|
Miền
cỏ nhớ (2)
Nguyễn Văn Lục
Cần
ra khỏi cánh rừng quá khứ
Trong trời đất nhau ḿnh vẫn gần
Mai Thảo
Trường hợp Nguyễn Cao Kỳ là một trường hợp
khó xử v́ đă một thời là phó Tổng Thống Việt
Nam Cộng Hoà. Ông không phải loại người vô
danh tiểu tốt, nhưng ít ra đă là h́nh ảnh
của người lính Việt Nam CH, h́nh ảnh của một
người lănh đạo cao cấp nhất của miền Nam.
Mọi xúc phạm của phía bên kia đến ông là
gián tiếp xúc phạm đến danh dự của người
lính Việt Nam Cộng Hoà, đặc biệt những sĩ
quan đi học tập cải tạo. Và cũng một lẽ đó,
mọi hành xử hợp tác với phía bên kia, cũng
lại là vết dao đâm sau lưng những vị cựu sĩ
quan ấy, nhất là phía các cựu sỹ quan không
quân.
Nhiều phản ứng từ nhiều phía.
Nhưng mấy ai thực sự hiểu rơ nội t́nh bên
trong của việc ông Kỳ về Việt Nam? Sự phê
phán đ̣i hỏi thấu rơ nội t́nh, đồng thời cần
cân nhắc hơn thiệt cái lợi hay cái hại của
việc ông Kỳ về Việt Nam?
Tôi đă may mắn được đọc tất cả những bài
diễn văn, sách vở và những lời tuyên bố của
cựu Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ cũng như những
trao đổi lên tiếng của cựu đại tá Nguyễn
Xuân Vinh, Nguyễn Hữu Nghĩa, Làng Văn, KQ Đỗ
Văn Minh, Nguyễn Gia Tiến, Đào Huy Ngọc, Hồ
Văn Đồng, Cung Trầm Tưởng, Tôn Thất Thiện,
Đặng Văn Nhâm, Jane Perlez, Francis E Betzs.
MA, Trương Như Phùng, cựu Trung tướng Phạm
Quốc Thuần, cựu Phó đề đốc Đinh Mạnh Hùng,
Trung tướng Lâm Quang Thi, Khưu Văn Phát,
cựu thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn, Cung Thúc Cần,
Lư Kiến Trúc, Francis E. Betzs, Nguyễn Tường
Tâm, phóng viên DeVoss, Ư Yên (Phan Tấn Mỹ),
Kư giả Vi Anh và Nguyễn Huy, Lê Ngoạn, Phạm
Công Khanh, Lại Quốc Ân, Vơ Hoàng Phú, Đàm
Thương Vũ, Trần Đ́nh Giao, Nguyễn Xuân Lễ,
Phạm Hữu Thế, Vơ Long Triều, Huỳnh Minh
Quang. Chưa kể một bản danh sách “Ngh́n
người kư”. Và không quên tuyên cáo Tổ
Quốc – Danh dự – Trách nhiệm, ngày
16/1/2004 với chữ kư của giáo sư Nguyễn Xuân
Vinh.
Và cuối cùng là nhà thơ Bằng Phong Đặng Văn
Âu.
Tôi chỉ có thể tóm lại là không thiếu những
bày tỏ nặng lời phần lớn từ một phía.
Và nếu tôi chỉ đưa ra một vài nội dung những
lá thư đó ra đây, người ta sẽ đánh giá thế
nào về quư vị tướng lănh sĩ quan miền Nam?
Về tư cách, về thái độ, cách hành xử, về
những ǵ quư vị đă làm. V́ tập thể quân đội,
v́ danh dự quân đội, xin bỏ qua chuyện này.
Tôi đọc tất cả và từ đó có những suy nghĩ về
cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà, bị tù cải tạo
hay không bị đi cải tạo. Suy nghĩ đó chỉ để
giúp chúng ta nh́n lại ḿnh và tự kiềm chế.
Chỉ mong có vậy thôi.
Thứ năm 12/6/1975: Cả miền Nam buồn
 |
|
Stanley Karnow tưởng rằng sau 30/4,
sẽ không bao giờ được nh́n thấy
Sàig̣n nữa
Nguồn: image.blog.livedoor.jp
|
Đó là ngày đi tŕnh diện học tập cải tạo.
Ngày mà nhà nước cộng sản dựng lên một bức
tường ô nhục phân biệt giữa kẻ thắng, người
thua. Kẻ thắng gọi người thua bằng thằng
lính Ngụy. Ngày lên đường, mỗi thằng
Ngụy được căn dặn phải mang theo 1.3610
đồng, số tiền ăn trong thời gian một tháng.
Một cú lừa đảo trơ trẽn. Và kể từ những năm
tháng ấy, tôi chưa hề thấy một ngày vui. Tôi
không phải người bị đi học tập cải tạo,
nhưng tôi kính trọng và chia sẻ những nỗi lo
toan, tủi nhục ấy của người lính Việt Nam
Cộng Ḥa trong đó có anh em, họ hàng, bạn bè
của tôi. Chị tôi buồn v́ có chồng đi học tập
th́ làm sao tôi vui được. Sự hận oán làm sao
tránh khỏi. Nhà báo trẻ Andrew Lam kể lại
cha của ông là một cựu tướng lănh trong quân
đội miền Nam. Trong bữa ăn, các câu truyện
quá khứ thường bao trùm. Sau một vài ly rượu,
cha của ông bắt đầu kể lại những hồi ức về
những trận chiến mà cụ tham dự và đă thắng
trận. Kể riết rồi cậu bé Andrew Lam có thể
nh́n thấy những trận mưa bom Napalm thắp
sáng trên bầu trời đen tối. Cái đă làm nên
hào quang đời cụ. Không có những thứ ấy đời
cụ c̣n nghĩa lư ǵ nữa. Và rằng những vị nào
mang theo hành lư kềnh càng, nặng nề lại trở
thành gánh nặng cho chính ḿnh khi phải du
nhập xă hội bản địa. Càng nhẹ gánh, càng dễ
thích ứng, càng dễ sống. Hơn 30 năm sau, nỗi
hận oán, hoài niệm quá khứ vẫn là tấm thẻ
căn cước của tôi và người Việt hải ngoại.
Stanley Karnow tưởng rằng sau 30/4, sẽ không
bao giờ được nh́n thấy Sàig̣n nữa khi đến
Little Sài G̣n: “Tôi không bao giờ kỳ
vọng được trở lại trông thấy Sài G̣n một lần
nữa . Nhưng bây giờ tôi đă thấy trở lại, ít
nhất là về mặt tinh thần”.
Những kư ức về chiến tranh đă đưa người Việt
di tản và nhất là những người tù cải tạo về
một thế giới thật sự không c̣n nữa. Nó bầy
tỏ một cảm thức sâu xa về một cái đă mất,
rồi được huyễn hoặc về quá khứ như cội nguồn
của ḿnh. Đó là hội chứng sau 1975 mà phần
đông chúng ta đều có trải nghiệm.
Hỡi thằng chiến
binh một đời dũng cảm
Mày lang thang đất lạ đến bao giờ
Ôi trong ví mỗi người dân mất nước
C̣n một oan hồn mặt mũi vu vơ
Ôi trong trí mỗi anh hùng thuở trước
C̣n dạy lên những buổi tung cờ
(Lê Tất Điều, 1977)
Những người tù cải tạo khi du nhập vào đất
nước tạm dung thường t́m cho ḿnh một căn
cước Việt tính (origin indentity) như một lẽ
sống c̣n, một nơi trú ẩn. Hồi tưởng lại quá
khứ hay cuộc chiến trở thành một cái trục
xoáy trung tâm (pivotal place) tâm điểm của
mọi tranh luận, suy nghĩ và hành động để từ
đó nh́n nhận ra gốc gác của ḿnh ( racial
identity ) Những câu chuyện bên chén trà,
bữa nhậu, nhất là những buổi lễ, những buổi
diễn binh với quân phục đủ loại, với cờ xí,
tiếng nhạc... tất cả như muốn vực dậy một
quá khứ mà nay thực tế chỉ c̣n là những
huyền thoại những kỷ niệm như Jean
Baudrillard viết:
“When the real is
no longer what it used to be nostalgia
assumes its full meaning There is a
proliferation of myth of origin and signs of
reality, or second hand truth... And there
is a panic stricken production of the real
and the referential”. (1)
Những hành xử như thế hiểu được và cần được
chia xẻ, thông cảm. Không có những thứ đó,
cuộc sống c̣n có ư nghĩa ǵ?
Nhưng tiến xa hơn một bực và không chỉ dừng
lại ở những biểu hiện làm sống lại quá khứ.
Chúng ta c̣n chuyển hóa những hoài niệm
thành một lư tưởng, một đường lối, một chủ
trương thành chỉ hướng soi đường để hành xử
và phê phán. Những đau thương tủi nhục cải
tạo nay trở thành một thứ bảo chứng hay một
văn bằng, hay một thứ công lư để đánh giá
người khác. Nó trở thành công lư của đám
đông, công lư ngoài pháp luật, ṭa án. Điển
h́nh là vụ Duyên Anh bị đánh đến coma nằm
bệnh viện 20 ngày trước khi được chuyên chở
về Pháp. Nhân danh cái ǵ để có thể đánh một
người đến gần chết như thế?
 |
|
Chúng ta đang chống Cộng hay chỉ
đang chống nhau? Hỏi là trả lời rồi?
Nguồn: mrx.no
|
Chúng ta đang chống Cộng hay chỉ đang chống
nhau? Hỏi là trả lời rồi?
Phải nh́n nhận, sinh hoạt chính trị của cộng
đồng người Việt hải ngoại nghèo nàn, thụ
động, thiếu sáng kiến, nhiều khi chệch đường,
cái đáng làm không làm. Cái không đáng làm
th́ làm quá. Sinh hoạt thu hẹp vào những
buổi lễ kỷ niệm, chào cờ, truy điệu, diễn
văn, tuyên bố, mít tinh biểu t́nh.
Giả dụ không có Phạm Duy, không có Nguyễn
Cao Kỳ, sinh hoạt chính trị sẽ buồn tẻ,
thiếu sinh động?
Sẽ không có ǵ để chống, để chửi bới và nhất
là bôi nhọ, chụp mũ lẫn nhau ?
Điều này dám hỏi giáo sư Nguyễn xuân Vinh,
các quư ông Nguyễn Bá Cẩn, các trung tướng,
các đề đốc. Có ai đó đă đề ra được mục tiêu,
đường lối đấu tranh rơ rệt, đă ngồi lại được
với nhau để làm một cái ǵ chung không?
Thấy một cô ca sĩ từ trong nước ra biễu diễn,
hát để kiếm tiền th́ chúng ta nhao nhao cầm
cờ quạt đi phản đối, hô hào đả đảo?
Thử hỏi nó có đáng để vận dụng quần chúng
vào những mục tiêu tranh đấu như thế không?
Có phí sức không? Có lợi được ǵ? Thà rằng
đó là một phái đoàn văn nghệ do Hà Nội tổ
chức ra nước ngoài để truyên truyền th́ ta
đi biểu t́nh phản đối c̣n có lư của nó.
Trong khi đó, chính quyền cộng sản trong
nước đă dùng tiền bạc, thông qua các ṭa đại
sứ xâm nhập vào các cơ quan truyền thông như
báo đọc, nhất là báo chợ và báo điện tử. Các
báo đó viết công khai, thông tin một chiều
bênh vực chính sách, đường lối của chính phủ
trong nước? Chúng ta ngồi yên toạ thị? Không
có ǵ vô lư bằng nữa.
Tôi viết điều này như một cảnh báo về một
nguy cơ gần sự đột nhập, trà trộn, phá hoại
từ bên trong cộng đồng người Việt hải ngoại.
Có những bằng chứng hiển nhiên trên một số
báo điện tử. Họ c̣n bảo hoàng hơn vua. Họ
đang ra sức phá nát tinh thần đoàn kết, tổ
chức của cộng đồng.
Phải cẩn thận lắm mới được. Chúng ta đang sa
vào bẫy do cộng sản dựng lên mà không biết.
Các báo chí, các báo điện tử tạo ra những
tin tức thất thiệt, bôi bẩn các nhân vật uy
tín trong cộng đồng, các tôn giáo đánh phá
nhau.
Nếu chúng ta không có biện pháp thích ứng
th́ những điều như thế sẽ xảy ra, khó tránh
khỏi .
Tôi cũng nhắc lại điều này khi nghĩ đến nhà
văn Imre Kertész, giải thưởng Nobel 2002,
tác giả cuốn truyện Être sans Destin,
Không số kiếp, viết về các người tù
trong trại tập trung. Ông trả lời phỏng vấn
của Francois Busnel như sau:
Người ta không bao
giờ sống c̣n được sau khi đă sống trong trại
tập trung.Trại tập trung lúc nào cũng hiện
diện trong tâm tưởng. Để sống c̣n trong trại
tập trung, phải băng ngang hỏa ngục. Vào hỏa
ngục, ḿnh bẩn theo. Những người ngây thơ vô
tội đích thực là những người chết”. (2)
Để sống c̣n trong nhà tù cộng sản, phải băng
qua hỏa ngục. Vào hỏa ngục ḿnh bẩn theo.
Tôi suy nghĩ măi về vấn đề này và thấy xót
xa cho những người tù cải tạo. Có người thế
này, thế kia với những hoàn cảnh riêng tư,
với những cá tính mạnh hay yếu hèn. Nhưng
tất cả phải băng qua hỏa ngục để sống c̣n.
Phải sống c̣n cái đă, đôi khi bẩn theo. Ra
khỏi chốn quần đảo ngục tù, chốn lưu đầy,
nhiều người đă vội quên chứng tỏ ḿnh có bàn
tay sạch bằng cách tố cáo người khác?
Nghĩ như thế mà
chia xẻ với nhau. Mà trong trời đất nhau
ḿnh vẫn gần (Mai Thảo).
Nếu hiểu theo Imre Kertész, người đă đi
tù cải tạo thật ra đă chết. Chết theo cái
nghĩa, lúc nào cũng có hiện diện trong tâm
tưởng những ngày tháng đen tối đă qua. Quá
khứ quay quắt, hiện tại khô trồi, tương lai
vô định. Nếu c̣n gọi là sống theo Imre
Kertész th́ chúng ta rơi vào một nghịch lư:
chúng ta chỉ cảm thấy ḿnh thực sự sống với
điều kiện ta cần có những kẻ thù để ḿnh vực
lên mà đứng dậy. Lúc nào cũng đi t́m sự truy
nhận chính ḿnh bằng cách phủ nhận người
khác. Trong tâm thức người tù, lúc nào cũng
hiện diện những cặp đối kháng quyết liệt như
trắng đen, chính tà phân minh rơ rệt. Cùng
với ta là bạn, không cùng với ta là đối
kháng, là thù. Không tuân thủ bất cứ luật lệ
thành văn nào nên vũ khí có thể là bạo lực
ngôn ngữ và ngay cả bạo lực thể lư.
Nó gần như thứ luật lệ bất thành văn nơi
chốn giang hồ hay trong giới vơ lâm. Tỉ dụ
trong truyện Kim Dung, người ta nói tới kẻ
tà đạo, ma giáo so với danh nhân chính phái.
Ai là chính, ai là tà? Tà chính khác nhau ở
chỗ nào? Tác giả Kim Dung, bằng tiểu thuyết
chưởng đă có một cố gắng là nhằm đánh tụt
giá những người tự nhận ḿnh là chính nghĩa.
Tà chính đôi khi chỉ là những khái niệm phi
thực. Ranh giới giữa chúng thật nhỏ nhoi.
Thật vậy, ông đă cho thấy sự sa đoạ xuống
tới sự bất nhân, sự dâm loạn cộng với sự ngu
xuẩn của những đệ tử phái Toàn Chân th́ c̣n
ai tin ǵ ở chính nghĩa?
Tất cả những suy nghĩ của tôi ở trên, lấy
chính ḿnh làm đối tượng phê phán và làm bia
đỡ đạn. Nó chỉ có dụng ư gợi mở để người
trong cộng đồng tự phản tỉnh về ḿnh, tự soi
gương để nh́n nhận ra ḿnh và t́m ra những
ngơ thoát hiểm trong sự hiểu biết và tôn
trọng nhau. Đă hơn ba mươi năm chia rẽ và
gấu ó, chúng ta c̣n lại bao nhiêu thời gian
để chia rẽ nữa?
Copyright © 2006–2007 DCVOnline
(1)
“Simulacra and Simulations”, from
Selected Writings, Jean Baudrillard
(2) Trích lại trong báo Văn, số
113-114, 2006. trang 224
[ Trở
lại ]
|