Nghiên cứu của
Nguyễn Văn Lục về:
20 năm giới trẻ miền Nam Việt
Nam (7)
Cuộc
bầu cử độc diễn của TT Nguyễn Văn Thiệu
Về việc này, ông phụ tá Nguyễn Văn Ngân đă có lời giải thích, v́ chính ông là
tác giả bộ luật ấy. Nhưng bạn đọc thử đọc theo cái nh́n của người dân thường
không rành rẽ pháp luật xem thế nào?
Luật bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống được biểu quyết ngày 3/6/1971. V́ lư do
ǵ có luật này?
Thật ra, giữa Thượng Viện và Hạ viện, ông Thiệu chỉ lo cái phần các dân biểu Hạ
viện, c̣n phần các ông Thượng nghị sĩ th́ không phải lo lắm. Bởi v́ ở Thượng
viện đều là thành phần đảng phái hoặc tướng lănh thuần nhất, có kỷ luật. Nguyên
tắc của các quư vị ấy vẫn là chống Cộng lên hàng đầu như ưu tiên số một. V́ thế
không có cảnh phá rào, tuyên bố tùy tiện như ở Hạ viện.
Tất cả công sức của ông Thiệu là nhằm vào đám dân biểu đối lập, thiên tả, thành
phần thứ ba, khoảng trên dưới 30 người ra sức quậy phá.
Và chỉ cần 30 người đó thôi, nhà hát có thể trở thành nhà múa rối.
|
 |
|
Dân biểu Gia nô đi ngoại quốc soành
soạch, đi buôn lậu từ vàng, đô la, ma túy đến cả lịch cởi truồng, đồ lót
phụ nữ.
Nguồn: commongroundjourneys.com
|
Ngoài ra đám dân biểu c̣n lại th́ được mua hết rồi. Hàng tháng đều có các
bao thư, rồi mỗi khi có cuộc bầu phiếu quan trọng về một dự án luật cần
quốc hội thông qua th́ đều ra giá cụ thể cả. Đó là những lời tố cáo trực tiếp
của dân biểu Lư Quư Chung trong Hồi kư không tên của ông. Người trách nhiệm công
việc ấy, lúc đầu là dược sĩ Nguyễn Cao Thăng, chủ viện bào chế OPV bỏ tiền ra,
sau th́ có quỹ đen của ông Thiệu tài trợ. Ông Nguyễn Cao Thăng được nh́n nhận là
người khéo léo, mềm dẻo, lobby giỏi kể từ nhiệm kỳ quốc hội lập pháp 1967-1971.
Những dân biểu này bị gán cho một từ khá nặng nề ở thời kỳ đó, họ bị gọi là dân
biểu Gia nô. Chưa hết, họ bị tố giác là đi ngoại quốc soành soạch, đi
buôn lậu từ vàng, đô la, ma túy đến cả lịch cởi truồng, đồ lót phụ nữ.
Những dân biểu như MG, PHG có ư kiến ǵ về những điều tố cáo này không? Có thấy
cần lên tiếng một lần hay im lặng măi măi?
Nhưng sự tố cáo đến một mức độ nào đó đi quá đà có thể là thiếu trung thực chăng?
Thế nào mới là buôn lậu? Mua 5 thùng quần lót phụ nữ, mỗi thùng 200 cái th́ tạm
gọi là buôn lậu. C̣n nếu mua 199 cái th́ nhằm nḥ ǵ? Một dân biểu sống cả đời
nay mới được là dân biểu, cả đời nằm mơ nay mới được đi ngoại quốc, mua một số
đồ lót, lớp làm quà cho vợ, lớp th́ cho các cô em vợ 10 cô hết nhẵn 50 cái, lớp
bà con, chị em họ bên vợ 50 cái nữa, thừa cái nào để cho vợ mang chợ trời bán
lấy lại vốn có đáng được gọi là buôn lậu không? Mua lịch cởi truồng hả? Quà cho
chủ tịch Hạ viện, quà cho chủ tịch ban ngọai giao, quà cho các ông trưởng khối,
các cho các vị lănh đạo đỡ đầu, cho các đồng viện hỏi c̣n lại bao nhiêu? Và ai
là người đi về mà không mua đủ thứ? Đừng đạo đức giả làm ǵ?
Nhưng buôn lậu ma túy, đô la th́ lại là chuyện khác, chuyện phạm pháp và h́nh sự
rồi. Có thể nào các vị như ông Ngân giải đáp dùm cho là các vị dân biểu được trả
thù lao hàng tháng và được mua như các dân biểu đối lập kết án không? Có
thế nào các quư vị dân biểu mà may mắn tôi cũng được quen biết giải thích về vấn
đề đi buôn lậu được chăng?
Theo dân biểu Lư Quư Chung, luật này nhằm triệt hạ ông Nguyễn Cao Kỳ v́ một lư
do chiến lược. Có ba liên danh ứng cử: Thiệu, Minh và Kỳ. Ông Thiệu và ông Kỳ
thuộc khuynh hướng chống Cộng triệt để, ông Minh khuynh hướng nghị ḥa, thỏa
hiệp với Công Sản. Nếu cả ba ra tranh cử, ông Thiệu và ông Kỳ sẽ phải chia nhau
số phiếu của người chống Cộng và dọn đường cho ông Minh vào ghế Tổng Thống một
ḿnh. Ngay trước khi luật được thông qua th́ ông Phụ tá Ngân đă đi thu chữ kư
của các vị dân cử rồi. Như thế là hớt tay trên hai ông Minh Và ông Kỳ. Ông Minh
vỏn vẹn được 42 chữ kư. Ông Kỳ tay không phải nghĩ đến phần chữ kư của 100 nghị
viện. Nhưng sau này, ông Kỳ vỡ lẽ ra và tố cáo rằng ngay các nghị viên cũng đă
kư một giấy* bạch khế*, giấy trắng kư cho ông Thiệu trước khi có luật bầu cử.
Cuối cùng th́ ông Kỳ cũng thu lượm đủ 101 chữ kư nghị viên, nhưng trong số đó có
39 chữ kư đă có trong danh sách ủng hộ ông Thiệu.
Nhưng, cũng theo ông Lư Quư Chung, điều mà ông Thiệu và phe ông không thể tiên
đoán trước được là ngày 20/8/1971, ông Minh tuyên bố rút tên. Lư do là ông Minh
có trong tay một tài liệu, trong đó phủ Tổng Thống chỉ thị các tỉnh trưởng những
cách thức để đảm bảo cho sự thắng cử của ông Thiệu. Và tài liệu này đă được ông
Minh trao cho đại sứ Bunker?
Về điều này, ông Ngân đă giải thích và đi đến kết luận, dựa trên tài liệu mật: “Không
có dấu hiệu nào cho thấy ông Thiệu đưa ra những chỉ thị để gian lận”.
Tốt nhất, mong ông Ngân trưng ra bằng cớ cho mọi người rơ. Thứ đến, quư ông có
đủ cái lương thiện để cải đổi luật pháp thành bất hợp pháp, để lèo lái cuộc bầu
cử sang một chiều hướng thuận lợi cho ḿnh th́ việc chỉ thị cho các tỉnh trưởng
dồn phiếu cho liên danh Nguyễn Văn Thiệu tưởng cũng không có ǵ là lạ.
Chả lẽ có thể ngây thơ chính trị đến độ tin được những lời giải thích của ông
phụ tá Nguyễn Văn Ngân? Tôi đọc bài trả lời phỏng vấn, chẳng những thay v́ tin
tưởng, tôi lại sút kém sự tin tưởng và hơi buồn cười về độ khả tín của những lời
biện hộ của một người c̣n sống cho một người đă chết?
Việc ông Minh rút tên làm cho t́nh thế chính trị phe ông Thiệu khó ăn, khó ở, v́
có nguy cơ sẽ phải ứng cử một ḿnh, điều mà ông Thiệu tuyệt đối muốn tránh né
bầu cử độc diễn.
Trước đây th́ muốn triệt hạ ông Kỳ nay th́ lại muốn trả lại 39 chữ kư cho ông Kỳ.
Trước đây, Tối cao pháp viện phản đối cho là bất hợp lệ 39 phiếu, nay th́ cũng
chính Tối cao Pháp Viện lại làm tṛ hề cho niêm yết lần thứ hai, ngày 21/8/1971,
nghĩa là một ngày sau khi ông Minh từ chối ra tranh cử, tính cách hợp lệ của 39
phiếu.
Nhưng đến ngày 23/8, ông Kỳ từ chối ân huệ của ông Thiệu, tuyên bố không ra
tranh cử và yêu cầu chủ tịch Thượng Viện Nguyễn Văn Huyền tạm điều khiển chính
phủ để rồi trong ṿng 3 tháng tổ chức cuộc bầu cử khác.
Chúng ta cũng nên hiểu t́nh thế chó má lúc bấy giờ là Lê Đức Thọ đă đề nghị với
Kissinger thôi yểm trợ Thiệu và nhờ đó, chẳng hạn khi ông Minh đắc cử th́
Thiệu đương nhiên bị loại một cách hợp pháp và như thế sẽ dễ tiến hành đi đến
một hiệp định. Sau này Cộng sản đă cho rằng Tổng thống Nixon và Kissinger đă bỏ
phí cơ hội đưa đến ḥa b́nh. “Lê Đức Thọ suggéra à
Kissinger de cesser de soutenir Thieu, qui, dans une triangulaire, serait
probablement battu par un adversaire disposer à trouver un compromis politique
avec le viet cong . Selon la thèse communiste, Thieu serait ainsi déposé
légalemnt, ce qui lèverait le préalable du Nord Viet Nam à un accord global….
Les communistes soutirent donc plus tard que Nixon et Kissinger avaient gâché
une chance de faire la paix)(34)
|
 |
|
Ông Nguyễn Văn Ngân và TT Thiệu, San
Francisco 1984
Nguồn: TPV
|
Về điểm này, ông phụ tá Ngân khi trả lời Trần Phong Vũ cũng đă dùng để biện hộ
cho điều 10, khoản 7 nhằm hạn chế các liên danh tranh cử. Theo ông Ngân: “Cuộc
bầu cử Tổng Thống 1971 đă vượt ra khỏi khuôn khổ hiến pháp 1967, được tổ chức
dưới áp lực ḥa đàm Paris. Và v́ thế, biến nó thành một cuộc Trưng cầu dân ư,
giữa hai lập trường chính trị đối nghịch.”
Nhưng theo tôi, điều đó cũng chứng tỏ rằng cái thế yếu của chính quyền VNCH mà
dưới mắt mọi người chỉ thấy đó là một tṛ hề dân chủ. Chắc ông Ngân phải đồng ư
như vậy trong cái thế cứu cánh biện minh cho phương tiện?
Cũng theo Stanley Karnow, theo lệnh của Washington, CIA đă tài trợ cuộc tranh cử
của ông Thiệu và theo đó, có dư luận cho rằng Đại sứ Bunker đă đề nghị hối lộ
(Pot de vin) cho ông Minh một triệu đô la để ông này ra tranh cử, để tạo ra cái
bề ngoài dân chủ cho cuộc bầu cử này.
Trong Hồ sơ mật của dinh Độc lập của Nguyễn Tiến Hưng, Jerrold L. Schecter viết
rằng ông Dương Văn Minh đă nhận tiền của Mỹ để ra ứng cử làm b́nh phong cho ông
Thiệu trong cuộc bầu cử năm 1971. Ông Nguyễn Tiến Hưng viết rằng: “Ông Thiệu có
bằng cớ là tướng Minh đă chuyển khoản tiền đó từ Paris qua một trương mục của
ḿnh tại Đông Kinh ngân hàng ở Sài g̣n. Nhưng khi tướng Minh xét không thể
địch nổi ông Thiệu bèn ôm lấy tiền mà không tranh cử nữa.
Những người ủng hộ ông Minh như nhóm Lư Quư Chung, Hồ Ngọc Nhuận cho đây chỉ là
chuyện bịa đặt làm giảm giá trị của ông Minh.
Mọi chuyện trong việc bầu cử đă không diễn ra như ḷng mong đợi của mọi người,
bởi v́ nó ra ngoài ư muốn của ông Thiệu lần người Mỹ cũng như phía Cộng Sản. Ông
Thiệu th́ mất mặt v́ bầu cử độc diễn, người Mỹ th́ vừa mất tiền cho ông Thiệu và
có thể cho ông Minh, vừa mất mặt c̣n phía Cộng Sản th́ mất cơ hội thôn tính miền
Nam sớm hơn bốn năm.
Đọc đoạn này, tôi thấy cũng thật là buồn. Nếu trong một t́nh huống nào đó, bàn
cờ chính trị được rơi vào tay Tướng Minh sớm hơn th́ câu chuyện miền Nam kết
thúc ra sao? người mà Kissinger đánh giá là mềm yếu. Chúng ta đă có một
nhà t́nh báo dễ thương nhất là Phạm Xuân Ẩn được mọi phe quư mến, tại sao lại
không có một nhà chính trị dễ thương nhất là ông Dương Văn Minh?
Nếu tóm lược mục tiêu tranh đấu của nhóm dân biểu đối lập th́ nó gồm có:
- Chống sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam.
- Đ̣i hỏi chấm dứt chiến tranh và thực hiện ḥa b́nh giữa hai miền
- Ủng hộ cuộc đàm phán của Hội đàm Ba Lê
- Chống chính phủ của TT Nguyễn Văn Thiệu
Trong mục tiêu chống sự can thiệp của Mỹ th́ ngay từ 8/3/1965,
đă có 3500 Thuỷ Quân lục chiến Mỹ cập băi biển Đà Nẵng và được các nữ sinh các
trường trong thành phố đón tiếp bằng những ṿng hoa cho các lính Thủy quân lục
chiến và đến cuối năm th́ số lính Mỹ có mặt ở Việt Nam là 184.314 người. Sang
năm 1966, con số tăng lên thành 400.000 vào cuối năm và sang đến năm 1967 là
500.000 người.
Kể từ năm 1966-67, quư vị dân biểu đối lập và tờ Đại dân Tộc đă đưa ra được
những tuyên bố ǵ, đă dựa trên những khoản điều luật nào để chống đối sự có mặt
của quân đội Mỹ ở Việt Nam? Trong thời kỳ này, có tờ Sóng Thần, cực hữu với Chu
Tử, Uyên Thao, Lư Đại Nguyên, và Trùng Dương. Tờ Sóng Thần đối đầu với Đại Dân
Tộc, cực tả với Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Lư Quư Chung, Lư Chánh Trung.
Phải chăng là bức tranh biếm họa của họa sĩ Ớt vẽ hai chiếc giày nhảy dù của
lính Mỹ, nằm hai bên tấm bản đồ miền Nam Việt nam? (Ớt là một cán bộ chỉ huy
điệp vụ cách mang. Theo lời kể của Ớt: “Chiều 28/4/1975, sau vụ ném bom của
Nguyễn Thành Trung, chúng tôi thấy nhóm ông Minh bị cô lập, tôi liền thực hiện ư
định. Tôi gặp anh Hồ Ngọc Nhuận và tự xưng là điệp báo của Mặt trận, truyền đạt
lời yêu cầu của Cách Mạng đến ông Minh rằng ông nên giao chính quyền lại cho
cách mạng (tài liệu bản thảo).
Hay là bài viết của nữ dân biểu Kiều Mộng Thu: “Người Mỹ
trên quê hương tôi”. Bài “ Chợ chiều” của Lư
Chánh Trung, hay bài “Thực tại và ước mơ” của Trần
Quang Long, sau này chết trong MTGPMN v́ trúng bom Mỹ. Hay bài của Nguyễn Văn
Trung: “Mỹ thua Mỹ ở Mỹ”. Bài
“Không c̣n ảo tưởng” của Dương Văn Ba và bài cuối cùng “Giă
từ Việt Nam khói lửa” của Don Luce, một IVS, trước khi về Mỹ.
Hệ luận của việc bài Mỹ đă không làm th́ việc đ̣i hỏi ḥa b́nh cũng bị lơ là.
Chẳng những thế, người ta có cảm tưởng quư vị dân biểu đối lập tỏ ra thân thiện
với Mỹ hơn ai hết, chỉ trừ có ông Dương Văn Minh là gần như không tiếp xúc với
người Mỹ.
Họa chăng, thi thoảng, người ta thấy một bài báo đá động đến vấn đề Ḥa B́nh như
trong số báo 98, đề ngày 23/10/1972 của Hồ Ngọc Nhuận:”
Chết cho chiến tranh hay chết cho Ḥa B́nh, viết về cái chết của ông Susini,
Tổng đại diện Pháp quốc tại Hà nội. Số báo đó đăng trên tờ Đại dân Tộc, sau đó
đă bị tịch thu.
Ủng hộ mặc nhiên cuộc đàm phán tại Hội đàm Ba Lê mà sau đó được bày tỏ bằng
những lời sau đây của Lư Chánh Trung: “Và ngày hôm nay, 27 tháng giêng, phải
được nhắc tới như một ngày lịch sử trọng đại, không chỉ của dân tộc Việt Nam, mà
của mọi dân tộc của loài người. Chính v́ những ư nghĩ trên đây mà Hiệp định
Paris là một văn kiện Lịch sử trọng đại, không chỉ của thời này, mà của muôn đời
về sau”(35)
Giáo sư Lư Chánh Trung viết như thế, nhưng Lư Quư Chung lại không nghĩ như vậy.
Ông Chung đưa ra nhận xét như sau về hiệp định d́nh chiến: “Hiệp
định Paris chỉ là một giải pháp t́nh thế để tạm thời ngừng tiếng súng chứ không
chấm dứt được cuộc xung đột và mang lại ḥa b́nh thật sự, dù cho các điều khoản
của Hiệp định được mang ra áp dụng. Một chính phủ liên hiệp nếu được thành lập ở
miền Nam cũng sẽ là sự tiếp nối của cuộc xung đột dưới một h́nh thái mới, đầy
hỗn loạn và bất ổn, có thể lại đổ máu và chết chóc…”
Cũng tiện đây, xin được trích dẫn một bản thảo viết lại trong khoảng thời gian
11 tháng mà một thành viên của VNCH được tham dự để độc giả tiện so sánh với tâm
t́nh của Lư Chánh Trung: “Trong phiên họp thứ ba mà thông lệ mỗi tuần dành cho
một phái đoàn lên tiếng trước. Lần này là phần của VNCH, ông Phạm Đăng Lâm lên
tiếng với phía bên kia là mong họ thực tâm đi ngay vào vấn đề chính là t́m kiếm
giải pháp ḥa b́nh cho đất nước và yêu cầu đừng mang chế độ cộng sản ra tuyên
truyền cho mất thời giờ. Lời lẽ của ông Lâm rất dịu dàng và lịch sự. Phía Hà nội
được ông Xuân Thủy, trưởng phái đoàn đáp đúng như sau đây: các anh, một
từ ngữ bất lịch sự được phát ra không ngượng mồm, và nói tiếp là: các anh tưởng
tụi tôi có dư th́ giờ ở đây hả. Nếu bọn Ngụy chúng mày muốn th́ th́ để
dịp khác tụi này sẽ dạy chủ nghĩa cho mà nghe.Tiếng xầm x́ trong pḥng họp,
nhưng ngay khi đó bỗng phát ra một tiếng nói nóng bỏng của một người trong phái
đoàn VNCH như sau: Tổ sư chúng mày. Chúng mày mở mồm
như thế mà nghe được sao? (Tiếng cười chợt nổ ầm trong pḥng) và ngay
khi đó, ông Phạm Đăng Lâm kéo người nói câu đó ngồi xuống ghế v́ theo ông Lâm
phải tôn trọng nguyên tắc là chỉ có Trưởng Phái Đoàn mới được lên tiếng. Tác gỉa
câu chửi thề đó là Phạm Huy Bách, đệ tam Tham vụ ngọai giao (Trích bản thảo của
một thành viên trong phái đoàn Ḥa đàm Ba Lê của VNCH).
Những họat động chống đối chính phủ của dân
biểu đối lập bên ngoài ṭa nhà Quốc hội: Biểu t́nh và chống biểu t́nh,
trường hợp sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm. Biểu t́nh Ngày kư giả đi ăn mày.
Biểu t́nh và chống biểu t́nh là một hoạt cảnh xảy ra gần như hằng ngày của thành
phố Sài g̣n mà theo sự lượng định của Hồ Ngọc Nhuận là trên dưới khoảng 50 người
tham dự. Cứ con số đó mà quần nhau giữa cảnh sát dă chiến của Trang Sĩ Tấn và
đám biểu t́nh.
Về phía nữ th́ có bà Ngô Bá Thành, chủ tịch Hội Phụ nữ đ̣i quyền sống, cô
TrầnThị Liên, bà Kiều Mộng Thu, thỉnh thoảng có thêm Cao thị Quế Hương và ni sư
Huỳnh Liên. Ba người có chồng và hai người c̣n ở độc thân.
Bà Thành tên là Phạm Thị Thanh Vân, chồng là ông Ngô Bá Thành. Kiều Mộng Thu th́
có chồng là ông Nguyễn Tất Đắc, đốc sự hành chánh. Cao Thị Quế Hương, chồng
Nguyễn Ngọc Phương, cán bộ Cộng sản chết trong tù. Riêng hai ông Thành và Đắc
chỉ làm nghề sách cặp, lẽo đẽo theo hầu hai bà vợ: lái xe, bảo vệ, y tá, anh
nuôi và chia phần hít lưu đạn cay.
Phía quư vị đàn ông hăng say nhất, năng nổ nhất là Hồ Ngọc Nhuận và LM Nguyễn
Ngọc Lan. C̣n những người khác như sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm, Lư Chánh Trung,
Nguyễn Nghị, Trần Thế Luân, Phan Khắc Từ hay ai khác th́ họa hoằn, khi có khi
không. Riêng ông LM Nguyễn Ngọc Lan đă có lần Cảnh sát đá trúng hạ bộ tưởng chết,
nếu không cũng tuyệt tự. Rất may, Chúa c̣n thương v́ Chúa ḷng lành vô cùng nên
sau này lấy vợ cũng có một cháu gái. Cháu nay đă trưởng thành và được gửi đi du
học bên Pháp. Ấy là bạn bè tôi nói lại. Theo lời tường thuật lại của Hồ Ngọc
Nhuận th́ lần ấy, biểu t́nh đă tan, t́m măi không thấy Nguyễn Ngọc Lan đâu cả.
Anh em bổ nhau đi t́m th́ thấy Ngài đang nằm phơi nắng cạnh hồ nước Nguyễn Huệ,
đơn độc một ḿnh. Khuân ông về chăm sóc, anh em hỏi, anh bị đánh ở đâu, anh
thiểu năo đáp “Nó đánh trúng..dinh độc lập”. Ai cũng biết, bị đánh trúng chỗ đó
th́ chỉ có nước ôm mà nằm …, làm sao chạy nổi, người càng ốm yếu th́ cái đó càng
quan trọng...
Trường hợp sinh
viên Huỳnh Tấn Mẫm. Một cái dao đâm vào cạnh sườn VNCH.
 |
Một cái dao đâm
vào cạnh sườn VNCH.
Nguồn: thanhnien.com.vn
|
Xin đi lại một chút cho có đầu đuôi. Sau khi lật đổ ông Diệm th́ có cuộc bầu cử
Tổng Hội Sinh viên Sài g̣n. Lúc bấy giờ, Đại học Sài g̣n có 14 phân khoa với các
trường chuyên môn và có ba liên danh ra ứng cử. Để thu được nhiều phiếu bầu của
sinh viên th́ mỗi liên danh đều có đại diện của những phân khoa lớn như Luật
Khoa, Văn Khoa, Quốc Gia Hành chánh v.v…
Ba liên danh này, theo cái hiểu biết của tôi thời đó th́ họ đều là những đại
diện xứng đáng. Các sinh viên đều có thành tích họat động về sinh họat báo chí,
tổ chức các trại công tác, các trại hè, các buổi hội họp hay hội thảo, ngay cả
biểu t́nh nữa. Trưởng ban bầu cử là anh Hoàng Ngọc Tuệ. Anh Tuệ đối với tôi lúc
đó đă lớn. Anh có cô cháu gái, Phương Thảo, gọi bằng cậu, rất dễ thương, tươi
tắn và xinh đẹp, luôn luôn với bộ áo ngủ lụa là, sang và mượt sensual, thứ mà
tôi rất thích, xă giao và ăn nói khéo léo, bặt thiệp, Huế rặt nữa. Nhà ở số 19A
đường Bùi Thị Xuân th́ phải.Tôi biết rất nhiều về cậu Tuệ mặc dầu tôi chỉ
đến chơi ngày thứ bảy khi cậu Tuệ đi họp.
Liên danh thứ nhất có các anh Đường Thiện Đồng, Trần Ngọc Báu, Nguyễn Trọng Nho
v.v... Liên danh thứ hai có Lê Hữu Bôi, Nguyễn Thượng Hiệp và Lê Đ́nh Điểu và
liên danh thứ ba có anh Đỗ Ngọc Yến. Cuối cùng có 3000 phiếu bầu và liên danh
anh Lê Hữu Bôi đắc cử. Sau này, anh Bôi cũng mời Nguyễn Trọng Nho liên danh 1 và
Đỗ Ngọc Yến, liên danh 3 cùng hợp tác chung.
Tôi không thật sự theo dơi sát các sinh họat của Tổng hội SV Sài g̣n. Nhưng v́
quen biết cách này, cách kia các anh ấy nên tôi có một tin tưởng chắc chắn họ là
những người thanh niên lư tưởng, hăng say, đầy nhiệt t́nh, tâm huyết và có ḷng
với đất nước, với lư tưởng quốc gia như trường hợp cậu tôi.
Và cuối phần bài viết này về giới trẻ miền Nam, tôi xin được dành hẳn một chương
để nói về họ.
Khi viết những ḍng này, tôi có hỏi thăm anh Trần Ngọc Báu, liên danh một. Anh
cho biết nay trí nhớ mù mờ không nhớ được ǵ nhiều. Nhưng chỉ nhớ rằng, hồi đó
ra ứng cử để mục đích làm thế nào giải tỏa mối căng thẳng giữa tôn giáo mà giới
sinh viên thật sự không có vướng mắc hay dự phần. Giới sinh viên trẻ chơi với
nhau, hoạt đông chung đều đứng bên trên những quan điểm tôn giáo.
Điều đó dễ được chứng thực.
|
 |
|
Đỗ Quư Toàn & Đỗ Ngọc Yến, hai người
bạn đồng hành từ lúc là thiếu sinh Tây Hồ, đạo Cửu Long, châu Sài G̣n,
Hướng Đạo VN, 1959
Nguồn: DCVOnlinen
|
Hăy nh́n gương Đỗ Quư Toàn và Đỗ Ngọc Yến, hai người bạn đồng hành kể từ thời
sinh hoạt trong Thiếu đoàn Tây Hồ, đạo Cửu Long, Hướng Đạo VN, 1959. Hăy nh́n
gương Đỗ Ngọc Yến, Lê Đ́nh Điểu, Nguyễn Xuân Hoàng và Hà Tường Cát, từ những
ngày làm báo Chu Văn An và trong chương tŕnh CPS. Hăy nh́n gương Đỗ Ngọc Yến,
Phạm Phú Minh, Trần Đại Lộc, từ những ngày đầu lớp đệ tam C, Petrus Kư. Và
cậu tôi th́ không biết từ đâu tới, dạng cẳng đứng giữa những người bạn ấy để
rồi chỗ nào cũng có mặt.
Nghĩ lại, tôi vẫn thấy nó đẹp. Nó vượt xa những tâm thức địa phương. Cứ đi xe
lửa ra khỏi Sài G̣n, tâm thức địa phương thấy rơ. Thêm một điểm, tôi vẫn cảm
thấy hạnh phúc khi sống trong thành phố lớn như Sài G̣n.
Trở lại trường hợp anh chủ tịch sv Lê Hữu Bôi, điều mà ta thấy rơ, sinh viên
thời ấy tham dự vào các sinh hoạt chính trị một cách có chừng mực, đặt quyền lợi
Quốc gia, an ninh lên trên những xáo trộn chính trị.
Sự có mặt rơ rệt nhất vẫn là biểu t́nh chống Hiến chương Vũng Tầu. Thật sự,
chống th́ chống, cũng mấy người biết rơ nội dung nó như thế nào.
Việc chống th́ chống, chống xong rồi thôi. Vẫn chính là do giới sinh viên chủ
động, sinh viên phát động phong trào. Nó khác hẳn với lối đấu tranh bạo lực sống
c̣n, nhằm hạ bệ một chế độ, nhằm lật đổ.
Phải chăng chính v́ ở cái đặc điểm đó nơi anh Bôi mà anh đă chịu cảnh thảm sát
hồi tết Mậu Thân ở Huế?
Lê Hữu Bôi, sinh năm 1940 và bị thảm sát năm 1968, trong dịp tết Mậu Thân ở Huế.
Tôi đánh dấu hỏi mà không bao giờ có câu trả lời, cũng như sẽ chẳng bao giờ có
câu trả lời thật rơ ràng, ai đă giết sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật?
Sau cái chết này, cơ hội mở ra đưa đến t́nh trạng một sinh viên Cộng Sản được
gài vào làm chủ tịch THSV Sài g̣n. Từ đó cho đến 1975, Mẫm quậy phá miền Nam
bằng biểu t́nh, xuống đường cùng với một số sinh viên khác. Về điểm này, anh
Nguyễn Hữu Thái có dự phần, nếu anh đọc bài này, anh có thể nói rơ hơn vai tṛ
của anh và những đám người như Huỳnh Tấn Mẫm chăng?
Sau ngày Lê Khắc Sinh Nhật bị giết, dư luận đồn Mẫm là thủ phạm.. Điều này không
chắc đă là đúng. Đường phố Sài g̣n lúc bấy giờ treo nhiều biểu ngữ để tang Lê
Khắc Sinh Nhật và đổ tội cho Mẫm là thủ phạm. Nhưng đằng sau Mẫm nay không thiếu
sinh viên Cộng Sản như Nguyễn Thị Yến, Cao thị Quế Hương, Dương Văn Đày, Lê Văn
Nuôi, Nguyễn Ngọc Phương (chết 1973), Nguyễn Xuân Lập, Trần thị Huệ, Trần Thị
Lan… Nguyễn Văn Thắng. Riêng Nguyễn Thị Yến, sau 1975 làm Trưởng ban Văn Hóa Xă
hội của Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam.
Lúc đầu, Huỳnh Tấn Mẫm chỉ là quyền chủ tịch Tổng Hội sinh viên Sàig̣n, kiêm chủ
tịch ban đại diện sinh viên y khoa, kiêm chủ tịch Ban đại diện cư xá Minh Mạng.
Bắt đầu là có 20 giáo chức đại học, trung học và tiểu học ngồi tuyệt thực tại
ṭa Viện Trưởng Viện đại học Sài g̣n, có GS Lư Chánh Trung, để yêu cầu nhà cầm
quyền trả lại tự do cho các sinh viên, trong đó có sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm. Sau
này cho thấy các sinh viên này đều là các cán bộ cộng sản như Dương Văn Đày, Lê
Văn Nuôi, Nguyễn Ngọc Phương, Cao thị Quế Hương, Huỳnh Tấn Mẫm.
Đến thăm và ủy lạo cuộc tuyệt thực có mấy bà trong Ủy ban phụ nữ đ̣i quyền sống,
có bà mẹ sv Huỳnh Tấn Mẫm, các luật sư Nguyễn Long, Trần Ngọc Liễng, Nguyễn Văn
Cước, các thượng tọa Mẫn Giác, Nhật Thường …
Thêm nữa là một số sv Phật tử tại Trung tâm sinh viên Phật Tử, số 294 Công Lư,
cũng tham dự.
Thêm nữa là đám dân biểu đối lập tiêu biểu nhất là Hồ Ngọc Nhuận. Hồ Ngọc Nhuận
đă có lần đưa lẻn Mẫm vào Hạ viện, rồi ra trước tiền sảnh Hạ viện để họp báo
đứng.
Thêm nữa và oái ăm thay, lần này giải thoát Mẫm lại là công của TT Nguyễn Cao Kỳ.
Ông Kỳ một lần nữa, lại bị đám dân biểu đối lập xỏ mũi. Lúc bấy giờ, Mẫm đang ở
Trung Tâm sinh viên Phật tử, đường Công Lư và bị cảnh sát bao vây. Hồ Ngọc Nhuận
dùng chiếc xe La Dalat lái thẳng vào trung tâm, rồi quay đầu ra. Sinh viên Phật
Tử vội bỏ mui xe, trùm kín mít. Hồ Ngọc Nhuận vụt lái xe ra khỏi trung tâm. Cảnh
sát ùa theo rượt đuổi, v́ tưởng lầm có Mẫm ớ trong. Lái xe một đoạn về phía phi
trường Tân Sơn Nhứt, Hồ Ngọc Nhuận cho dừng xe lại, cuốn các tấm phủ xe lên.
Trong xe trống chơn. Cảnh sát bị trúng kế, chửi thề quay lại trung tâm. Cũng lại
trống trơn.
V́ ngay khi đó, một chiếc xe jeep nhà binh đă chạy vào trung tâm bốc Huỳnh Tấn
Mẫm, chạy thẳng về dinh Quốc Khách, góc Công Lư, Hiền Vương.
Chiếc xe jeep ập vào bốc Mẫm đi không của ai khác mà là của Phó Tổng Thống
Nguyễn Cao Kỳ.
Thiệt là hết nói. Trang Sĩ Tấn là một trong những cảnh sát trưởng bất tài và vô
tích sự trong trường hợp này cũng như trong vụ tổ chức đốt ṭa soạn báo Tin Sáng.(36)
Sau này, vào giờ chót của VNCH, ông Dương Văn Minh tŕnh diện Huỳnh Tấn Mẫm vừa
được trả tự do, ông nói: Đây sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm bằng xương, bằng thịt đúng
như lời hứa của chính phủ Dương Văn Minh trả tự do cho tất cả tù chính trị.
Cũng cần nhớ rằng, chính phủ VNCH trong việc trao đổi tù binh với MTDTGPMN, ta
đă trao trả Huỳnh Tấn Mẫm cho phía bên kia. Huỳnh Tấn Mẫm từ chối đ̣i ở lại phía
chính quyễn VNCH. Ở lại để c̣n có cơ hội quậy. Theo Lư Quư Chung, trong Hồi kư
không tên của ông, phần 8. Ông viết rằng: ông có một cô t́nh nhân, tên M. làm
cho hăng thông tấn AFP, cô này thường thu băng các tin tức họp mật và trao cho
Lư Quư Chung. Có một lần cô M mang về một cuộn băng ghi tại phi trường Lộc Ninh
trong cuộc trao đổi tù nhân chính trị giữa phía VNCH và MTDTGPMN. Cuộn băng ghi
lời phát biểu của tù nhân sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm: anh từ chối việc trao trả anh
cho MTDTGPMN, với lư do anh không phải là người của mặt trận, mà là người hoạt
động trong thành phần thứ ba và đ̣i chính quyền Thiệu phải trả tự do cho anh tại
Sài g̣n. Anh Mẫn đích thực hoạt động trong hàng ngũ những người Cộng sản, nhưng
vào thời điểm bị chính quyền Thiệu bắt th́ anh hoạt động với tư cách khác. Anh
đă đóng tṛn vai tṛ này cho đến ngày 30/4/75. V́ không chấp nhận sự trao trả
cho Mặt Trận nên anh Mẫm bị đưa trở lại nhà giam của chính quyền Sài g̣n.(37)
Trong một buổi phát h́nh tại Sài g̣n, tôi t́nh cờ ghi lại trong nhật kư của tôi
chương tŕnh phỏng vấn Huỳnh Tấn Mẫm và Lê Hiếu Đằng như sau: Huỳnh Tấn Mẫm,
nguyên chủ tịch sinh viên Sài g̣n, 1970. Mẫm cho biết, ông được lănh đạo thành
đoàn bí mật đưa ra ứng cử.
Như vậy, rơ ràng Mẫm là Cộng Sản.
Lê Hiếu Đằng, chủ tịch liên minh các lực lượng dân chủ ḥa b́nh. Nhiều lúc Mẫm
đang nói bị cắt, chuyển sang đoạn khác. Và cuối cùng chương tŕnh phỏng vấn chấm
dứt ngang xương.
(C̣n tiếp)
Copyright © 2006 DCVOnline