Một số vấn đề của người Thiên Chúa giáo

trước và sau khi di cư vào miền Nam

Nguyễn Văn Lục

(Kết)

Số phận giáo hội miền Bắc và các giáo phận

Xin ghi lại tóm tắt một số chứng từ của giám mục Phao Lô Lê Đắc Trọng.
 

Địa phận Hải Pḥng: T́nh h́nh các giáo phận như Hải Pḥng th́ các linh mục đi gần hết. Hầu như chỉ c̣n vài người. Sau này, GM Trịnh Như Khuê phải gửi linh mục Phạm Hân Quynh về giúp cho địa phận Hải Pḥng. Nhưng sau đó. cha Quynh bị quản chế suốt hơn 20 năm.

Địa phận Bùi Chu các cha cũng đi gần hết, GM Phạm Ngọc Chi đă để lại linh mục Phạm Năng Tĩnh, thư kư ṭa giám mục trở thành cha chính địa phận và sau này được phong giám mục.

Địa phận Thái B́nh: Việc cai quản địa phận được trao cho cha Đinh Đức Trụ. Để được truyền chức giám mục, Cha Trụ phải giả làm phu xích lô, đạp xe lên Hà Nội trên một khoảng đường dài 100 cây số. GM Trịnh Như Khuê tấn phong lén cho ngài ở nhà nguyện riêng, cạnh pḥng ngủ. Chỉ có chủ phong và được người được tấn phong. Hoàn toàn bí mật. Lễ tấn phong xong, hai bố con lại thay nhau đạp xe trong đêm khuya về tới Thái B́nh lúc c̣n tối. Đúng là hành xử theo cung cách Giáo Hội nhầm trú. Được tấn phong rồi, ngài lập lại cung cách tấn phong bí mật cho cha chính Bùi Chu Đôminicô Phạm Năng Tinh. Nhưng lần này không phải ở ṭa giám mục mà là trên con thuyền bấp bềnh trên gịng sông. Con thuyền chính là biểu hiệu Giáo Hội trên mặt biển trần gian.
Cả xứ Thái B́nh nay chỉ c̣n độ hơn trăm giáo dân. Các linh mục trong địa phận chỉ được truyền chức chui. Không có những vụ truyền chức như thế, th́ trong địa phận đâu c̣n linh mục làm việc.

Địa phận Phát Diệm: Sau khi đức cha và cha Hoàng Quỳnh rút đi, Phát Diệm trở nên một chỗ trống lớn ít ai dám bén mảng tới, và người ta cũng bố trí người canh gác cẩn thận để không ai lọt vào khu nhà chung. Cha Bùi Chu Tạo thể chất yếu ớt hơn cả, được chọn làm cha chính, sau đó ít lâu được bổ nhiệm giám mục.
Phát Diệm từ đó khép kín hoàn toàn, không một ai ra vào ṭa giám mục, kể cả người Phát Diệm. Giáo dân đi lễ thật đông, hết lễ về ngay.

Địa phận Hà Nội: Lúc nào nhà Chung Hà Nội cũng có độ 90 cha trú ngụ để đi Nam. Cha trong địa phận, cha ngoài địa phận.
Các cha Hà Nội chống Đức cha Khuê, đây là các cha thuộc địa phận Hà Nội. Đức cha yết thị các buồng “
cấm các cha không được đi Nam”. Các cha lấy dao rạch đi, đem treo vào của nhà đức cha. Sáng ra, Đức cha trông thấy, gọi cha Cương bảo: “Cha xem, láo hơn là cộng sản!” Họ vẫn cứ đi.

Sau này, khi có lệnh toà thánh, mỗi cha phải gia nhập vào một địa phận, không ở lung tung.

Kết luận về giai đoạn này, GM Lê Đắc Trọng viết:
“Như vậy chỉ trong mấy tháng mà các ṭa giám mục địa phận miền Bắc, các xứ vắng bóng cha xứ, các cơ sở tôn giáo không người lănh đạo.
Lợi hay hại? Hiển nhiên là bất lợi! Là tai họa! Không một cơn bách hại nào trong lịch sử giáo hội mà trong một thời gian, một miền rộng lớn như miền Bắc Việt Nam lại bị quét sạch, bị trống trơn như thế.”

(Trích tóm tắt từ cuốn: Chứng từ của một giám mục, Những câu chuyện về một thời. Lê Đắc Trọng, từ trang 188-254.)

 

Người viết muốn đào sâu thêm tâm trạng người ở lại đối với những người ra đi nơi hàng linh mục như thế nào. Qua chứng từ của GM Trọng, ông không bày tỏ trực tiếp và sỗ sang; nhưng qua cách tŕnh bày của ông cho thấy sự cay đắng khi nghĩ tới những người đă bỏ đi. Ông viết:

“Sau một năm rút ở Hànội và hai năm rút ở Hải Pḥng. Địa phận Hà Nội xác xơ, các điạ phận khác: Hải Pḥng, Bắc Ninh xác xơ. Bùi Chu một số lớn giáo dân đi Nam.”

Chỗ khác, ông viết:”
Hơn một triệu người di chuyển từ Bắc vào Nam. Nếu sắp hàng đôi mà đi, th́ phải dài chừng 250 cây số, tạm cho là từ Hà Nội đến Vinh, cứ từ từ tiến vào trong Nam trong ṿng 200 ngày ..
(...) Nhưng cảnh làm cho cảm thấy thành phố trống rỗng hơn cả, xơ xác hơn cả: Đó là sự đi Nam của các giới tín đồ, đặc biệt là giới công giáo. (...) Trong các xứ, bao nhiêu người đạo đức th́ đi hết . Có nơi đi một nửa, nơi khác đi một phần ba.
Địa phận Hà Nội c̣n độ 60 cha. Khi đi dự cuộc tĩnh tâm, nh́n đàng sau các hàng linh mục quỳ ở nhà nguyện hầu hết đầu bạc phơ. Trông thảm hại!
Kinh nghiệm các nơi cho thấy nữ tu sĩ trẻ bị chính quyền công an t́m cách trục xuất ra khỏi ḍng. C̣n số người già, cứ để cho sống leo lét, một ít lâu rồi chết là hết.”

(Trích Lê Đắc Trọng như trên, các trang 356-358.)

T́nh cảnh trên đă hẳn không tránh được các vị linh mục ở lại cảm thấy bị cô đơn và cô lập, không thể không so sánh với số “linh mục may mắn” đă ra đi. T́nh cảnh ấy nếu không có những oán trách cũng là một điều lạ rồi.

Giáo hội địa phương - mà tiêu biểu nhất là Hà Nội - đă trở thành mục tiêu đánh phá, tiêu diệt của chính quyền Hà Nội. Nhưng mặt khác theo như lời GM Phao Lồ Lê ĐắcTrọng, địa phận Hà Nội vẫn là hạt nhân cho việc phục hồi giáo hội miền Bắc.

Nói theo Piero Gheddo,
Một giáo hội không c̣n bất cứ tiếp xúc nào với bên ngoài, nhưng giáo hội ấy vẫn tiếp tục sống trong thầm lặng và trong đau khổ. Nhưng những người làm chứng tá là những người Thiên Chúa giáo ấy, một ngày nào đó, sẽ đem lại kết quả.”

(Trích Piero Gheddo sách như trên, trang 135.)

 

Trong tờ Le Monde, số ra ngày 27-12-1966 mô tả một buổi lễ Noel, tại Nhà thờ lớn Hà Nội mà số giáo dân phải đứng ngoài không có chỗ lên đến gần 1000 người. Nhưng cái “bề ngoài đông đảo” ấy có đủ cho người ta đi đến một kết luận lạc quan về giáo hội không?

Giám Mục Trọng là người từng trải kinh nghiệm sống với cộng sản đă nhận xét chí lư và sâu sắc:
“Một chính sách phá đạo: tô điểm, cổ động các h́nh thức bên ngoài, rút cái ruột thâm sâu bên trong. Các nước cộng sản nhất là Liên Xô cũng cổ động mừng lễ rất trọng thể.”

(Trích Chứng từ của một giám mục, Lê Đắc Trong, như trên trang 369.)


Nhưng h́nh như chính quyền càng gay gắt với tôn giáo th́ một trào lưu tinh thần và thiêng liêng càng cắm rễ sâu vào một số thành phần dân Chúa, bên cạnh một số đă bỏ đạo.

Thật vậy, mặc dầu có sự ngăn cấm các tu sĩ không được đi Nam - ai đi th́ bị vạ treo chén
(suspensio a divinis)- chỉ trừ các cha giáo sư chủng viện là được đi theo chủng sinh đi Nam. Tuy nhiên cũng có khoảng 100 linh mục thuộc địa phận Hà Nội đi Nam. Số c̣n lại khoảng 60 người, phần lớn là lớn tuổi, trừ một số linh mục trẻ du học ngoại quốc về t́nh nguyện ở lại như các cha Đinh Lưu Nhân, Nguyễn Văn Vinh, Phạm Hân Quynh Nguyễn Ngọc Óanh và Nguyễn Văn Thông.

T́nh h́nh các linh mục di cư vào miền Nam

Nếu cộng chung tất cả số linh mục từ các tỉnh miền Bắc di cư vào miền Nam th́ có cả thảy hơn 600 người, chiếm gần 2/3 tổng số linh mục miền Bắc. Từ đó gây ra một khủng hoảng Thiếu-Thừa trong giáo hội hai miền. Nay miền Bắc rơi vào t́nh trạng khiếm hụt linh mục trầm trọng, có hàng chục giáo xứ mới có một linh mục. Phần đông lại già nua, tuổi tác. Nhiều nhà thờ kể như bỏ hoang.

Việc ra đi của một số linh mục một cách gián tiếp làm “một cuộc quét sạch tự nhiên” ảnh hưởng của tôn giáo theo đúng chính sách của cộng sản. Họ chỉ muốn nhà thờ bỏ trống, giáo dân bỏ đạo. T́nh trạng tiêu điều trong sinh hoạt tôn giáo là mục tiêu mà người cộng sản nhắm tới.

Trong khi đó, miền Nam rơi vào khủng hoảng thừa.
Các cha di cư coi sóc các trại định cư

Nay thử t́m hiểu tâm trạng của các linh mục đi vào Nam như thế nào. Họ có cảm thấy “không an tâm” khi bỏ nhà xứ, bỏ lại con chiên mà đi chăng?

Tờ báo Đức Mẹ Hằng Cứu giúp, một tờ bảo rất được nhiều giáo dân ưa chuộng tại miền Nam sau 1955, trong một số báo vào tháng tư,1955 đă đưa ra câu hỏi: Tại sao các linh mục vào Nam?
Câu trả lời như một lời biện hộ mạnh mẽ cho những ai đă bỏ đi vào Nam như sau:

“Chịu chết v́ Chúa là một vinh dự cao quư (và như vậy là) điều đáng mong ước, nếu nh́n từ quan điểm các linh mục cá thể, nhưng nếu nh́n từ quan điểm đời sống cộng đồng của giáo hội Việt Nam, th́ việc này là [một nguồn gốc của] tai hại to lớn.

 

Phải cần đến 12 năm trường ḍng sơ hoặc cao cấp mới trở thành linh mục, rồi linh mục đó có thể giúp được cho bao nhiêu người? Nhưng nếu họ rơi vào tay Việt Minh cộng sản, những người sẽ lấy đi tự do (của các linh mục). Đối với các linh mục, như vậy là không khôn ngoan, đối với giáo hội, nó là hết sức phá hoại. Ai sẽ chăm nom những con chiên lang thang? Ai sẽ gánh vác công việc đem lại đức hạnh cho Bắc Việt Nam khi ḥa b́nh trở lại, khi nhân dân có thể lại cung kính thờ phượng Chúa?

Nhưng chúng ta rút lui để làm ǵ? Chúng ta rút lui về miền Nam không phải để kiếm cái ăn, cái mặc, không phải để có nhà cao cửa rộng, không phải để giành quyền cao chức trọng. Chúng ta vào Nam để bảo vệ lối sống của chúng ta, để chuẩn bị cho tương lai, để đến một ngày không xa, trên đường thắng lợi, chúng ta sẽ quay trở lại miền Bắc, để đặt Chúa lên bàn thờ, để tạo t́nh yêu và niềm tin nơi những đồng bào không theo đạo của chúng ta, để xây dựng độc lập và thống nhất trong hạnh phúc và ḥa b́nh cho toàn thể nhân dân.”

(Trích lại trong bài viết của Peter Hansen, bản dịch của Hiếu Tân, Talawas, số 2 mùa xuân 2010.)


Việc biện hộ cho việc di cư của các linh mục c̣n có thể viện dẫn lịch sử đạo Thiên Chúa trong những thời kỳ bị bắt đạo. Các vị linh mục cũng đă từng trốn chạy như thế phù hợp với truyền thống “ t́m cơ hội để giữ đạo” đi t́m nơi ổn định dẫn dắt giáo dân đến một “miền đất hứa” như Moi sen thời xưa dẫn dắt dân Israel trong 40 năm qua sa mạc.

Nhiều linh mục cũng mang cái tâm t́nh đó một cách tự nhiên. Và nhất là giáo dân cũng chia sẻ cái t́nh tự đó trong quá tŕnh tạm cư, tái định cư bên cạnh có các linh mục của họ. Giám mục Phạm Ngọc Chi là người được chính quyền chỉ định “quản trị” công cuộc tái định cư này mà mục tiêu là trong mỗi làng di cư sẽ có một nhà thờ, một trường học, một giếng nước và một mạng lưới điện. Tháng 8 năm 1954, chính quyền đă cắt một miếng đất 25 ngàn mẫu vuông trong các vùng Biên Ḥa, Xuân Lộc để lập 40 làng và trong mỗi làng có 2500 dân.

Khi các trại di cư này được dựng lên, một số tác giả như Jean Lacouture trong “Viet Nam: Between Two Truces” kết luận vội vă là
ông Ngô Đ́nh Diệm có chương tŕnh dùng người di cư như hàng rào người để ngăn chặn cộng sản.  Đó là những “vành đai thép” bảo vệ Sài G̣n. Nhiều người dân miền Nam cũng tin như vậy.

Nhưng trên thực tế th́ việc chọn những vùng định cư như Gia Định, G̣ Vấp, Tân B́nh lên đến Thủ Đức lan ra đến Biên Ḥa chỉ là một chọn lựa thực tế v́ những vùng đó c̣n thưa dân, gần Sài G̣n do GM Phạm Ngọc Chi và những cộng sự viên của ông đă quyết định.

Ông Ngô Đ́nh Diệm thường chỉ quyết định và chú tâm về kế hoạch phát triển các khu dinh điền hay khu trù mật tại các vùng cao nguyên, nơi mà cộng sản coi như cửa ngơ vào Nam.

Phần quyết định chung quanh Sài G̣n là do các chính quyền địa phương thỏa thuận cắt đất cho người di cư hơn là từ phía ông Ngô Đ́nh Diệm.

Nói chung, hầu như tất cả các trại định cư có người theo đạo Thiên Chúa trên toàn miền Nam th́ đều do các linh mục Bắc di cư đảm nhận. Đó là giải pháp tối ưu lợi cả về mặt tôn giáo, xă hội, văn hoá, tâm lư, tinh thần và cả về mặt kinh tế, tài chính và quản trị. Giáo dân tin tưởng vào các linh mục và đă không có mấy vụ kiện tụng trước pháp luật về tiền bạc thâm lạm.
Mỗi trại định cư ngoài phần lo chia lô, cấp đất, cấp nhà, tiền trợ cấp, phẩm vật cứu trợ đều có uỷ ban điều hành phân phối. Mỗi trại th́ đều có nhà thờ, trường học, chợ búa, chẩn y viện và cả nghĩa địa nữa. Sống ở đấy và chết ở đấy được lo chu đáo.
Không có các linh mục, chuyện đó khó được như vậy.

Nếp sống đạo, lề lối cũ, lễ nghi tập tục hầu như được giữ nguyên vẹn. Phải nh́n lại vùng Cái Sắn hiện nay để thấy rằng nếp sống xă hội ở đấy vẫn “cao hơn” các vùng cư dân bên cạnh. Tôi có hỏi các cha ở đấy có nạn “gái vị thanh niên ở Cái Sắn đi làm gái măi dâm” ở bên Campuchia không? Câu trả lời khẳng định là không nghe biết ǵ.

Cho nên, các trại di cư của những người Thiên Chúa giáo phản ánh cái h́nh ảnh tiêu biểu của các làng xă mà họ c̣n giữ được và mang theo.

Nó là bản nháp xă hội miền Bắc mà sự khác biệt duy nhất nơi họ là t́nh trạng địa lư mới ở miền Nam. Nhưng cũng v́ vậy mà các trại di cư vẫn là những cộng đồng tương đối khép kín và nơi đó có một sự nghi ngờ sâu sắc về những giá trị, về lối sống, về tập tục, về ngôn ngữ hay con người nơi địa phương.
Phần các linh mục di cư cảm thấy hăng say trong nhiệm vụ mới, cảm thấy cuộc sống đậm đà ư nghĩa, không thấy bị bỏ rơi, cảm thấy gắn bó với người giáo dân, lớn lên cùng với cơ ngơi được xây dựng cho một cuộc sống mới.

Nhưng đây cũng là lần đầu tiên, các linh mục trở thành những nhà quản trị, nắm giữ những số tiền to lớn. Từ đó có những tiếng đồn, có thâm lạm tiền bạc, hoặc xử lư tiền bạc quanh co. Chẳng hạn tiền của dân di cư th́ cha xứ họp bàn với ban quản trị giữ một phần - và phần giữ đó cũng để lo cho việc chung như xây trường học, mở các lớp học, đôi khi ngay cả trường trung học cho các gia đ́nh con cái dân địa phương có chỗ học, khỏi phải đi học xa ở tỉnh.

Một thí dụ cụ thể là viện trợ Mỹ phát quá nhiều sữa bột, hoặc bơ, hoặc phó mát. Dân di cư không quen ăn nên trở thành thừa thăi. Các cha thường kêu thương buôn đến mua và bán lại cho dân chúng. Phần linh mục chủ tŕ giáo xứ dùng số tiền đó vào các việc công ích khác. Nhưng cũng từ đó xảy ra nhiều tiếng đồn không tốt.

Một xứ định cư tóm lại là có sự tự quản, tự lo liệu lấy mọi chuyện; từ sự học hành cho trẻ nhỏ, chuyện ốm đau bệnh tật, chuyện công ăn việc làm sau một năm được trợ cấp, chuyện tang ma tự túc t́m đất mà chôn.
Hầu như chưa có ai viết đầy đủ về công lao và vai tṛ của các linh mục trông coi các trại định cư một cách công bằng. Nh́n lại các trại định cư sau một năm với đầy đủ cơ ngơi - khởi đi từ các căn nhà bạt nhà lều, đến các nhà tranh vách đất hoặc mái tôn, sau này thành các căn nhà gạch xây nhiều tầng - nhà cửa mọc san sát, ngay hàng thẳng lối, có vệ sinh, có nếp sống lành mạnh, có t́nh làng xóm, có tổ chức hành chánh, xă hội - để thấy sự đóng góp của các linh mục di cư cho chính quyền quả thực không phải là nhỏ.

Tiền bạc nào, công trạng nào, dịp nào chính quyền vinh danh các linh mục ấy? Ngay cả ông TT Ngô Đ́nh Diệm cũng không nh́n thấy công trạng đóng góp của các linh mục di cư?

Nhưng những dư luận xấu th́ hẳn là không thiếu!

Và phải chấp nhận thôi. Làm sao tránh được có thể có một vài linh mục tham lam bớt xén tiền của dân di cư cho những phúc lợi riêng tư?

Nhắc lại trước đây, vào ngày 10/5/1984, tuần báo Figaro Magazine có đăng một phóng sự điều tra, Giám mục là ai?

Tờ báo phỏng vấn một số giám mục, Tổng giám mục và Hồng y về tiền bạc. Tổng gíám mục Rennes khi được hỏi về tiền bạc, liền rút sổ tay ra tính: tiền lương được 4142 quan, trừ tiền nhà, đóng góp xă hội, trừ tiền ăn c̣n lại là 1035 quan để may mặc sửa xe, mua sách báo. Đến lượt hồng y Etchegaray mà giáo dân VN không mấy xa lạ với ông, ông trả lời, tiền lương mỗi tháng 3800 quan, tiệm tặn đủ sống là may rồi.

(Giá trị 1 French Franc, 1984-05-01, 8.4435 đô-la Mỹ;

1971-01-01, 5.5192 đô-la Mỹ;

1954, Quan Pháp cũ = 0.02 Euros 2007.

 DCVOnline; Nguồn: http://research.stlouisfed.org/fred2/data/EXFRUS.txt;

http://en.wikipedia.org/wiki/File:FrancEuro1944-1959.png )


Câu chuyện phỏng vấn các giám mục của tuần báo Figaro Magazine có thể đúng ở nước Pháp và cũng có thể đúng ở thời điểm các linh mục di cư. Nhưng nếu nay dùng để phỏng vấn các linh mục, giám mục đương đại liệu câu trả lời của các vị ấy sẽ như thế nào?

T́nh trạng tập trung một số lớn linh mục chung quanh giáo phận Sài G̣n


Có sự tập trung không đồng đều của linh mục di cư trong giáo phận Sài G̣n. Đó là một phân phối “khó” cho giáo phận Sàig̣n và gây t́nh trạng “buồn” nơi một số linh mục di cư.

Họ cảm thấy không có chỗ đứng. Ngay các giám mục Phạm Ngọc Chi, Lê Hữu Từ, Hoàng Văn Đoàn cũng không có nhiệm sở, không biết được chỉ định đi đâu mấy năm đầu! Những mong muốn của giám mục Lê Hữu Từ muốn thiết lập một mẫu h́nh nào đó rập khuôn một “Phát Diệm thứ hai” thật sự rất khó thực hiện. Phải chăng nhiệt t́nh của môt người quốc gia cực đoan như GM Lê Hữu Từ không thích hợp trong cái nh́n và chính sách của TT Ngô Đ́nh Diệm?

Ngoài các GM, một số linh mục di cư thuộc thành phần trí thức như các giáo sư chủng viện, đại chủng viện th́ số phận của họ có phần long đong và kém may mắn hơn các linh mục đi coi xứ di cư. 80% các vị linh mục này từ ngoại quốc về sau 1954 trở thành những người di cư bất đắc dĩ! Không có chỗ cho các linh mục giáo sư di cư từ Bắc vào Nam như Lê Văn Lư th́ làm sao có chỗ cho những người từ ngoại quốc trở về như Thanh Lăng?

Trước hết, phải nói cái khôn ngoan của giáo hội miền Bắc là các giám mục giáo phận ngoài Bắc đă gửi tất cả các chủng viện, đại chủng viện vào Nam.

Ngay từ năm 1952, khi thấy t́nh h́nh có phần nguy ngập, khi chưa ai nghĩ tới cuộc di cư 1954, GM miền Bắc đă nghĩ đến việc gửi các tu sinh sang Phi Luật Tân hay Australia để bảo đảm tương lai cho giáo hội.
Việc đào luyện chủng sinh là lẽ sống c̣n của giáo hội. Nhưng xem ra một số giám mục trong Nam, tiêu biểu là Sàig̣n dưới thời GM Nguyễn Văn Hiền đă tỏ ra không quan tâm và c̣n đố kỵ.

Những nạn nhân của sự đố kỵ này, có một lá thư viết bằng tiếng Pháp dài nhiều trang đánh máy do các cựu chủng sinh di cư gửi khâm sứ ṭa thánh tại Sài G̣n với những lời lẽ cực kỳ xúc phạm và táo bạo nhan đề: Debout! Peuple Vietnamien! Debout! Trong đó nội dung hài tội GM Hiền trong quá khứ và hiện tại. Đặc biệt GM Hiền đố kỵ và thù ghét các linh mục di cư, coi thường các GM di cư và họ yêu cầu lật đổ GM Hiền về thái độ quá thiên về các thừa sai ngoại quốc.

Đây là những phản ứng quá độ của một số tu sĩ trẻ cảm thấy bị bỏ rơi và phải chăng cũng là lư do ra đi của GM Nguyễn Văn Hiền lên Đà Lạt? Và được GM Nguyễn Văn B́nh, GM Cần Thơ, tương đối ôn ḥa hơn thay thế.

(Trích một vài tài liệu riêng người viết bài.)


Giải pháp dẹp dần các tiểu chủng viện hay đại chủng viện là một kết luận hẹp ḥi và vội vă.
Phản ứng mạnh mẽ thứ hai của việc giải tán các đại chủng viện là lá thư của các linh mục giáo sư thuộc đại chủng viện thánh Thomas, thuộc Bùi Chu gửi cho khâm sứ ṭa thánh lúc bấy giờ. Nội dung lá thư là yêu cầu xét lại việc sát nhập đại chủng viện và giao cho các thừa sai ngoại quốc phụ trách làm tại Gia Định ngày 11-4-1960 do một số giáo sư đại chủng viện đứng kư tên.

Lá thư này phản đối ở mức độ có thể chấp nhận được trong một t́nh trạng kể như tuyệt vọng về một giải pháp triển hạn các đại chủng viện! Sau đó, một số giáo sư linh mục di cư và bất đắc dĩ di cư đă chọn việc dạy đại học và trung học ở bên ngoài giáo hội. Một sứt mẻ không bao giờ hàn gắn được.

Cũng trong một t́nh thế chẳng đặng đừng, có một vài vị đă cởi áo nhà tu và hoàn tục. Họ đă chính thức lập gia đ́nh như trường hợp các giáo sư Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm. Những điều được biết về hai người là suốt quăng đời c̣n lại của họ bị đeo đuổi và bị ám ảnh về những quyết định mà họ đă chọn. Một quyết định không dễ dàng và họ chịu những sự dị nghị, cô đơn, đau khổ, mặc cảm và chết trong im lặng ít được ai chia sẻ. Nhất là trường hợp giáo sư Lê Tôn Nghiêm.

C̣n lại là trường hợp có 400 thày đại chủng viện di cư sau khi giải thể các đại chủng viện. Họ đi đâu, về đâu? Nhiều vị cho là những biện pháp giải thể quá bạo tàn và việc xin gia nhập các địa phận th́ các giám mục đều “khóa sổ” không muốn nhận.

Nhưng theo chỗ tôi được biết th́ các đại chủng sinh này nếu ai muốn tiếp nối con đường tu tŕ th́ đă hẳn vẫn có chỗ cho họ.
Biện pháp nào trong cái nh́n của giáo hội th́ cũng có thể có những “nạn nhân bất đắc dĩ”.
 

Chủng sinh và giáo sư khoá Ngôn sứ 15, GHHV
Nguồn: ghhv.quetroi.net/

 

Kẻ được chọn th́ vẫn có chỗ xứng đáng của ḿnh mặc dầu trải qua những thử thách về cơ cấu tổ chức, điều hành của giáo hội. Chẳng hạn, dưới mắt của người viết bài này th́ việc trao Giáo Hoàng Học viện Piô X Đà Lạt cho các thừa sai ḍng tên, người ngoại quốc - nếu nh́n lại vẫn có những kết quả tốt đẹp của nó không thể phủ nhận.

Hằng vài trăm linh mục trí thức đă xuất thân ở đó. Và hơn 10 giám mục hiện hành, chiếm hơn 1/3 tỉ lệ Hội đồng GM là những vị linh mục đă đi qua những năm đào tạo khắt khe tại Giáo Hoàng học viện.

Tôi vẫn vui mừng và chia sẻ khi gặp linh mục Tổng linh huấn của học viện giáo hoàng Piô X Đà Lạt trước đây mỗi khi gặp Ngài. Năm nay chắc ông đă 92 tuổi - một linh mục “giáo hoàng” giữa các giám mục môn sinh của ông mỗi khi ông quay trở lại VN.

Chắc ngài đă truyền lại cho những môn sinh của ḿnh sự thông thái đi đối với sự khiêm tốn, sự lạc quan và tinh thần tin cậy trước những thử thách mà giáo hội đang gặp phải!

Sau khi giải thể, các linh mục giáo sư xin gia nhập địa phận th́ nhiều khi các GM e ngại tính cách “cấp tiến” của các linh mục này mà t́m cách từ chối.
 

Kư tên, Ngô Đ́nh Thục, Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, Trương Cao Đại, v.v.. (25/01/1957)
Nguồn: Kỷ yếu 2008 GHHV

 

T́nh trạng từ chối đó là có thật. V́ thế có một số vị linh mục sống khơi khơi ở Sài G̣n, đi ở trọ hoặc quanh quẩn nhà bà con, nhưng không nhà xứ, không giáo dân. Nhưng v́ không thuộc địa phận nên GM chẳng có quyền hành ǵ trên vị linh mục đó. Và linh mục đó, oái ăm thay, chỉ “vâng lời” một người duy nhất là cha “đại diện” cho địa phận gốc của ḿnh như Thanh Hóa, Phát Diệm mà thực tế làm ǵ c̣n bề trên Thanh Hóa hay Phát Diệm?

Trước t́nh trạng “tuyệt vọng” sống như những cư dân bất hợp pháp, theo nghĩa không thuộc giáo phận Sài G̣n hay không được chấp nhận nhập địa phận. Họ lang thang t́m lối thoát. Họ t́m những lối thoát như cùng nhau tụ họp lại mở trường tư dạy học, làm giáo sư các trường công hay tư, làm giáo sư đại học hoặc làm báo viết báo.

Nhưng khi đi dạy ở bên ngoài, các linh mục này bị coi là “bất xứng” trong vai tṛ linh mục. Linh mục có nhiệm vụ coi sóc linh hồn đâu có nmhiệm vụ đi dạy, kiếm tiền cho riêng ḿnh?

Trong khi ở Pháp việc đi dạy học của một số linh mục giáo sư được coi là tốt. Giám mục Viện trưởng Institut Catholique de Paris cho rằng: “
Một linh mục làm giáo sư không phải là bỏ thiếu đi một linh mục mà là tăng thêm một linh mục.”

T́nh trạng mở trường tư thục trở thành như một phong trào. Giáo phận nào cũng cố gắng mở một trường. Tiêu biểu như các trường Lê Bảo Tịnh, Nguyễn Bá Ṭng, Khiết Tâm, Cứu Thế. Giáo xứ nào có điều kiện cũng mở trường đáp ứng nhu cầu học hành của con em di cư hoặc con cái dân địa phương.

Việc mở trường như thế thường không có phép của bộ giáo dục, hiệu trưởng, giáo sư đều không đủ điều kiện bằng cấp.

Lấy một trường hợp cụ thể như trại di cư Củ Chi. Các linh mục xây một trường tiểu học. Điều đó có thể có giáo viên đáp ứng nhu cầu. Nhưng lại mở thêm các lớp trung học! Lấy đâu ra giáo sư ở một trại định cư dạy toán, dạy Pháp Văn, dạy anh văn? T́nh trạng thày đang học tú tài dạy đệ tứ là chuyện không thiếu.
T́nh trạng xô bồ, không giấy phép, mở trường tự phát một cách tuỳ tiện, hiệu trưởng không đủ bằng cấp, giáo sư nhập nhèm thiếu chuyên môn khá phổ biến. Khi cần cấp chứng chỉ học tŕnh th́ không đủ tiêu chuẩn bằng cấp.
 

Tu sĩ giảng dạy tại Trung học Nguyễn Bá Ṭng (1973)
Nguồn: hdgmvietnam.org

 

Tiêu biểu là trường Nguyễn Bá Ṭng mà Hiệu trưởng lúc ban đầu là linh mục Nguyễn Quang Lăm, sau ra làm báo Xây Dựng và giám học là Nguyễn Đ́nh Đầu mà tŕnh độ, dù có đi Pháp, cũng chỉ để học các cours về Xă Hội.

Tiếp đến hai trường trung học công lập Hồ Ngọc Cẩn và Trần Lục lại do hai linh mục di cư làm hiệu trưởng. Các vị ấy cho rằng hai trường ấy di cư vào Nam, trường Hồ Ngọc Cẩn thuộc địa phận Bùi Chu c̣n Trần Lục thuộc Phát Diệm là công lao của hai địa phận ấy gầy dựng nên. Đồng ư.

Nhưng không lẽ cứ duy tŕ hai trường công mà giáo sư là công chức chính phủ ăn lương nhà nước với hai vị hiệu trưởng là hai linh mục, liệu t́nh trạng ấy có ổn thỏa và có thể kéo dài măi được không?

Sau 3 năm tạm thời để các trường ấy tiếp tục hoạt động và để điều chỉnh lại t́nh trạng trường tư thục liên quan đến cả các chủng viện, chính phủ Ngô Đ́nh Diệm ra luật Dụ 57/4 nhằm thể chế hóa trường tư theo sát tinh thần Hiến Pháp VNCH.

Chính quyền sẽ nắm các trường tư về điều lệ mở trường, về chương tŕnh, về thành phần ban giảng huấn, về bằng cấp
(điều 17), về các giờ dạy về tôn giáo trong đó bao gồm các tiểu chủng viện (điều 3) cũng như quyền kiểm soát các tư thục (điều 19).

Tinh thần của Dụ số 57/4 của chính phủ Ngô Đ́nh Diệm là đúng và cần phải làm. Vấn đề là trong chừng mực nào? Và làm sao tránh khỏi đụng chạm?

Chỉ tiếc rằng những điều lệ ấy vượt quá mức thực tế của các trường tư thục. Nó trở thành quá khắt khe đi đến chỗ một số trường tư thục phải đóng cửa.

Quyền lợi bị đụng chạm. Nồi cơm có thể bị vỡ đă nổ ra những phản đối chính phủ đồng loạt của các giám mục trong một thư phản đối đề ngày 8-1-1957. Trong đó có chữ kư của hầu hết các giám mục di cư và giám mục địa phương như GM Nguyễn Văn Hiền, Saig̣n, Marcel Piquet, Quy Nhơn, J. Urritia, Huế, T. Seitz, Kontum, Lê Hữu Từ, Phát Diệm, Phạm Ngọc Chi, Bùi Chu, Trương Cao Đại, Hải Pḥng. Và các linh mục bề trên các giáo phận như Cao Xuân Túc, Nguyễn Văn Bảo, Trương Cao Khẩn, Đỗ Đức Hân, Phạm Ngọc Oanh, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Huy Mai.

Trong danh sách vừa kể trên, chỉ thiếu tên GM Ngô Đ́nh Thục. Một cái thiếu mang nhiều ư nghĩa.

Đây cũng là khởi điểm cho những bất đồng, chia rẽ giữa hàng GM với nhau và với chính phủ. Nhiều người lầm tưởng rằng giáo hội Thiên Chúa giáo, nhất là nhóm di cư sẽ hết ḷng ủng hộ chế độ TT. Ngô Đ́nh Diệm.

Điều đó chỉ đúng một nửa.

Phần đông người Thiên Chúa giáo di cư vẫn coi ông Diệm là ân nhân của họ. Và họ đă không quên. Nhưng giới lănh đạo Thiên Chúa giáo như các GM th́ không có ǵ bảo đảm là họ đứng về phía ông Diệm cả. Đôi vị trong hàng GM c̣n đi đến chỗ hiềm khích là đằng khác.

Và để trấn an trước những phản ứng ác liệt của dân chúng, những truyền đơn chống chính phủ. Các giám mục cho rằng một ḿnh các hàng giáo phẩm đủ để can thiệp với những cơ quan hữu trách chính phủ. Sự rạn nứt giữa chính quyền và Thiên Chúa giáo nói chung, đặc biệt hàng lănh đạo giáo phẩm di cư cho thấy ló diện ngay từ 1957.

Đó là nốt nhạc sai nhịp nhất giữa chính quyền TT Ngô Đ́nh Diệm và các lănh đạo Thiên Chúa giáo. Thật là đáng tiếc cho những thiện chí của cả đôi bên.

© DCVOnline