trong
trường hợp thất bại không làm mất mặt chính phủ
Pháp. Công việc đó được giao cho ông Antoine Pinay,
với điều kiện là công việc được giữ bí mật tuyệt
đối. Riêng TT Pháp yêu cầu là mọi diễn biến kết quả
đàm phán đều phải thông báo đầy đủ cho Bảo Đại.
Ông Letourneau đă được giao trọng trách trực tiếp tổ
chức vấn đề đàm phán này. Nhưng ông không mấy tỏ ra
hăng hái mà có vẻ miễn cưỡng để làm việc này.
Letourneau cử một đại tá đi thăm ḍ một số nhân vật
tai mắt. Kết quả thất bại hoàn toàn. Sainteny đă đưa
ra giải pháp là chính ông sẽ nhảy dù xuống khu vực
Việt Minh chiếm đóng và trực tiếp nói chuyện với ông
Hồ Chí Minh. Cuối cùng người ta nghĩ đến giáo sư Bửu
Hội.
Ông Bửu Hội cho hay, ông có thể lấy tư cách một nhà
nghiên cứu đi thuyết tŕnh về khoa học ở bất cứ nước
nào ở Đông Nam Á. Bản thân Bửu Hội vẫn c̣n giữ cái
tít là “đại diện văn hoá của Chính phủ Việt Nam Dân
Chủ Cộng Ḥa (VNDCCH)”. Đối với Việt Minh, ông là
nhân vật persona grata. Bảo Đại được thông báo đă
đồng ư giải pháp đàm phán này. Sự kết hợp Bửu Hội
với Saiteny mà Bửu Hội cho là nhân vật có uy tín
nhất của Pháp đối với phe Việt Minh (VM) trong cuộc
đàm phán bí mật là lợi điểm tối ưu mà nước Pháp có
được. Tiếc thay chính phủ Pinay từ chức, Letourneau
lấy cớ đó không chịu trách nhiệm về chuyến đi của
Bửu Hội. Đồng thời, Letourneau đă thông báo cho Thủ
tướng Nguyễn Văn Tâm “về diễn tiến cuộc đàm phán”,
Nguyễn Văn Tâm lấy cớ đó đă phản đối quyết liệt với
người Pháp.
Phải đợi ngày 9 tháng Giêng 1953, khi chính phủ mới
ra đời, ông René Mayer mới đưa ra quyết định chấp
thuận cử ông Bửu Hội đi chuyến thăm ḍ đàm phán này.
Bửu Hội đă giữ kín cuộc đàm phán theo lời yêu cầu
của TT Vincent Auriol. Cuối cùng Bửu Hội đă đến
Rangoon, Miến Điện (Burma), để t́m một người đại
diện VM là ông Luận, một người thanh niên vào khoảng
30 tuổi. Đại diện VM tỏ ra rất quan tâm đến chuyện
đàm phán và hứa sẽ thông báo tức khắc cho chính phủ
kháng chiến. Họ có hỏi thăm ḍ ai sẽ là đại diện bên
phía Pháp. Bửu Hội trả lời là Sainteny và
Raphael-Leygues. Phía VM hoan hỉ chấp nhận ngay. Bửu
Hội ở Rangoon hơn một tuần chờ sự trả lời của VM mà
họ hứa chỉ có thể trả lời trong ṿng ba tuần lễ.
Cuối cùng Bửu Hội quay về Pháp, trước đó đă dừng lại
ở Ấn Độ. Vô phúc là chính ở đây, họ được nghe qua
Radio lời tuyên bố của bộ trưởng phụ trách Đông
Dương Letourneau tuyên bố: “Nước Pháp sẽ không
thương lượng trước khi có một cuộc chiến thắng quân
sự hoàn toàn, và sẽ từ chối bất cứ giải pháp nào
khác.” Ở Sài G̣n, Letourneau, đại tướng Salan và
Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm đều bác bỏ bất cứ một cuộc
đàm phán nào với Việt Minh. Công tác của Bửu Hội v́
thế bị thất bại.
Cơ hội đàm phán hoà b́nh lùi xa hơn.
© DCVOnline
Điện Biên Phủ nh́n lại
Nguyễn văn Lục
(II - Kết)
Phần 2: Cuộc
chiến tranh Việt-Pháp bắt đầu.
Ông Giáp không có đường chọn lựa nào khác.V́ thế, tối 19
tháng 12 năm 1946, tiếng ḿn nổ đầu tiên ở nhà mày điện phát
nổ như lệnh cho khắp nơi bắt đầu tấn công. Thành phố tối om.
Tiếng tắc bọp chen lẫn tiếng liên thanh tạch tạch, tè. Cứ
thế, khắp nơi đều có tiếng nổ. Cho đến nay, nhiều người c̣n
đặt câu hỏi: Pháp hay Việt Minh là người nổ súng đầu tiên?
Bên nào khai phá mở màn cuộc chiến?
Tiếng ḿn nổ ở nhà máy đèn là lịnh tấn công mở đầu cuộc
chiến tranh Việt Pháp của đại tướng Giáp đấy.
Đi t́m hiểu tại sao tướng Giáp đă có quyết định tối hậu là
tấn công quân đội Pháp, mở đầu cuộc chiến tranh? Thật ra
chung quanh Hồ Chí Minh, lúc bấy giờ các Tự Vệ ở t́nh trạng
khủng hoảng, khích động đến không kềm giữ được nữa.
Theo ông Paul Mus th́ cạnh đó c̣n rất nhiều thành phần quá
khích muốn có chiến tranh và không thiếu cả những viên chức
Nhật Bản nữa. Theo Philippe Devilliers:
“Nỗi lo lắng ư muốn thoát ra khỏi
t́nh trạng đến không kềm và chủ động được ǵ nữa, sự thù hận
chống Pháp và tinh thần biện chứng cách mạng. Tất cả đều có
phần trong quyết định nổ súng đánh Pháp.”
Tiếng ḿn đó đáp ứng lại tất cả những nhẫn nại, những nhượng
bộ những chèn ép của Pháp trong Hiệp định sơ bộ, trong việc
lập Chính phủ Nam Kỳ tự trị, trong việc mang tầu chiến chiếm
Hải Pḥng. Ngày 30 tháng 11, Quốc hội Việt Nam c̣n gửi một
thông điệp sang Ba Lê, yêu cầu Quốc hội Pháp làm trọng tài
để giải quyết dùm mà nội dung như sau: “Dân
tộc Việt Nam chúng tôi cương quyết muốn hợp tác với dân tộc
Pháp, nên yêu câu Quốc hội Pháp nên can thiệp và gửi một Ủy
ban tận chỗ mở cuộc điều tra.”
Ngày 15 tháng 12, ông Hồ Chí Minh c̣n gửi cho ông Léon Blum
đề nghị hai bên rút về vị trí trước ngày 20 tháng 11.
Pháp khẩn cấp gửi Sainteny có đủ quyền hành dân sự và quân
sự sang Việt Nam. Ngày 2 tháng 12, Sainteny tới phi trường
Gia Lâm đến gặp ông Hồ Chí Minh. Đại tướng Vơ Nguyên Giáp
thay mặt tiếp Saiteny và nói ông Hồ Chí Minh cáo lỗi bệnh
không tiếp được. Cái bệnh của người làm chính trị trong lúc
này thật hay giả khó biết được. Cuối cùng th́ ông Hồ Chí
Minh cũng tiếp Sainteny trên giường bệnh. Câu chuyện của hai
người có thể tóm tắt như sau:
Sainteny nói với ông Hồ:
– Ông thấy không, lúc c̣n ở Ba Lê, tôi đă nói, ông ở đây lâu
là có hại lắm.
– Phải, nhưng ông qua đây cũng chậm quá.
Cho đến trưa ngày 18 tháng 12, Sainteny c̣n nhận được bức
thư sau đây của ông Hồ Chí Minh:
“Kính gửi ông
Sainteny. Bầu khí càng ngày càng căng thẳng
trong những ngày gần đây. Thật là đáng lấy làm
tiếc. Trong khi chờ quyết định của Paris, tôi
tin tưởng vào ông và ông Hoàng Minh Giám t́m ra
một giải pháp ngơ hầu cải thiện được bầu khí
hiện nay. Xin ông nhận t́nh bạn của tôi và lời
chào trân trọng đến bà Saiteny.
Hồ Chí Minh.”
Cùng giờ đó,
ông Giáp yêu cầu đại tướng Morlière giảm bớt t́nh
trạng căng thẳng bằng cách giải giới sự tập trung
quân lính Pháp.
Và xin nhường lời cho ông Sainteny ghi lại biến cố
như sau:
“Vào lúc 8 giờ, thành phố ch́m trong một
sự im lặng đến khó chịu. Đồng hồ ở nhà
thương Yersin, bên cạnh nhà của đại diện
Pháp, thong thả đổ 8 tiếng, tôi nói với
các người cộng tác của tôi:
H́nh như chưa phải là chiều nay, vậy tôi
về nhà xem sao. Tôi vừa bước vào xe th́
một tiếng nổ đinh tai và lập tức cả
thành phố ch́m trong bóng tối. Trung tâm
nhà đèn vừa bị phát nổ. Lúc đó là đúng 8
giờ 5 phút. Những tiếng nổ lộp bộp phá
màn đêm đang bao phủ thành phố và đồng
thời chôn vùi luôn những cố gắng và hy
vọng của chúng tôi.”
Sau
đó, Sainteny nhảy lên một xe có trang bị
súng đại liên chạy về hướng sở Hành chánh
Tài chánh, nhưng xe của ông bị trúng ḿn
trên đường Paul Bert. Ông bị thương nặng với
20 vết thương.
Riêng ông Hồ và ông Giáp, vào buổi chiều
ngày 20, vất vả lắm mới chạy ra khỏi dinh
chủ tịch nay đă bị người Pháp tái chiếm.
Kết quả có 200 thường dân Pháp thiệt mạng và
40 lính Pháp tử thương. Phía Việt Nam không
rơ con số tử vong là bao nhiêu. Ông Giáp ra
lệnh tổng tấn công trên toàn diện lănh thổ
như Huế, Phủ Lạng Thương, Nam Định, Hải
Pḥng.
Trong Nam, ngày hôm sau, tự vệ mới bắt đầu
nổ súng khắp nơi.
Ngày hôm sau, chính phủ Hồ Chí Minh rút ra
khỏi Hà Nội, tạm đặt các cơ sở chính quyền ở
Hà Đông, cách Hà Nội 10 cây số.
Về điểm này, nhiều nhà quân sự Pháp cứ tiếc
hùi hụi là tại sao không cho quân Nhảy Dù
trực tiếp nhảy xuống Hà Đông bao vây và bắt
sống ông Hồ Chí Minh cùng toàn bộ bộ tham
mưu của tướng Giáp. Giả dụ điều đó xảy ra
th́ cuộc chiến Đông Dương đă ngă ngũ ra thế
nào?
Vào ngày 12 tháng hai, 1947, trong nhật kư
của ông, D'Argenlieu đă ghi lại nơi ẩn náu
chính xác của ông Hồ Chí Minh và bộ tham mưu
trong một cái động ở Hà Đông. Ông đề nghị
một cuộc đổ bộ bằng Nhảy dù xuống Hà Đông,
chặn nút hai đầu vị trí ẩn náu của ông Hồ
Chí Minh và chắc chắn là có thể bắt trọn gói
toàn bộ cấp lănh đạo của Hồ Chí Minh. Bộ
trưởng Hải ngoại Moutet đă từ chối giải pháp
này viện cớ rằng: “Nước Pháp không hành xử
như những bọn cướp.”
Phần Cao uỷ D'Argenlieu chỉ muốn cắt đứt
liên lạc với chính phủ Việt Minh quét sạch
quân đội Việt Minh ra ngoại ô rồi sẽ t́m
cách liên lạc với một bất cứ một nhân vật
quốc gia nào khác như Nguyễn Mạnh Hà, Hoàng
Xuân Hăn, Ngô Đ́nh Diệm và xa hơn nữa với lá
bài Bảo Đại. Bollaert được chỉ thị thay thế
D'Argenlieu, ông này nghĩ đến việc qua Hương
Cảng (Hong Kong) rước cựu hoàng Bảo Đại về.
Tướng Leclerc, sau khi đi thị sát t́nh h́nh
khắp nơi về đă thất vọng phúc tŕnh như sau:
“Cái lỗi lớn nhất của chúng ta
là đẩy Việt Minh ra ngoài cho họ
lập chiến khu, rồi đánh du kích.
Nay Việt Minh đă ra chiến khu,
lực lượng sẽ càng tiêu hao, phải
đeo đuổi chiến tranh làm cho tài
chánh, quân sự, kinh tế của Pháp
phải kiệt quệ. Đây là một trận
giặc hao ṃn mà Pháp phải chịu
đựng lâu dài.”
Leclerc kết luận:
Muốn b́nh
định, phải có hằng trăm ngàn quân
lính và phải hai ba năm. Muốn thế,
phải rút quân lính ở Pháp qua đây
tăng cường cho lực lượng viễn chinh.
Phải cho họ độc lập chứ đừng hứa.
|
 |
|
Bộ đội
Việt Minh tại chiến trường
Điện Biên Phủ
Nguồn: AFP/Getty Images
|
Quả thật, đúng như
những lo ngại của LeClerc, cuộc
chiến Điện Biên Phủ đă chấm dứt mọi
tham vọng của người Pháp ở Đông
Dương.
Vào lúc 4 giờ, Tướng de Castries đă
điện về Hà Nội là quân đội Việt Minh
đă tràn ngập các cứ điểm Điện Biên
Phủ, về phía Tây Claudine. Giữa
khoảng 17 giờ 10 và 17 giờ 30, ông
này đă liên lạc một lần chót với
tướng Cogny:
“Cuộc chiến đi đến
chung cục. Chúng tôi sẽ chiến đấu
tới cùng. Chúng tôi phá hủy những
súng đại bác và tất cả liên lạc vô
tuyến. Chào đại tướng. Hoan hô nước
Pháp.”
Cũng cùng thời gian đó, trung úy
Allaire nhận được lệnh của trung tá
Bigeard phải ngừng bắn. Allaire yêu
cầu Bigeard gửi cho một lệnh viết
tay. Bigeard bực ḿnh, nhưng cũng
chiều ḷng cấp dưới. “Được rồi,
anh cho người đến bộ chỉ huy nhận
lệnh.” 15 phút sau, một người
lính dù, quần áo nhếch nhác, lấm bùn
cầm lệnh viết tay về cho Allire
trong đó nguệch ngọac mấy ḍng chữ
sau đây của Bigeard:
“Gửi Allaire,
ngưng chiến đấu vàơ lúc 17 giờ 30.
Hăy ngưng bắn, không có treo cờ
trắng. Hẹn gặp lại.” Allaire
nhét mảnh giấy vào túi mệt mỏi chửi
thề: C'est la merde. Ông đang
ở cứ điểm Eliane 3. Ông vén tay áo
nh́n đồng hồ. Lúc ấy là 17 giờ. Cứ
điểm bị chiếm lúc 17 giờ 30. Điện
Biên Phủ đă bị mất vào tay Việt Minh.
Chiến tranh kết thúc.
Bộ tham mưu Điện Biên Phủ lặng lẽ
nối đuôi nhau bước ra khỏi căn hầm.
Đứng trên những bao đất rách phủ nóc
hầm bằng thép cong, ba người lính
Việt Minh trong đó có trung đội
trưởng Chu Bá Thế đang cầm một lá cờ
đỏ sao vàng. Chuyện một lá cờ đỏ
phấp phới trên mái hầm chỉ huy sở
Điện Biên Phủ vào hồi 17 giờ 40,
ngày 7 tháng 5 năm 1954 ấy là chuyện
chắc chắn có. Hàng ngh́n người đă
trông thấy và nhiều người đă nói với
tôi. Ngược lại, không một ai trông
thấy lá cờ trắng trên nóc hầm. Sau
này ở Hà Nội, tôi đă được xem những
đoạn phim quay cảnh thật: Không đâu
thấy có treo cờ trắng cả. Tập đoàn
cứ điểm đă rơi vào tay Việt Minh,
không phải là nó đầu hàng.
1 giờ 50 ngày 8 tháng 5 năm 1954,
máy bay chỉ huy lượn trên trời thu
được bức điện cuối cùng của quân
Pháp ở Điện Biên Phủ:
Đến đây th́
thật là chấm hết. Chấm hết chiến
tranh Đông Dương, chấm hết chế độ
thuộc địa Pháp.
Ngày 08 tháng 05 năm 1954, một máy
bay ném bom 4 động cơ Privateer của
phi đội 28F Hải quân đi ném bom hệ
thống giao thông hào vận tải của
Việt Minh trên đường 41, bị bắn rơi
tại Tuần Giáo.
Người phi công lái máy bay, trung uư
Hải quân Monguillon và tám hạ sĩ
quan phi hành đoàn là những người
Pháp cuối cùng bỏ mạng trong trận
Điện Biên Phủ.
Một cuộc chiến kéo dài 7 năm, 7
tháng, 1 ngày. Một cuộc chiến đă để
lại những vết thương và con số
thương vong khó có thể hàn gắn lại.
Nhà thơ Nguyễn Huy Tưởng, sau khi
tham quan chiến trường Điện Biên Phủ
đă ghi lại như sau:
“Điện Biên lẫn lộn
giữa hoang vu và bàn tay
người, giữa gian khổ và
cố gắng, giữa hỗn độn và
tổ chức, giữa chiến
tranh và xây dựng, giữa
cái cổ sơ (trâu ḅ, lợn...)
và cái khoa học (máy cầy,
điện), giữa cái đang lùi
và cái đang lên, giữa
cái nghèo nàn túng thiếu
và cái tương lai đầy
triển vộng, tất cả đều ở
trong một sự hỗn độn,
ngổn ngang, chờ đợi,
vươn lên...”
Một cuộc
chiến đă tiêu hao hằng bốn
trăm ngàn sinh linh và hàng
tỉ bạc mà cho đến nay chưa
ai biết rơ con số đích thực
là bao nhiêu?
Đó là những con số làm phiền,
làm chúng ta phải suy nghĩ.
Cùng lắm, nếu may mắn có
được những con số th́ vẫn là
những con số ảo, số âm, số
trừ.
Một người chết hay trăm
người chết có thay đổi ǵ
được bộ mặt của chiến tranh?
Có những người bên kia sợ
Hoà B́nh, th́ cũng có những
người sợ những con số như
bóng ma.
Những bóng ma của “mẹ liệt
sĩ đội mồ lên đi kiện” (Thơ
Nguyễn Duy).
Cho nên, những con số chính
thức vẫn là những con số
đáng nghi ngại nhất. Cũng
vậy, những thông tin quá
đáng hoặc không có thông tin
ǵ th́ đều dẫn đến sự phản
tuyên truyền, gây nghi ngờ
và chẳng ích lợi cho ai cả.
|
 |
|
Hồ Chí Minh và
Trần Canh
(Chiến
dịch Biên giới)
Nguồn: “Hồ Chí Minh
với Quảng Tây”, Cục
Lưu trữ Khu tự trị
dân tộc Choang Quảng
Tây và Viện Khoa học
Xă hội Quảng Tây
Trung Quốc, 5/2006
|
Đă có bao
nhiêu binh lính của hai bên
đă bỏ ḿnh trong trận đánh
cuối cùng này? Cho nên che
dấu sự thật là phản bội lại
những người đă hy sinh trong
cuộc chiến này. Trong tất cả
các sách do ông Vơ Nguyên
Giáp viết, điều tôi lấy làm
bất nhẫn nhất là không bao
giờ ông nói đến con số
thương vong về phía quân đội
nhân dân. Điều đó để cho
thấy rằng chết trong chiến
tranh ấy chỉ là thí mạng cùi,
chết uổng tử. Đối với một bà
mẹ có 7 người con đă hy sinh,
giá nào có thể trả nổi cho
những sự hy sinh ấy? Cuộc
chiến đă diễn ra khắp mọi
nơi, chỗ nào cũng có thể là
chiến trường: trên rừng sâu,
đồng bằng, từng khu xóm, một
con sông, con suối. Ngày đêm
cũng không nghỉ. Đă vậy, đă
bao nhiêu người đă nằm xuống?
Đă bao nhiêu gia đ́nh mất
cha, mất mẹ, mất anh em? Ai
có thể tranh công với những
người chết như thế? Đó là
lịch sử của triệu người viết
nào phải của Lă Quư Ba (là
đại sứ của Bắc Kinh, đồng
thời là tổng cố vấn Trung
Quốc – DCV). hay Trần Canh,
Vơ Nguyên Giáp hay Hồ Chí
Minh?
Đành rằng chiến tranh giành
độc lập th́ không có trả giá.
Và nếu phải trả giá th́ giá
nào có thể trả cho đủ được?
Nhưng cũng cần hiểu rằng,
cái chết và sự hy sinh của
một người cũng là một giá,
huống chi đó là sự hy sinh
của cả một dân tộc, của
nhiều thế hệ. Giành công đối
với những người đă chết là
điều trơ trẽn, tủi hổ.
Đồng ư là đối với chế độ
thuộc địa th́ không thể có
một lời tốt đẹp nào. Xâm
lược là xâm lược. Bản chất
xâm lược là bạo lực và bóc
lột. Tất cả những điều khác
chỉ là những mỹ từ tuyên
truyền, che đậy. Nhưng nếu
cứ giành công thắng lợi cho
đảng Cộng sản th́ đó là điều
tai hại, v́ đă biến chiến
thắng chống chế độ Thực dân,
giải phóng dân tộc thành
cuộc chiến tranh ư thức hệ
giữa Tự do và Cộng sản. Tự
nó, ư nghĩa này đă phản bội
lại những người đă chết.
Người Pháp để bào chữa cho
sự thua cuộc này cũng chỉ
muốn có thế. Họ cho rằng
chiến thắng Điện Biên Phủ là
do sự can thiệp giúp đỡ trực
tiếp của các nước Cộng sản
như Liên Xô và Tầu. Đành
rằng, súng 105 ly của Tầu là
hữu hiệu, nhưng không có
chuyện đội đá vá trời Kéo
Pháo th́ thử hỏi 105 làm
được ǵ?
Xin trích dẫn lời của ông Vũ
Thư Hiên trong cuộc phỏng
vấn của thông tấn VNN: “Kẻ
thắng ở Điện Biên Phủ là
toàn dân Việt Nam”.
Hay như lời nhận xét của
siáo sư Trần Quốc Vượng, một
người Cộng sản:
“Chính chủ nghĩa dân tộc và
ḷng yêu nước đă vẫy gọi
chúng tôi, và chúng tôi luôn
luôn xem ông Hồ Chí Minh là
một nhà dân tộc hơn là một
người Cộng sản. Đó là cuộc
chiến chống thực dân dành
độc lập”.
Ngày nay, nh́n lại ư nghĩa
của chiến thắng Điện Biên
Phủ nhằm mục đích nh́n lại
sự thật, tưởng nhớ lại quá
khứ, tưởng nhớ và vinh danh
những người đă v́ lư tưởng,
đă nằm xuống và từ đó hướng
về tương lai. Đă 50 năm rồi,
không phải là lúc chỉ có
chửi hoặc ca tụng và thần
thánh hóa một người, một chủ
nghĩa, một đường lối sách
lược, đồng thời hạ thấp đối
phương là người Pháp. Hăy
xếp lại những oán hận, những
chiêu bài chủ nghĩa, những
vinh danh cá nhân hay đảng
phái để cùng nhau nh́n nhận
đó là chiến thắng đánh đuổi
thực dân Pháp của toàn dân.
“Đối với một bà mẹ, không có
lư tưởng tốt hay xấu, mà chỉ
có những đứa con đă mất. Ở
đây, trước những ngôi mộ
phần, cái biên giới thù
nghịch không c̣n, sự kiêu
hănh cũng như cay đắng không
c̣n, có chăng chỉ là những
niềm thương nhớ của một
người đối với một người đă
khuất.”
Đánh nhau, chiến trận là
chuyện bất đắc dĩ. Chẳng ai
trong chúng ta mong muốn có
một Điện Biên Phủ thứ hai.
Mọi người, từ những chiến sĩ
ngoài mặt trận đến chị dân
công đều khát vọng ḥa b́nh
mà trong đó không c̣n chiến
tranh nữa. Xin ghi lại đây
của một sĩ quan trong binh
đội cộng sản kể lại:
Chúng tôi
phải đào một
đường hầm bằng
tay, ngay dưới
vị trí của quân
đội Pháp. Đó là
những kỷ niệm
khủng khiếp nhất
không bao giờ
quên được. Người
th́ đào hầm bằng
tay, người th́
quạt để người
đào khỏi bị ngộp
trước khi đặt
chất nổ, v́
không ai chui
vào hầm quá 15
phút mà không bị
ngộp. Chỉ nội
trận đánh cứ
điểm Eliane 2 mà
ngày nay có một
nghĩa địa ở dưới
chân đồi, có 800
ngôi mộ đồng đội
đă chết.
Tướng Chương nói
tiếp: ‘chiến
tranh thật là
buồn.’
Ngày nay, đă về
hưu, ông sống
trong một ngôi
nhà nhỏ bên bờ
sông Hồng bên
cạnh bầy con và
8 đứa cháu.
Nhưng đầu óc ông
lúc nào cũng để
đâu đâu. Gia
đ́nh ông bảo ông
khùng. Ông ngồi
viết lại hồi kư
hay làm thơ kỷ
niệm 50 năm Điện
Biên Phủ. Trong
một góc của căn
gác, ông bầy một
bàn thờ để tưởng
nhớ những đồng
đội đă mất.Thắp
một nén hương
cho đồng đội,
thế là những
h́nh ảnh quá khứ
lại lần lượt
hiện ra...
Ông nói thêm,
giọng buồn,
“Tôi vẫn thất
học. Tôi không
thích chiến
tranh. Đối với
tôi, thế là đă
đủ rồi. Tôi đă
về hưu từ năm
1990 và lần đầu
tiên, tôi t́m
lại được nụ cười
100%.”
|