Sau 1975, miền Nam là một nỗi bất hạnh. Hà
nội 1954, nh́n xuống là một vực thẳm. Sài
G̣n, 1975, nh́n xuống là một hố thẳm. Chỉ có
những bất hạnh chồng chất. Và ở nơi hố thẳm,
tia nắng hy vọng nào dọi vào được?
 |
|
Con đường
tương lai trước mặt, phải biết
forgive hay forget?
Nguồn: north-by-north-east.com
|
Đó là nỗi bất hạnh kéo dài khó thể quên
được. Nhiều người tỏ ra khôn ngoan và thức
thời khuyên nhủ tôi rằng: thôi chuyện quá
khứ, anh nhắc lại làm ǵ? Có thể họ không
sai, nhưng đúng th́ chưa chắc.
Có thể có
một cái hố thẳm của hy vọng nào không?
Con đường tương lai trước mặt, phải biết
forgive hay forget?
Đó là những nan đề của người miền Nam sau
1975, kéo dài từ trong nước ra hải ngoại.
Nhưng người trong nước, lạ một điều, họ đối
diện từng ngày với oan khiên cộng sản. Họ
như lờn, như chai ĺ, như quán tính. Họ vô
cảm hay làm ra như thể không c̣n ǵ để nói
nữa. Về lại Việt Nam, tôi gặp lại bạn bè,
tôi thấy lạ, v́ thấy họ không cùng một suy
nghĩ, một xung động như tôi nữa.
Người ngoài nước th́ lúc nào cũng như trăn
trở, nhạy cảm và dị ứng. Họ sống từng ngày
với những trăn trở đó, trăn trở 30 năm và
c̣n trăn trở suốt quăng đời c̣n lại.
Sống
bằng những phản ứng. Chúng ta, tất cả
không trừ bị kết án làm người di tản phẫn
nộ. Tôi nh́n lại đến 90% những bài viết của
chính ḿnh, bị điều kiện hóa, phản xạ
Pavlov, đụng cái ǵ đến cộng sản là nhảy
khựng lên.
Ấy là tôi không bị đi học tập cải tạo như
“ngụy quân, ngụy quyền”, chữ dùng của người
cộng sản gán cho chúng ta. Đeo chữ đó vào
th́ đeo cả dời. Ra khỏi ngục tù cộng sản th́
chúng ta tự rơi vào ngục tù của quá khứ của
chính ḿnh.
Trong tâm lư th́ cho đó là những hội chứng
(syndromes) sau 75, sau chiến tranh. Kẻ
thắng th́ rơi vào bệnh vĩ cuồng, tưởng ḿnh
ngon. Kẻ thua th́ hoài niệm quá khứ. Hoài
niệm quá khứ như lẽ sống c̣n của cuộc đời
(Raison d’être). Không có nó th́ không c̣n
là ḿnh nữa.
Tôi có thể nói sai cho người khác, nhưng
không thể nói sai cho chính ḿnh. Tôi là thế
đấy và chúng ta là thế đấy.
Trở lại nan đề vừa nêu ra ở trên. Chúng ta
phải làm ǵ? Hăy tha thứ và hăy quên đi? Hay
là không tha thứ và không quên? Hay là tha
thứ, nhưng không thể quên? Và mỗi người tự
chọn một thái độ thích ứng cân bằng?
Nhưng chính từ cái chỗ này mà nảy sinh ra vô
vàn những tranh căi, chia rẽ, gây bất ḥa
trong cộng đồng như vụ tranh tụng của ông
Nguyễn Hữu Luyện kiện Trung tâm Joiner,
những vụ treo cờ, và vô số những chuyện lớn
nhỏ khác. Và hăy nh́n cho kỹ, hội chứng 1975
ai là kẻ thắng cuộc?
Đừng vội trách ai cả.
Từ cái nan đề đó nảy sinh nhiều cớ sự, điển
h́nh là vấn đề của Phạm Duy về nước và nhất
là vấn đề của ông Nguyễn Cao Kỳ. Tôi không
phải là Phạm Duy để tự hỏi xem, ông đă
forget, hay cố t́nh forget, hay ông không
forget mà tự xử lư forgive? Nhưng cứ giả dụ
không phải Phạm Duy, giả dụ không phải
Nguyễn Cao Kỳ mà là một người nào khác th́
chúng ta có phản ứng như thế không? Giả dụ
đấy là cựu đại sứ Hoa Kỳ Peterson, người đă
từng bị cộng sản Việt Nam bắt làm tù binh,
ta có thể gọi đó là một hành vi bội phản
không? Dĩ nhiên, ai cũng thừa hiểu rằng vai
tṛ chính trị của Peterson th́ không cùng
mẫu số chung với Phạm Duy hay Nguyễn Cao Kỳ.
 |
|
Gió đă đổi
chiều
Nguồn: pbs.org
|
Nhưng những câu hỏi đó cũng không hẳn là
thừa, bởi v́ nhiều khi ta dễ dị ứng với
người đồng chủng hơn là một người ngoại
quốc. Chúng ta phản ứng, phán xét theo sự
việc hay phán xét theo tư cách của người
hành xử sự việc ấy? Phải chăng, chúng ta đă
truy xét dựa theo quan điểm đức lư thay v́
dưới lăng kính chính trị? V́ biết rằng xu
hướng lịch sử và thế đứng Việt Nam đă chuyển
hướng như
Gió đă đổi chiều: Hợp tác
và trở thành đồng minh với Mỹ, kẻ thù trở
thành bạn. Khi Thủ Tướng Dũng sang triều
kiến Vatican là tự xé bỏ những nguyên lư cốt
lơi của ư thức hệ cộng sản? Th́ c̣n có ǵ có
thể được coi là những kẻ thù chính trị không
đội trời chung nữa. Và đấy là làm chính trị.
Trong khi đó chúng ta thường đứng yên tại
chỗ, chỗ của tâm t́nh, chỗ của lập trường
kiên định trong khi biến chuyển chính trị
diễn ra và thay đổi từng ngày?
Việc làm chính trị, nói theo ngôn ngữ sạch
là
biết thay đổi theo t́nh thế, theo
từng hoàn cảnh. Nói trắng ra là biết lắt
léo, trở cờ, lúc nói trắng, lúc nói đen.
Như thế th́ chúng ta tự hỏi trong suốt hơn
30 năm qua, cộng đồng người Việt đă có những
chuyển biến chính trị ǵ cho hợp với t́nh
thế?
Và việc sang triều kiến Giáo Hoàng như thế
chúng ta phải hiểu ngầm với nhau là cộng sản
chỉ c̣n là cái vỏ bọc ngoài giả hiệu, bám
cứng lấy nó để duy tŕ quyền lực cho một tập
đoàn lănh đạo.
V́ thế, khi truy xét, khi phê phán, khi lên
tiếng, bày tỏ về lập trường này, lập trường
kia, khi chống đối nhân vật này nhân vật
kia, chúng ta có để ư đến những biến động
lịch sử, có để ư đến điều ǵ khác biệt giữa
cộng sản 1930, 1945, 1954, 1975, 1986, và
2007?
Hay cái nh́n của ta vẫn cố định: cộng sản là
cộng sản?
Cho dù những năm tháng ấy để lại trong mỗi
thời kỳ những di sản đọc thấy rùng ḿnh, ghê
sợ với những gian dối, lừa đảo, tráo trở đến
kinh tởm. Nó cũng dần dần cải hóa tiến tới
bộ mặt người hơn. So với cùng thời gian đó,
người Quốc gia chúng ta có gi chuyển biến?
Yếu tố thời điểm hay thời gian là yếu tố
quyết định cho mỗi chọn lựa của mỗi người
trong cộng đồng người Việt. Có những điều
năm 54 không chấp nhận được th́ năm 2006 lại
khác. Mỗi người phải tự hỏi ḿnh, ta đang
sống đang suy nghĩ, đang phán đoán, đang
quyết định vào thời điểm nào của những dấu
mốc thời gian vừa nêu trên? Ta đang sống hay
ta đang flashback?
Nhân tiện đây, xin trích dẫn một lá thư của
cựu dân biểu Nguyễn Hữu Chung gửi cho anh
Đoàn Minh Hóa, chủ bút báo Đi Tới, Montréal
trước khi ông qua đời. Thư này gián tiếp
cũng là một chúc thư gửi cho mọi người c̣n ở
lại dương thế này, cho những người Việt hải
ngoại, nhất là những người quốc gia chống
cộng triệt để. Đọc thư này để rút ra một
chọn lựa thích hợp cho mỗi người. Để hành xử
đúng mực.
Phần tôi, đă bao nhiêu lần, tôi đă đọc đi
đọc lại lá thư này. Mặc dù chỉ có vài ḍng,
nhưng nó đă đánh động tâm tư tôi, đă làm tôi
khó xử. Đôi khi nội dung lá thư làm tôi phải
ngừng lại, phải tự vấn ḿnh, phải suy nghĩ
lại, phải dè dặt.
Phần c̣n lại, xin để dành cho mọi người suy
nghĩ và tự chọn thái độ thích hợp.
Trường hợp Phạm Duy có thể là một vấn đề cá
nhân. Có thể không cần xét đến. Mặc dầu ông
đă bực bội phang vung vít, xúc phạm cộng
đồng Việt Nam hải ngoại. Cái đó cũng có thể
xét ở mức độ
seuil de tolérance, ta
không chấp ông. V́ thế tôi đă có dụng tâm
viết bài:
Phạm Duy c̣n đó hay đă chết?
Trong nội dung bài viết, tôi đă không phí
phạm dù một chữ để nói về đời tư của ông
cũng như chuyện quyết định về nước sống tuổi
già. Tôi có đủ lư do để viết như thế.
Bởi v́ tôi biết rằng những ǵ thuộc phạm v́
đóng góp trong gia tài âm nhạc Việt Nam của
ông sẽ măi măi c̣n đó. Những hệ số bản thân,
những yếu tố chính trị ở thời điểm này c̣n
có ư nghĩa, c̣n có tác dụng vang dội? Tôi
không dám phủ nhận điều đó. Và cũng không
bao giờ dám có ư kiến với bất cứ ai chửi
Phạm Duy. Ở thời điểm này, ông đáng được
chửi lắm. Người ta vẫn có đủ lư do khả tín
để cáo buộc ông và để xóa trắng tên tuổi ông.
Nhưng tôi tự hỏi c̣n ai chế tài, độc đoán
dùng lưỡi gươm chính trị để sát hại những
tên tuổi như Phạm Quỳnh, Khái Hưng và nếu
giết được th́ tha ǵ cái đầu của Nhất Linh?
Vậy mà ngày nay những tên tuổi từng được coi
là kẻ thù của chế độ th́ tác phẩm của họ đă
được in ấn lại toàn bộ. Tên tuổi đă được
phục hồi. Và trước đó không bao lâu, những
tác giả như Vũ Trọng Phụng số phận của ông
cũng chẳng khá ǵ th́ nay được coi là những
nhà văn hiện thực xă hội hàng đầu. Mới đây,
ông Vương Trí Nhân, một nhà phê b́nh đă bỏ
công ra duyệt xét công tŕnh của Phạm Quỳnh
mà không nhắc nhở ǵ đến cái quá khứ chính
trị đă một thời làm nên Phạm Quỳnh.
 |
Ai chưa ra khỏi cánh rừng quá khứ?
Nguồn: serasphere.net/
|
Không phải chỉ có đường lối chính trị của
nhà nước trong những quyết định thay đổi
cách nh́n về một nhà văn. Quần chúng mới là
thước đo thẩm định văn học một cách tự nhiên,
không g̣ bó, câu thúc. Tôi nói có bằng chứng.
Ngay từ thời đổi mới, 1986, người nào có dịp
ra tắm biển Vũng Tàu sẽ ngạc nhiên đến sửng
sốt, tưởng rằng Vũng Tàu đă về tay Việt Nam
Cộng Hoà, khi được nghe ra rả bài: Huyền
sử một người mang tên Quốc của Phạm Duy.
Bài nào của Phạm Duy được hát cũng c̣n được.
Nhưng bài HSMNMTQ là thứ bài hát phản động
không thể được phép hát. Nhưng từ người dân
đến cấp chính quyền địa phương chỉ thấy bài
hát hay, nghe rổn rảng th́ hát thoải mái.
Lúc đó, người ta không cần biết ai là tác
giả, ai là Phạm Duy và ai là Phạm Phú Quốc
nữa. Anh Quốc đă được trừu tượng hóa trở
thành một tên gọi, một người hùng vô danh và
không dính dáng ǵ đến cuộc đời của người
anh hùng phi công Phạm Phú Quốc thời Việt
Nam Cộng Hoà nữa.
Hay th́ hát, hay th́ nghe.
Thế hệ thứ hai của cộng đồng người Việt sẽ
nghe hát như thế và sẽ thưởng thức âm nhạc
không theo một tŕnh tự như thế hệ thứ nhất.
Nếu chúng ta không phủ nhận tâm t́nh của thế
hệ người di tản thứ nhất th́ cũng không v́
một lẽ ǵ phủ nhận tâm t́nh của thế hệ thứ
hai. Thế hệ thứ hai đă không c̣n là thế hệ
thứ nhất nữa.
Things are different now.
(C̣n tiếp)
Copyright © 2006–2007 DCVOnline