Nghiên cứu của Nguyễn Văn Lục về:

20 năm giới trẻ miền Nam Việt Nam (5)

Phải nh́n nhận có một tâm thức ngụy tín nơi tất cả những ai khát vọng một Ḥa B́nh một phía

Tâm thức đó đi vào cội nguồn của nó sẽ thấy ra rằng mọi chọn lựa đều có thể bật cập, lưỡng tính, lưỡng giá. Kẻ trí thức đành cúi mặt ngủ quên một bên, tỉnh một bên. Nhưng đằng khác, người trí thức có bổn phận lột cái bộ mặt giả đó, cái ngụy tín đó. Chính v́ thế, tôi đă mầy ṃ chịu khó truy lục tất cả trí thức miền Nam phản chiến, các nhà văn phản chiến để xem họ phản ứng thế nào về vụ tết Mậu thân, họ lên tiếng thế nào về vụ thảm sát đó. Tôi chỉ t́m được môt người trong đám đó thôi.

Tôi chỉ muốn nói với họ rằng, máu đổ ra th́ ở đâu cũng giống nhau, cũng một mầu đỏ. Không có màu nào khác đâu.

Và cái chết nào cũng có ư nghĩa cả.

Trịnh Công Sơn, một thời của miền Nam, tiếng nói cất lên của cả một thời đại. Tiếng nói đó được thiền sư Nhất Hạnh khuyếch đại ra hải ngoại mà kẻ thù của con người không là con người mà là sự bất dung nhượng, độc đoán và kỳ thị.

Trong Ngày em 20 tuổi, ông viết:Tôi rời nước năm 1966, vào tháng 5. Lúc đó chiến tranh đă đi đến mức khủng khiếp. Tôi nghĩ rằng ḿnh phải ra đi để cất lên tiếng kêu gọi Ḥa B́nh, do trường đại học Cornell mời . Tôi ra đi để nói rơ là dân Việt Nam không muốn đánh nhau nữa, chỉ muốn ngồi xuống thương thuyết với nhau để đi tới một giải pháp ḥa b́nh.

Thiền sư ra đi bỏ lại đằng sau nào là Viện Cao Đẳng Phật học, viện Đại học Vạn Hạnh, tuần báo Hải triều âm, trường thanh niên phụng sự xă hội, nhà xuất bản Lá Bối và tất cả học tăng Nam nữ.

V́ vậy tôi rất buồn.

Tôi bị lưu đầy v́ dám cất lên tiếng kêu gọi Ḥa B́nh.”

Thiền sư (dưới lọng tại Huế) sẽ về VN – 19/2 đến 9/5/2007 – mở 3 Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan
Nguồn: hue.vnn.vn


Cuối cùng th́ ta cũng nhận diện ra được một cuộc sống đạm bạc của một thiền sư, sứ giả của Ḥa B́nh nơi xứ người: Cho đến ngày hôm nay, có nhiều vị trong Tăng đoàn ngày xưa vẫn c̣n tiếp tục ngủ trong những cái nóp gọi là túi ngủ sleeping bag. Sư cô Chân Không cho đến ngày hôm nay cũng vẫn c̣n ngủ trong túi ngủ. C̣n tôi ở Làng Mai th́ thường ngủ trên một tấm ván ở dưới có kê 4 viên gạch và một tấm nệm mỏng.

Không phải v́ vậy mà không có hạnh phúc. Ḿnh không hề có ư muốn xây dựng một cái chùa rất đẹp ở đây.”


Chúng tôi xin được trích dẫn một tập tài liệu học tập vào tháng 3-1967 để t́m hiểu xem chính quyền VNCH thời đó đánh giá thế nào về các phong trào phản chiến: “thứ nhất, chúng ta phải thấy có nhóm Sống Đạo với một tờ nguyệt san gọi là Hành Tŕnh, chủ trương một sứ bắt tay với Cộng Sản. Nhóm chủ trương này gồm Lư Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung, Vơ Long Triều và nhóm kinh tế gia Âu Trường Thanh và dựa vào nhóm liên trường qua trung gian Nguyễn Văn Trường. Trong tập tài liệu có hai đánh giá:
 

Phía công giáo, chúng ta, ḥa b́nh không phải là cầu ḥa, ḥa b́nh không phải là bánh vẽ, mà ḥa b́nh là do cuộc tranh thủ dẻo dai và gian khổ do bao nhiêu năm nay của dân tộc Việt Nam mà có. Do đó, ḥa b́nh phải được quan niệm cho thực sát với thực tế, chủ quyền của miền Nam phải được bảo đảm, khi tự do của dân tộc Việt Nam không bị xúc phạm, khi nền chính trị miền Nam không bị Cộng sản len lỏi để quấy phá và thừa cơ cướp chính quyền lănh đạo.

Một thứ ḥa b́nh không có những bảo đảm như vậy là một thứ bánh vẽ, một sự lường gạt để trốn trách nhiệm và giao khoán, bán đứng miền Nam Việt Nam này cho Cộng Sản. Những người chủ trương thỏa hiệp với Cộng sản trên b́nh diện quốc gia là những kẻ điên rồ, không chịu lấy bao kinh nghiệm ở Đông Âu làm kinh nghiệm khi phe Cộng Sản ở Ba Lan đă để cho Đức Quốc Xă tiêu diệt toàn bộ phe kháng chiến ở thành phố Varsovie, chỉ v́ phe kháng chiến chống Đức là thuần túy quốc gia. Hồng Quân Sô Viết lúc đó đóng ở bên sông Vistule tại thủ đô Balan là Varsovie mà đă nhất định không tiếp cứu cho phe kháng chiến quốc gia, để cho phe này bị Đức tiêu diệt trọn vẹn.

Đối với Cộng Sản mà cầu ḥa là đầu hàng vô điều kiện, phản chiến là từ bỏ khí giới cho địch thủ ám sát ḿnh. Những người trí thức đó, dù họ là ai, cũng chỉ nh́n vấn đề trong suy luận, chứ không thể nh́n trong thực tại, mà thực tại ở Việt Nam với cuộc chiến này nó khác hẳn với các cuộc chiến tranh trên thế giới.

Đối với Phật giáo - Một trong những nhóm chủ trương ḥa b́nh khác và đang t́m cách tuyên truyền thuyết phản chiến và ngụy ḥa trên một số các quốc gia tự do, trong đó có cả Hoa Kỳ, và liên hệ đến giáo hội Việt Nam thống nhất, là nhóm Lá Bối Phật giáo do TT Thích Nhất Hạnh chủ trương và lănh đạo. TT Nhất Hạnh đă tự ḿnh tách biệt ra khỏi những hoạt động của giáo hội Phật giáo, lập nên một phe phái riêng, ngụy trang dưới quan điểm t́nh thương để liên kết với Cộng Sản. Chủ trương của Nhất Hạnh đă bị các Thượng Tọa trong giáo hội bài xích, cho nên trong cuộc tranh đấu tháng 3/1966, ông đă phải lưu vong v́ chủ trương bắt tay với Mặt Trận giải phóng miền Nam.. Chủ trương này quá rơ rệt khi trong cuộc lưu vong trên nhiều quốc gia, ông đă đứng hẳn về phe nghị ḥa của Cộng Sản để lên tiếng chống lại cuộc chiến đấu anh dũng của dân tộc Việt Nam trước sự xâm lăng của Cộng Sản. Đặt vấn đề nhóm Nhất Hạnh đứng về hàng ngũ Cộng Sản không có nghĩa là chụp mũ Phật giáo một cách hồ đồ, nhưng cốt để tách rời nhóm Lá Bối ra khỏi tôn giáo để thấy rằng nhóm Lá Bối cũng như nhóm Sống Đạo đang hoạt động cho Cộng Sản, đang có những liên minh tư tưởng với Cộng Sản, đang t́m cách gieo rắc phong trào ngụy ḥa phản chiến đầu hàng để rước Cộng Sản về chiếm đọat miền Nam Việt Nam Tự do. (Trích tài liệu học tập trong khóa Huấn LuyệnThanh Tra và Kiểm tra của Bộ Thông tin Chiêu Hồi, tháng 3/1967) Vấn đề Ḥa B́nh thương thuyết và nội t́nh Việt Nam hiện tại. (27)
Mới đây, có người bạn có nhă ư gửi cho tôi cuốn Lotus Unleashed, The Buddhist peace movement in South-Viet Nam 1964/1966, của tiến sĩ Robert J Topmiller. Trong cuốn sách, chủ yếu, ông bàn đến những phong trào đ̣i ḥa b́nh của Phật giáo dưới sự lănh đạo của TT Trí Quang trong những năm 64-66 và ông nói đến vai tṛ và sự có mặt của TT ấy trước giờ lâm tử của Việt Nam Cộng Ḥa. Trang chót của cuốn sách, trang 150-151, nó làm vỡ mộng cho bất cứ ai c̣n tin vào Cộng Sản. Bởi v́ một người như TT Trí Quang, Cộng Sản trải đến hai ba lần chiếu đỏ đến chùa Già Lam đón tiếp cũng chưa đủ cái lễ. Vậy mà Security forces raided pagodas… And placed prominent Buddhist leaders like Thich Tri Quang under house arrest or imprisonment in remote locations. Và ông kết luận: “Alas, wartime “Viet nam was not a land for pacifists”.

Bài học mà Lm Trần Tam Tỉnh kể với tôi vẫn c̣n đó. Lần đầu ông về VN được giới chức cao cấp chính phủ ra đón tiếp nồng hậu. Những lần sau, khỏi đón tiếp mà c̣n bị công an phường khóm đến hạch hỏi đủ thứ chuyện.

Cũng phải nh́n nhận với nhau rằng, có những người trẻ tuổi đă bị cuốn hút vào một tâm thức lăng mạn chính trị về một dân tộc bị đọa đầy qua quê hương khói lửa, qua lựu đạn cay: “Chúng con đă t́m thấy dân tộc qua những làn hơi cay, dù lúc đó chúng con đă nḥa nước mắt. Chúng con đă thấm thía thế nào là yêu nước qua những vết bầm của dùi cui. Thầy ơi, những lúc đó, chúng con sung sươ’ng vô cùng. Khi bị xúc về Ty Cảnh sát, chúng con đă thấy rơ được con đường chân lư ḿnh phải theo, một con đường được rào kín bằng kẽm gai, bằng những khuôn mặt lầm ĺ. Chúng con đă nhất quyết chọn cho ḿnh, cho cuộc đời ḿnh con đường đó. Chúng con đă nh́n thấy dân tộc, chúng con đă thấy mặt trời, nên nhà giam đă vang dạy lời ca”. (28)
Rồi ḥa b́nh sẽ đến, đến cho dân tộc Việt
Đôi chim bồ câu trắng rủ nhau về làng xưa
Ḥa b́nh đối với phần đông người vẫn chỉ là một ước mơ, chưa nói đến ḥa b́nh theo kiểu nảo? V́ thế, trong một lần hội thảo ở Viện đại học Cần thơ, vào năm 1969, một tham dự viên đă lên phát biểu như sau: “Anh Lư Chánh Trung ơi, chúng tôi mến anh lắm, nhưng chúng tôi phải nói rằng, anh đang mơ một giấc mơ thật đẹp, chỉ tiếc là chúng tôi không thể mơ theo anh.

Và nhắc lại ông học giả Hồ Hữu Tường, khi c̣n giữ chức dân biểu Hạ viện đă tắm rửa, ăn chay, cạo đầu, mặc nâu ṣng, đeo tràng hạt ngồi trước cửa Hạ viện và tiên tri như sau: Chỉ c̣n một mét nữa là tới Ḥa B́nh” (Trích bản thảo của một tác giả trong nước. Kể từ phần này về sau, sẽ có nhiều trích dẫn như thế, mong độc giả đừng hỏi ǵ thêm về xuất xứ, nguồn gốc)

Phản chiến hay thành phần thứ ba?

Lắm lúc ngồi nghĩ lại những năm cuối thập niên 60-75, người viết chỉ thấy có hai khuôn mặt miền Nam: Chiến tranh với những lo âu khắc khoải và phản chiến dưới đủ mọi h́nh thức.

Thơ văn như ở trên đă đành, nay phản chiến trên mặt trận báo chí và tranh đấu ở Quốc Hội mà tôi gọi chung là thành phần thứ ba. Thành phần này chống chiến tranh, kèm theo chống Mỹ và thường nghiêng về phía Mặt Trận giải phóng miền Nam hay phía Cộng Sản. Và sau này th́ những nhân vật thành phần thứ ba mới lộ diện như các quư vị Thích Minh Châu, Thích Trí Thủ, Ni sư trưởng Huỳnh Liên Ni sư Ngọat Liên, Thích Minh Nguyệt, Thích Hiển Pháp, Thích Trí Dũng, Thích Thiện Châu, Hồng Nghiệp, sư bà Mạn Đà La và các cơ sở hậu cần như chùa Giác Lâm Tự, quận Tân B́nh và chùa Giác Viên ở B́nh Thới. Phía bên kia th́ có quư ông linh mục Trương Bá Cần, alias Trần Bá Cường, Vương Đ́nh Bích, người trách nhiệm dịch cuốn Thập giá và lưỡi gươm, Phan Khắc Từ, Huỳnh Công Minh và hai người sau này rút lui như Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan.

Phía dân sự th́ có Phạm Trọng Chánh, Huỳnh Tấn Mẫm, họa sĩ Chóe, Vũ Hạnh, nghệ sĩ Kim Cương, Lư Chánh Trung, Ngô Bá Thành, Trần Ngọc Liễng, Nguyễn Văn Hạnh (nhà thầu khoán), họa sĩ Ớt, vẽ cho các báo Điện Tín, Tin Sáng và Đại Dân tộc, cũng là Huỳnh Bá Thành, sau là Tổng biên tập báo Công An. Nguyễn Ngọc Phương, tức Ba triết (chết trong tù), có vợ khá nổi tiếng trong giới sinh viên là cô Cao Thị Quế Hương Đinh Văn Đệ, Phan Xuân Huy, Đinh Xuân Dũng, Nguyễn Phúc Liên Bảo, ông Trần Bá Thành và ngoài ra c̣n nhóm dân biểu đối lập như quư ông Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Lư Quư Chung, Dương Văn Đầy, Ngụy Ngữ, Minh Trang (Trích bản thảo như ở trên.)… Sau này, tất cả quư ông cựu dân biểu đối lập c̣n tiếp tục được làm báo tờ Tin Sáng. Sau năm năm, tờ Tin Sáng cũng tự chôn ḿnh để chỉ c̣n lại có tờ Công giáo và Dân tộc.

Các báo thời đó thuộc khuynh hướng thành phần thứ ba có các tờ Điện Tín, Đại dân tộc, Tin Sáng và các bán nguyệt san như Đất Mới, Đối Diện, Đất nước, Tin Văn, Hành Tŕnh và Tŕnh Bầy.

Hầu hết người viết đều là giới trẻ ở Sài g̣n và các tỉnh kể từ sau 1963 trớ đi. Hầu hết là báo in Ronéo, sách in ronéo. Có tờ là báo chui. Hầu hết đều viết với tấm ḷng trung thực và bày tỏ nỗi băn khoăn của tuổi trẻ trước thời cuộc, trước t́nh h́nh đất nước.

Nhà xuất bản Tŕnh bày cho xuất bản được tập sách thứ 50. Riêng Thế Nguyên có cuốn truyện mỏng: Hồi Chuông tắt lửa mà tôi có dịp được đọc. Phải nói là hay và để lại nhiều dư âm suy nghĩ cho người đọc. Trần Hoài Thư in một lúc 3 truyện Những v́ sao vĩnh biệt, Ngọn cỏ ngậm ngùi… Cao Mỵ Nhân với tập Thơ Mỵ Và vô số nhừng người trẻ khác như Lâm Chương, Nhữ Đ́nh Toàn, Vơ Chân Cửu, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Mộng Giác, Hồ Minh Dũng, Mường Mán, Hoàng Lộc, Ngô Nguyên Nghiêm, Viên Linh, Nguyễn Nho Nhượng, Trần Vàng Sao, Đynh Hoàng Sa, Hoàng Khởi Phong, Đông Tŕnh, Phạm Thiên Thư, Cung Tích Biền, Nguyễn Bắc Sơn, Tô Đ́nh Sự, Trần Hoài Dạ Vũ, Cao Vị Khanh, Cao Huy Khanh, Cao Thoại Châu, Nguyễn Trung Hối, Nhữ Đ́nh Toàn, Lữ Quỳnh, Nguyên Vũ, Ngô Thế Vinh, Trần Văn Nam, Phan Nhật Nam, Diễm Châu, Luân Hoán, Thái Tú Hạp, Phan Ni Tấn, Nguyễn Tất Nhiên, Y Uyên, Doăn Dân, một người bạn học đă chết trận. (29)
 

B́a tạp chí Văn minh họa Hồi chuông tắt lửa (Số 6: Những cây Bút Trẻ - 15/10/1974)
Nguồn: vanmagazine.saigonline.com


Họ từ khắp nơi đổ về. Nha Trang, Đà lạt, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ, Long Xuyên, Tây Ninh. Phần đông là giới giáo chức và quân nhân, xuất phát từ các trường đại học Vạn Hạnh, Minh Đức. Trẻ và sinh động. Thơ văn, truyện ngắn, truyện dài lên đường. Rực lửa. Đầy sáng tạo. Tiếng nói phản kháng. Tiếng nói của tuổi trẻ trong chiến tranh, thân Phận con người. Nghẹn ngào. Phản ánh vũ trụ Kafka. Hoặc phản ánh thân phận con người trong tiểu thuyết giờ thứ hai mươi lăm của V. Gheorghiu. Trong sáng. Nhiều khi chưa làm nên tṛ trống ǵ, nhưng cứ nói, cứ viết.

Đó là những nỗ lực trẻ, khai phá, xuất phát từ những hoàn cảnh sống cay nghiệt của cuộc chiến. Mặc dầu có thể chỉ là những tiếng nói lạc loài, tiếng nói vu vơ, chưa định h́nh.

Rất tiếc là những sáng tác trong thời kỳ này hầu hết đều bị phát tán, lưu lạc, mất mát mà ngay chính tác giả cũng không c̣n giữ được tác phẩm của ḿnh Chẳng hạn, cuốn Hồi chuông tắt lửa mà tôi muốn t́m trở lại cũng biến mất vào cơi vô tận. Tác giả th́ đă chết, t́m đâu ra?


Trường hợp Lư Chánh Trung: trí thức khuynh tả hay thành phần thứ ba

Biến cố 1/11/63 đă không đem lại những thay đổi như ḷng mong đợi của nhiều người. T́nh h́nh lại có nhiều dấu hiệu xấu đi. Tâm trạng giới trẻ phần đông là chán nản và mất tin tưởng. H́nh như không c̣n một giải pháp nào tỏ ra hữu hiệu cho miền Nam? Khuynh tả, thành phần thứ ba xuất hiện như một giải pháp của không gỉải pháp? Đặc biệt tờ Hành Tŕnh đă đề cập đến những đề tài bức thiết như chiến tranh và ḥa b́nh, Công giáo, Phật giáo. Sau đây là một số bài viết tiêu biểu nhất như : Cùng nhau cảm thức về nỗi buồn nhược tiểu, Để tiến tới một nền ḥa b́nh cho Việt Nam, Không một ṿng hoa, không một ṿng tang, Cách mạng của người nghèo, Cách mạng và dân chủ, T́m một hướng đi cho cuộc cách mạng Việt Nam, Trường hợp Nasser và Cộng Ḥa Ả Rập thống nhất … Nói chung, lập trường của nhóm này có đặc điểm như sau:

– Chống sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam.
– Chống chiến tranh v́ cho rằng đây là một chiến tranh nội chiến, hay chiến tranh Ủy nhiệm.
– Chống lại chính quyền miền Nam, v́ cho là tay sai của ngoại bang.
– Có xu hướng thiên về phía Cộng Sản.
– Đưa ra một đường lối thứ ba: Làm một cuộc cách mạng xă hội không Cộng Sản.

Những người viết và có thể coi cùng một chủ trương với Hành Tŕnh gồm có: Lư Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan, Cẩm Xuyên, Trần Trọng Phủ, Trịnh Viết Đức, Trần Bích Lan hay Nguyên Sa, Trần Văn Toàn, Vơ Hồng Ngự, Nguyễn Hữu Tấn Đức, Nguyễn Khắc Ngữ, Thảo Trường, Thế Uyên, Thế Nguyên, Nguyễn Quốc Thái, Nguyễn Đông Ngạc, Hương Khê, Nguyễn Ngọc, Thái Lăng, Nguyễn Vũ Văn, Nguyễn Quốc Thái, Trương Đ́nh Ḥe, Lê Tất Hữu, Đặng Thần Miễn, Đỗ Phùng Khoan, Diễm Châu, Nguyễn Đức Trinh và Đỗ Long Vân.
 


Tư tưởng T́m về dân tộc

Đối với Lư Chánh Trung, một trí thức thiên tả, dấn thân và nhập cuộc chỉ có một tư tưởng nồng cốt: T́m về dân tộc, đặt dân tộc lên trên tất cả. Dân tộc trên lư thuyết, trên chủ nghĩa, trên Quốc Gia, trên đảng phái, trên quyền lợi cá nhân.

Và chỉ qua Dân Tộc, người thanh niên mới t́m được chỗ đứng cho ḿnh. Ông viết: “Và qua dân tộc, người thanh niên trí thức đă t́m được một chỗ đứng. Ḷng chúng tôi cũng rợp bóng gươm đao như ḷng dân quê nước Việt. Và ít nữa là trong lúc ấy, chúng tôi đă t́m được một chỗ đứng, trên mảnh đất quê hương (30).

Chỗ khác, ông viết: “Khi tôi t́m cho tôi một vị trí, một thể thức hiện hữu như một cong người trong một vũ trụ, th́ con người đó chỉ có thể là con người Việt Nam, sống trên đất nước Việt Nam”.

“V́ tôi không thể chọn lựa dân tộc, cũng như không chọn lựa gia đ́nh tôi, nhưng đă là người th́ chỉ có thể thành người giữa một gia đ́nh, một dân tộc”. (31)

“Mỗi người chúng ta đang sờ sọang đi trong đêm tối chiến tranh, đau xót, phẫn uất nhưng vô cùng cô đơn và gần như tuyệt vọng. Nhưng đêm tối cứ măi măi bao trùm đất nước, đó có phải là v́ không có ánh sáng hay chính v́” Tâ’t cả chúng ta đều đui mù và ngu dại như nhau”.

Vào năm 1971, ông Ánh Việt đă viết bài: Nghĩ về một số người trí thức ảo tưởng. Ông Ánh Việt đă lên án Lư Chánh Trung và đặt câu hỏi: Dân Tộc phải chăng chỉ là một nhăn hiệu và quy kết đó là luận điệu của Cộng Sản. Ông viết: Trên lănh vực chính trị, hai chữ dân tộc có giá trị một nhăn hiệu kích thích tâm lư yêu nước của quần chúng, nhất là đối với lớp trí thức, đặng lôi cuốn họ tham gia vào con đường cách mạng vô sản quốc tế, hoàn toàn xa rời quyền lợi của tổ quốc ḿnh”.

Nhóm trí thức khuynh tả Lư Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung chủ trương một cuộc cách mạng xă hội không Cộng Sản. Sở dĩ có chủ trương như thế v́ do t́nh thế bế tắc, trước một cuộc nội chiến tương tàn. Nhiều trí thức có thể đă thất vọng với cả hai phía nên không chấp nhận Cộng Sản mà cũng không chấp nhận khối Tự do.

Từ đó mở ra con đường thứ ba.

Theo Lư Chánh Trung, các nước Á, Phi và Châu Mỹ La Tinh chỉ có thể thoát khỏi t́nh trạng tủi nhục của sự lệ thuộc nghèo đói, bất ổn nếu có can đảm thay đổi toàn diện những cơ cấu mục nát do thực dân để lại, dám thắt lưng buộc bụng hầu có thể tự ḿnh giải quyết những vấn đề của ḿnh.

Trong lời mở đầu cuốn Cách Mạng và Đạo đức, ông viết: “Tại các nước chậm tiến, cách mạng xă hội là một vấn đề sanh tử, một vấn đề danh dự”

Theo Lư Chánh Trung, tại miền Nam, thay v́ làm Cách Mạng xă hội, người ta chống Cộng. Nhưng thật ra, cách chống Cộng hữu hiệu nhất là làm cách mạng xă hội. Nhà cầm quyền và các đảng phái đều chỉ biết chống cộng, nhưng lại duy tŕ cơ cấu thối nát, thay v́ làm cách mạng cơ cấu.

Ngay thời kỳ đó, nhiều người đă tự hỏi làm Cách mạng xă hội không cộng sản là một lư tưởng hay chỉ là một ảo tưởng?

Lúc đó, người trí thức rơi vào t́nh trạng nói suông mà không làm?

Thực tế th́ là như vậy. Chưa bao giờ ở Việt Nam những điều mà nhóm Hành Tŕnh đề ra về một cuộc Cách mạng không cộng sản đă có cơ sở để thực hiện.


Copyright © 2006 DCVOnline


(27)Trích trong Hồ sơ về tạp chí Hành Tŕnh.
(28) Trích báo Tin Sáng, số ra ngày 2/6/1970. Trích lại Lư Chánh Trung, sách đă dẫn.
(29) Xem thêm trong Văn Học VN thế kỷ 20, Nguyễn Vy Khanh, trang 64.
(30) Trích trong sách:T́m về dân tộc của Lư Chánh Trung, trang 86-88, nxb Tŕnh Bày.
(31) Như trên, trang trang 109