Nhận định của Nguyễn Văn Lục
về:
20 năm giới
trẻ miền Nam Việt Nam
Tôi đă viết những bài 20 năm văn học dịch miền Nam
Việt Nam, 20 năm triết lư Tây Phương miền Nam Việt Nam, 20 năm trí thức miễn
Nam nhập cuộc. Và cũng trong cái tinh thần ấy với bài này, 20 năm
giới trẻ miền Nam Việt Nam.
Tuổi trẻ miền Nam với những con người trẻ, trai có, gái có, với nếp sống,
nếp nghĩ, phản ứng vui buồn, ứng xử trước thời cuộc, trước cuộc đời mà trong
đó tôi là thành phần. Viết lại cho ḿnh, cho bạn bè mà cho các thế hệ sắp
tới nh́n lại cha anh ḿnh.
Miền Nam vào thủa ấy có khoảng ngót nghét 11 triệu dân sống rải rác từ Cà
Mâu đến Bến Hải. Các cậu thanh niên có cái mốt ăn mặc rất là lạ: Họ mặc quần
tây mà áo bỏ ngoài quần. Cậu nào cũng vậy. C̣n các cô th́ đi guốc mộc to bản
như guốc Nhật, nổi bật bàn chân nhỏ bé, được kỳ cọ trắng phau. Xinh quá. Hai
ống quần rộng đến chui vào được. Kỳ quá. Chiếc áo Bà ba rộng thùng th́nh, có
hai túi. H́nh như sự ăn mặc ấy hoang phí quá, không ăn khớp với thân h́nh.
Bao nhiêu đường cong, đường eo, vùng đồi ngực nở ùn lên, vùng thung lũng hoa
vàng bị khỏa lấp và san bằng hết.
Trong khi đó, gái Bắc th́ gọn gàng trong chiếc áo cánh vải phin nơn khít
khao hằn lên tuổi con gái bên trong cái yếm. Sức sống vươn lên, lồ lộ hẳn ra.
Hai tuổi trẻ, hai cách biểu hiện, hai vẻ đẹp. Hai miền hồi những năm 1955.
Họ gặp nhau như một định mệnh lịch sử vào cái ngày đất nước bị cắt làm đôi.
Hiệp định Genève vào ngày 21/7/1954 đă đưa họ lại gần nhau với những cú sốc
văn hóa để rồi t́m ra những ḥa giải và đồng thuận.
 |
|
Đây là con đường Tự Do
(Hải Pḥng vào Sài G̣n)
Nguồn/Ảnh: truyen-thong.org/US Navy
|
Dân số miền Nam vọt lên thêm một triệu người. Tức là tăng dân số miền Nam
lên 8%. Con số 8% quả là không nhỏ. Phải lo chỗ ăn, chỗ ở, chỗ học, chỗ làm
ăn sinh sống, chỗ an cư lập nghiệp. Cứ tưởng tượng, mỗi ngày có vài ngàn
người đến trong suốt mấy tháng trời. Công việc không hẳn là dễ. Nhưng rồi
mọi chuyện cũng đâu vào đấy. Và chỉ trong một thời gian rất ngắn, những
người trẻ chân ướt chân ráo ấy làm nên nhiều chuyện, nhiều kỳ tích trổi bật
trong chính trị, xă hội, nhất là trong lănh vực văn hóa, nghệ thuật.
Số phận của họ nay là số phận của toàn dân miền Nam, chia xẻ những vinh
quang cũng như những mất mát, thua thiệt.
Ở Sàig̣n, ngay khi Hiệp định Genève vừa được kư kết, thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm
ra lệnh treo cờ rũ. Để tang cuộc chia đôi đất nước.(1) Ông Diệm đă ra
tuyên cáo cực lực chống đối việc chia đôi Việt Nam. Chỉ sau một ngày, có
nghĩa là vào ngày thứ năm 22/7/1954:
Toàn miền Nam treo cờ rũ. Không chấp nhận cuộc chia đôi đất nước.
Cả một cuộc đổi đời cho người từ hai phía. Cách biệt và chia ĺa. Phía bên
kia, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Về ngọai giao, ta đă thắng lợi to: chính phủ
Pháp đă thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và lănh thổ toàn vẹn của
nước ta”(2).
Phía miền Nam vĩ tuyến 17. Lúng túng. Trước đó, ngày 16/6/1954.Tại Cannes
Bảo Đại chính thức cử ông Ngô Đ́nh Diệm lên làm Thủ Tướng toàn quyền để đối
phó với t́nh h́nh chính trị nguy ngập. Khi làm Thủ tướng, ông Diệm muốn đưa
số người di cư lên tổng số 2 triệu người, trong khi đó tướng Ély ước đoán
chỉ vào khoảng 200.000 người là cùng. Ông Diệm hẳn là có lư nếu quân đội
Pháp tích cực hơn trong việc cứu vớt người tỵ nạn.
Dù sao, con số gần một triệu người di cư vào miền Nam, tiềm năng và hứa hẹn
của đám mgười trẻ từ 45 tuổi trở xuống thật không nhỏ. Ông Diệm có cái lư để
kỳ vọng như vậy. Và người di cư đă không quên cái ơn ấy. Và đó phải được coi
là chuyện b́nh thường như trăm chuyện b́nh thường khác.
Trong khi đó, số người xin di cư hay hồi cư từ Nam ra Bắc chỉ có 4358 người.
Ở đây không kể khoảng 60000 cán bộ Việt Minh ở lại miền Nam, rút vào bí mật.
(3)
Nay ai đó có về quê thăm, ghé dùm xem Cái Sắn, Hố Nai, Bảo Lộc, vùng ven Bà
Rịa để thấy cuộc sống người dân ở đó như thế nào?
Cuộc di cư ấy mở ra cái dấu mốc lịch sử đánh dấu phân chia lằn ranh
Quốc-Cộng. Bên này là Quốc Gia, bên kia là Cộng Sản Tự Do và Độc tài. Cho
nên, khi bước lên tàu há mồm, người di cư nhận được một message rất rơ ràng:
Passage to Freedom. Chính v́ hai chữ đó mà bỏ quê hương miền Bắc ra đi. Chết
sống ra đi. Liều thân mà đi không cần biết tương lai sẽ ra sao? Ư nghĩa đó
cần được ghi khắc cho thế hệ mai sau để sau này không cho phép bất cứ ai
xuyên tạc, phỉ báng cuộc di cư đó. H. Amouroux trong số báo Aurore, ra ngày
4/4/1955 diễn tả đúng cái tinh thần ấy: “Trong suốt cuộc chiến vừa qua,
chúng ta đă nói rằng, ḿnh bảo vệ sự tự do và một số giá trị tinh thần…th́
hôm nay, họ cho biết rằng, họ hiểu được thế nào là tự do, dân chủ. Chúng
ta, thế giới tự do và không chỉ có nước Pháp, chúng ta có thể nào bỏ rơi
những con người đó mặc cho sự trả thù, đem quẳng họ lại vào bàn tay Cộng Sản
và làm cho cuộc bỏ trốn kỳ diệu của họ năm 1954 hóa ra vô ích sao? (4)
Đó là cuộc đi t́m Tự Do đến miền Nam như miền đất hứa mà nhà văn Sơn Nam gọi
là miền đất Lạc Thổ. Phải gọi là đất lành hay đất hứa mới thật là
đúng. Đó là cuộc Nam tiến v́ lư do chính trị lớn nhất trong lịch sử người
Việt, dân Việt. Đó cũng là bằng chứng không chối căi được cuộc bỏ phiếu
chống lại Cộng Sản bằng đôi chân của 865.000 người di cư từ Bắc vào Nam và
chấm dứt vào ngày 12/10/1954 ở Hà Nội.
Và trong số gần triệu người di cư đó, theo ông Từ Uyên (5), cho biết
rằng Bộ Tư lệnh Pháp đă dành 12 chuyến bay DC4 vào các ngày 12 và 13/8/1954
để chuyên chở giới sinh viên vào Sàig̣n. Cũng theo ông Từ Uyên, ông Ngô Đ́nh
Diệm đă từ trong Nam ra Hà Nội qua trung gian của bác sĩ Phạm Hữu Chương để
tiếp xúc với giới sinh viên Hà Nội cho việc tổ chức cuộc di cư này. Một cuộc
họp ở một biệt thự tại phố Hàm Long gồm có bác sĩ Phạm Hữu Chương, các sinh
viên Lương Trọng Cửu, Tôn Thất Cần và Từ Uyên.
Chính từ buổi họp này đă đưa đến quyết định đưa khoảng 1200 sinh viên từ Bắc
vào Sàig̣n.
Trong số những thanh niên, thiếu nữ từ miền Bắc di cư vào, họ là ai?
Họ là những thanh niên thuộc giới trí thức trẻ như Vũ Khắc Khoan, Trần Thanh
Hiệp, Vương Văn Bắc, Doăn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Quách Đàm, Hoàng Cơ Long, Tạ Tỵ,
Lưu Trung Khảo, Lư Quốc Sỉnh, Nguyễn Khắc Ngữ, Lữ Hồ, Họa sĩ Ngym Cao Uyên,
Bùi Đ́nh Nam, Tô Đồng, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Trần Kim Tuyến, Phạm Việt
Tuyền, Nhật Tiến, Mặc Đỗ, Hiếu Chân, Như Phong và những người trẻ c̣n ngối
ghế Trung Học như Đỗ Quư Toàn, Lê Đ́nh Điểu, Duyên Anh…Và hàng vạn thanh
niên thiếu nữ khác nữa …
Phía quân đội có các sĩ quan trẻ, cấp úy như Lê Nguyên Khang, Nguyễn Cao Kỳ,
Phó Quốc Trụ, Phạm Văn Phú, Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Bảo Trị, Hoàng Cơ Minh.
Phần đông bọn họ, không ai quá 30 tuổi. Họa hoằn trong số ấy như Vũ Hoàng
Chương lúc ấy 38 tuổi. Họ đều thành danh, có tên có tuổi ở Sài g̣n sau này.
Hầu hết bọn họ trở thành nhà văn, nhà báo, giáo sư đại học, đại sứ, nhà tư
bản v.v… Và nếu là sĩ quan th́ đều làm đến tướng cả, trừ có Phó Quốc Trụ.
Có nghĩa là cuộc đời họ, sau đó đă nên ông nên bà.
Tất cả những giới trẻ đó sau này phần đông trở thành những tài năng, những
tên tuổi trên chính trường miền Nam Việt Nam.
Đó vẻ đẹp, là niềm hănh diện chung của mọi người.
Tâm trạng lúc bấy giờ ở Hà Nội là đi hay ở. Ai đi, ai ở? Người ta gặp nhau
là để bàn chuyện đi hay ở. Và cũng từ đó bày ra cảnh chợ trời bán buôn giữa
kẻ đi, người ở.
Nói cho đúng ra, thủ tướng Diệm ra Hà Nội ngày 30/6/1954 là để quan sát t́nh
h́nh và để xem xét tổng quát kế hoạch rút quân đội Quốc gia ra khỏi Bắc Việt
đồng thời giải quyết vấn đề người di cư. Người Pháp th́ đă có chương tŕnh
triệt thoái binh lính Pháp ngay từ đầu tháng 6 rồi. V́ thế, lần lượt quân
đội Quốc Gia được rút khỏi Phát Diệm, Bùi Chu, Ninh B́nh, Thái B́nh và đầu
tháng bảy, sau đó rút khỏi Nam Định rồi Phủ Lư. (6)
Trong công cuộc di cư này, ông Diệm đă phản đối quân đội Pháp đă bỏ bom giết
chết hàng ngàn người ở Bùi Chu và rằng đôi khi người di cư phải trả giá 100
đồng cho mỗi người được chở đi. Sách Thập giá và lưỡi gươm, không phải, phải
nói là cuốn Dieu et César chỉ viết theo lời thuật lại của dân chúng đă thổi
phồng số tiền lên đến 5000 quan Pháp cho một chỗ trên thuyền bè? Người dân
quê lấy đâu ra tiền cho một chồ ngôi trên thuyền như vậy?
Kể từ ngày này, miền Nam tuổi trẻ thêm đa dạng, chẳng những thêm chất xám từ
Bắc vô Nam. Chẳng những có cuộc di cư người mà c̣n có cuộc Di cư chữ nghĩa.
Chữ nghĩa miền Bắc cũng lếch thếch đi theo người di cư xuống tầu há mồm vào
miền Nam mà nay có thể có chữ c̣n chữ mất.
Vào đến miền Nam, Mai Thảo viết Đêm giă từ Hà Nội. Để nhớ hay để quên? Và
dưới mắt nh́n của Trần Văn Nam th́ Đêm giă từ Hà Nội là tiêu biểu cho văn
nghệ thời kỳ này, v́ nó manh nha một lối hành văn mới, một nghệ thuật mới.
Trần Mộng Tú sau này xót xa Hà Nội:
Lâu lắm em mới về Hà Nội
Đi trên viên gạch tuổi thơ ngây
Gió mùa đông bắc làm em khóc
Hà Nội, anh ơi phố rất gầy (7)
Và ta hăy làm thinh lắng nghe:
Tôi xa Hà Nội năm em 16 khi vừa
biết yêu…
Hôm nay Sài g̣n bao nnhiêu tà áo khoe màu sắc vui, nhưng riêng một người
.. Hà Nội ơi …
Và mỗi một người trẻ rời Hà Nội đều mang theo một
mảnh Hà Nội qua hội họa, thi ca, tiểu thuyết hay âm nhạc.
Thêm vào đó, c̣n có một số không nhỏ giới thanh niên trẻ đă học thành tài
tại các nướcTây phương trở về với chính phủ miền Nam. Đây đă hẳn không phải
một cuộc di cư mà là một sự chọn lựa chính trị, chọn lựa giữa Cộng Sản và
Quốc Gia. Chọn lựa đứng về phía độc tài này hay phía tự do.Theo Nguyên Sa
Trần Bích Lan kể lại chỉ có một nữ sinh viên dược tên Thẩm Hoàng Thư trong
số các bạn bè của ông chọn về Hà Nội. Mà lư do chọn lựa hiểu được, v́ bố mẹ
cô ở lại Hà Nội. Đó là gia đ́nh ông Thẩm Hoàng Tín, gia đ́nh khá nổi tiếng
mà đă có một thời ông Thẩm Hoàng Tín làm thị trưởng Hà Nội.
Trong hồi kư của Vơ Long Triều cũng có nhắc lại giai đoạn ấy, nhiều giới trẻ
do dự trong quyết định giữa ở lại Pháp hay về miền Nam. Phần những người trẻ
đă chọn miền Nam, kẻ trước người sau lần lượt rủ nhau về. Tên đứng hàng đầu
của họ là Nguyên Sa Trần Bích Lan, Cung Trầm Tưởng, Trịnh Viết Thành, Hoàng
Anh Tuấn, Nguyễn Văn Trung, Lư Chánh Trung, Nguyễn Khắc Dương (em của Nguyễn
Khắc Viện), Lê Thành Trị, Trần Văn Toàn, Lê Tôn Nghiêm, Đỗ Long Vân, Nguyễn
Khắc Hoạch hay Trần Hồng Châu, Nguyễn B́nh An, Nguyễn Huy Lịch, Hải Linh,
Ngô Duy Linh, Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Quang Lăm, Nguyễn Đ́nh Đầu, Trần Thái
Đỉnh, Trương Bá Cần, Bùi Xuân Bào, Vơ Long Triều, Huỳnh Văn Lang (Ở Mỹ về do
lời kêu gọi của ông Diệm), Nguyễn Văn Trường, Bùi Xuân Bào, Trương Công Cừu,
Nguyễn Văn Hanh v.v... Kể sao cho vừa.
Cuộc di cư ngót một triệu người đó với giới trẻ miền Bắc cộng với các giới
trẻ sẵn có ở miền Nam và các giới trẻ thanh niên về từ Âu Châu đă thay đổi
phần lớn bộ mặt miền Nam về xă hội, nếp sống, sinh họat kinh tế và nhất là
Văn học nghệ thuật.
Về nếp sinh hoạt — Bộ mặt Sài g̣n, lúc 1955, người ta c̣n thấy những
thầy Cảnh Sát được gọi là Mă Tà, đứng huưt c̣i ở các ngà tư đường. Vậy mà
chẳng bao lâu chữ gọi mă tà đó đă biến mất.
Và sau này, sẽ c̣n nhiều cái biến mất như thế.
 |
|
Nhiều cái biến mất như thế
để Sài G̣n như hôm nay.
Nguồn: vnn.vn
|
Người ta vẫn c̣n thấy những xe thổ mộ đủng đỉnh, kêu lóc tóc vui tai với các
lục lạc của xe ngựa kéo trên các con đường từ chợ Bến Thành xuống tận Ngă Tư
Bảy Hiền, hay từ Bến thành đi chợ Bà
Chiểu. Nó vẫn như ngang nhiên thách đố với các tuyến đường xe buưt nay đă
chật ních người. Nó vẫn có những khách hàng quen thuộc là những người thuộc
giới b́nh dân, giới buôn thúng bán mẹt. Nó chỉ dần dần biến mất lúc nào
không ai hay khi mà những chiếc xe Lambretta ba bánh nhập cảng từ Ư đă được
chế biến lại cùng chạy trên những tuyến đường đó. Xe Lam nhanh hơn, chở tới
12 người, 10 người ngồi ở đằng sau, khi cần, có thể ghé thêm hai người ngồi
bên cạnh tài xế. Vậy tất cả là 13 người chứ không 12. Xe lại có nhiều chuyến
hơn, cứ đầy là chạy và ngồi thoải mái hơn.
Đặc biệt bên hai thành xe có ghi hai câu: Hữu sản hóa, đợt tự chủ.
Nếu tôi nhớ không lầm chính sách hữu sản hóa này là ở dưới thời ông Kỳ
làmThủ tướng. Nhưng xe xích lô ba bánh, xích lô đạp, đặc sản miền Nam vẫn
tồn tại trong suốt 20 năm miền Nam c̣n lại.
Người trung thành nhất với xích lô đạp, phải chăng là thi sĩ Vũ Hoàng Chương?
Có thể ông nghèo v́ hút thuốc phiện, nhưng mỗi lần đi dạy ở trường Chu Văn
An ông luôn luôn đến trường bằng xe xích lô đạp. Quần áo luôn luôn là ủi
thẳng nếp, thắt cravate, tay áo manchette bằng vàng, đầu chải bóng.
Người chạy xích lô đạp thường tranh nhau mời ông không phải v́ ông là thi sĩ,
mà v́ người ông nhẹ như bấc, không chắc ông có cân nặng bằng nửa số kư của
người khác không?
Tác giả Lửa Từ bi hồi 75 đă đi tù Cộng Sản.
Ông nhẹ như bấc, không biết người Cộng sản sợ ông nỗi ǵ, sợ một người nhẹ
như bấc mà đầy đọa ông trong tù. Hỡi những kẻ ngồi lom khom viết bài bênh
“Cụ Hồ” nghĩ ǵ về việc đầy đọa trong tù một thi sĩ trói gà không chặt? Lúc
họ thả th́ vài ngày sau, ông giă từ cơi thế. Chắc ông cũng chả muốn sống làm
ǵ?
Và có ai ngờ rằng, xích lô đạp vẫn có chỗ của nó sau hơn nửa thế kỷ sinh tồn.
Sau giải phóng, rất nhiều nhà văn, nhà báo, chuyên viên, giáo sư đổi ra đạp
xích lô.
Đó cũng là một góc cạnh về thế hệ thanh niên miền Nam đọa đầy dưới gót của
đôi dép râu?
Và tự nhiên nay nó trở thành biểu tượng nếp sống văn hóa của một thời. Hà
Nội nay nhan nhản xích lô đạp dành cho khách du lịch chạy ṿng ṿng quanh
khu phố cổ Hà Nội.
Người ngoại quốc danh tiếng nào đến Việt Nam th́ cũng có dịp ngồi trên đó cả.
Mới đây vợ chồng Brad Pitt và Angelina Jolie cũng có dịp ngồi xe xích lô cho
biết mùi vị Việt Nam.
Nhưng cái đổi thay rơ nét nhất là cái áo dài con gái thay thế cho chiếc
áo bà ba, chiếc quần hai ống rộng. Chẳng bao lâu sau, chẳng biết từ lúc
nào toàn miền Nam mà đặc biệt các nữ sinh Trung Học, từ Sài g̣n ra Trung, từ
Sài g̣n xuống Lục tỉnh. Chỉ áo dài là áo dài. Áo dài Trưng Vương, áo dài Gia
Long, áo dài Nguyễn Bá Ṭng, áo dài Nữ trung học Lê văn Duyệt, áo dài Nguyễn
Đ́nh Chiểu, Mỹ Tho, áo dài Tống Phước Hiệp, Vĩnh Long, áo dài Nữ Trung Học
Nha Trang và nhất là áo dài Đồng Khánh Huế.
Em c̣n áo trắng ngày xưa
Trông anh muôn thuở bao giờ lệ hoen.
(Thơ Phạm Thiên Thư)
Tôi đă không biết bao lần quên lối về bởi chiếc áo
dài con gái Nha Trang, Huế, Biên Ḥa, Sài g̣n. Để rồi:
Hôm sau vào lớp
Nh́n em ngại ngần
( Phạm Thiên Thư)
Và nó cũng mở đầu cho thiên t́nh khúc tuyệt vời
Ngày xưa ... Hoàng Thị của Pham Thiên Thư:
|
 |
|
Vai nhỏ tóc dài thoảng nét ngày
xưa
Nguồn: pengzipk.hp.infoseek.co
|
Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ..
Anh đi theo hoài
Gót giày thầm lặng
Đường chiều úa nắng
Mưa nhẹ bâng khuâng
Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Bước em thênh thang
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài
Áo em ngày nọ
Phai nhạt mây mầu
Chân t́m theo nhau
C̣n là vang vọng …
Nó biểu tượng cho cái ǵ tinh khiết, trinh nữ, tinh tuyền và mời gọi. Nó che
dấu bằng hai vạt áo dài mà như thể mở, biện chứng kín mà hở. Nó mời mọc mà
kín đáo chối từ, nó bày tỏ phái tính, sexy đến ứ cổ họng với nét nổi lên của
chiếc quần lót hằn lên tuổi dậy th́. Không có y phục phụ nữ nào trên thế
giới lại sexy đến như thế. Ngay cả sau này với mini-jupe cũng không sánh b́.
Nó không cần đến những Cardin, Courrèges, St. Laurent, Paco Robanne. Cùng
lắm, nó chỉ thua Le Panty, Monokini, quần lót Le petit bâteau của thập niên
1970 Nhưng những thứ này phải “ăn gian” từng centimét mới có được như thế.
Áo dài không ăn gian. Cạnh đó là hàng nút bấm mong manh như lối ngơ vào bên
trong nằm hở ra cạnh sườn. Nó không những chỉ là một nét đẹp con gái mà nó
trở thành biểu tượng cho một nếp sống văn hóa Việt Nam.
Sau này, không biết bao nhiêu những tranh ảnh, b́a báo Xuân, báo Tết chụp
h́nh các thiếu nữ trẻ miền Nam trong chiếc áo dài truyền thống đó.
Và người ta có thể hănh diện về điều này mà không có ǵ phải hổ thẹn khi nói
đến.
Tuổi thanh xuân thiếu nữ đi liền với nét đẹp con gái ấy. Nó phản ánh thế hệ
thanh thiếu nữ thời ấy mà hễ bất cứ ai không c̣n là con gái, xồ xề một chút,
vùng đùi, vùng mông nở nang một chút là mặc áo dài thường khó coi.
Sự đ̣i hỏi của tôi có khắt khe quá chăng? Nhưng chính sự đ̣i hỏi khắc nghiệt
ấy làm tăng giá trị chiếc áo dài miền Nam tuổi trẻ. Nhiều phụ nữ các bà mặc
trong các dịp lề hội. Thấy làm sao.
Rất tiếc sau 75, ra ngoài đường, Sài g̣n vắng bóng chiếc áo dài. Cũng là
vắng bóng tuổi trẻ miền Nam? Hay tuổi trẻ miền Nam không c̣n nữa? Người ta
không c̣n phân biệt ai là con gái, ai là đàn bà được nữa đến như thể ai cũng
là đàn bà, đến như thể ai cũng mất cả rồi.
Khi không c̣n những áo dài đó, Sài g̣n buồn thiu. Như cây rừng không c̣n lá.
Tuổi trẻ miền Nam thời ấy biểu tượng vẫn là h́nh ảnh cô thiếu nữ mặc áo dài
trắng quần trắng. Đừng thứ mầu khác, đừng xanh đỏ ḷ loẹt. Vén tà áo dài
sang bên, hở một bên, kín một bên, cho thấy đùi trinh nữ, cho thấy tuổi dạy
th́, hai đùi nhẹ khép lại khi bước đi hay khi ngồi trên chiếc xe vê lô sô
lếch thời thượng.
Bây giờ, tôi không thấy những bước đi kiêu sa thiếu nữ như thế nữa. Đó là
h́nh ảnh cô gái, ḿnh ong thon thon ngồi trên chiếc xe Solex trông giống như
một con ḅ ngựa biết bay. Phất phới, tung gió, nhẹ lướt, mái tóc hất lại
đẵng sau, đầu buộc bím mầu xanh tím, để lại đằng sau những cái nh́n dơi suôi
bắt không kịp. Và những đôi mắt thèm thuồng.
Ingarary gọi đó là một chuỗi diễn hành phái tính (Mascarade de la fénimité )
Xin mượn lời thơ của Nguyên Sa:
 |
|
Giấc mơ em mặc jupe hồng ...
thôi rồi Sài G̣n ơi!
Nguồn: eng.hochiminhcity.gov.vn
|
Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay?
Em cười tà áo bay trên
Đám mây ở dưới nỗi phiền muộn xa
Anh ngồi chỗ hẹn hôm qua
Đám mây ngồi cạnh bài thơ nhẹ nhàng,
Giấc mơ mặc áo lụa vàng
Nơi anh nằm ngủ có hàng Thùy dương
(Nhẹ nhàng) (8)
Trong khi đó th́ những cậu con trai cỡi xe Vespa, đời
ED, đôi kính mầu đen, chiếc áo Montagu, mầu xanh đậm rồ ga hay lượn uốn éo.
Nếu Solex là con gái, th́ Vespa là con trai. Nếu Solex là con ḅ ngựa th́
Vespa là con bọ hung. Solex là nữ tính, Vespa là nam tính (9).
Nếu con gái ăn quà th́ con trai Bát phố. Bát phố phải chăng là nói nhại từ
tiếng Pháp battre le pavé? Thôi th́ là ǵ cũng được. Và xin mượn lại chữ
nghĩa của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng:
... Từ xa phố chợ đến giờ
Chân thôi bỏ lệ gơ bờ lộ quen (10)
Bát phố là một thứ giải trí chiều thứ bảy của con trai Sài g̣n. Mà điều căn
bản là có mặt. Làm ǵ, bận bịu ǵ cũng bỏ đi Bonard bát phố. Sinh viên, học
sinh các lớp tú tài, lính tráng đi hành quân ở xa về, công chức các bộ, các
nha đều đi dạo phố, ngắm người hay *rửa mắt. Mà phần lớn bọn họ là độc thân,
chưa có vợ con. Nếu sang một tư th́ vào Givral ngồi, tàm tạm th́ một ly nược
mía Viễn Đông cũng xong.
Đi dạo phố trở thành một thói quen, một nếp sống của con trai Sài g̣n. Ngoài
Sài g̣n, tôi chỉ thấy ở Huế có sinh hoạt bát phố tương tự. Nhưng ở Huế, số
con gái đi dạo phổ kể là đông và đi từng nhóm hai ba cô. Họ sợ bị bắt nạt
chăng? Cô nào cũng có chiếc nón không phải để che nắng, che mưa mà để che
cái nh́n trộm của con trai. Gái Huế đi dạo trên đường Trần Hưng Đạo mới thật
là một diễn hành phái tính. 10 lần ra Huế th́ y như rằng ra đi là để lại một
cái ǵ?
Con gái biểu tượng nhất, cái Look theo nghĩa bây giờ là h́nh ảnh cái thân
h́nh dong, lưng thẳng, găng tay trắng, cặp kính mầu, áo dài trắng, phải áo
dài trắng mới được, mới con gái, mới trinh nữ, mới thanh khiết. Vạt áo dài
phía sau vắt ngang sang bên kia để hở một bên phần đùi trông cộn hẳn lên
trên chiếc Vê lô solex mầu đen. Đi xe vê lô solex chứng tỏ con nhà khá một
tư, sang trọng và đài các. Cái dáng ngồi solex trông rất con gái, rất phái
tính.
Người phụ nữ sinh ra là để như vậy. Les femmes seraient faites ainsi.
Quyến rũ bằng chính thân xác ḿnh.
Nhờ áo dài đó mà phụ nữ, cô nữ sinh trở thành phụ nữ hơn. La robe lui
permettait de devenir plus féminine. Phải nói là thời thượng và ấn tượng
lắm. Cộng thêm cái thói ăn quà vặt. Ăn qùa vặt là rất con gái, rất trẻ, rất
bắt mắt. Khi cô nữ sinh ăn quà th́ tưởng là ăn quà thật. Nhưng đôi khi cũng
chỉ là cái cớ sự cho sự tŕnh diễn, sự được nh́n. Nó như chờ đợi một điều ǵ
đó. Điều mà Thị Nở đă chờ đợi từ tuổi 15,16 thời con gái, nay đà 30 và bao
nhiêu thế hệ con gái cũng đă chờ đợi như thế. Như cơn mưa mùa hạ. Như chồi
non hé nụ. Như em chờ anh lúc này. Chí Phèo chỉ đến hoàn tất công việc chờ
đợi ấy.
Cuộc đời đôi khi đơn giản là như thế.
Ngoài hai thứ đó ra, con gái cũng đi dạo phố. Con trai đi dạo phố là để ngắm.
Con gái đi dạo phố xuất hiện như một tŕnh diễn, ăn diện, mốt, kiểu để được
nh́n, để được thừa nhận, để nhận phần lớn là những lời tán tỉnh, khen tặng.
Đó là cả một cái guồng máy của sự xuất hiện. L’engrenage du paraitre .
|
 |
|
Vespa Sài G̣n (thập niên 1960)
Nguồn: scooteraz.com
|
Và cuối cùng, thú vui giải trí chung cho cả con trai lẫn con gái vẫn là ciné
và tiệm sách. Ciné là nơi hẹn ḥ để trai gái gặp nhau cuối tuần để tṛ
chuyện, để tỏ t́nh, để lén lút hôn nhau. Những nụ hôn mật ngọt ấy. Quên sao
được. Những mối t́nh của giới trẻ thời đó đến đó và dừng lại ở đó. Sau đó để
lại một chút ǵ. Để kỷ niệm, để nhớ, để măi măi là như thế.
Nay gặp nhau cuối đời, ḷng như chợt tỉnh, như chấu ủ bếp lửa bừng lên từ
đám tro tàn. Gặp nhau muộn phiền, thương hoài ngàn năm.
Viết đến đây lại chợt nghĩ đến Nguyên Sa. Ông đă nói hộ cho tuổi trẻ Sài
g̣n:
Nắng Sài g̣n anh đi mà chợt mát
Bởi v́ em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu mầu áo ấy vô cùng
Tuổi trẻ miền Nam là như thế. Lành mạnh mà không
thiếu lăng mạn, t́nh tứ. Dắt tay nhau mà đi. Làm thơ t́nh. Gởi gắm nhắn nhe.
Chân díu bước mà mắt nh́n
vương vướng
Nàng đến gần tôi chỉ dám quay đi
Cả những giờ bên lớp học trường thi
Tà áo khuất th́ thầm chưa phải lúc
(Tuổi mười ba)
(C̣n tiếp)
Copyright © 2006 DCVOnline
(1) Trích Le Dragon d'Annam của vua Bảo Đại,
trang 333.
(2) Trích trong Nh́n lại 60 năm tranh đấu cho Việt Nam, hồ sơ đệ tứ
tập 3, trang 318, Nhóm đệ tứ tại Pháp.
(3) Đọc thêm 1945/1995 , Lê Xuân Khoa, trang 266-276
(4) Trích lại trong Thập Giá và lưỡi gươm, Trần Tam Tỉnh, trang 111.
LM Trần Tam Tỉnh là giáo sư đại học Laval, tỉnh Québec. Cuốn sách vừa kể
trên thật ra chỉ là cuốn sách dịch từ cuốn Dieu et César, Paris, thánng
10/1978. Và bằng một cách không lương thiện, Vương Đ́nh Bích, một linh mục
quốc doanh dịch chẹo ra Thập giá và lưỡi gươm. Đổi nhan đề như thế với đầy
ác ư. Tôi đà có 4,5 lần có dịp găp Lm Trần Tam Tỉnh từ chiều đến đêm, chỉ có
hai người. Lm đă không bao giờ nhắc đến bản dịch này. Phần tôi cũng không
tiện hỏi. Cuốn sách do sự chỉ đạo biên tập của Trương Văn Khuê. Thêm mối
nghi ngờ cắt xén, thêm bớt, ngụy tạo. Đă hẳn cần dè dặt lắm đối với bản dịch
này. Cả một cuốn sách như thế, nhưng tôi không hề thấy một tham khảo, trích
dẫn tài liệu từ bất cứ sách vở nào, trừ sự trích dẫn từ mấy tờ báo.
(5) Trong cuốn Những ǵ c̣n nhớ do tập san Y sĩ phát hành,
2001
(6) Xem Việt Nam niên biểu 1939/1975, Chính Đạo 401
(7) Trích Trần Mộng Tú Hà Nội Gió hopluu.net/ Phụ trang đặc biệt/ Kư
– HanoiGio-tmt.htm
(8) Trích lại trong Trong ḍng cảm thức Văn Học miền Nam của Trần Văn
Nam, trang 411-412
(9) Dĩ nhiên, sau velo Solex th́ cũng có một số xe hiệu khác như xe
gắn máy hiệu Goebel, Sach của Đức. Có thể nó hữu dụng, nhưng trong bề ngoài
khó coi, dị tướng. Rồi cái PC nhỏ nhắn, xinh sắn, xe đạp Mini cũng một thời
cho đến lúc xuất hiện xe Honda 67. Chiếc xe Honda đến thay đổi hẳn diện mạo
xe gắn máy ở Sài g̣n. Hữu dụng, mát mắt, vụt phóng, không cần phải đạp ga ́
à ́ ạch.
(10) Trích Bùi Bảo Trúc trong bài Chữ Nghĩa chúng ta