Nghiên cứu của Nguyễn Văn Lục về:

 

20 năm giới trẻ miền Nam Việt Nam (Kết)

Tṛ chơi dân chủ biến chính quyền VNCH trở thành nạn nhân của tṛ chơi ấy, gậy ông đập lưng ông. Thành phần thứ ba, phản chiến, nằm vùng tay sai cộng sản, sinh viên học sinh, sư săi, dùng vũ khí ấy quậy nháo nhào sinh hoạt chính trị miền Nam. Biểu t́nh như cơm bữa. Rào kẽm gai giăng mắc thường trực trên một số con đường Sài G̣n, hết đ̣i cái này lại đ̣i đến cái kia.

Những người cộng sản thứ thiệt như Huỳnh Tấn Mẫm th́ được mọi người t́m cách đ̣i thả tự do. Lư Chánh Trung và những người khác xuống đường, tuyệt thực đ̣i trả tự do cho Mẫm? Sao không thấy một ai trong cái đám đó sau 1975, đ̣i trả tự do cho Thi sĩ Vũ Hoàng Chương?

Vũ Hạnh: Tôi viết cho tờ công an khi báo chỉ được lưu hành nội bộ thông qua anh Huỳnh Bá Thành - vốn vừa là đồng hương vừa là đồng nghiệp từng quen biết nhau trong thời chống Mỹ giữa ḷng Sài G̣n.
Nguồn: congan.com.vn


Vũ Hạnh, nhà văn cộng sản nằm vùng bị kết án tù th́ Linh mục Thanh Lăng, nhân danh Chủ tịch Văn Bút Việt Nam đứng ra bảo lănh, Vũ Hạnh lại phây phây ra ngoài họat động. Trong số người bảo trợ, có Nhà văn Vơ Phiến, ra Hải ngoại được coi là nhà văn chống cộng số 1 của VNCH?

Linh mục Thanh Lăng sau này cũng là một trong số 20 vị khác t́m cách chống việc bổ nhiệm Tổng Giám mục Nguyễn Văn Thuận về Sài G̣n. Sau này, ngày 28/11/1988, Đinh Xuân Nguyên, Thanh Lăng đă để lại di chúc có nội dung như sau: “Tôi xin công khai sám hối với Chúa với Hội thánh toàn cầu và Việt Nam. Lạy Chúa xin tha thứ cho con mọi lỗi lầm và ban cho con ḷng tin, ḷng trông cậy và ơn tha thứ.’’

Tôi xin công khai sám hối Đức Cha Nguyễn Văn Thuận, xin Chúa giữ ǵn và trả công cho Đức Cha.

Ngày 17/12/1988, Linh mục Thanh Lăng qua đời.

Có bao nhiêu các vị tu hành của các tôn giáo, các vị hành giả khuấy động một thời, các người trí thức khuynh tả, thành phần thứ ba, các vị dân biểu, các nhà làm chính trị làm một cử chỉ như Thanh Lăng: Xin lỗi Miền Nam. Ngay cả những người lănh đạo cộng sản miền Nam cũng phải xin lỗi Miền Nam v́ những chính sách sai lầm trong cải tạo và đối xử tàn nhẫn với người dân miền Nam.

Chúng tôi vẫn cần một lời xin lỗi trong lúc này.

Có những vụ việc, những biến cố chính trị lớn nhỏ ở miền Nam, có những sự việc không thể nhận ra ư nghĩa của nó được khi nó c̣n đang là thời sự.

Nhờ 20 mươi năm không thống nhất và cũng nhờ những bề trái của cuộc thống nhất ấy, chúng ta thấy được ư nghĩa lịch sử, hướng đi của đất nước sau này qua những bài học đắt giá của cả một thời kỳ những ảo tưởng cũng như sự thật nằm ở chỗ nào?

Câu chuyện tiếp theo, Luật sư Trần Văn Tuyên, một trí thức chống cộng sản, nhưng đă có thời làm Trưởng khối xă hội chống lại chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, sau 1975, đi tù cộng sản. Chúng ta hăy đọc lời nhận xét của Hồ Ngọc Nhuận để cay đắng cho ông: “Về anh, cũng như về một số các anh khác như Phan Thiệp, Nguyễn Mậu thuộc cánh Quốc Dân Đảng miền Trung, thật cũng khó mà lấy vài ba năm tham gia chánh trị đối lập ở Sài g̣n để cân bằng, đánh đổi mấy mươi năm chống cộng...

Đánh giá của Hồ Ngọc Nhuận cũng là những đánh giá của chính quyền cộng sản và số phận họ ra sao th́ đă rơ?

Và nước mắt cá sấu: “Và không thể không bùi ngùi nghĩ đến những ngày tuy ngắn ngủi nhưng thật ḷng họ đă hết ḿnh v́ cái sau cùng họ cho là chính nghĩa.

Dân biểu Vơ Long Triều, Chủ nhiệm báo Đại Dân Tộc, cũng là người bảo lănh cho người quản lư vay 20 triệu để làm tờ báo sau này cũng phải đi học tập như thường lệ, chẳng những thế c̣n bị bắt giữ lại cả chục năm nữa. Ông thường than văn ra ngoài như sau: “Tôi buồn, v́ ngườii trực tiếp c̣ng tay tôi là một cộng tác viên của tờ Đại Dân tộc. Khi tôi ra tù và khi anh ấy c̣n sống, anh ấy có đến thăm tôi, nhưng tôi vẫn thấy buồn.. Không phải cho tôi. Sao anh ấy không để ”việc ấy” cho người khác. Ông Triều c̣n đang viết hồi kư, nếu tôi có viết sai, xin cứ việc đính chánh. Sau này, năm 1993, khi được bảo lănh sang Tây, Vơ Long Triều c̣n khốn đốn với số tiền 20 triệu với Ban Thanh lư các ngân hàng. Người quản lư ngân hàng đi đâu không biết, nhưng trưởng ban thanh lư tiếp tục làm khó Vơ Long Triều. Trong Hồi kư không tên, Lư Quư Chung cũng bầy tỏ sự khó chịu v́ khác ư giữa Vơ Long Triều và các anh em khác trong nhóm.

“Lúc đầu tôi từ chối v́ biết rằng tuy lúc này anh Triều cùng họat động đối lập, nhưng anh vẫn có nhiều quan điểm về chính trị khác tôi”.(38)

Muốn biết hết tất cả những truyện này th́ cũng cần đọc lại những bài viết của Bùi Chánh Thời, dân biểu Nguyễn Hữu Chung và Đại tá Nguyễn Văn Minh, đổng lư văn pḥng của Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ.
C̣n nhiều chuyện như sau này.

Ngày kư giả đi ăn mày

Ông Thiệu có cái tài làm cho người ta ghét. Sau khi thắng cuộc bầu cử độc diễn, nay với sắc luật 007/72, ông Thiệu muốn dùng sắc luật này để triệt hạ một số báo chí đối lập. Sắc luật báo chí quy định mỗi tờ nhật báo phải đóng kư quỹ 20 triệu đồng, tương đương với 47.000 USD, c̣n báo định kỳ th́ 10 triệu đồng. Nhiều tờ báo phải đóng cửa. Sắc luật khiến cho 16 tờ báo ngày và 15 báo định kỳ phải đóng cửa. Trong đó có tờ Bút Thần của Lư Quư Chung.

Một số gia đ́nh kư giả nghèo rơi vào cảnh thất nghiệp, thợ nhà in th́ không có việc làm. Có lẽ đó là cái hậu quả duy nhất mà luật báo chí đạt được.

Trước hết, có trường hợp tờ Điện Tín, ông Hồng Sơn Đông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Nhưng thật ra ê kíp làm việc trực tiếp trên tờ báo là các ông Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, và Lư Chánh Trung. Cả ba đều được coi là những thành phần cực tả.

Tự nhiên nay đủ thành phần trong xă hội quy tụ lại cùng chống ông Thiệu: đó là 4 tổ chức báo chí Sài G̣n là: Hội chủ báo, Nghiệp đoàn kư giả Nam Việt, Nghiệp đoàn kư giả Việt Nam và Hội ái hữu kư giả cùng tổ chức Ngày kư giả đi ăn mày.

Thường th́ hai Nghiệp đoàn kư giả Nam việt của các kư giả miền Nam và Nghiệp đoàn kư giả Việt Nam được thành lập sau cuộc di cư ít khi nào họ có thể ngồi chung với nhau được. Nhờ luật báo chí mà họ có cơ hội xích lại được gần nhau.

Cuộc ra quân ngày 10/10/1974 của các cựu kư giả miền Nam cho thấy phần lớn đều là các cán bộ cộng sản chính cống có mặt. Các nhà báo lăo thành như: Kư giả Nam Đ́nh, Trần Tấn Quốc, Tô Nguyệt Đ́nh tức Nguyễn Bảo Hóa, Nhà báo Văn Mại, Quốc Phượng, và Kiên Giang Hà Huy Hà.

Các đài ngọai quốc như VOA và BBC đều đồng loạt cho rằng, đây là cuộc biểu t́nh lớn nhất kể từ 3 năm qua.

Những kư giả đi biểu t́nh th́ được phát mỗi người một nón lá, một bị đệm đeo vào cổ của người đi ăn xin, và một cây gậy.

Cảnh sát đă không ngăn được làn sóng người đi biểu t́nh nên tự vỡ ra và làn sóng người đi biểu t́nh cứ thế cuốn đi như lời mô tả của Lư Chánh Trung: “Trong một tiếng đồng hồ, từ công trường Lam Sơn đến chợ Bến Thành, rồi từ chợ Bến Thành về công trường Lam Sơn, tôi có cảm tưởng đang bồng bềnh trôi trên biển, bị cuốn ra khơi rồi đưa trả về bờ.”

Và biển cả đă hấp lấy ḍng sông. Từ hai vỉa hè, đồng bào buớc xuống đường: cả đại lộ chuyển động. Rồi cả đại lộ cùng đi. (39)

Tôi đă đọc ba bài báo của Lư Chánh Trung là: Dậy mà đi, Hàng hàng lớp lớp, Mặt đối mặt …

Tôi có cảm tưởng đọc Lư Chánh Trung như đang đọc một Tố Hữu của miền Nam.

Kể cũng là công b́nh, trong Nam có Lư Chánh Trung, ngoài Bắc có Tố Hữu.

Nếu có chi khác biệt là ư tưởng của ông Trung có vẻ trí thức hơn. Và xin lấy lại nhận xét của Đào Duy Anh khi viết về Lư Chánh Trung: “Những ǵ anh viết trước 1975 th́ tôi đă đọc, c̣n những ǵ anh viết sau 1975 th́ tôi không cần đọc, bởi v́ tôi biết anh viết ǵ rồi”.

Và đây là một bằng chứng nhỏ: cảm nghĩ về văn chương miền Bắc ông viết: “Tôi tin rằng con đường cách mạng Việt Nam là một con đường rộng, con đường rộng thênh thang tám thước của nhà thơ Tố Hữu, và trên con đường đó, tất cả nhừng người cầm bút miền Bắc cũng như miền Nam có thể bước đi thoải mái, vừa phát huy được cá tính và tài năng của ḿnh, vừa được hợp nhất với dân tộc trong phấn đấu, trong gian lao, trong thắng lợi và trong hạnh phúc chung”.

Với sự thống nhất và phát triển đất nước, con đường ấy sẽ ngày càng mở rộng thêm nữa.

Dù sao cũng nên hiểu rằng, đây chỉ đánh dấu một chặng đường suy tư của tác giả sau chuyến đi tham quan miền Bắc trở về và đă được đọc tại rạp Rex, Sài G̣n và trên Đài truyền h́nh Tp. Hồ Chí Minh, cuối tháng 9/1975.

Năm 2005, tôi có găp ông Lư Chánh Trung, ông kể rằng sau tết Mậu Thân, 1968 th́ ông bắt đầu có những liên hệ trực tiếp với MTDTGPMN. Do móc nối sẵn, ông đă đến một điểm hẹn bằng cách dơ một tờ báo lên và sau đó trao đổi mật khẩu. Việc trao đổi mật khẩu xong th́ ông đi theo một phụ nữ đi ra bến xe đ̣ đi B́nh Dương. Đến B́nh Dương th́ đă có người chờ sẵn và chở xe gắn máy đi vào rừng. Chẳng biết đi bao lâu th́ tới nơi, nghỉ ngơi và được gặp anh Huỳnh Tấn Phát. Họ cũng không yêu cầu ông tham gia vào MTGPMN, v́ cứ họat động với tư cách giáo sư như hiện nay th́ tỏ ra hữu hiệu hơn. Và kể từ đó, có liên hệ chính thức với MTDTGPMN. Nhưng phần tôi nghĩ rằng những điều ông viết, cổ xúy về một cuộc Cách mạng xă hội không Cộng Sản chỉ là một bánh vẽ hay sao?

Đó chính là cái mà tôi gọi là ảo tưởng của trí thức miền Nam Việt Nam.

Kết quả của vụ kư giả đi ăn mày th́ có 18 vị phải vào tù. Nhiều vị phải vào tù là chính đáng lắm như Nhà văn Sơn Nam, Nhà văn Vũ Hạnh, ông Tiến Huẩn, ông Chu Thao đều là những người của phía bên kia. Ông Chu Thao và Tiến Huẩn sau này đều làm cho tờ Sài G̣n Giải Phóng.

Riêng Chu Thao th́ được linh mục quốc doanh cộng sản Huỳnh Công Minh chứa chấp và che dấu nên không bị đi tù. Ông linh mục này này cũng làm trung gian chuyển tiền của linh mục cộng sản Nguyễn Đ́nh Thi ở Paris gửi tặng gia đ́nh 18 kư giả bị đi tù.

Ông Thi cũng là người ngay từ sau 1975 giúp đỡ tiền bạc cho Trương Bá Cần để làm tờ Công Giáo và Dân Tộc. Một thứ báo quốc doanh tôn giáo.

Rồi lại biểu t́nh đ̣i thả các kư giả bị giam tù. Và người ta thấy Linh mục Chân Tín trong vai tṛ: Chủ tịch Ủy ban đ̣i cải thiện chế độ lao tù tại miền Nam Việt Nam Xin thưa là bất cứ tổ chức nào đ̣i cái này, cái nọ đều là dưới sự điều động của cộng sản hết. Không trừ. Phụ nữ đ̣i quyền sống? Giá bây giờ mà có một tổ chức như vậy th́ hay biết mấy, đỡ cho gái Việt Nam khỏi bán sang Đài Loan, Đại Hàn.

Bữa đó có hai chú lỏi học sinh phải ra ṭa. Chúng đă được học tập và chỉ giáo kỹ càng. Xin tường thuật lại: “Phiên ṭa vừa mở màn, hai học sinh bị đưa ra xử vụt hô to “đả đảo”, vừa lấy lưỡi giao lam rạch bụng, máu me tùm lum. Cảnh sát, quân cảnh lớp chạy rần rần ngoài hành lang, lớp ập vô bắt hai tù nhân lôi đi. Các quan ṭa chưa hết bàng hoàng, chúng tôi đă tung hết truyền đơn và chuyền êm theo đám đông. Sau này, tôi thắc mắc: Lưỡi lam mỏng lét lại bén ngót, cầm rách loạng quạng nó phạt sâu vô trong th́ chết. Anh em cười: rạch lấy máu ăn thua chớ đâu phải để chết. Lưỡi lam đă được bọc vải cẩn thận, chỉ chừa một góc nhỏ thôi, không ăn sâu vô được…(40)

Cả nước bị hai thằng con nít lừa.

Ngày nay, các vị kư giả từng tham dự Ngày kư giả đi ăn mày nay c̣n đâu? Các ông Văn Mại, Thiếu Sơn, Tô Nguyệt Đ́nh, Trần Tấn Quốc, Nguyễn Kiên Giang, Nam Đ́nh đă vĩnh viền ra đi, hoặc đă xa nghề, xa nghiệp như ông Huỳnh Thành Vị?

Đám trẻ thời đó th́ nay đă thành già và tuyệt đại đa số họ, hầu hết sau 1975, đều ră nghề, hoặc đi hành nghề ở nước khác?(41)


C̣n có một giới trẻ Việt Nam khác

Trong bài này, từ đầu tới cuối, tôi chưa có dịp để nói tới, nay là lúc phải nói tới. Tôi muốn nói tới một thế giới trẻ của những người muốn làm việc xă hội thay v́ làm chính trị, muốn kết hợp thay v́ chia rẽ, muốn giúp đời, giúp xă hội thay v́ tranh đấu, muốn làm, muốn hành động thay v́ chỉ nói.

Họ là ai? Từ đâu tới? Họ làm ǵ?
 

Nguyễn Đức Quang và nhóm Du ca (1963)
Nguồn: pacifique.com


Họ nhiều lắm. Chỉ c̣n cách nhớ ai nói đấy. Có thể là cậu tôi, Dược sĩ quân y đóng ở Pleiku. Vậy mà cậu tôi cứ về Sài G̣n soành soạch để tham gia hoạt động. Rồi đến Đỗ Ngọc Yến, gương mặt tiêu biểu của giới trẻ miền Nam VN và Hải ngoại... Đỗ Quư Toàn, Lê Đ́nh Điểu, Trần Văn Ngô, Trần Ngọc Báu, Lê Hữu Bôi, Nguyễn Thượng Hiệp, Nguyễn Đức Tuyên, Lê Đ́nh Thông, Nguyễn Tường Cẩm, Trần Văn Chang, Đoàn Thanh Liêm, Nguyễn Đức Quang, Lê Gia Mô, Nguyễn Đức Hy, Hồ Công Hưng, Lê Ngọc Mô, Phạm Quốc Bảo, Bé Kư, Hồ Thành Đức, Đỗ Anh Tài, Phạm Gia Cổn, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Hữu Doăn và tạm chấm dứt với Trần Đại Lộc, Phạm Phú Minh và Nguyễn Đức Quang.

Cái danh sách này, tôi mong muốn nó như sợi dây trời, dăng mắc từ Đông sang Tây, từ trong ra ngoài nước, những người từng là thành viên của Đoàn Thanh niên thiện chí, đă có thời cùng ngồi với nhau, cùng ca hát, cùng ăn, cùng ngủ cùng yêu đời, cùng phục vụ miền Nam.

Đó là những sợi giây nhân ái, nối dài địa cầu thắt chặt nhau bằng tim óc người miền Nam, tuổi trẻ miền Nam.

Nếu cái lớp người trẻ trên kia xuống đường th́ lớp người trẻ sau này Lên đường. Hành trang của lớp người trẻ thứ nhất lấy lựu đạn cay, hàng rào kẽm gai, một ngày tuyệt thực làm vốn vào đời. Họ hăng say tranh đấu, họ hô hào, họ đả đảo. Rực lửa đấu tranh, hận oán kẻ cầm quyền và chà đạp lên tất cả để mà đi bất kể hậu quả ra sao?

Trong khi lớp người trẻ thứ hai lên đường, dấn thân, nhập cuộc, hy sinh, ḿnh v́ người khác, bao dung và rộng lượng trong tinh thần của Hướng đạo sinh. Chỗ cho mọi người, chỗ cho mọi tôn giáo không loại trừ.

Cái tinh thần mà anh Đoàn Thanh Liêm, Hoàng Ngọc Tuệ khi phát động chương tŕnh phát triển quận 8 mong ước là: développement total et harmonieux, phát triển toàn diện và phát triển điều ḥa. Tinh thần đó đă được lớp đàn anh ấp ủ và được biết tới từ những thập niên 1950, nhưng chỉ có cơ thực hiện được trong thời gian sau 60.

Cho nên, với cái tinh thần đó, các phong trào thời kỳ đó là nơi tập hợp nhiều phong trào, nhiều nhóm, nhiều tổ chức.

Nó là cơ hội cho giới trẻ nhập cuộc và cũng là cơ hội với đầy thách thức? Chỗ cho mọi người, chỗ cho mọi tôn giáo không loại trừ. Theo anh Trần Ngọc Báu, tinh thần của Thanh niên thiện chí là cái không khí thư thái “thoải mái”, bạn bè và một chút phe phẩy “ phi chính trị, phi tôn giáo, phi ư thức hệ, phi mọi thứ cạnh tranh của cái thời giao động, đấu đá ..Trái lại cái nếp sống vô tư và lành mạnh của thanh niên nam nữ dễ đưa đến chỗ tự huấn luyện nhau trong nếp sống điều hành dân chủ việc sinh họat chung, trong phương pháp tổ chức, và trong t́nh thần ḥa đồng, gặp gỡ nhau thật sự trong tinh thần với nhau.

Sau 1963, mọi sự mọi chuyện hầu như đổi khác. Nó không c̣n như trước nữa. Xă hội, con người có nhiều dấu hiệu của nứt rạn, đổ vỡ. Mức độ leo thang chiến tranh làm cho ḷng người thêm xao động.

Năm 1964, tôi ra Huế, tôi đă sống trong cái không khí ngột ngạt ấy.Tại khí hậu Huế hay tại dân t́nh thanh niên, sinh viên Huế. Rồi 65, 66, 67, 68, 69.

Không có mấy tà áo nữ sinh Huế cứu gỡ th́ Huế là những gương mặt buồn thiu.

Người trẻ chỉ c̣n có hai mối bận tâm: lo chuyện học hành và chuyện đi lính hay không đi lính. Tôi đă nh́n thấy giới thanh niên như ở thành phố Huế về khuya. Mỗi cột đèn điện là mỗi thanh niên, là một tương lai trong góc sáng đó, đang lúi cúi ngồi dưới cột đèn để học, mặc cho ngày mai có biểu t́nh hay có băi khóa. Tương lai họ, cuộc đời họ gắn liền với mớ chữ nghĩa trước mặt.

C̣n ngoại giả, họ không biết ǵ nữa.

Một số không nhỏ giới thanh niên t́m hiểu thế giới bên ngoài qua những tác phẩm dịch đủ loại vào thời điểm đó về các đề tài chiến tranh như: Măt trận miền Tây vẫn yên tĩnh, Một thời để yêu, một thời để chết, Chiến hiữu, Bia mộ đen.Tất cả đều là những tác phẩm của Eric Maria Remarque. Ông là tác giả đề cập tới thân phận con người trong chiến tranh và không chấp nhận chiến tranh nhờ đó độc gỉả thanh niên Việt Nam dễ dàng đón nhận.

Và những cuốn sách gây sôi nhất vẫn là Giờ thứ 25 của V. Gheorghiu hay cuốn Quần đảo Goulag của Soljénitsyne. Sách giải trí một chút th́ có cuốn Bố già của Mario Puzo. Tuyệt vời. Giới sinh viên th́ thích những cuốn như Đôi bạn chân t́nh hay Câu chuyện của ḍng sông của Herman hesse.

Đối với nữ sinh thời đó th́ không thể không nói tới hiện tượng sách dịch của Quỳnh Giao với tác phẩm đầu tiên là cuốn Song Ngoại. Bà Tùng Long trái lại chỉ có thể chiếm cái thị phần nữ độc giả ở miền quê Việt Nam.

Nhưng trên hết tất cả vẫn là sách dịch Kim Dung. Truyện chưởng Kim Dung độc bá quần hùng trong sinh họat văn học miền Nam. Ai cũng đoc. Nhiều người mê, nhiều người ghiền.

Đứng về mặt tâm lư, tùy theo lớp tuổi, sách vở ấy chỉ là những liều thuốc ngủ qua đêm cho một miền Nam mà cuộc chiến với chết chóc và tương lai bấp bênh vô vọng.

Tuổi trẻ Việt Nam cần một thứ ǵ hơn thế nữa ? Cấy một niềm tin? Một niềm hy vọng? Một sức sống? Một ư nghĩa cho cuộc sống, một tinh thần phục vụ quên ḿnh, một ư thức xă hội biết tương trợ, biết chia xẻ, biết sẵn sàng tham gia, biết trách nhiệm.

Điều mà sau này, anh Trần Văn Ngô, một trong những người trẻ lên đường thời đó đă thố lộ: “Khi nh́n lại những h́nh ảnh này, nhiều người, trong đó có kẻ hèn này thấy vui: vui v́ một thời thanh niên sống trong môi trường thân hữu, thiện chí và đă góp sức xây dựng. Mà có lẽ chúng ta không nên ngừng ở đây. Nếu như chúng ta xác tín rằng, cuộc đời thanh niên đó đáng cho chúng ta hănh diện, chúng ta hăy cùng nhau truyền cho con cháu. Cách nào, làm sao, đó là vẫn đề mỗi khi chúng ta có dịp gặp nhau”(b>42)

Phải chăng xuất phát từ cái tinh thần đó mà các chưong tŕnh xă hội cho giới thanh niên đă từ đó ra đời?

Hăy bắt đầu bằng chương tŕnh phát triển quận 8

Chương tŕnh này do ông Vơ Long Triều khởi xướng và được Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ hoàn toàn ủng hộ. Ông tướng vô tích sự đó đôi khi cũng làm được những điều tích sự. Thoạt tiên, ông Triều muốn chọn một địa điểm ở dưới Mỹ Tho và ông đă đi gặp chuẩn tướng Nguyễn Bảo Trị, tư lệnh sư đoàn 7. Tướng Nguyễn Bảo Trị ủng hộ hết ḿnh. Nhưng trên đường về, ông Triều nghĩ tới vấn đề an ninh, sợ bị Việt Cộng phá hoại nên đă thay đổi quyết định để chọn một quận nghèo nhất chung quanh đô thành. Quận 8 cuối cùng được chọn lựa mang danh: Chương tŕnh phát triển quận 8.

Theo hồi kư của ông Triều viết th́ như vậy. Nhưng theo những anh em đă trực tiếp tham gia vào các chương tŕnh phát triển quận 8 cho tôi biết th́ không hẳn là như vậy.

Cái sáng kiến là phát xuất từ các anh em trong phong trào. Có nghĩa là ông Vơ Long Triều không phải là người đề xướng ra sáng kiến đó.

Cuộc vận động để thực hiện chương tŕnh này, anh em đă vận động và nhờ nhiều người, trong đó có ông Vơ Long Triều. Một chương tŕnh mà theo anh Trần Ngọc Báu khi nói về các trại Thanh niên thiện chí là: Trên đầu, trên cổ không có ai là người cố vấn, bảo trợ, hướng dẫn. Dưới chân th́ không có kẻ làm bệ. Và ở trại, không ai được hy sinh một ḿnh. Có nghĩa cùng làm cùng đồng lao cộng khổ, chia sẻ trách nhiệm.

Chương tŕnh đó, kế hoạch đó, tiền chắc cũng có.

Nhưng người đâu?

Phải cần những người có tài và nhất là có ḷng. Không có tấm ḷng, không thể làm được những công việc này.

Họ là Mai Như Mạnh, Quốc gia Hành chánh, Hồ Văn Minh, bác sĩ, sau là phó chủ tịch Hạ viện, Đoàn Thanh Liêm, luật sư và một lô các giáo sư như Uông Đại Bằng, Vơ Văn Bé, Hồ Công Hưng, Nguyễn Phúc Khánh, Dương Văn Long, Nguyễn Ngọc Thạch, Đặng Kỳ Trân, Nguyễn Đức Tuyên. Sau th́ có thêm Nguyễn Ngọc Phan và Phạm Duy Tuệ, Quốc gia Hành Chánh, Nguyễn Văn Mừng, Kỹ sư canh nông ở Mỹ về. Vơ Văn Bé, hiệu trưởng trung học quận 6, hiện đang đau nặng.

Những anh Mừng hay anh Yến chỉ ghé thăm mà không thực sự là thành viên công tác của chương tŕnh phát triển quận 8.

Chương tŕnh phát triển lấy mỗi phường làm một đơn vị phát triển và tổ chức cài ở đó một số thanh niên t́nh nguyện đă hoạt động từ trước 1965, ăn ở tại chỗ.

Sống với dân, ở với dân và chia sẻ dự phần với dân.

Sự có mặt của những thanh niên này là nhân tố tích cực nhất để người dân tin tưởng vào chính quyền.

Công việc không phải là dễ. Làm đường, làm cống rănh, xây trường xây lớp tự bàn tay những thanh niên này trong những điều kiện tối thiểu nhất. Lấp rạch th́ đi xin sà bần mà đổ. Làm cầu đường th́ khuân những tảng Granito gỡ ra từ mộ bia để làm đà. Thiếu kinh nghiệm th́ từ thực tế đẻ ra kinh nghiệm và sáng kiến. Không có cầu th́ làm cầu như cây cầu phát triển bắc ngang rạch Ụ Cây, Kinh Tầu Hủ, nối liền phường Hưng Phú cũ với chợ Xóm Củi bây giờ.

Đó là chứng tích của sự phát triển cộng đồng do bàn tay lao động của dân nghèo.

Cuộc cách mạng xă hội nào cũng bắt đầu từ dân nghèo mà đi lên. Tôi nói theo cách nói của Lư Chánh Trung khi ấy đang ngôi ghế Đổng lư văn pḥng bộ giáo dục.

Mô h́nh phát triển quận 8 có đem lại nhiều tia hy vọng? Từ đó, nó đẻ ra chương tŕnh phát triển quận 6 với Đoàn Thanh Liêm làm quản lư chương tŕnh, Mai Như Mạnh làm quận trưởng, rồi lây lan sang chương tŕnh phát triển quận 7 với các anh Đặng Kỳ Trân, Đặng Di Hùng …

Sự h́nh thành trường trung học cộng Đồng quận 6 là một tấm gương sáng từ chỗ cái Không làm nên cái có. Mai Như Mạnh đă có một sáng kiến tân kỳ: tổ chức một Hội chợ triển lăm hàng nội hóa từ một băi rác. Những cơ sở sản xuất tham dự hội chợ phải hứa xây dựng một cơ sở và khi triển lăm xong th́ để lại cái cơ sở ấy. Dĩ nhiên, khi xây dựng phải làm đúng theo quy cách đề ra của kiến trúc sư lèo Nguyễn Phúc Khánh. Nay qua thời gian, tưởng rằng trường lớp làm bằng vật liệu nhẹ, sơ sài nên trường học quận 6 không c̣n nữa.

Không phải như vậy.Theo anh Nguyễn Đức Tuyên, môt trong những viên gạch đầu tiên có mặt, xây dựng lên trường trung học quận 6 đă viết thư cho tôi như sau: “Trường không c̣n v́ chính quyền bán đất cho tư nhân, không phải v́ thời gian hư hao đâu? Sau 30/4/75, trường trở thành trường tiểu học Vơ Văn Tần, đến khoảng năm 1980. Ủy Ban nhân dân quận 6 bán để làm khu thương mại. Trường tiểu học Vơ Văn Tần dọn qua trường Trung Học cơ sở Phạm Đ́nh Hổ bên kia đường.

Như vậy trường trung học cộng đồng quận 6 chẳng những không c̣n tên mà mất luôn trường sở.”

Nhưng nó cũng đánh dấu một thời kỳ quá dẹp của tuổi trẻ, thay v́ chỉ biết xuống đường th́ lên đường.
Riêng trường quận 8 xây cất đàng hoàng, nay đổi thành trường Lương Văn Can th́ vẫn ngửng cao với thời gian.

Có ai ngờ các trường Trung Học cộng đồng ngoi lên từ những băi rác hoang của Đô Thành, hay một nghĩa địa bị bỏ hoang. Như trường Trung học cộng đồng quận 6 được xây cất từ một băi rác khổng lồ nằm cạnh bến xe Chợ Lớn.

Uông Đại Bằng về trông coi trường trung học quận 8. Nguyễn Đức Tuyên, Vơ Văn Bé về làm hiệu trưởng trường quận 6.

Tuyền những thanh niên gíáo chức có tài và có ḷng. Khó ai hơn được họ.

Sau này, Hiệu Trưởng Uông Đại Bằng và Vơ Văn Bé đều là thành viên của Hội đồng Văn Hóa giáo dục toàn quốc. Nay Uông Đại Bằng đang làm hiệu trưởng một trường đại học tư thục ở Sài g̣n.

Theo mô h́nh phát triển cộng đồng th́ dân địa phương trách nhiệm tài chánh, xây dựng trường sở, trông nom bảo tŕ. Chính phủ trách nhiệm quản lư giáo dục, cung câp giáo sư theo một quy chế chánh thức dưới thời Ủy viên Bộ giáo dục Nguyễn Văn Trường, Lư Chánh Trung, đổng lư văn pḥng và Vơ Long Triều làm Ủy viên thanh niên, phụ tá là Hồ Ngọc Nhuận.

Lớn lên cùng với đám trẻ, ư thức trách nhiệm của dân nghèo lên cao h́nh thành những “khóm ước” “hẻm ước” cổ vơ nhau mà lên, dắt tay nhau mà đi tới. Khóm ước th́ nay có trạm xá, đ́nh chùa, có đường, có lối đi thông thương, có viện cô nhi, có hợp tác xă, có chăn nuôi, có hội tương tế, có phụ lăo v.v...

Sinh hoạt cḥm xóm nề nếp bắt đầu lên đường.

Con gái từ nay tắm truồng không c̣n sợ con trai hàng xóm ḍm ngó nữa.

Tên các khu nhà đó, không có tên trong bản đồ Đô thành. Đó là Khu nhà Cháy chuồng Ḅ, 5 A ở Chánh Hưng, 14-15 ở Hưng Phú, Ḷ Heo, B́nh Tiên, Cầu Tre.

Có ai ngờ rằng trước đây những khu nhà ổ chuột ấy với hàng ngàn căn nhà chen chúc nhau, đạp lên nhau mà sống, siêu vẹo chống đỡ, tựa vai nhau mà tồn tại. Giữa những ao tù nước đọng, hôi hám, śnh lầy, kinh nước đen, muỗi ṃng, con nít, bà già, ś ke, trộm cắp vặt, ma cô, đĩ điếm, chí chóe, tiếng chửi thề vang khắp xóm, xích lô đạp, xích lô ba bánh, đủ thứ nghề, cả thứ không nghề, nghề không vốn, kỹ nghệ không khói, phân người, phân gà vịt, heo, chó, chen lấn giữa các ngôi mộ hoang sống chung giữa người sống và người chết.

Khi Phó tổng thống Hoa Kỳ Hubert Humphrey thăm Việt Nam th́ người ta chẳng biết dẫn ông đi xem cái ǵ, bèn đưa ông đi coi chương tŕnh phát triển quận 8 và bắt buộc khen như sau: “Những ǵ tôi thấy ở quận 8 là khởi đầu cho một cuộc cách mạng xă hội ở miền Nam Việt Nam”.

Phía bên kia th́ khó chịu rải truyền đơn ở các miệt vùng ven, giáp giới như Cần Đước, Cần Giuộc lên án tử h́nh các anh em lănh đạo trong chương tŕnh kế hoạch phát triển quận 8.

Phía chính quyền Nguyễn Văn Thiệu th́ cũng ngứa mắt. Cho nên đợi cái ngày 18/4/1971, Đại tá đô trưởng Sài g̣n thay mặt TT Nguyễn Văn Thiệu tiếp nhận lễ bàn giao tất cả các cơ sở đó trao lại cho Đô thành Sài g̣n.

Trao vào tay các quan chức th́ coi như xong. Chương tŕnh tồn tại được gần 6 năm, từ tháng 8/65 đến 1971.(43)

Bên cạnh chương tŕnh phát triển quận 8, c̣n khá nhiều những sinh hoạt của thanh niên, sinh viên giới trẻ thời đó cần được nhắc lại. Chỉ xin tóm lược lại.


Chương tŕnh công tác hè 1965.

Theo anh Phạm Quốc Bảo, phó đoàn đặc trách đoàn Văn Nghệ Đường Sáng: “Cái biến cố người ta mệnh danh cho nó là “Cuộc Cách mạng 1/11/1963 chỉ cần mấy tháng sau... chúng tôi đă vội thất vọng với hoạt động chính trị kiểu ấy. Lư do rất đơn giản, đấy là lần đầu tiên chúng tôi tham gia vào chính trị. Đă thất vọng th́ bỏ đi luôn, tuổi trẻ là vậy. Tuy nhiên, mốc điểm này, đúng là một biến cố quan trọng của chúng tôi ở chỗ nó tạo dịp để có một bầu khí sinh hoạt sôi động mới cho lớp thanh niên, sinh viên, học sinh thời ấy mà trước đấy không hề có.”

Thoạt đầu, sinh viên đă dấy lên phong trào tự trị đại học do giáo sư Nguyễn Đăng Thục khởi xướng. Phong trào Tự trị đại học nhằm tranh đấu dùng tiếng Việt là ngôn ngữ chính trong giảng dạy. Tôi c̣n nhớ thập niên 1960, các môn học tại Đại Học Đà Lạt c̣n được giảng dạy bằng tiếng Pháp, v́ phần đông họ là người ngoại quốc. Ngay các chứng chỉ Văn Bằng được cấp phát cũng bằng Pháp ngữ. Thứ hai, việc tuyển chọn Khoa Trưởng là do trực tiếp b́nh bầu lên, chứ không do chỉ định từ bộ giáo dục nữa .

Sau đó, sinh viên c̣n tổ chức Hội Tết làng Văn Khoa với những hoạt cảnh ông Nghè vinh quy, Đám cưới ngày xưa v.v…

Tổ chức giỗ tổ Hùng Vương th́ do các anh Nguyễn Đăng Dũng, Phạm Đức Khoan, Vũ Hiệp, Nguyễn Văn Dậu...

Tổ chức cứu lụt miền Trung 64-66 do các anh Đỗ Ngọc Yến, Nguyễn Tường Quư, Bùi Hồng Sĩ, Lê Kim Lợi ...
Tổ chức các lớp luyện thi trung học tại Trung Tâm khuyến học Hùng Vương với các anh Nguyễn Tử Lộc, Phạm Quân Khanh, Trần Lam Giang, Nguyễn Ngọc Bách ...

Hội Họa sĩ Trẻ với các anh Nguyễn Cao Uyên, Hồ Thành Đức, Bé Kư, Nguyên Khai, Mai Chửng, Vị Ư.

Quán Văn Khoa: do các anh Đỗ Việt Anh, Đinh Bá Ái, cô Nhuệ Giang, Phan Huy Đạt, Ngô Vương Toại, Hoàng Xuân Sơn, Hoàng Xuân Giang, Hoàng Ngọc Tuấn. Chỉ ít lâu sau,. Đă tổ chức những đêm Văn Nghệ ngoài trời với hàng ngàn sinh viên về tham dự với sự góp mặt của các nghệ sĩ trẻ như Vũ Thành An, Từ Công Phung, Trịnh Công Sơn, Khánh Ly, cặp Lê Uyên–Phương.

Sau đó, dấy lên các phong trào văn nghệ dấn thân như du ca với Nguyễn Đức Quang và Ngô Mạnh Thu, Trần Đ́nh Quân. Hoặc Trầm ca với Nguyễn Đức Quang, Hoàng Thái Lĩnh, Trần Trọng Thảo, Phương Oanh dưới sự hướng dẫn của nhạc sĩ Phạm Duy.

Đoàn Văn Nghệ sinh viên Học sinh Nguồn Sống năm 1966 với các anh Hà Quốc Bảo, Vũ Hiệp, Lê Hoài Quỳnh, Hoàng Cơ Trường, Phạm Quốc Bảo, Nguyễn Tuyển, Phạm Quang Thùy, Bùi Ngọc Tấn,.
Chương tŕnh phát triển Sinh họat thanh niên Học đường, CPS: Với các anh Lê Đ́nh Điểu, Phạm Phú Minh, Hà Tường Cát, Trần Đại Lộc.

Phong trào Học đường Phụng sự xă hội với Nguyễn Phúc Khánh, Đỗ Quư Toàn, Trần Đại Lộc, Đỗ Ngọc Yến, Đỗ Anh Tài v.v…
 

Tôi xin lấy danh dự hứa cố gắng hết sức: 1. Làm bổn phận với tâm linh, tín ngưỡng và quốc gia tôi 2. Giúp ích mọi người bất cứ lúc nào 3. Tuân theo luật Hướng đạo (HĐVN, Lễ Tuyên hứa, Sài G̣n 9/1973)
Nguồn: saigon.com


Trong tất cả những sinh hoạt đủ loại và phong phú ấy, đa dạng và nhiều mầu sắc, đượm nét tinh thần hướng đạo như lời nhận xét của Đỗ Quư Toàn về Đỗ Ngọc Yến: “Đỗ Ngọc Yến sống cái đạo làm người đă hấp thụ được những quy tắc sống giản dị của 10 điều luật, 3 lời hứa. Như trọng danh dự, giữ ḷng trung tín, trọng trách nhiệm, giúp ích mọi người bất cứ lúc nào, gặp nỗi khó khăn vẫn vui tươi, coi thiên hạ đều là anh em.” Và tác giả tự hỏi: “Tôi không biết thế hệ trẻ bây giờ có sống theo lối sống như vậy hay không?”

Sống như thế trong ḷng thấy b́nh an và hạnh phúc hơn.(44)

Tôi trích dẫn đoạn này như chỉ hướng về lối sống người trẻ thời bấy giờ. Cho đến bây giờ, ngồi nghĩ lại vẫn tiếc cho VNCH, v́ các vị lănh đạo đă không giúp các phong trào sinh viên ở trên cho đúng mực. Nghĩ đến ông Thiệu mà giận v́ không bao giờ ông nghĩ tới giới trẻ. V́ thế, ḿnh ông phải đương đầu với giới thanh niên phản chiến, thành phần thứ ba hầu như trong suốt 9 năm cầm quyền của ông.

Đất nước cần một tấm ḷng, cần một trái tim th́ đây trái tim và tấm ḷng của những người trẻ.

Chương tŕnh công tác hè 1965

Đây là một công tŕnh tập họp đông đảo của giới thanh niên từ trước đến giờ. Nó quy tụ tất cả các phân khoa đại học và gồm 33 đại biểu để cùng nhau lập ra chương tŕnh công tác hè này. Nay th́ đă có một trụ sở mới, khang trang tại 41 Duy Tân.

Trước hết, đă có một buổi hội thảo toàn quốc về công tác này. Tiền vận chuyển và ăn ở đều do chương tŕnh đài thọ.

Đỗ Ngọc Yến, người của một thời trong vai tṛ Tổng Thư Kư chương tŕnh công tác hè này, một cái “bếp lửa” của thanh niên thời bấy giờ và sau này chung quanh tờ báo Người Việt ở Cali. Chữ dùng của Hà Quốc Bảo Và Hà Quốc Bảo viết tiếp: “Cái hơi ấm từ cái lửa nơi ông, cái ngọn lửa nơi Đỗ Ngọc Yến mà tôi vẫn nghĩ sẽ chẳng bao giờ tàn lụi”.

Đă có không biết bao nhiêu người nói về Đỗ Ngọc Yến rồi trong những cái ṿng quen biết của ông.

Nhưng tôi vẫn có cách nói của tôi. Đỗ Ngọc Yến là sự cộng lại của một ông Linh Mục rưỡi, một ông Thượng Tọa rưỡi.

Trong cái chương tŕnh ấy, tiếng Anh gọi là Summer Youth Program, SYP, vẫn những khuôn mặt Sinh viên quen thuộc.

Trần Thị Thức, vợ Đoàn Viết Hoạt làm Phó TTK ngoại vụ, Đỗ Quư Toàn, Phó TTK kế hoạch, Đoàn Viết Hoạt, Trưởng ban đôn kiểm và một lô nhô các anh chị em sinh viên khác như Hà Dương Thị Quyên, vợ anh Đỗ Quư Toàn, Đỗ Anh Tài, Trần Đại Lộc, Hà Tường Cát, Đỗ Thị Văn, v.v…

Cũng theo lời chị Trần Thị Thức, cũng may là nhờ tham gia vào ban tổ chức chương tŕnh hè này mới lấy được anh Đoàn Viết Hoạt. Vui hỉ.(45)

Tôi nghĩ rằng, trong mỗi trường Trung học, chỉ cần một đến hai giáo sư trong các chương tŕnh CPS, các sinh viên trong chương tŕnh hè 65, trong các đoàn sinh viên Thiện chí bỏ toàn thời gian lo cho các sinh hoạt giới trẻ như ca hát, cắm trại, sinh hoạt văn nghệ, thể thao, sinh hoạt báo chí v.v... nhờ đó đào luyện trí năng, thể năng, tinh thần trách nhiệm v.v... Cả sinh hoạt học đường sẽ dấy lên, năng động hơn và tạo một hành trang cho tuổi trẻ vào đời.

Đă Không có được như thế, đă không ai lo cho tương lai của học sinh miền Nam.

Nếu ở một nước như nước Mỹ th́ Đỗ Ngọc Yến hay bất cứ ai khác trong cái đám giáo sư ấy như Lê Đ́nh Điểu, Hồ Công Hưng, Đỗ Quư Toàn phải làm Bộ Trưởng giáo dục mới phải.

Đă hẳn, những anh em này không phải là thánh thần ǵ, cũng là con người với những khuyết tật. Nhưng ít ra họ là những người thanh niên trí thức trẻ biết dấn thân, nhập cuộc, thấm nhuần tinh thần xă hội.

Điều mà đám quan chức chính phủ từ thời đệ nhất Cộng Ḥa đă không có được những người như thế. Những chương tŕnh ấp chiến lược hay Khu trù mật thời đệ nhất công ḥa không phải là không tốt, nhưng chỉ v́ thiếu vốn người, thiêu những người thanh niên thiện chí dám lo cho dân và v́ dân.

Quan chức tham ô th́ dân sẽ ngảnh mặt đi và nước sẽ mất. Không mất trước cũng mất sau.

Cứ giả dụ rằng các chương tŕnh phát triển như quận 8 được nhân lên 100 lần tại toàn thể các tỉnh miền Nam mà các Quận trưởng, tỉnh trưởng không phải là những Trung Tá, Đại Tá mà là những chuyên viên về hành chánh tài chánh và quản tri và các giáo sư trông lo về giáo dục. Quân đội đă không phải tốn xương máu đến như thế? Lúc ấy dân đứng về phía chính quyền, v́ biết đấy là một chính quyền được đại diện bởi nhừng người biết lo cho dân?

Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu là một chính quyền đă không lo cho dân, không cần biết đến dân, không bao giờ nghĩ đến giới trẻ, làm sao thắng được Cộng Sản? Trong những năm tháng ấy, tôi không hề thấy ông Thiệu biểu tỏ dù là một cử chỉ nhỏ nào ông là một nhà lănh đạo thương dân. Ngay cả cái bề ngoài tŕnh diễn, ông cũng không có được.

Theo ông Ngân, 90% thời gian, ông Thiệu đùng th́ giờ để đối phó với Mỹ. Nhưng c̣n 10% th́ giờ ít ỏi kia ông để làm ǵ? Để phó với Hạ viện, để làm giàu, để tham nhũng, để đi chơi?

Xin ông vài phút nghĩ đến giới trẻ có được không?

Ông phụ tá Ngân có biện hộ ǵ cũng vô ích, bởi v́ ông ấy chỉ làm việc cho nguời Mỹ, v́ người Mỹ, đêm ngày chỉ lo sợ người Mỹ và chưa bao giờ biết lo sợ v́ mất ḷng dân? Nếu chúng ta thật sự có một chính quyền biết lo cho dân qua đại diện là những giới thanh niên thiện chí, giúp dân xây dựng một đời sống mới, lo ǵ thắng lợi không về phía ta?

Làm được như vậy th́ những thành phần như Dương Văn Ba, Hồ Ngọc Nhuận làm ǵ c̣n đất dụng vơ? Và ngoài miền Trung, những Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường trở thành những con rối, những con bài tẩy sất của Cộng Sản? Để cho ngày hôm nay, họ ngửng mặt lên và thách thức? Thử hỏi từng người trong bọn họ, ngoài chuyện khuấy động, họ đă làm được một công việc dù nhỏ bé đi nữa cho miền Nam?

Tuổi trẻ của họ là những ngày tháng vọng động buồn thiu, vong thân vào những phiêu lưu chính trị làm viên gạch lát đường cho Cộng Sản. Và nếu họ coi đó là những trang bị hành trang vào đời của họ với mùi lựu đạn cay, ṿng rào thép gai th́ tôi không có ǵ để nói nữa.

Họ đă tiếp tay lật đổ một chế độ mà họ cho là tồi tệ để rồi góp phần tiếp tay xây dựng một chế độ tồi tệ hơn thế nữa.

Đối với những sinh viên phản chiến hay thành phần thứ ba, hay khuynh tả. Thái độ của họ đôi khi họ cái nh́n khinh khi và nghĩ rằng chỉ họ mời có cái nh́n viễn kiến, nh́n xa thấy rộng. Và rằng những mục tiêu tranh đấu của họ là đang làm chuyện lớn, chuyện liên quan đến số mạng đất nước.

Các anh chị em sinh viên lên đường không phải là không biết điều ấy. Biết rơ nữa là khác. Nhưng thường họ chọn lựa thái độ im lặng không trả lời. Nhiều tiếng thị phi gán ghép cho những sinh hoạt xă hội là do Mỹ tài trợ, ăn tiền qua trung gian nhóm IVS. Xin trích dẫn thư của anh Đoàn Thanh Liêm như sau:” Quận 8 là do sự đóng góp của nhiều nguồn đào tạo, tập dượt thực hành và đă từng chung nhau sinh hoạt công tác với nhau cả 10-15 năm trước. Cho nên phải coi quận 8 là một bộ phận của cả một phong trào sinh viên nhập cuộc, dấn thân vào công việc phục vụ xă hội. Act concretely hơn là nói, thảo luận hay show up. Lại cứ để cho những người thích lo chuyện đại sự cả một quốc gia, làm cách mạng chứ không làm chuyện cải lương lẩm cẩm. Do vậy mà có sự khinh miệt chê bai là các anh em trong chương tŕnh Công tác Hè, Thanh niên Thiện Chí, Chương tŕnh quận 8 là nhận tiền của CIA. Nhưng anh em quận 8 th́ không bao giờ cải chính phân bua, giải thích điều ǵ cả.

Làm việc với nhân dân ở địa phương ngày đêm, 7 ngày/ một tuần lễ rồi, đủ mệt mỏi rồi, c̣n hơi đâu mà chú ư đến cái kiểu thắc mắc như thế nữa. (46)

Một vài ḍng của anh Đoàn Thanh Liêm viết ra nghĩ cũng đủ rồi. Nói thêm nữa là thừa.

Phần tôi dứt khoát và rơ ràng:

Hai mươi năm tuổi trẻ miền Nam, tôi nguyện đứng về phía những người trẻ tuổi Lên Đường, thay v́ xuống đường cho dù hôm nay làm kẻ xa quê hương.


Hết

Copyright © 2006 DCVOnline
 


38), (39) Trích Hồi kư không tên, Lư Quư Chung , Talawas
(40), (41) Trích bản thảo hồi kư
(42) Trích từ Sinh hoạt hội đoàn đến phong cách lănh đạo của Trần Ngọc Báu, Thụy Sỹ, tháng 9/1999.
(43) Tóm lược tài liệu bản thảo.
(44) 53 tác giả: Đỗ Ngọc Yến giữa bạn bè, Đỗ Quư Toàn, trang 88
(45), (45) Trích lại trong Vài kỷ niệm vễ Đỗ Ngọc Yến của chị Trần Thị Thức trong Đỗ Ngọc Yến giữa bạn bè