|
Một số vấn đề của
người Thiên Chúa giáo
trước và sau khi
di cư vào miền Nam
Nguyễn Văn Lục
(Kết)
Số phận giáo hội miền Bắc và các
giáo phận
Xin ghi lại tóm tắt một số chứng từ
của giám mục Phao Lô Lê Đắc Trọng.
• Địa phận Hải Pḥng:
T́nh h́nh các giáo phận
như Hải Pḥng th́ các
linh mục đi gần hết. Hầu
như chỉ c̣n vài người.
Sau này, GM Trịnh Như
Khuê phải gửi linh mục
Phạm Hân Quynh về giúp
cho địa phận Hải Pḥng.
Nhưng sau đó. cha Quynh
bị quản chế suốt hơn 20
năm.
• Địa phận Bùi Chu các
cha cũng đi gần hết, GM
Phạm Ngọc Chi đă để lại
linh mục Phạm Năng Tĩnh, thư kư ṭa giám mục trở
thành cha chính địa phận
và sau này được phong
giám mục.
• Địa phận Thái B́nh:
Việc cai quản địa phận
được trao cho cha
Đinh
Đức Trụ. Để được truyền
chức giám mục, Cha Trụ
phải giả làm phu xích lô,
đạp xe lên Hà Nội trên
một khoảng đường dài 100
cây số. GM Trịnh Như
Khuê tấn phong lén cho
ngài ở nhà nguyện riêng,
cạnh pḥng ngủ. Chỉ có
chủ phong và được người
được tấn phong. Hoàn
toàn bí mật. Lễ tấn
phong xong, hai bố con
lại thay nhau đạp xe
trong đêm khuya về
tới Thái B́nh lúc c̣n tối.
Đúng là hành xử theo
cung cách Giáo Hội nhầm
trú. Được tấn phong rồi,
ngài lập lại cung cách
tấn phong bí mật cho cha
chính Bùi Chu Đôminicô
Phạm Năng Tinh. Nhưng
lần này không phải ở ṭa
giám mục mà là trên con
thuyền bấp bềnh trên
gịng sông.
Con thuyền chính là biểu
hiệu Giáo Hội trên mặt
biển trần gian.
Cả xứ Thái B́nh nay chỉ
c̣n độ hơn trăm giáo dân.
Các linh mục trong địa
phận chỉ được truyền
chức chui. Không có
những vụ truyền chức như
thế, th́ trong địa phận
đâu c̣n linh mục làm
việc.
• Địa phận Phát Diệm: Sau khi đức cha và cha
Hoàng Quỳnh rút đi, Phát
Diệm trở nên một chỗ
trống lớn ít ai dám bén
mảng tới, và người ta
cũng bố trí người canh
gác cẩn thận để không ai
lọt vào khu nhà chung.
Cha Bùi Chu Tạo thể chất
yếu ớt hơn cả, được chọn
làm cha chính, sau đó ít
lâu được bổ nhiệm giám
mục.
Phát Diệm từ đó khép kín
hoàn toàn, không một ai
ra vào ṭa giám mục, kể
cả người Phát Diệm. Giáo
dân đi lễ thật đông, hết
lễ về ngay.
• Địa phận Hà Nội: Lúc
nào nhà Chung Hà Nội
cũng có độ 90 cha trú
ngụ để đi Nam. Cha trong
địa phận, cha ngoài địa
phận.
Các cha Hà Nội chống Đức
cha Khuê, đây là các cha
thuộc địa phận Hà Nội. Đức cha yết thị các
buồng “cấm các cha không
được đi Nam”. Các cha
lấy dao rạch đi, đem
treo vào của nhà đức
cha. Sáng ra, Đức cha
trông thấy, gọi cha
Cương bảo: “Cha xem, láo
hơn là cộng sản!” Họ vẫn
cứ đi.
Sau này, khi có lệnh toà
thánh, mỗi cha phải gia nhập
vào một địa phận, không ở
lung tung.
Kết luận về giai đoạn này,
GM Lê Đắc Trọng viết:
“Như vậy chỉ trong mấy tháng
mà các ṭa giám mục địa phận
miền Bắc, các xứ vắng bóng
cha xứ, các cơ sở tôn giáo
không người lănh đạo.
Lợi hay hại? Hiển nhiên là
bất lợi! Là tai họa! Không
một cơn bách hại nào trong
lịch sử giáo hội mà trong
một thời gian, một miền rộng
lớn như miền Bắc Việt Nam
lại bị quét sạch, bị trống
trơn như thế.”
(Trích tóm tắt từ cuốn:
Chứng từ của một giám mục,
Những câu chuyện về một
thời. Lê Đắc Trọng, từ trang
188-254.)
Người viết muốn đào sâu thêm
tâm trạng người ở lại đối
với những người ra đi nơi
hàng linh mục như thế nào.
Qua chứng từ của GM Trọng,
ông không bày tỏ trực tiếp
và sỗ sang; nhưng qua cách
tŕnh bày của ông cho thấy
sự cay đắng khi nghĩ tới
những người đă bỏ đi. Ông
viết:
“Sau một năm rút
ở Hànội và hai
năm rút ở Hải
Pḥng. Địa phận
Hà Nội xác xơ,
các điạ phận
khác: Hải Pḥng,
Bắc Ninh xác xơ.
Bùi Chu một số
lớn giáo dân đi
Nam.”
Chỗ khác, ông
viết:”Hơn một
triệu người di
chuyển từ Bắc
vào Nam. Nếu sắp
hàng đôi mà đi,
th́ phải dài
chừng 250 cây
số, tạm cho là
từ Hà Nội đến
Vinh, cứ từ từ
tiến vào trong
Nam trong ṿng
200 ngày ..
(...) Nhưng cảnh
làm cho cảm thấy
thành phố trống
rỗng hơn cả, xơ
xác hơn cả: Đó
là sự đi Nam của
các giới tín đồ,
đặc biệt là giới
công giáo. (...)
Trong các xứ,
bao nhiêu người
đạo đức th́ đi
hết . Có nơi đi
một nửa, nơi
khác đi một phần
ba.
Địa phận Hà Nội
c̣n độ 60 cha.
Khi đi dự cuộc
tĩnh tâm, nh́n
đàng sau các
hàng linh mục
quỳ ở nhà nguyện
hầu hết đầu bạc
phơ. Trông thảm
hại!
Kinh nghiệm các
nơi cho thấy nữ
tu sĩ trẻ bị
chính quyền công
an t́m cách trục
xuất ra khỏi
ḍng. C̣n số
người già, cứ để
cho sống leo
lét, một ít lâu
rồi chết là
hết.”
(Trích Lê Đắc Trọng
như trên, các trang
356-358.)
T́nh cảnh trên đă
hẳn không tránh được
các vị linh mục ở
lại cảm thấy bị cô
đơn và cô lập, không
thể không so sánh
với số “linh mục may
mắn” đă ra đi.
T́nh cảnh ấy nếu
không có những oán
trách cũng là một
điều lạ rồi.
Giáo hội địa phương
- mà tiêu biểu nhất
là Hà Nội - đă trở
thành mục tiêu đánh
phá, tiêu diệt của
chính quyền Hà Nội.
Nhưng mặt khác theo
như lời GM Phao Lồ
Lê ĐắcTrọng, địa
phận Hà Nội vẫn là
hạt nhân cho việc
phục hồi giáo hội
miền Bắc.
Nói theo Piero
Gheddo, “Một giáo
hội không c̣n bất cứ
tiếp xúc nào với bên
ngoài, nhưng giáo
hội ấy vẫn tiếp tục
sống trong thầm lặng
và trong đau khổ.
Nhưng những người
làm chứng tá là
những người Thiên
Chúa giáo ấy, một
ngày nào đó, sẽ đem
lại kết quả.”
(Trích Piero Gheddo
sách như trên, trang
135.)
Trong tờ Le Monde,
số ra ngày
27-12-1966 mô tả một
buổi lễ Noel, tại
Nhà thờ lớn Hà Nội
mà số giáo dân phải
đứng ngoài không có
chỗ lên đến gần 1000
người.
Nhưng cái “bề ngoài
đông đảo” ấy có đủ
cho người ta đi đến
một kết luận lạc
quan về giáo hội
không?
Giám Mục Trọng là
người từng trải kinh
nghiệm sống với cộng
sản đă nhận xét chí
lư và sâu sắc:
“Một chính sách phá
đạo: tô điểm, cổ
động các h́nh thức
bên ngoài, rút cái
ruột thâm sâu bên
trong.
Các nước cộng sản
nhất là Liên Xô cũng
cổ động mừng lễ rất
trọng thể.”
(Trích Chứng từ của
một giám mục, Lê Đắc
Trong, như trên
trang 369.)
Nhưng h́nh như chính
quyền càng gay gắt
với tôn giáo th́ một
trào lưu tinh thần
và thiêng liêng càng
cắm rễ sâu vào một
số thành phần dân
Chúa, bên cạnh một
số đă bỏ đạo.
Thật vậy, mặc dầu có
sự ngăn cấm các tu
sĩ không được đi Nam
- ai đi th́ bị vạ
treo chén
(suspensio
a divinis)- chỉ trừ
các cha giáo sư
chủng viện là được
đi theo chủng sinh
đi Nam. Tuy nhiên
cũng có khoảng 100
linh mục thuộc địa
phận Hà Nội đi Nam.
Số c̣n lại khoảng 60
người, phần lớn là
lớn tuổi, trừ một số
linh mục trẻ du học
ngoại quốc về t́nh
nguyện ở lại như các
cha Đinh Lưu Nhân,
Nguyễn Văn Vinh,
Phạm Hân Quynh
Nguyễn Ngọc Óanh và
Nguyễn Văn Thông.
T́nh h́nh các
linh mục di cư vào
miền Nam
Nếu cộng chung tất
cả số linh mục từ
các tỉnh miền Bắc di
cư vào miền Nam th́
có cả thảy hơn 600
người, chiếm gần 2/3
tổng số linh mục
miền Bắc. Từ đó gây
ra một khủng hoảng
Thiếu-Thừa trong
giáo hội hai miền.
Nay miền Bắc rơi vào
t́nh trạng khiếm hụt
linh mục trầm trọng,
có hàng chục giáo xứ
mới có một linh mục.
Phần đông lại già
nua, tuổi tác. Nhiều
nhà thờ kể như bỏ
hoang.
Việc ra đi của một
số linh mục một cách
gián tiếp làm “một
cuộc quét sạch tự
nhiên” ảnh hưởng của
tôn giáo theo đúng
chính sách của cộng
sản.
Họ chỉ muốn nhà thờ
bỏ trống, giáo dân
bỏ đạo.
T́nh trạng tiêu điều
trong sinh hoạt tôn
giáo là mục tiêu mà
người cộng sản nhắm
tới.
Trong khi đó, miền
Nam rơi vào khủng
hoảng thừa.
Các cha di cư coi
sóc các trại định cư
Nay thử t́m hiểu tâm
trạng của các linh
mục đi vào Nam như
thế nào. Họ có cảm
thấy “không an tâm”
khi bỏ nhà xứ, bỏ
lại con chiên mà đi
chăng?
Tờ báo Đức Mẹ Hằng
Cứu giúp, một tờ bảo
rất được nhiều giáo
dân ưa chuộng tại
miền Nam sau 1955,
trong một số báo vào
tháng tư,1955 đă đưa
ra câu hỏi: Tại sao
các linh mục vào
Nam?
Câu trả lời như một
lời biện hộ mạnh mẽ
cho những ai đă bỏ
đi vào Nam như sau:
“Chịu chết v́ Chúa
là một vinh dự cao
quư
(và như vậy là) điều đáng mong ước,
nếu nh́n từ quan
điểm các linh mục cá
thể, nhưng nếu nh́n
từ quan điểm đời
sống cộng đồng của
giáo hội Việt Nam,
th́ việc này là
[một
nguồn gốc của]
tai hại to lớn.
Phải cần
đến 12
năm
trường
ḍng sơ
hoặc cao
cấp mới
trở
thành
linh
mục, rồi
linh mục
đó có
thể giúp
được cho
bao
nhiêu
người?
Nhưng
nếu họ
rơi vào
tay Việt
Minh
cộng
sản,
những
người sẽ
lấy đi
tự do
(của các
linh
mục). Đối với
các linh
mục, như
vậy là
không
khôn
ngoan,
đối với
giáo
hội, nó
là hết
sức phá
hoại. Ai
sẽ chăm
nom
những
con
chiên
lang
thang?
Ai sẽ
gánh vác
công
việc đem
lại đức
hạnh cho
Bắc Việt
Nam khi
ḥa b́nh
trở lại,
khi nhân
dân có
thể lại
cung
kính thờ
phượng
Chúa?
Nhưng
chúng ta
rút lui
để làm
ǵ?
Chúng ta
rút lui
về miền
Nam
không
phải để
kiếm cái
ăn, cái
mặc,
không
phải để
có nhà
cao cửa
rộng,
không
phải để
giành
quyền
cao chức
trọng.
Chúng ta
vào Nam
để bảo
vệ lối
sống của
chúng
ta, để
chuẩn bị
cho
tương
lai, để
đến một
ngày
không
xa, trên
đường
thắng
lợi,
chúng ta
sẽ quay
trở lại
miền
Bắc, để
đặt Chúa
lên bàn
thờ, để
tạo t́nh
yêu và
niềm tin
nơi
những
đồng bào
không
theo đạo
của
chúng
ta, để
xây dựng
độc lập
và thống
nhất
trong
hạnh
phúc và
ḥa b́nh
cho toàn
thể nhân
dân.”
(Trích lại
trong bài
viết của
Peter
Hansen, bản
dịch của
Hiếu Tân,
Talawas, số
2 mùa xuân
2010.)
Việc biện hộ
cho việc di
cư của các
linh mục c̣n
có thể viện
dẫn lịch sử
đạo Thiên
Chúa trong
những thời
kỳ bị bắt
đạo. Các vị
linh mục
cũng đă từng
trốn chạy
như thế phù
hợp với
truyền thống
“ t́m cơ hội
để giữ đạo”
đi t́m nơi
ổn định dẫn
dắt giáo dân
đến một
“miền đất
hứa” như Moi
sen thời xưa
dẫn dắt dân
Israel trong
40 năm qua
sa mạc.
Nhiều linh
mục cũng
mang cái tâm
t́nh đó một
cách tự
nhiên. Và
nhất là giáo
dân cũng
chia sẻ cái
t́nh tự đó
trong quá
tŕnh tạm
cư, tái định
cư bên cạnh
có các linh
mục của họ.
Giám mục
Phạm Ngọc
Chi là người
được chính
quyền chỉ
định “quản
trị” công
cuộc tái
định cư này
mà mục tiêu
là trong mỗi
làng di cư
sẽ có một
nhà thờ, một
trường học,
một giếng
nước và một
mạng lưới
điện. Tháng
8 năm 1954,
chính quyền
đă cắt một
miếng đất 25
ngàn mẫu
vuông trong
các vùng
Biên Ḥa,
Xuân Lộc để
lập 40 làng
và trong mỗi
làng có 2500
dân.
Khi các trại
di cư này
được dựng
lên, một số
tác giả như
Jean
Lacouture
trong “Viet
Nam: Between
Two Truces” kết luận vội
vă là
ông
Ngô Đ́nh
Diệm có
chương tŕnh
dùng người
di cư như
hàng rào
người để
ngăn chặn
cộng sản.
Đó là những
“vành đai
thép” bảo vệ
Sài G̣n.
Nhiều người
dân miền Nam
cũng tin như
vậy.
Nhưng trên
thực tế th́
việc chọn
những vùng
định cư như
Gia Định, G̣
Vấp, Tân
B́nh lên đến
Thủ Đức lan
ra đến Biên
Ḥa chỉ là
một chọn lựa
thực tế v́
những vùng
đó c̣n thưa
dân, gần Sài
G̣n do GM
Phạm Ngọc
Chi và những
cộng sự viên
của ông đă
quyết định.
Ông Ngô Đ́nh
Diệm thường
chỉ quyết
định và chú
tâm về kế
hoạch phát
triển các
khu dinh
điền hay khu
trù mật tại
các vùng cao
nguyên, nơi
mà cộng sản
coi như cửa
ngơ vào Nam.
Phần quyết
định chung
quanh Sài
G̣n là do
các chính
quyền địa
phương thỏa
thuận cắt
đất cho
người di cư
hơn là từ
phía ông Ngô
Đ́nh Diệm.
Nói chung,
hầu như tất
cả các trại
định cư có
người theo
đạo Thiên
Chúa trên
toàn miền
Nam th́ đều
do các linh
mục Bắc di
cư đảm nhận.
Đó là giải
pháp tối ưu
lợi cả về
mặt tôn
giáo, xă
hội, văn
hoá, tâm lư,
tinh thần và
cả về mặt
kinh tế, tài
chính và
quản trị.
Giáo dân tin
tưởng vào
các linh mục
và đă không
có mấy vụ
kiện tụng
trước pháp
luật về tiền
bạc thâm
lạm.
Mỗi trại
định cư
ngoài phần
lo chia lô,
cấp đất, cấp
nhà, tiền
trợ cấp,
phẩm vật cứu
trợ đều có
uỷ ban điều
hành phân
phối. Mỗi
trại th́ đều
có nhà thờ,
trường học,
chợ búa,
chẩn y viện
và cả nghĩa
địa nữa.
Sống ở đấy
và chết ở
đấy được lo
chu đáo.
Không có các
linh mục,
chuyện đó
khó được như
vậy.
Nếp sống
đạo, lề lối
cũ, lễ nghi
tập tục hầu
như được giữ
nguyên vẹn.
Phải nh́n
lại vùng Cái
Sắn hiện nay
để thấy rằng
nếp sống xă
hội ở đấy
vẫn “cao
hơn” các
vùng cư dân
bên cạnh. Tôi
có hỏi các
cha ở đấy có
nạn “gái vị
thanh niên ở
Cái Sắn đi
làm gái măi
dâm” ở bên
Campuchia
không?
Câu trả lời
khẳng định
là không
nghe biết
ǵ.
Cho nên, các
trại di cư
của những
người Thiên
Chúa giáo
phản ánh cái
h́nh ảnh
tiêu biểu
của các làng
xă mà họ c̣n
giữ được và
mang theo.
Nó là bản
nháp xă hội
miền Bắc mà
sự khác biệt
duy nhất nơi
họ là t́nh
trạng địa lư
mới ở miền
Nam. Nhưng
cũng v́ vậy
mà các trại
di cư vẫn là
những cộng
đồng tương
đối khép kín
và nơi đó có
một sự nghi
ngờ sâu sắc
về những giá
trị, về lối
sống, về tập
tục, về ngôn
ngữ hay con
người nơi
địa phương.
Phần các
linh mục di
cư cảm thấy
hăng say
trong nhiệm
vụ mới, cảm
thấy cuộc
sống đậm đà
ư nghĩa,
không thấy
bị bỏ rơi,
cảm thấy gắn
bó với người
giáo dân,
lớn lên cùng
với cơ ngơi
được xây
dựng cho một
cuộc sống
mới.
Nhưng đây
cũng là lần
đầu tiên,
các linh mục
trở thành
những nhà
quản trị,
nắm giữ
những số
tiền to lớn.
Từ đó có
những tiếng
đồn, có thâm
lạm tiền
bạc, hoặc xử
lư tiền bạc
quanh co.
Chẳng hạn
tiền của dân
di cư th́
cha xứ họp
bàn với ban
quản trị giữ
một phần -
và phần giữ
đó cũng để
lo cho việc
chung như
xây trường
học, mở các
lớp học, đôi
khi ngay cả
trường trung
học cho các
gia đ́nh con
cái dân địa
phương có
chỗ học,
khỏi phải đi
học xa ở
tỉnh.
Một thí dụ
cụ thể là
viện trợ Mỹ
phát quá
nhiều sữa
bột, hoặc
bơ, hoặc phó
mát. Dân di
cư không
quen ăn nên
trở thành
thừa thăi.
Các cha
thường kêu
thương buôn
đến mua và
bán lại cho
dân chúng.
Phần linh
mục chủ tŕ
giáo xứ dùng
số tiền đó
vào các việc
công ích
khác. Nhưng
cũng từ đó
xảy ra nhiều
tiếng đồn
không tốt.
Một xứ định
cư tóm lại
là có sự tự
quản, tự lo
liệu lấy mọi
chuyện; từ
sự học hành
cho trẻ nhỏ,
chuyện ốm
đau bệnh
tật, chuyện
công ăn việc
làm sau một
năm được trợ
cấp, chuyện
tang ma tự
túc t́m đất
mà chôn.
Hầu như chưa
có ai viết
đầy đủ về
công lao và
vai tṛ của
các linh mục
trông coi
các trại
định cư một
cách công
bằng. Nh́n
lại các trại
định cư sau
một năm với
đầy đủ cơ
ngơi - khởi
đi từ các
căn nhà bạt
nhà lều, đến
các nhà
tranh vách
đất hoặc mái
tôn, sau này
thành các
căn nhà gạch
xây nhiều
tầng - nhà
cửa mọc san
sát, ngay
hàng thẳng
lối, có vệ
sinh, có nếp
sống lành
mạnh, có
t́nh làng
xóm, có tổ
chức hành
chánh, xă hội - để thấy
sự đóng góp
của các linh
mục di cư
cho chính
quyền quả
thực không
phải là nhỏ.
Tiền bạc
nào, công
trạng nào,
dịp nào
chính quyền
vinh danh
các linh mục
ấy? Ngay cả
ông TT Ngô
Đ́nh Diệm
cũng không
nh́n thấy
công trạng
đóng góp của
các linh mục
di cư?
Nhưng những
dư luận xấu
th́ hẳn là
không thiếu!
Và phải chấp
nhận thôi.
Làm sao
tránh được
có thể có
một vài linh
mục tham lam
bớt xén tiền
của dân di
cư cho những
phúc lợi
riêng tư?
Nhắc lại
trước đây,
vào ngày
10/5/1984,
tuần báo
Figaro
Magazine có
đăng một
phóng sự
điều tra,
Giám mục là
ai?
Tờ báo phỏng
vấn một số
giám mục,
Tổng giám
mục và Hồng
y về tiền
bạc. Tổng
gíám mục
Rennes khi
được hỏi về
tiền bạc,
liền rút sổ
tay ra tính:
tiền lương
được 4142
quan, trừ
tiền nhà,
đóng góp xă
hội, trừ
tiền ăn c̣n
lại là 1035
quan để may
mặc sửa xe,
mua sách
báo. Đến
lượt hồng y
Etchegaray
mà giáo dân
VN không mấy
xa lạ với
ông, ông trả
lời, tiền
lương mỗi
tháng 3800
quan,
tiệm tặn đủ
sống là may
rồi.
(Giá
trị 1 French
Franc,
1984-05-01,
8.4435 đô-la
Mỹ;
1971-01-01,
5.5192 đô-la
Mỹ;
1954, Quan Pháp cũ
= 0.02 Euros
2007.
DCVOnline;
Nguồn:
http://research.stlouisfed.org/fred2/data/EXFRUS.txt;
http://en.wikipedia.org/wiki/File:FrancEuro1944-1959.png
)
Câu chuyện
phỏng vấn
các giám mục
của tuần báo
Figaro
Magazine có
thể đúng ở
nước Pháp và
cũng có thể
đúng ở thời
điểm các
linh mục di
cư.
Nhưng nếu
nay dùng để
phỏng vấn
các linh
mục, giám
mục đương
đại liệu câu
trả lời của
các vị ấy sẽ
như thế nào?
T́nh
trạng tập
trung một số
lớn linh mục
chung quanh
giáo phận
Sài G̣n
Có sự tập
trung không
đồng đều của
linh mục di
cư trong
giáo phận
Sài G̣n. Đó
là một phân
phối “khó”
cho giáo
phận Sàig̣n
và gây t́nh
trạng “buồn”
nơi một số
linh mục di
cư.
Họ cảm thấy
không có chỗ
đứng. Ngay
các giám mục
Phạm Ngọc
Chi, Lê Hữu
Từ, Hoàng
Văn Đoàn
cũng không
có nhiệm sở,
không biết
được chỉ
định đi đâu
mấy năm đầu!
Những mong
muốn của
giám mục Lê
Hữu Từ muốn
thiết lập
một mẫu h́nh
nào đó rập
khuôn một
“Phát Diệm
thứ hai”
thật sự rất
khó thực
hiện. Phải
chăng nhiệt
t́nh của môt
người quốc
gia cực đoan
như GM Lê
Hữu Từ không
thích hợp
trong cái
nh́n và
chính sách
của TT Ngô
Đ́nh Diệm?
Ngoài các
GM, một số
linh mục di
cư thuộc
thành phần
trí thức như
các giáo sư
chủng viện,
đại chủng
viện th́ số
phận của họ
có phần long
đong và kém
may mắn hơn
các linh mục đi coi xứ
di cư.
80% các vị
linh mục này
từ ngoại
quốc về sau
1954 trở
thành những
người di cư
bất đắc dĩ!
Không có chỗ
cho các linh
mục giáo sư
di cư từ Bắc
vào Nam như
Lê Văn Lư
th́ làm sao
có chỗ cho
những người
từ ngoại
quốc trở về
như Thanh
Lăng?
Trước hết,
phải nói cái
khôn ngoan
của giáo hội
miền Bắc là
các giám mục
giáo phận
ngoài Bắc đă
gửi tất cả
các chủng
viện, đại
chủng viện
vào Nam.
Ngay từ năm
1952, khi
thấy t́nh
h́nh có phần
nguy ngập,
khi chưa ai
nghĩ tới
cuộc di cư
1954, GM
miền Bắc đă
nghĩ đến
việc gửi các
tu sinh sang
Phi Luật Tân
hay
Australia để
bảo đảm
tương lai
cho giáo
hội.
Việc đào
luyện chủng
sinh là lẽ
sống c̣n của
giáo hội.
Nhưng xem ra
một số giám
mục trong
Nam, tiêu
biểu là
Sàig̣n dưới
thời GM
Nguyễn Văn
Hiền đă tỏ
ra không
quan tâm và
c̣n đố kỵ.
Những nạn
nhân của sự
đố kỵ này,
có một lá
thư viết
bằng tiếng
Pháp dài
nhiều trang
đánh máy do
các cựu
chủng sinh
di cư gửi
khâm sứ ṭa
thánh tại
Sài G̣n với
những lời lẽ
cực kỳ xúc
phạm và táo
bạo nhan đề:
Debout!
Peuple
Vietnamien!
Debout!
Trong đó nội
dung hài tội
GM Hiền
trong quá
khứ và hiện
tại. Đặc
biệt GM Hiền
đố kỵ và thù
ghét các
linh mục di
cư, coi
thường các
GM di cư và
họ yêu cầu
lật đổ GM
Hiền về thái
độ quá thiên
về các thừa
sai ngoại
quốc.
Đây là những
phản ứng quá
độ của một
số tu sĩ trẻ
cảm thấy bị
bỏ rơi và
phải chăng
cũng là lư
do ra đi của
GM Nguyễn
Văn Hiền lên
Đà Lạt? Và
được GM
Nguyễn Văn
B́nh, GM Cần
Thơ, tương
đối ôn ḥa
hơn thay
thế.
(Trích một
vài tài liệu
riêng người
viết bài.)
Giải pháp
dẹp dần các
tiểu chủng
viện hay đại
chủng viện
là một kết
luận hẹp ḥi
và vội vă.
Phản ứng
mạnh mẽ thứ
hai của việc
giải tán các
đại chủng
viện là lá
thư của các
linh mục
giáo sư
thuộc đại
chủng viện
thánh
Thomas,
thuộc Bùi
Chu gửi cho
khâm sứ ṭa
thánh lúc
bấy giờ.
Nội dung lá
thư là yêu
cầu xét lại
việc sát
nhập đại
chủng viện
và giao cho
các thừa sai
ngoại quốc
phụ trách
làm tại Gia
Định ngày
11-4-1960 do
một số giáo
sư đại chủng
viện đứng kư
tên.
Lá thư này
phản đối ở
mức độ có
thể chấp
nhận được
trong một
t́nh trạng
kể như tuyệt
vọng về một
giải pháp
triển hạn
các đại
chủng viện!
Sau đó, một
số giáo sư
linh mục di
cư và bất
đắc dĩ di cư
đă chọn việc
dạy đại học
và trung học
ở bên ngoài
giáo hội.
Một sứt mẻ
không bao
giờ hàn gắn
được.
Cũng trong
một t́nh thế
chẳng đặng
đừng, có một
vài vị đă
cởi áo nhà
tu và hoàn
tục. Họ đă
chính thức
lập gia đ́nh
như trường
hợp các giáo
sư Trần Thái
Đỉnh, Lê Tôn
Nghiêm.
Những điều
được biết về
hai người là
suốt quăng
đời c̣n lại
của họ bị
đeo đuổi và
bị ám ảnh về
những quyết
định mà họ
đă chọn.
Một quyết
định không
dễ dàng và
họ chịu
những sự dị
nghị, cô
đơn, đau
khổ, mặc cảm
và chết
trong im
lặng ít được
ai chia sẻ.
Nhất là
trường hợp
giáo sư Lê
Tôn Nghiêm.
C̣n lại là
trường hợp
có 400 thày
đại chủng
viện di cư
sau khi giải
thể các đại
chủng viện.
Họ đi đâu,
về đâu?
Nhiều vị cho
là những
biện pháp
giải thể quá
bạo tàn và
việc xin gia
nhập các địa
phận th́ các
giám mục đều
“khóa sổ”
không muốn
nhận.
Nhưng theo
chỗ tôi được
biết th́ các
đại chủng
sinh này nếu
ai muốn tiếp
nối con
đường tu tŕ
th́ đă hẳn
vẫn có chỗ
cho họ.
Biện pháp
nào trong
cái nh́n của
giáo hội th́
cũng có thể
có những
“nạn nhân
bất đắc dĩ”.
|
 |
|
Chủng
sinh
và
giáo
sư
khoá
Ngôn
sứ
15,
GHHV
Nguồn:
ghhv.quetroi.net/
|
Kẻ được chọn
th́ vẫn có
chỗ xứng
đáng của
ḿnh mặc dầu
trải qua
những thử
thách về cơ
cấu tổ chức,
điều hành
của giáo
hội. Chẳng
hạn, dưới
mắt của
người viết
bài này th́
việc trao
Giáo Hoàng
Học viện Piô
X Đà Lạt cho
các thừa sai
ḍng tên,
người ngoại
quốc - nếu
nh́n lại vẫn
có những kết
quả tốt đẹp
của nó không
thể phủ
nhận.
Hằng vài
trăm linh
mục trí thức
đă xuất thân
ở đó. Và hơn
10 giám mục
hiện hành,
chiếm hơn
1/3 tỉ lệ
Hội đồng GM
là những vị
linh mục đă
đi qua những
năm đào tạo
khắt khe tại
Giáo Hoàng
học viện.
Tôi vẫn vui
mừng và chia
sẻ khi gặp
linh mục
Tổng linh
huấn của học
viện giáo
hoàng Piô X
Đà Lạt trước
đây mỗi khi
gặp Ngài.
Năm nay chắc
ông đă 92
tuổi - một
linh mục
“giáo hoàng”
giữa các
giám mục môn
sinh của ông
mỗi khi ông
quay trở lại
VN.
Chắc ngài đă
truyền lại
cho những
môn sinh của
ḿnh sự
thông thái
đi đối với
sự khiêm
tốn, sự lạc
quan và tinh
thần tin cậy
trước những
thử thách mà
giáo hội
đang gặp
phải!
Sau khi giải
thể, các
linh mục
giáo sư xin
gia nhập địa
phận th́
nhiều khi
các GM e
ngại tính
cách “cấp
tiến” của
các linh mục
này mà t́m
cách từ
chối.
|
 |
|
Kư
tên,
Ngô
Đ́nh
Thục,
Lê
Hữu
Từ,
Phạm
Ngọc
Chi,
Trương
Cao
Đại,
v.v..
(25/01/1957)
Nguồn:
Kỷ
yếu
2008
GHHV
|
T́nh trạng
từ chối đó
là có thật.
V́ thế có
một số vị
linh mục
sống khơi
khơi ở Sài
G̣n, đi ở
trọ hoặc
quanh quẩn
nhà bà con,
nhưng không
nhà xứ,
không giáo
dân. Nhưng
v́ không
thuộc địa
phận nên GM
chẳng có
quyền hành
ǵ trên vị
linh mục đó.
Và linh mục
đó, oái ăm
thay, chỉ
“vâng lời”
một người
duy nhất là
cha “đại
diện” cho
địa phận gốc
của ḿnh như
Thanh Hóa,
Phát Diệm mà
thực tế làm
ǵ c̣n bề
trên Thanh
Hóa hay Phát
Diệm?
Trước t́nh
trạng “tuyệt
vọng” sống
như những cư
dân bất hợp
pháp, theo
nghĩa không
thuộc giáo
phận Sài G̣n
hay không
được chấp
nhận nhập
địa phận. Họ
lang thang
t́m lối
thoát.
Họ t́m những
lối thoát
như cùng
nhau tụ họp
lại mở
trường tư
dạy học, làm
giáo sư các
trường công
hay tư, làm
giáo sư đại
học hoặc làm
báo viết
báo.
Nhưng khi đi
dạy ở bên
ngoài, các
linh mục này
bị coi là
“bất xứng”
trong vai
tṛ linh
mục. Linh
mục có nhiệm
vụ coi sóc
linh hồn đâu
có nmhiệm vụ
đi dạy, kiếm
tiền cho
riêng ḿnh?
Trong khi ở
Pháp việc đi
dạy học của
một số linh
mục giáo sư
được coi là
tốt. Giám
mục Viện
trưởng
Institut
Catholique
de Paris cho
rằng: “Một linh mục làm
giáo sư
không phải
là bỏ thiếu
đi một linh
mục mà là
tăng thêm
một linh
mục.”
T́nh trạng
mở trường tư
thục trở
thành như
một phong
trào. Giáo
phận nào
cũng cố gắng
mở một
trường. Tiêu
biểu như các
trường
Lê
Bảo Tịnh,
Nguyễn Bá
Ṭng, Khiết
Tâm, Cứu
Thế.
Giáo xứ nào
có điều kiện
cũng mở
trường đáp
ứng nhu cầu
học hành của
con em di cư
hoặc con cái
dân địa
phương.
Việc mở
trường như
thế thường
không có
phép của bộ
giáo dục,
hiệu trưởng,
giáo sư đều
không đủ
điều kiện
bằng cấp.
Lấy một
trường hợp
cụ thể như
trại di cư
Củ Chi. Các
linh mục xây
một trường
tiểu học.
Điều đó có
thể có giáo
viên đáp ứng
nhu cầu.
Nhưng lại mở
thêm các lớp
trung học!
Lấy đâu ra
giáo sư ở
một trại
định cư dạy
toán, dạy
Pháp Văn,
dạy anh văn?
T́nh trạng
thày đang
học tú tài
dạy đệ tứ là
chuyện không
thiếu.
T́nh trạng
xô bồ, không
giấy phép,
mở trường tự
phát một
cách tuỳ
tiện, hiệu
trưởng không
đủ bằng cấp,
giáo sư nhập
nhèm thiếu
chuyên môn
khá phổ
biến. Khi
cần cấp
chứng chỉ
học tŕnh
th́ không đủ
tiêu chuẩn
bằng cấp.
 |
|
Tu
sĩ
giảng
dạy
tại
Trung
học
Nguyễn
Bá
Ṭng
(1973)
Nguồn:
hdgmvietnam.org
|
Tiêu biểu là
trường
Nguyễn Bá
Ṭng mà Hiệu
trưởng lúc
ban đầu là
linh mục
Nguyễn Quang
Lăm, sau ra
làm báo Xây
Dựng và giám
học là
Nguyễn Đ́nh
Đầu mà tŕnh
độ, dù có đi
Pháp, cũng
chỉ để học
các cours về
Xă Hội.
Tiếp đến hai
trường trung
học công lập
Hồ Ngọc Cẩn
và Trần Lục
lại do hai
linh mục di
cư làm hiệu
trưởng. Các
vị ấy cho
rằng hai
trường ấy di
cư vào Nam,
trường Hồ
Ngọc Cẩn
thuộc địa
phận Bùi Chu
c̣n Trần Lục
thuộc Phát
Diệm là công
lao của hai
địa phận ấy
gầy dựng
nên. Đồng ư.
Nhưng không
lẽ cứ duy
tŕ hai
trường công
mà giáo sư
là công chức
chính phủ ăn
lương nhà
nước với hai
vị hiệu
trưởng là
hai linh
mục, liệu
t́nh trạng
ấy có ổn
thỏa và có
thể kéo dài
măi được
không?
Sau 3 năm
tạm thời để
các trường
ấy tiếp tục
hoạt động và
để điều
chỉnh lại
t́nh trạng
trường tư
thục liên
quan đến cả
các chủng
viện, chính
phủ Ngô Đ́nh
Diệm ra luật
Dụ 57/4 nhằm
thể chế hóa
trường tư
theo sát
tinh thần
Hiến Pháp
VNCH.
Chính quyền
sẽ nắm các
trường tư về
điều lệ mở
trường, về
chương
tŕnh, về
thành phần
ban giảng
huấn, về
bằng cấp
(điều 17), về các giờ
dạy về tôn
giáo trong
đó bao gồm
các tiểu
chủng viện
(điều 3) cũng như
quyền kiểm
soát các tư
thục (điều
19).
Tinh thần
của Dụ số
57/4 của
chính phủ
Ngô Đ́nh
Diệm là đúng
và cần phải
làm. Vấn đề
là trong
chừng mực
nào? Và làm
sao tránh
khỏi đụng
chạm?
Chỉ tiếc
rằng những
điều lệ ấy
vượt quá mức
thực tế của
các trường
tư thục. Nó
trở thành
quá khắt khe
đi đến chỗ
một số
trường tư
thục phải
đóng cửa.
Quyền lợi bị
đụng chạm.
Nồi cơm có
thể bị vỡ đă
nổ ra những
phản đối
chính phủ
đồng loạt
của các giám
mục trong
một thư phản
đối đề ngày
8-1-1957.
Trong đó có
chữ kư của
hầu hết các
giám mục di
cư và giám
mục địa
phương như
GM Nguyễn
Văn Hiền,
Saig̣n,
Marcel
Piquet,
Quy
Nhơn,
J. Urritia,
Huế,
T.
Seitz,
Kontum,
Lê
Hữu Từ,
Phát
Diệm,
Phạm
Ngọc Chi,
Bùi Chu,
Trương Cao
Đại,
Hải
Pḥng. Và
các linh mục
bề trên các
giáo phận
như Cao Xuân
Túc, Nguyễn
Văn Bảo,
Trương Cao
Khẩn, Đỗ Đức
Hân, Phạm
Ngọc Oanh,
Nguyễn Khắc
Ngữ, Nguyễn
Huy Mai.
Trong danh
sách vừa kể
trên, chỉ
thiếu tên GM
Ngô Đ́nh
Thục.
Một cái
thiếu mang
nhiều ư
nghĩa.
Đây cũng là
khởi điểm
cho những
bất đồng,
chia rẽ giữa
hàng GM với
nhau và với
chính phủ.
Nhiều người
lầm tưởng
rằng giáo
hội Thiên
Chúa giáo,
nhất là nhóm
di cư sẽ hết
ḷng ủng hộ
chế độ TT.
Ngô Đ́nh
Diệm.
Điều đó chỉ
đúng một
nửa.
Phần đông
người Thiên
Chúa giáo di
cư vẫn coi
ông Diệm là
ân nhân của
họ. Và họ đă
không quên.
Nhưng giới
lănh đạo
Thiên Chúa
giáo như các
GM th́ không
có ǵ bảo
đảm là họ
đứng về phía
ông Diệm cả.
Đôi vị trong
hàng GM c̣n
đi đến chỗ
hiềm khích
là đằng
khác.
Và để trấn
an trước
những phản
ứng ác liệt
của dân
chúng, những
truyền đơn
chống chính
phủ. Các
giám mục cho
rằng một
ḿnh các
hàng giáo
phẩm đủ để
can thiệp
với những cơ
quan hữu
trách chính
phủ.
Sự rạn nứt
giữa chính
quyền và
Thiên Chúa
giáo nói
chung, đặc
biệt hàng
lănh đạo
giáo phẩm di
cư cho thấy
ló diện ngay
từ 1957.
Đó là nốt
nhạc sai
nhịp nhất
giữa chính
quyền TT Ngô
Đ́nh Diệm và
các lănh đạo
Thiên Chúa
giáo. Thật
là đáng tiếc
cho những
thiện chí
của cả đôi
bên.
© DCVOnline
|