Nghiên cứu của Nguyễn Văn Lục về:

20 năm giới trẻ miền Nam Việt Nam (2)

Sinh hoạt chính trị 55/65

Dẹp giáo phái

Ngày 28/4/1955, vào lúc buổi chiều, quân đội Quốc gia đă chiếm đóng cầu Tân Thuận và Khánh Hội. Ngày 30/4, QĐQGVN chiếm cầu chữ Y. Ngày3/5, quân B́nh Xuyên với Lai Hữu Tài, Lai Văn Sang, Lê Văn Viễn đă triệt thoái khỏi khu vực Sài g̣n-Chợ Lớn. Quân đội B́nh Xuyên hoàn toàn tan ră rút về phía Rừng Sát.

Bản đồ: Saigon-Chợ Lớn, B́nh Xuyên, Rừng Sát
Nguồn/Ảnh: drugtext.org


Người viết lúc đó c̣n là một thiếu niên chỉ c̣n nhớ vào lúc buổi chiều, đang theo học lớp 5ième tại tư thục Phong Châu, gần trường đua Phú Thọ. H́nh như trường ở đường Bà Hạt. Hôm đó là giờ Pháp Văn của giáo sư Nguyễn Văn Quới, giáo sư Pétrus Kư. Ông đang giảng tuồng Le Cid của Corneille. Nghe có tiếng súng nổ miệt cầu chữ Ỵ, không ai ngạc nhiên, v́ biết trước sau ǵ cũng xảy ra. Gíáo sư vừa cười vừa nói: Thằng Lục giờ này nó đang lo sợ và cầu cho ông Ngô Đ́nh Diệm. Cả lớp cười về câu diễu của thày Quới.

Điều đó cũng nói lên được rằng dù chuyện dẹp B́nh Xuyên là chuyện không thể không làm. Ai làm Thủ tướng cũng phải tính chuyện đó cho xong. Không tính xong là không xong, là bất ổn. Nhưng dầu vậy, ḷng người vẫn chưa hẳn là thuận hết.

Nhưng may thay, mọi người Việt Nam, nhất là thanh niên, giới trẻ, lúc bấy giờ đều có một giấc mơ là làm thế nào để có một miền Nam phát triển và phú cường để đối địch với miền Bắc.

Và mặc dầu c̣n có những bất cập đủ thứ, tôi vẫn phải nh́n nhận rằng, những năm tháng c̣n lại, kể từ ngày ấy, mỗi giây phút năm tháng sống, học hành, lớn lên thành người thời đệ nhất Cộng Ḥa Việt Nam vẫn là những năm tháng ân sủng cho tuổi trẻ của tôi và những bạn bè cùng trang lứa.

Chúng tôi đă lớn lên từ đó, trở thành người hữu dụng cũng từ đó.
 

Cafe Givral, Mở cửa từ năm 1950
Nguồn/Ảnh: www.vienglish.com


Như lời Phạm Duy tỏ bày: ”Dưới thời Cộng Ḥa thứ nhất, từ khi chế độ nhà Ngô thành lập và tiến dần tới thời thịnh trị rồi mạt vận, miền Nam, nếu chưa được là thiên đường của đông đảo văn nghệ sĩ đi t́m tự do th́ cũng là nơi đất lành chim đậu. Một thế hệ văn nghệ sĩ mới đă thành h́nh và họat động dữ dội bên những vị đàn anh di cư từ miền ngoài. Pḥng trà, tiệm bánh, quán nước như Kim Sơn, Mai Hương, La pagode, Givral, Brodard … là nơi không hẹn mà văn nghệ sĩ tới gặp nhau hằng ngày.” (11)

Trong 9 năm cầm quyền thời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, chỉ có 3 lần có những biến động chính trị. Nhưng chỉ riêng năm 1964, có 13 lần miền Nam rơi vào những biến động có thể làm lung lay nền Cộng Ḥa. Nói như thế để thấy rằng sự ổn định chính trị nằm ở thời điểm nào.

Người nào không nh́n nhận những điều ấy th́ chỉ thiệt tḥi cho chính họ thôi, bởi v́ họ tự ḿnh bôi xóa tuổi trẻ của chính họ. Nhiều người đă bôi xóa như thế để chạy theo vài ảo tưởng chính trị, hoặc nếu ở ngoại quốc th́ chạy theo những xu hướng thiên tả vốn chẳng dính dáng ǵ đến thực tế chiến tranh Việt Nam.

Phần tôi nghĩ rằng, chúng tôi không bước đi những bước đi đơn độc.

Chúng tôi có bạn đồng hành, đồng trang lứa, có những người lính, người sĩ quan VNCH cùng lớn lên ở đấy, đang xả thân thay cho chúng tôi. Và cho dù cuối cùng để mất miền Nam th́ những giá trị tinh thần ấy vẫn c̣n đó. Một người bạn của tôi, anh LTL, từ miền Bắc di cư sang đây thường nói: “Các anh ngốc lắm, các anh thua Cộng sản là phải. Các anh sướng mà không biết. Ngoài Bắc chúng tôi đói khổ, rồi nạn đấu tố trong cải cách ruộng đất những năm 1955-1956. Gia đ́nh chúng tôi tan nát.” Và anh khóc. Cứ nói đến đó là anh khóc. Phải sống với Cộng Sản mới biết. Tôi vẫn nghĩ rằng những anh em bên Đông Âu, họ hiểu thâm sâu thế nào là người Cộng Sản hơn bất cứ ai khác.

Điều nên lưu ư là ṭa đại sứ Hoa Kỳ đă được lệnh hủy công điện đánh đi vào ngày 27/4/1955 với nội dung “thay thế Diệm”. V́ thế ngày 1/5 khi Collins lên đường qua Việt Nam th́ ngoại trưởng Dulles đă chỉ thị phải ủng hộ ông Diệm vô điều kiện.

Ngày 5/6, quân đội Quốc Gia tấn công Ḥa Hảo. 13 ngày sau, tướng Nguyễn Giác Ngộ và 5 tiểu đoàn Ḥa Hảo ra đầu hàng.

Ngày 13/7/1956, Ba Cụt bị bắt ở Chắc Cà Đao và bị kết án tử h́nh. Chính phủ VNCH dẹp yên được giáo phái chống đối chính quyền trong suốt hai năm.

Ngày 26/10 được chọn là ngày Quốc Khánh của Việt Nam Cộng Ḥa. (12)

Cho đến giờ này, vẫn c̣n những nghi vấn về cái chết của tướng Trịnh Minh Thế và kẻ gây ra những nghi vấn ấy không ai khác hơn là cán bộ Cộng Sản Lê Trọng Văn.

Cuộc biểu t́nh chống Hiệp thương và chống phái đoàn quân sự Bắc Việt tại khách sạn Majestic

Nay ít người c̣n nhớ đến chuyện này. Xin nhắc lại để thế hệ mai sau hiểu rơ hơn công việc tranh đấu của giới trẻ thời đó. Đă nhiều lần Hà nội đề cập đến vấn đề Tổng tuyển cử nhưng chính phủ ông Diệm không kư hiệp định Genève nên không nhất thiết phải thi hành. Ngày 16/7/1955, ông Diệm tuyên bố trên đài phát thanh là không chấp nhận Tổng tuyển cử.

Nhưng Phạm Văn Đồng đă gửi thư cho ông Diệm yêu cầu mở hội nghị Hiệp thương từ ngày 20/7/1955 như đă quy định trong Hiệp định Genève. (13) V́ thế, ngày 20/7/1955, chính quyền có tổ chức một cuộc biểu t́nh do sinh viên học sinh tham dự nhằm chống lại phái đoàn quân sự do Văn Tiến Dũng cầm đầu. Chúng tôi c̣n nhớ rằng cuộc biểu t́nh đó phần lớn là do giới sinh viên tại Học xá Minh Mạng và học sinh Phú Thọ lều tham dự. Nó không phải một cuộc biểu t́nh tuần hành b́nh thường bất bạo động. Trái lại, nó có tính cách bạo động với gậy gộc, đốt phá những nệm giường được quẳng xuống từ trên lầu khách sạn Majestic và khách sạn Galliéni. Đoàn biểu t́nh do sinh viên phát động đă đập phá đến tan hoang khách sạn Majestic và khách sạn Gallíeni đường Trần Hưng Đạo. Phần Văn Tiến Dũng sợ hăi đă bỏ trốn về Gia Định và sau đó được người Pháp giúp đỡ để ra trở lại miền Bắc.

Việc biểu t́nh đốt phá này dù sao cũng chứng tỏ cho thấy giới sinh viên, học sinh đă tích cực tham gia vào các sinh hoạt chính trị trong nước, đồng thời chấm dứt mọi mưu toan về phía Bắc Việt muốn Tổng tuyển cử để thống nhất đất nước vào năm1956 sắp tới đây. Như lời ông Từ Uyên viết như sau: Khi trở lại Sài g̣n, tôi thấy sinh viên không thể ngồi yên chỉ lo việc học hành hay quẩn quanh trong vài công tác xă hội, hay vài hoạt động thể thao, mà phải nhập cuộc tham gia việc bảo vệ miền Nam tích cực hơn.(14) Trong khi đập phá như thế th́ một phụ tá của Văn Tiến Dũng đă bị thương. Hồ Văn Anh, tức Hoàng Anh Tuấn là người đă bị thương đến chột một mắt.

Sau này, đại tá Hoàng Thụy Năm, đại diện VNCH bên cạnh Ủy hội Quốc tế đ́nh chiến ở Việt Nam đă bị Việt Cộng ám sát. Chẳng hiểu việc ám sát này nhằm mục đích ǵ?

Thật ra, đây chỉ là một h́nh thức cảnh cáo và dằn mặt bọn Cộng Sản và chấm dứt mọi liên lạc về vấn đề Hiệp thương.
 

Văn Tiến Dũng, người thứ ba từ trái sang phải. Ảnh chụp năm 1992
Nguồn/Ảnh: 100years.vnu.edu.vn


Ông Lâm Lễ Trinh viết trong bài “Kư ức 50 năm sau” như sau ...Ngày 20/7/1955, Chính phủ Diệm tuyên bố không chấp nhận chuẩn bị tổng tuyển cử qui định bởi Hiệp ước Genève. Với sự cộng tác của Bộ Nội vụ do người viết phụ trách, Hội đồng Nhân Dân Cách mạng tổ chức một cuộc biểu t́nh vĩ đại để đuổi về Bắc phái đoàn Văn Tiến Dũng trong Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đ́nh chiến (gồm có Ba Lan và Ấn độ). Văn pḥng đại diện CS đặt tại khách sạn Majestic, Bến Bạch Đằng. Majestic bị phóng hoả, gây thiệt hại trên 5 triệu bạc, cũng như một khách sạn khác mang tên Galliéni ở đường Trần Hưng Đạo. Văn Tiến Dũng và các đồng chí thoát thân về trại của chúng ở Gia Định, bên cạnh nhà thương Nguyễn Văn Học. Nhiều ngày liên tiếp, đồng bào di cư, sinh viên, học sinh... cô lập họ bằng những lời chửi rủa thậm tệ. Điện, nước, lương thực bị cúp hoàn toàn. Cuối cùng Ủy Hội liên lạc với chính phủ xin bảo đảm cho phái đoàn Bắc Việt rời Sàig̣n. Tổng Nha Cảnh sát / Công An cho những chiếc xe nhà binh bít bùng chở chúng lúc trời hừng sáng đến Tân Sơn Nhứt dưới sự đả đảo vang dậy của quần chúng. Tác giả bài này đích thân đến phi trường kiểm soát mọi thủ tục. Vào lúc máy bay Ủy hội sắp cất cánh, một sĩ quan CS hốc hác, đầu đội nón cối, không mang phù hiệu, bước đến chào người viết theo lối nhà binh, tự xưng là thiếu tá Văn Tiến Dũng. Y tỏ lời cám ơn giúp phái đoàn ra đi trong trật tự.”

Biến cố Phật giáo 63. Đă viết rồi, không viết lại ở đây.


Sinh họat văn học, nghệ thuật miền Nam thập niên 50-63 của giới trẻ

Cuộc di cư ấy chẳng những đem sức người vào mà c̣n đem theo cả một « thủ đô văn hóa » theo nó nữa. Những người có sẵn tiếng tăm như các thi sĩ Vũ Hoàng Chương với hành lư đem theo là Thơ Say:
Em ơi, lửa tắt b́nh khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai.
Và không thể không nhắc tới Đinh Hùng với Tự t́nh dưới hoa...Thêm vào đó là những tiềm năng không thể chối căi được: Mai Thảo và những tên tuổi nối tiếp như Doăn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Thảo Trường, Dương Nghiễm Mậu, Quách Thoại, Nguyễn Bắc Sơn và cứ thế, cứ thế tiếp nối Mai Trung Tĩnh, Vương Đức Lệ, Du Tử Lê, Trần Lê Nguyễn, Sao Trên Rừng cũng là Nguyễn Đức Sơn, Hoàng Anh Tuấn, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Mạnh Côn, Thạch Chương, Nguyễn Nghiệp Nhượng và nhừng nhà văn như Thế Uyên, Duyên Anh, Nhật Tiến. Những nhà văn trên đă cùng vời các nhà văn miền Nam như B́nh Nguyên Lộc, Vơ Phiến, Sơn Nam, Quách Tấn, Nguyễn Văn Sâm, Lê NgọcTrụ tạo thành Văn học miền Nam.

Đă một thời. Đă một tên tuổi. Đă một gia tài văn học.

Chẳng lạ ǵ Mai Thảo trong số Sáng Tạo số 1, tháng 10/1956 đă mở đầu bằng lời tuyên bố: “Sáng Tạo thay thế cho Hà nội, từ một đô thị miền Nam trở thành thủ đô tinh thần của toàn thể đất nước. Sài g̣n sáng tạo và suy tưởng.” Tiếp theo là những Văn hóa Ngày Nay. Bách Khoa, Hiện Đại, Nhân loại, Văn Học.

Mai Thảo với Sáng Tạo lúc bấy giờ muốn làm mới văn học, chủ trương “một nghệ thuật hôm nay”. Nghệ thuật hôm nay thế nào th́ chưa biết, chỉ biết rằng nó mở đường cho Hiện đại, Thế kỷ hai mươi, Nghệ thuật ra đời. Và như trong một cuộc phỏng vấn sau này, 1971, Mai Thảo đă nh́n nhận Tờ Sáng Tạo là của những thí nghiệm và những mở đường. (15)

Nhưng sự có mặt của Sáng Tạo và những nhà văn trẻ vô t́nh đă đẩy lui một số khuôn mặt quen thuộc những nhà văn, nhà thơ cũ vào im lặng. Họ là những Đông Hồ, Vũ Bằng, Quách Tấn, Thiên Giang, Thẩm Thệ Hà, Tam Lang, Vi Huyền Đắc, Hô Hữu Tường và đặc biệt ngay cả Nhất Linh với tờ Văn Hóa Ngày Nay.
Khi số báo đầu tiên của Văn Hóa Ngày Nay ra ngày 27/6/1958, đă bán được 10.000 số. Sự ṭ ṃ háo hức t́m lại Tự Lực Văn Đàn nhanh chóng trở thành nỗi thất vọng: Vẫn thế. Vẫn như thời 40-55. Không ai ngờ, sau đó, độc giả bỏ rơi Nhất Linh.

Chưa có thời kỳ nào mà Văn nghệ miền Nam nở rộ như thế.

Về báo chí: có tờ Tự Do, Ngôn Luận, Chính Luận với nhiều cây viết b́nh luận có tài như Hiếu Chân, Hà Thương Nhân. Sau này có Ao thả vịt, báo Sống của Chu Tử, Thương Sinh, tức Duyên Anh của tờ Xây Dựng. Các báo trên nhấn mạnh vào phạm vi chính trị, về tin tức thời sự thế giới. Các báo của người miền Nam thường chú trọng câu độc giả ở những truyện tiểu thuyết t́nh cảm xă hội hay tiểu thuyết Chưởng Kim Dung, kiếm hiệp như tờ Sài g̣n Mới của bà Bút Trà.


Về nhạc có Phạm Duy, Dương Thiệu Tước, Lê Thương, Thẩm Oánh, Phạm Đ́nh Chương với Ban Hợp ca Thăng Long Hoài Trung, Hoài Bắc,Thái Thanh,Thái Hằng với bản nhạc Được mùa..
Quả thực, đó là giai đoạn văn học được mùa của miền Nam VN.

 

Ca sĩ Thanh Thúy
Nguồn/Ảnh: tannhac.org


Các ca sĩ dạo ấy, ngoài ban Hợp ca Thăng Long, có Thu Hương, Lệ Thanh, Thanh Thúy hát cho pḥng trà Đức Quỳnh ở đường Cao Thắng. Tiếng hát Anh Ngọc gần như mỗi ngày trên đài phát thanh Sài g̣n. Tiếng hát Thanh Thúy được coi là giọng ca ma quái nhất. Thanh Thúy nổi tiếng một thời với bản Phố buồn của Phạm Duy. Hoàng Thái Linh, tức Nguyễn Văn Trung đă dành hẳn một bài trong cuốn Nhận định 1 và trong tạp chí Hành Tŕnh số 1, 1964 với bài viết: Ảo ảnh Thanh Thúy. Bài viết như một tố cáo xă hội pḥng trà: “Thanh Thúy đă chỉ được tiếng, được thích như một người đàn bà biết gợi những nỗI buồn giả tạo của một xă hội giả tạo, một xă hội giả vờ quên thực tế, quên sự nghèo khổ bất công ở ngay bên lề đường, cạnh cửa ra vào pḥng trà, tiệm nhảy, quên tiếng súng bom đạn bắn giết đằng xa, ngoài kia và coi sự giả vờ đó là thật” (16 )
“đường về đêm đêm mưa rơi ướt bước chân em.
Bùn lầy không quên bôi thêm lối ngơ không tên
Qua mấy gian không đèn
Những mái tranh im ĺm, đường về nhà em tối đen.”
Ca nhạc miền Nam phát triển theo nhịp sống của đài phát thanh và nhất là các pḥng trà. Ở mỗi pḥng trà quy tụ một số ca sĩ. Và nhiều người trong đám họ danh tiếng nổi lên từ các pḥng trà đó. Và cũng nhiều bài hát được phổ biến qua các pḥng trà.

Phạm Duy là người thông thạo lănh vực này hơn ai hết. Theo ông, có nhà hàng Văn Cảnh xuất hiện một số ca sĩ như Minh Trang, Thái Thanh, Anh Ngọc, Mộc Lan, Tâm Vấn, cặp Nguyễn Hữu Thiết, Ngọc Cẩm. Rồi những tên pḥng trà như Đức Quỳnh, Trúc Lâm, Tabarin, Bacara, Tự Do, quán Anh Vũ góp mặt.
Những ca khúc được ưa chuộng cũng từ các pḥng trà này mà ra như Tiếng sáo thiên thai, Phố Buồn, Mùa thu Paris.

Những nữ ca sĩ nổi tiếng cũng từ đây mà ra như Lệ Thanh, Kim Chi, Thu Hương, Thanh Thúy, Kim Vui, Thanh Lan, Lệ Thu nổi tiếng qua bài Ngậm ngùi.

Một thế hệ ca sỉ trẻ nữa tiếp nối ra đời sau thời ông Diệm và nhất là khi người Mỹ có mặt đông đảo ở Việt Nam.
Với Jo. Marcel, Julie Quang, Ngọc Chánh, Thanh Lan …

Trong đó có hai pḥng trà nổi tiếng nhất là phong trà Khánh Ly, “nữ hoàng chân đất” với các t́nh khúc Trịnh Công Sơn.

Pḥng trà Đêm Mầu Hồng với ban Hợp ca Thăng Long, với tiếng hát Thái Thanh. (17)
Nh́n để thấy ra rằng sinh hoạt pḥng trà chỉ là cái sân sau, hay mặt trái của chiến tranh miền Nam. Đó là nơi chốn phù du mà người ta đến đó để quên phiền, trút bỏ lo âu, đế để quên tiếng bom đạn, quên những cái chết ngoài mặt trận. Đó là một h́nh thức phản chiến bằng t́nh cảm, bằng ru ngủ.

Và cũng không phải tất cả giới thanh niên trí thức thành thị đều phải có mặt ở đó.

Không, ngàn lần không. Một thiểu số rất nhỏ những kẻ có tiền, đêm đêm t́m quên lăng trong thuốc lá, càphê, trong ánh đèn mầu ma lực, trong tiếng hát rên siết, hay th́ thầm của Thái Thanh hay Khánh Ly.
Tiếng hát ấy th́ chiến tranh ấy. Một thứ chiến tranh ác liệt và một thứ ru ngủ êm dịu. Hai thứ đó cần đến nhau trong cuộc chiến này.

Phạm Duy nhận xét cũng không sai. Đó là nhạc ma túy, nhạc thở dài.

Bên cạnh không khí pḥng trà, có những điều vui vẻ, có những dấu hiệu đáng mừng, tươi mát. Đó là ban Việt Nhi do nhạc sĩ Nguyễn Đức thành lập của đài phát thanh Sài g̣n.

Đó là các nữ ca sĩ mầm non, tuổi học tṛ, ngây thơ và trong sáng, tươi vui và lành mạnh. Xuất phát từ ban Việt Nhi sau này có rất nhiều tên tuổi đều bắt đầu bằng chữ PHƯƠNG như Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hoài Tâm. Ngay cả Thanh Lan, hồi c̣n trẻ cùng hát cho Ban Việt Nhi.

Đây là điểm son của đài phát thanh Sàig̣n và một sự trân trọng đối với nhạc sĩ Nguyễn Đức.

(C̣n tiếp)

Copyright © 2006 DCVOnline
 


(11) Trích Hồi kư Phạm Duy, thời phân chia Quốc Cộng , trang 146-147.
(12)Tóm lược theo Những biến cố lớn trong 30 năm chiến tranh Việt Nam, Nguyễn Đ́nh Tuyến, trang 47.
(13) Trích Việt Nam niên biểu, Chính Đạo, trang 73.
(14) Trích Những ǵ c̣n nhớ, Từ Uyên, trang 181.
(15) Xem Văn Học VN thế kỷ 20, Nguyễn Vy Khanh , trang 52.
(16) Trích Ảo ảnh Thanh Thúy, Hoàng Thái Linh trong Hành Tŕnh, số 1, 1964.
(17) Trích Hồi kư Phạm Duy, trang 249-251.