|
Có rất nhiều con số khác nhau khi nói vế
số người Thiên Chúa giáo di cư.
- Số liệu chính thức của giám mục Phạm
Ngọc Chi, người chịu trách nhiệm trực
tiếp trông coi khối người Thiên Chúa
giáo di cư lấy tên là “Ủy ban hỗ trợ
định cư”, văn pḥng ủy ban đặt cạnh
nhà thờ Huyện Sỹ, đường Bùi Chu, Sài G̣n.
Giám mục Phạm Ngọc Chi đă làm phúc tŕnh
và chính thức gửi về Bộ truyền giáo La
Mă. Theo phúc tŕnh, có tổng số 860.206
người di cư từ miền Bắc vào miền Nam,
trong số đó có 676.348 người là giáo dân
.
– Tài liệu của cơ quan cứu trợ Mỹ đưa ra
như sau: tổng số người di cư: 887.895.
Trong đó 85% là Thiên Chúa giáo:
754.710. Phật giáo và tin lành: 15%
133.185.
– Theo Stephen Denney trong bài viết mới
đây nhất: Giáo hội công giáo tại Việt
Nam, bản dịch do anh Đỗ Hữu Nghiêm
chuyển ư, một bài viết với rất nhiều tài
liệu dẫn chứng đă cho rằng có khoảng
900.000 người di cư trốn khỏi miền Bắc,
trong số đó 700.000 người Thiên Chúa
giáo và gồm có 619 linh mục, 5 giám mục
và để lại miền Bắc 375 linh mục, 4 giám
mục Việt Nam và 2 giám mục ngoại quốc.
– Theo Trần Tam Tỉnh trong Thập Giá và
Lưỡi Gươm, trang 113, căn cứ vào thống
kê của các giáo phận và của Việt Minh,
ông đưa ra một biểu đồ tỉ mỉ và chi tiết
về số người Thiên Chúa giáo di cư như
sau: Các tỉnh có số người Thiên Chúa
giáo chiếm 50% tỉ số dân chúng di cư gồm
Bắc Ninh 52%, Phát Diệm 58%, Bùi Chu
60%, Thái B́nh 50%, Lạng Sơn 50%, Hải
Pḥng 51%. Tổng số người Thiên Chúa giáo
miền Bắc là 1.390.000 và tổng số người
di cư có đạo là 543.500 người cộng với
809 linh mục. Đây là con số người có đạo
di cư thấp nhất được đưa ra.
– Theo Piero Gheddo trong cuốn sách
Catholiques et Bouddhiste au VietNam,
trong phần chú thích, trang 99, ông ghi
lại như sau: Theo tài liệu của ông giám
đốc của ủy ban di cư th́ có: 928.152
người di cư, trong đó có 794.876 là
người Thiên Chúa giáo.
– Nhưng theo cơ quan thông tin Thiên
Chúa giáo quốc tế, số ra ngày 15/4/1956,
trang 17, có 860.206 người di cư, trong
số đó có 676.384 người theo đạo.
– J. Buttinger trong Viet Nam, a dragon
embattled, London, 1967, trang 900 cho
rằng khó có thể có con số chính xác về
số người di cư. V́ tài liệu về người di
cư đă bị hỏa hoạn trong vụ nổi loạn của
B́nh Xuyên vào năm 1955. Mặc dầu vậy,
ông đă đưa ra con số hơn một triệu người
di cư trong đó có vào khoảng trên dưới
200.000 quân nhân. (Con số 200.000 quân
nhân là không chính xác.) Thường dân có
706.000 người, dân thuyền chài là 88.000
người, công chức, sinh viên, tiểu thương
gia là 133.000. Cộng chung là 927.000.
Không cho biết số lượng giáo dân là bao
nhiêu.
– Trong một bài viết của bà Đặng Phương
Nghi (Bà Đặng Phương Nghi tốt nghiệp
trường École des Chartes, cựu Giám đốc
nha Văn Khố và thư viện VNCH trước
1975). Dựa vào báo cáo của ủy ban kiểm
soát quốc tế cho thấy có 888.124 người
di cư (số của Nam Việt) và 892.876 (số
của Bắc Việt) so với số 4.269 người bỏ
miền Nam ra miền Bắc. Nhưng những con số
trên không kể đến binh lính, hoặc những
người đă trốn vào Nam sau ngày
20/7/1955. Bà Đặng Phương Nghi cho rằng
trong Nam vào đầu năm 1954, có 700.000
người Thiên Chúa giáo, mà toàn quốc có
1.600.000. Trừ 700.000 của miền Nam th́
miền Bắc có 900.000 người có đạo. Nếu
700.000 người di cư th́ ở miền Bắc chỉ
c̣n lại 200.000 giáo dân.Thế mà tài liệu
chính thức của giáo hội miền Bắc vào năm
1964, lập theo từng địa phận sau này cho
biết có 833.468 giáo dân. Phần giáo hội
miền Nam sau này tăng thêm 700.000 giáo
dân th́ tổng cộng sẽ là 1.400.000 người.
Vậy mà theo ước lượng của giáo hội vào
năm 1960, trong Nam chỉ có từ 1 triệu
mốt đến 1 triệu hai giáo dân theo
Seigliano ghi lại. Như vậy, con số
700.000 ngay cả 600.000 giáo dân di cư
vào miền Nam là con số cần được xét lại.
Và theo bà Đặng Phương Nghi, con số
700.000 là con số thổi phồng, quá khích.
Theo cách tính của bà, con số giáo dân
di cư không quá 500.000 như Trần Tam
Tỉnh xác nhận và có thể chỉ độ 200.000
người như các cách tính trước đây, tức
chỉ tương đương với 25% đến 50% tổng số
dân ci cư thay v́ 65% như tối thiểu được
ghi chung trong các sách. Theo cách tính
của bà, con số thích hợp gần đúng nhất
chỉ là 238.755 giáo dân mà thôi (Trích
Về số người Công giáo di cư từ Bắc vào
Nam sau Hiệp định Geneva, Đặng Phương
Nghi)
– Mới đây nhất, tác giả Ronald B.
Frankum Jr. trong Operation Passage
to Freedom khẳng định như sau:
Those Vienamese who made the decision to
leave their homes in the North for so
many reasons. Approximately one-third of
the people who fled were Catholics and
left as a result of Viet Minh treatment
of those who followed the Church. (Trích
sách trang 14) Đối với những người Việt
Nam đă quyết định dời bỏ nhà cửa của họ
ở miền Bắc th́ có nhiều lư do khác nhau.
Gần như một phần ba những người trốn
khỏi miền Bắc là người Thiên Chúa giáo
và họ đă ra đi v́ lư do cách đối xử của
Việt Minh đối với giáo hội của họ. Một
phần ba của con số 800.000 ngàn người là
trên dưới gần 300.000 người theo đạo.
Cách tính của bà Đặng Phương Nghi có thể
là con số gần đúng.
Và tôi nghĩ rằng, cách tính chính xác
nhất là căn cứ vào danh sách các người
di cư có đạo ở trong các trại di cư là
tối ưu. V́ thế nên căn cứ vào số giáo
dân nằm rải rác trong các trại di cư lớn
như Hố Nai, Gia Kiệm và Cái Sắn. Chẳng
hạn ở các trại định cư Cái Sắn, một
trong những chương tŕnh định cư lớn
nhất, trù liệu là 120.000 dân, trong đó
có 20.000 dân địa phương cho thấy số
giáo dân thực sự ở đây là 50.000 người
và dự tính có thể thêm vài chục ngàn.
Nhưng thực sự các lô đất được chia làm
nhà ở là 8086 lô. Giả dụ mỗi gia đ́nh
trung b́nh là 6 người th́ mới đạt con số
50.000 dân di cư. Hố Nai và vùng phụ cận
trù liệu 5, 6 chục ngàn người. Nhưng con
số lúc đầu chỉ là 41 ngàn. Và theo bảng
dự tính số người định cư của Mỹ trù liệu
th́ Biên Ḥa là 100.000 người, Xuân Lộc
là 200.000 người, trong đó có nhiều
người theo đạo ông bà và đạo Phật. Người
ta sẽ thấy số giáo dân không thể quá
300.000 người được.
Nhưng nay nếu chúng ta căn cứ vào những
con số của Hải quân Mỹ đưa ra có phần
chính xác hơn cả th́ đă hẳn con số người
Thiên Chúa giáo di cư lại một lần nữa
cần phải được xét lại. Theo Ronald B.
FranKum, Jr. trong Operation Passage
to Freedom th́: người Pháp đă chở
bằng máy bay và tầu chiến tất cả là
448.619 người di cư vào miền Nam. Tầu
chiến Mỹ nhận chuyên chở phần c̣n lại là:
310.848, với 41.378 nguời đi tự túc. Và
cộng chung hai con số của người Pháp và
Mỹ, ta có 800.786 người di cư. Nhưng nếu
trừ ra số quân nhân Pháp Việt và thường
dân Pháp cộng chung là 200.000 người.
Lấy 800.786 người di cư trừ số thường
dân Pháp và quân nhân, chúng ta vỏn vẹn
c̣n 600.000 người di cư. Vậy mà phần lớn
các tài liệu dẫn chứng ở trên đều cho
thấy số giáo dân di cư là khoảng 700.000
người. Nếu chấp nhận con số người di cư
của Hải quân Hoa Kỳ đưa ra th́ con số
giáo dân di cư không thể quá con số
300.000 người được.
Ngoài các trại di cư lớn mà con số lên
đến vài chục ngàn người... Các trại c̣n
lại hơn trăm trại lẫn lộn các tôn giáo
cũng có, mỗi trại từ 2000 người đến 5, 6
ngàn người là nhiều rồi.
V́ vậy, căn cứ vào số người Thiên Chúa
giáo định cư tại các trại th́ con số
khoảng chừng
300.000
là con số tương đối xác thực nhất.
Cho dù
không làm cách nào đạt được một con số
thật chính xác và khả dĩ được mọi người
được chấp nhận th́ cái tiếng là đa số
người di cư theo đạo công giáo cũng là
một điều đáng suy nghĩ rồi.
Và đứng về mặt ư thức hệ th́ hệ số tôn
giáo thật sự không mấy quan trọng trong
tầm nh́n lịch sử trong việc đấu tranh
loại trừ cộng sản ra khỏi con đường mà
Việt Nam đang phải đi tới sau này.
Di cư vào được miền Nam đă là một kỳ
công đối với mỗi người di cư. Nhưng vấn
đề trước mắt là làm sao ổn định được đời
sống, bảo đảm tương lai cho chính ḿnh
và con cái ḿnh.
Tương lai đang chờ đón những người mới
tới ở giai đoạn định cư sau đây: Đă có
quyết tâm ra đi, người di cư miền Bắc
c̣n có quyết tâm xây dựng một đời sống
mới ngay từ những ngày khởi đầu định cư.
Nhờ đó sau này con số chưa tới một triệu
người di cư đă làm thay đổi bộ mặt dân
miền Nam về mọi phương diện: từ văn hóa
đến giáo dục, xă hội và kinh tế và quân
đội. Ở mặt nào, h́nh như họ cũng có phần
trổi bật lên và điều đó có tác dụng thúc
đẩy người dân miền Nam nói chung cùng
tiến lên trong bối cảnh đối đầu Nam Bắc.
Nhưng đă hẳn cũng có những mâu thuẫn,
những clash về dị biệt đời sống không
tránh khỏi.
Giai đoạn định cư
Có lẽ đây là giai đoạn chính có sự trực
tiếp chỉ đạo của chính phủ VNCH mà cả
người Pháp hay người Mỹ đều không thể
trực tiếp nhúng tay vào.
Ngày 04/08/1954 là ngày quyết định thiết
lập một cầu hàng không chở người di cư
từ miền Bắc vào miền Nam mà tổng số là
đă có hơn 200.000 được không vận từ Bắc
vào Nam. Con số thật không nhỏ.
Tiếp theo sau đó, ngày 09/08/1954, chính
quyền miền Nam do thủ tướng Ngô Đ́nh
Diệm cầm đầu đă cho thiết lập một phủ
Tổng Ủy di cư, phụ trách giúp đồng bào
tỵ nạn theo NĐ 111TTP-VP.
Ông Nguyễn Văn Thoại làm Tổng Ủy trưởng
di cư, phụ tá là kỹ sư Đinh Quang Chiêu.
Mỗi ngày có khoảng 50-70 chuyến bay từ
miền Bắc vào miền Nam, đem theo khoảng
1500 dân di cư mỗi ngày.
Đấy là cầu không vận lớn nhất chưa từng
có để chở người di cư từ miền Bắc vào
miền Nam.
Ngày 17/08/1954, có buổi họp giữa ông
Thoại và các viên chức Pháp và Mỹ. Về
phía Pháp có tướng Ely, Jean Gambiez (cố
vấn cho ông Nguyễn Văn Thoại). Về phía
Mỹ có tướng O’Daniel và đô đốc Sabin,
thông qua cơ quan MAAG và STEM. Đại
tướng O’Daniel đă chỉ định đại tá
Rolland Hamelin, đại diện ông để làm
việc với Hải quân Mỹ.
Kết quả là phía người Pháp cung cấp 30
xe vận tải để chở người di cư từ bến tầu
đến các trại tạm trú. Phía chính quyền
Việt Nam cung cấp 100 xe vận tải trong
việc chuyên chở này. (Trích OPTF, trang
97)
Những người di cư đầu tiên được chở đến
các trại tiếp cư rải rác khắp Sài G̣n.
Có 10 trung tâm tiếp cư chính là: Phú
Thọ, Xuân Trường (Thủ Đức), Nhị Thiên
Đường, B́nh Đông 1, B́nh Đông 2, B́nh
Đông 3, Bảo Hưng Thái, Rạch Rừa, B́nh
Trị Đông và B́nh Thới. Ngoài ra c̣n có
những trung tâm tiếp cư lẻ tẻ như Bệnh
viện B́nh Dân, Nhà Kiếng, Tân Sơn Nhất,
Dạ Lữ Viện, Rạch Dừa và các trường học ở
Sài G̣n, Chợ Lớn, Gia Định, Thủ Đầu Một
hay ở G̣ Vấp như các trường Tôn Thọ
Tường, Nguyễn Tấn Nghiệm, Pétrus Kư, Cây-
Gỗ lớn, Cây-Gỗ nhỏ, Đỗ Hữu Phương, Phú
Thọ, Đakao, Khánh Hội và các trạm cứu
hỏa đường Trần Hưng Đạo, tỉnh Gia Định
và trại tiếp cư Ḥa Khánh ở Chợ Lớn v.v…
Các thành phần như sinh viên, học sinh,
nhất là phái nữ th́ được ưu tiên tạm trú
tại trường Gia Long, trường Petrus Kư và
2000 người tạm trú tại các trường học ở
Gia Định v́ lúc đó các trường đang nghỉ
hè.
Nhân dịp này, nhắc lại các nữ sinh, hoặc
nữ sinh viên nào có dịp đến tạm trú ở
trường Gia Long nhớ cho rằng đă có sự
cứu trợ của cơ quan The Intertionnal
Rescue Committee đến giúp quư bà cho
những nhu cầu thiết yếu (in the form of
living essentials) như tặng quạt máy,
đèn bàn học, thuốc diệt sâu bọ, bàn ủi,
quần áo và xà bông, v.v… Chưa kể mở các
lớp huấn nghệ xă hội như về sản khoa,
chăm sóc trẻ con v.v. (trích tài liệu
International Assistance to Refugees,
The Junior Chambre International. J.C.I
or JAYCEE).
Chắc nhiều người di cư không quên được
những ngày đầu tiên ở trại di cư Phú Thọ.

Những ngày đầu tiên ở trại (lều) tạm cư
Nguồn: National Geographic, số tháng Sáu,
1955
Xin để vài ḍng hồi ức lại trại tạm cư
này. Trại di cư Phú Thọ c̣n được gọi là
Phú Thọ “lều”, v́ ở trong các lều. Các
lều này được chuyên chở từ Nhật về trong
các kho dự trữ của chính phủ Mỹ ngày
31/07/1954. Đợt đầu tiên là 2000 căn lều
bạt đă tới Sài G̣n và trù liệu chỗ trú
ẩn cho 40.000 dân di cư. Tức khoảng 4
gia đ́nh với trung b́nh 4 người trong
một nhà lều.
Phủ Tổng Uỷ di cư đă phải cử về đây hằng
trăm nhân viên để phục vụ đồng bào mà
trung b́nh có hai ba ngàn người mỗi ngày
được chở đi định cư. Nhưng ngay tức khắc
có hai ba ngàn người khác được gửi tới.
Trại tiếp cư Phú Thọ lều cũng như trại
Tân Sơn Nhất là một trong vài trại đông
đảo và tấp nập nhất người đến kẻ đi.
Trại Phú Thọ bao gồm trung b́nh khoảng
16 ngàn dân di cư và 28 ngàn quân nhân.
Trại di cư Phú Thọ là một trong những
trại di cư kiểu mẫu, tổ chức quy củ,
sạch sẽ. Ai xả rác hoặc ở dơ dáy th́ bị
phạt. Trại được tổ chức có các cửa hàng
cắt tóc, tiệm thợ may, tiệm thuốc tây,
tiệm bán guốc, tiệm bán các đồ câu cá,
tiệm bán nước giải khát... Dân trong
trại chỉ phàn nàn, v́ họ chưa có một nhà
nguyện, v́ phần đông đều là người theo
đạo. Sau này, trại di cư Phú Thọ trở
thành kiểu mẫu cho các trại tạm cư.
Chẳng biết đă có ai c̣n nhớ một câu viết
bằng phấn trên mặt vải một lều tị nạn
một câu như sau: “Dân Sài G̣n hân
hoan chào mừng những người anh em miền
Bắc”.
Ngày 21/08/1954, giáo sư Ngô Ngọc Đối,
Tổng ủy trưởng Tổng Ủy di cư, bằng mọi
cách giải quyết trường hợp các người di
cư tạm trú trong các trường và làm thế
nào đến hạn chót là 30 tháng 09, phải
trả lại các trường học cho dịp khai
trường đầu niên học.
Chi phí dự trù cho việc tiếp cư này là
1.500.000.000, một tỷ rưỡi tiền Việt Nam
trong đó có các chi phí như tiền ăn uống
trong 3 tháng cho mỗi người di cư, 12
đồng/một người, 367.000.000. Chi phí cho
việc xây cất một trăm ngàn căn nhà, với
giá 6000 đồng/căn, 600.000.000. Có lẽ,
đây là chi phí tốn kém nhất. Chi phí cho
việc mua dụng cụ làm đồng như dạo liềm,
cuốc v.v... với số tiền 377.800.000 đồng.
(Trích OPTF, trang 29)
Ngày 4/12/1954, một lần nữa, giáo sư Ngô
Ngọc Đối từ chức Tổng ủy trưởng Tổng Ủy
di cư và bác sĩ thú y Phạm Văn Huyến lên
thay. Ông phụ tá Bùi Văn Lương thay chỗ
phụ tá Tổng ủy trưởng Tổng Ủy di cư do
bác sĩ Nguyễn Lưu Viên đảm nhiệm.
Số người di cư vào Nam cần định
cư
Theo tài liệu chính thức của phủ Tổng Ủy
di cư th́ tính đến ngày 30/10/1955 có
tất cả là 887.890 người đă được di cư
vào miền Nam. Trong đó cần định cư
596.031 người. C̣n lại 140.000 sống rải
rác khắp nơi và 125.393 là gia đ́nh các
quân nhân. Để định cư con số hơn nửa
triệu người th́ chính quyền đă cho thiết
lập được 156 trại ở Nam Phần, 65 trại ở
Trung Phần và 34 trại ở vùng Cao Nguyên.
Cứ giả dụ mỗi trại định cư có số trung
b́nh là 2000 người, chúng ta sẽ dễ dàng
nhận thấy sẽ có nửa triệu người được
định cư trong các chương tŕnh tái định
cư của chính phủ.
Hơn nửa triệu người cần được tái định cư,
phải lo cho họ có nơi ăn chốn ở, có công
ăn việc làm tự túc, có trường học cho
trẻ em, có trạm y tế cho người ốm đau và
nhất là nơi thờ phượng tôn giáo. Ở chỗ
nào có dân di cư th́ ở đấy có chùa chiền,
nhà thờ có mái chuông nhà thờ, thánh giá
có mặt. Nhất là các khu di cư công giáo.
Mỗi xứ là một nhà thờ. Nhà thờ nhan nhản
khi chúng ta có dịp đi qua các khu Hố
Nai, Gia Kiệm.
Niềm tin mọc lên như nấm.
Kể ra lối tuyên truyền Chúa (trong ḷng
người di cư) vào Nam cũng có phần sự
thật.
Cái tín ngưỡng ấy, cái niềm tin ấy,
thuần chất và đầy sức mạnh bên trong với
h́nh ảnh của một thanh niên có đạo, sau
chuyến vượt thoát gian nan và mệt nhọc,
anh nằm lăn ra đất ở trại tiếp cư ngủ mê
man, nhưng trên tay, anh không quên nắm
chặt cây thánh giá để trước ngực.
Cái h́nh ảnh ấy của người thanh niên hay
h́nh ảnh những người dân quê, nét mặt
khô cằn, chắp tay nguyện cầu vẫn ánh lên
một ánh mắt hy vọng và cương quyết.
Đó là những h́nh ảnh tiêu biểu của cuộc
di cư này.
Nó không mang theo tiền bạc của cải,
nhưng một niềm tin, một sức mạnh tinh
thần, một quyết tâm vững bền không ǵ
lay chuyển nổi.
Vậy mà nay đă có thể phai nhạt và chỉ
c̣n là h́nh ảnh vang bóng một thời của
thời kỳ đă qua không trở lại.
Nay c̣n đâu và c̣n ǵ? Hoài niệm và nuối
tiếc. Điều ǵ đă cướp đi tất cả những
t́nh cảm tôn giáo tốt đẹp ấy? Phải chăng
con người bị bứng ra khỏi gốc rễ th́ sẽ
không c̣n là con người khi trước nữa? Và
một lần nữa sau 1975, con người miền Nam
bị bật gốc và lần này th́ chúng ta tự
chôn, tự xóa tất cả những ǵ c̣n lại
mang theo vào đời cách đây 5, 6 chục năm.
Những địa điểm được chọn
lựa để tái định cư.
(Resettlement)

Có rất nhiều trại định cư đă thành công,
đă trở thành nơi ăn chốn ở vĩnh viễn cho
người di cư
Miền Nam đúng là miền đất hứa. Chỗ nào
cũng có thể dung nạp người di cư. Biên
Ḥa hứa hẹn cho 100.000 người di cư, Thủ
Đầu Một 25 ngàn, Bà Rịa cũng có khả năng
cho 100.00 ngàn người. Riêng thị xă Vũng
Tàu chỉ có thể dùng làm trại tiếp cư
thôi. Nhưng dọc con đường cách Vũng Tàu
độ 10 km sau này có nhiều trại dành cho
dân thuyền chài như Rạch Dừa v.v. Long
Xuyên 15 ngàn người. Tây Ninh qua hội
thánh Cao Đài tin tưởng có thể dung nạp
100.000 người. Cần Thơ dành 25 ngàn mẫu
đất cho người di cư. Chưa kể các tỉnh
nhỏ như Bạc Liêu, Trà Vinh, nhất là Rạch
Giá.
Trong bấy nhiêu tỉnh, Biên Ḥa hứa hẹn
nhiều nhất và là một trong những trung
tâm định cư lớn với khả năng 100.000
ngàn dân di cư. Mặc dầu đất canh tác
không nhiều và không thuận lợn cho nông
nghiệp. Ngay đợt di cư đầu tiên, Biên
Ḥa đă tràn ngập với khoảng 30 chục ngàn
dân đến định cư.
Cho đến cuối tháng 10/1954 đă có 135.000
dân di cư được đi định cư tại 37 trại
định cư mới được thành lập ở 11 tỉnh
phía Nam và khoảng 70.000 dân di cư được
định cư tại Trung Phần như Huế 27.000
người, Đà Nẵng 11.000 người, Khánh Ḥa,
NhaTrang 11.397 người, Quảng Trị 7564
người. (Trích OPTF, trang 150)
Sau này, tôi đi t́m mỏi mắt cũng không
thấy một trại định cư nào nằm trong
thành phố Huế.
Chi phí cho mỗi đầu người di cư
Cơ quan STEM ước định, để có thể cung
cấp đầy đủ cho người di cư cho đến khi
họ tự túc được th́ số tiền tài trợ phải
bỏ ra là ở phía Nam là: 1.205.000.000 tỉ
đồng. Chưa kể khoảng một tỉ đồng cho các
tỉnh miền Trung. (Trích tóm lược trong
OPTF, trang 149)
Ngày 02/02/1955, Hoa Kỳ đă hoàn tất
chương tŕnh viện trợ để ổn định 500.000
người di cư. Ngày 28/2/1955, Hoa Kỳ tháo
khoán 18 triệu Mỹ Kim giao trực tiếp cho
Việt Nam mà không qua tay Pháp.
Ngày 1/7/1955, ngân khoản mà Hoa Kỳ đă
trợ cấp cho người di cư là 1 tỉ 58 triệu.
Trong đó có 480 triệu để trợ cấp định cư,
300 triệu để trợ cấp cho người định cư
làm nhà.
Ngày 1/7/1955, đại sứ Mỹ Rheinarat trao
cho Thủ tướng Ngô Định Diệm ngân phiếu
11 triệu Mỹ Kim của dân chúng Hoa Kỳ
tặng cho người di cư. Không quên là
trước đó tháng 12/1954, tướng Lawton
Collins đă trao một chi phiếu 28.571.428
triệu Mỹ Kim. (Trích B́nh Giả, quê Hai,
Đ́nh Quang)
Cũng cần ghi nhận là những số tiền lớn
như thế đă được trao cho Thủ tướng Ngô
Đ́nh Diệm, sau đó được phân phối cho các
trại tị nạn về phân phối lại. Cho đến
nay, ít có dư luận đồn thổi về vấn đề
tham nhũng về những khoản chi tiêu này,
ngay ở các cấp dịa phương cũng không mấy
có dư luận không tốt về các cấp lănh đạo
tôn giáo đạo cũng như đời.
Đó là một điểm son cho việc định cư gần
một triệu người tỵ nạn. Vâng đó là một
điểm son.
Khi tới trại tạm cư, mỗi người được trợ
cấp 12 đồng/ngày cho người lớn và 6 đồng/
ngày cho trẻ em.
Nhưng bắt đầu từ 11/3/1955 th́ ngay khi
tầu cập bến được cấp 800 đồng mỗi người,
cấp một lần một và sau đó được đưa tới
các trại định cư. Khi tới trại định cư
được cấp 3.000 đồng để tự túc dựng lấy
một căn nhà, chia làm ba kỳ để mua vật
liệu cất nhà như tre, nứa. Chưa kể được
cấp phát giường chiếu, chăn mùng, cấp
phát dụng cụ làm ruộng, hạt giống, phân
hóa học để mưu sinh. (Tài liệu Phủ Tổng
Ủy di cư, trích lại trong B́nh Giả,
quê Hai, tác giả Đ́nh Quang).
Bên cạnh đó, có nhiều cơ quan từ thiện
như CARE cung cấp 25 ngàn thùng quần áo,
giầy dép v.v. Công việc này xét ra không
thực tế, v́ quần áo thường quá rộng, mầu
sắc sặc sỡ, áo phần lớn quần áo ấm dành
cho mùa đông, giày dép quá khổ như những
chiếc thuyền... Khi được phân phối đến
tay mỗi gia đ́nh đă gây những trận cười
bể bụng cho người tị nạn.
Cơ quan xă hội công giáo Hoa Kỳ, The
National Catholic Welfare Conference (NCWC)
với 400.000 cân (Anh) sữa bột và sau đó
c̣n gửi thêm một số lượng khổng lồ là
1.000.000 pounds sữa bột, 900.000 pounds
dầu ăn, bơ và phó mát. Thật là một phí
phạm v́ có nhiều gia đ́nh không ăn quen
sữa bột đă dùng cho heo ăn. Cho đến năm
1960, khi c̣n là sinh viên nghèo, tôi
c̣n mua được những thùng mỡ Shortening (
dùng thay bơ, ăn với bánh ḿ mỗi buổi
sáng.
Bên cạnh cơ quan xă hội công giáo Hoa Kỳ,
c̣n có cơ quan The Catholic Relief
Service đă cứu trợ 1.100 tấn quần áo và
thuốc men. 50 máy may và trường học dạy
may, giúp xây cất 69 nhà thờ, giúp xây
dựng 81 Hợp tác xă, giúp xây một nhà
thương ở Biên Ḥa với 250 giường bệnh,
giúp xây dựng các trại mồ côi ở ở Thủ
Đức, G̣ Vấp, Ban Mê Thuột, giúp xây dựng
nhà thương cho người cùi ỏ Di Linh, giúp
xây dựng 4 nhà máy làm gạch ở Phước Lư,
Biên Ḥa, Tây Ninh và Đà Lạt.
Phải kể thêm các cơ quan thiện nguyện
khác như The Phiippine Jaycees, UNICEFF,
Rotary club và Jaycee, The American
Women Association, Operation
Brotherhood, Hội cứu trợ công giáo Pháp
và Đức do giám mục Rhodain và Daniels
đại diện v.v… (trích tài liệu
International Assistance To Refugees)
Rất nhiều bàn tay đă dơ ra để giúp đỡ
người di cư trong lúc đầu đến lập nghiệp
ở miền Nam.
Về một vài trại định cư tiêu
biểu
Thật ra có rất nhiều trại định cư đă
thành công, đă trở thành nơi ăn chốn ở
vĩnh viễn cho người di cư như các trại ở
Di Linh, Bến Tre, Xuân Lộc, Ban Mê Thuột,
Đà Lạt và Biên Ḥa. Sự thành công đó
phần lớn dựa vào đất đai trồng trọt, đất
tốt, mầu mỡ có thể làm ruộng hoặc trồng
rau hoặc trồng cây ăn trái, trồng cây kỹ
nghệ như cà phê xen lẫn đậu phọng ở Ban
Mê Thuột, trồng cây sợi Ki-náp, trồng
cây bông vải, nuôi ḅ tại Quảng Nhiêu …
Trừ trường hợp ở Biên Ḥa, diện tích
trồng trọt thu hẹp lại không phải đất để
canh tác. Dân di cư tụ về đông chỉ v́
mấy linh mục họ đạo Biên Ḥa cũng như
ông đầu tỉnh Biên Ḥa sẵn sàng dành 55
ngàn mẫu tây đất làm trạm dừng chân cho
người di cư. Thế là giám mục Phạm Ngọc
Chi, phụ trách người di cư cùng với Đức
ông Harnett, phụ trách cơ quan xă hội
Thiên Chúa giáo Hoa Kỳ ghé thăm Biên Ḥa.
Mảnh đất ấy gần một con sông rộng và nằm
cạnh một rừng tre vốn xưa là vùng đất
của Việt Minh. Diện tích rộng đến có thể
chứa được 25 ngàn gia đ́nh, nghĩa là
khoảng trên dưới 100.000 dân tị nạn.
Sự tụ tập đông đảo dân di cư bắt đầu chỉ
là như vậy. Dù không thuận lợi cho việc
trồng trọt, nhưng nó có thuận lợi khác
như gần trung tâm Sài G̣n, con cái có
chỗ ăn học đàng hoàng, thanh niên có thể
kiếm công ăn việc làm ở Sài G̣n hoặc
ngay tại Biên Ḥa, v́ có căn cứ quân
đoàn III ở đó. Sau này lại có thêm căn
cứ Long B́nh của Mỹ.
An ninh rất là tốt mà người ta bàn tán
đến một “ṿng đai chiến lược”
của các trại định cư như Hố Nai, Dốc Mơ,
Gia Kiệm. Dốc Mơ là nơi tập trung rất
nhiều dân cư Phát Diệm, cách Sài G̣n 40
dặm mà chỗ nào cũng là rừng tre mọc khắp
nơi. Tre sẵn đó để người di cư làm nhà.
Cứ mỗi ngày có thêm 100 căn nhà mới được
dựng lên. Và chỉ trong hai tháng thôi,
đă có một trường tiểu học và một ngôi
chợ mọc lên.

Dốc Mơ: cứ mỗi ngày có thêm 100 căn nhà
mới được dựng lên.
Nguồn: National Geographic, số tháng Sáu,
1955 (trang 872
Chỉ sau hai tuần lễ đă có người được vào
ở trong những căn nhà mới cất xong và cứ
như thế, hằng 2, 3 ngàn người chờ đến
lượt ḿnh có nhà ở.
Ai cũng đến lượt và ai cũng sẽ có một
chỗ cư trú chờ đón một cuộc đời mới mà
khi bước lên tầu há mồm có thể họ đă
không mường tượng ra được.
Cứ như một phép lạ Ai Cập, chỉ thiếu một
ông Moi Sen cầm gậy chỉ huy lên đường.
Có thể có một ông Moi Sen, nhưng người
đời đă mau chóng quên lăng ông. Cho dù
có thiếu một ông Moi Sen đi nữa, nhưng
lại có nhiều những ông Trùm, ông Quản,
ông Chánh Trương, ông Lư nay đứng ra lo
việc làng xứ.
Cứ như thế mà lớn lên. Cả một “làn sóng
di cư” chạy cộng sản lớn lên cùng với
đất nước miền Nam. Miền đất hứa, rộng
lượng và khoan dung.
Tương lai như mời mọc chờ đón. Tôi nghĩ
rằng, nay những người di cư đó, có thể
có người đă không c̣n nữa, có người đă
phải chống gậy, ngồi nghĩ lại đời ḿnh...
th́ đấy là thời đẹp nhất đời.
Tôi viết bài này cho họ và cho tôi.
Đi đến đâu, dù là ở vùng đất mới này, dù
chưa được ổn định, chân ướt chân ráo, dù
chưa lo kịp vấn đề cơm áo, họ đă nghĩ
ngay đến việc phải có trường học cho con
em họ.
Lo cho tương lai trước đă rồi mọi việc
tính sau. Thật đáng quư.
Mà phải là một trường học đàng hoàng,
khang trang và xây cất vững chăi. Cơ
quan FOA đă gửi sang những máy làm gạch
để ngày đêm dân di cư sản xuất lấy gạch
xây trường học. Cho nên, không lạ ǵ và
không ở đâu, ở bất cứ tỉnh nào mà việc
học Trung học ở các lớp thi tú tài 1 và
2 nhiều như ở Biên Ḥa và vùng Hố Nai,
Gia Kiệm, Dốc Mơ. Chỉ riêng trường tư
thục Khiết Tâm của linh mục Yến có đến 8
lớp đệ nhất mà phần không nhỏ học sinh
là con cái các gia đ́nh túa ra từ các
trại định cư. Các trường tư nhỏ khác
cũng có một vài lớp đệ nhất như thế.
Về những thành tích đáng kể về mở mang
trường học ở những năm đầu chế độ đệ
nhất công ḥa. Xin đưa ra một vài con số
tiêu biểu.
– Về tiểu học: Năm 1954, toàn quốc chỉ
có 1958 trường với 7000 lớp học.
Năm1959-1960, ta có 4418 trường với
29.000 lớp học và 1.001.757 học sinh.
Như vậy trong khoảng 6 năm, ta xây cất
thêm 2820 trường với 13.100 lớp học.
– Về trung học: Năm 1954, trong toàn các
tỉnh phía Nam, ta chỉ có 29 trường trung
học với 20.999 học sinh. Đến năm 1960,
đă có 69 trường với 62.130 học sinh. (Trích
Hồ Đắc Huân, 6 năm hoạt động của
chính phủ, từ 651-655)
– Có thể nói đến một sự “ bùng nổ” về
giáo dục với 2379 giáo sư Trung Học và
hơn 20 chục ngàn giáo viên tiểu học. Sau
đó mười mấy năm dài, chúng ta không c̣n
thấy những điều như thế nữa.
Phần tôi, nghĩ đến điều này, nghĩ đến
hàng hàng lớp lớp thanh niên trẻ, hàng
vạn người, không hơn thế nữa đă đi qua
đời tôi mà tôi đă mời mọc họ vào ngôi
trường của Socrate. Và sáng nay, vừa
thức dậy, tôi nhận được một thư nhỏ từ
một người thân thương nhất trong đám họ
nhắc lại một đoạn trong bài 20 năm
tuổi trẻ miền Nam của tôi. Tôi đă
viết như thế này, “Tôi đă không biết
bao lần quên lối về bởi chiếc áo dài con
gái NhaTrang, Huế, Biên Ḥa, Sài G̣n để
rồi hôm sau vào lớp nh́n em ngại ngần”.
Sau trường học, sau chợ, một chẩn y viện
là đến nhà thờ. Ba cái nền đó làm nên
cái khung h́nh người tị nạn Thiên Chúa
giáo. Trường học giải quyết vấn đề kiến
thức, chợ cho nhu cầu giao thương, buôn
bán và nhà thờ cho nhu cầu tâm linh.
Chỉ c̣n thiếu một điều: Nghĩa địa cho
người chết. Nhưng đă hẳn là thể nào cũng
phải có.
Trường hợp
trại di cư ở Củ Chi

Dù chưa lo kịp vấn đề cơm áo, họ đă nghĩ
ngay đến việc phải có trường học cho con
em họ. Nguồn: National Geographic, số
tháng Sáu, 1955
Nhưng có một vài trại đinh cư như các
trại ở Củ Chi mà con số người di cư lúc
đầu lên đến 6, 7 ngàn người. Trại này do
người Pháp đỡ đầu, được hưởng nhiều
quyền lợi từ hai phía, từ chính quyền
đến người Pháp giúp ủi đất, dựng nền nhà,
đào giếng, xây dựng trường học, nhà
thương, nhà thờ do tiền quyên được của
nhật báo Le Figaro ở bên Paris tài trợ.
Từng dăy nhà nền đắp cao, tươm tất, ngay
hàng thẳng lối, chia ra khu một, khu hai,
khu ba, khu bốn và khu năm. Những trại
thiếu cầy trồng, thiếu cây trái, thiếu
vườn tược như vùng đất hoang dại. Cỏ chỉ
mọc lởm chởm v́ nền đất cứng như xi măng
với một mầu trắng xóa. Nhà thờ được xây
cất bằng gạch đâu ra đấy. Mái lợp tôn.
Trường học có đến cả các lớp bậc trung
học mà từ trước đến giờ dân địa phương
không hề có. Con cái các gia đ́nh địa
phương muốn đi học không c̣n cách nào
khác ngoài đạp xe đến trại định cư ghi
tên học. Chắc không khỏi có nỗi bất b́nh.
Nhưng nào phải lỗi của chính quyền. T́nh
thế nó tạo ra như thế.
Vậy mà sau này trại mỗi ngày mỗi ít
người đi, v́ nhiều người đi t́m chỗ lập
nghiệp khác. V́ là vùng đất phèn, nước
đục lờ nhờ. Đào giếng độ nửa mét sâu là
đụng đất đỏ với đá đỏ. Ai đă chọn vùng
đất này đă không nghĩ tới điều đó. Dân
di cư chỉ có thể trồng khoai ḿ, hay củ
sắn và trồng mía. Người ta không thể chỉ
ăn khoai ḿ mà sống được.
Họ đành bỏ mà đi chỗ khác.
Củ Chi chỉ là một trường hợp. Bởi v́ sau
này có một số trại định cư đă bị giải
tán và đưa người di cư đi nơi khác. Đó
là các trại Vĩnh Phát, Trà Cổ, Xuân Ninh,
Cầu Vang, G̣ Chai, Rạch Rẽ, Lương Ḥa
Trung, Lương Ḥa Thượng, Vĩnh Phát, Du
Sinh, Cầu Đất v.v…
Trường hợp trại di cư B́nh Giả
Trại B́nh Giả là do người di cư Thiên
Chúa giáo địa phận Vinh mà tổng số hiện
nay là trên 10.000 người di cư vào Nam
đến đó lập nghiệp. Miền đất Đông Nam bộ
đă gắn liền với số phận của hơn 10 ngàn
giáo dân Nghệ Tĩnh từ khắp nơi đổ về. Nó
có tất cả các yếu tố để trở thành một
trại kiểu mẫu lư tưởng về tổ chức, về
nếp sống đạo, về tinh thần đoàn kết, đùm
bọc, về tổ chức giáo xứ với đầy đủ các
hội đoàn, các ban ngành, được sắp đặt,
bầu cử quy mô và chặt chẽ.
Cả một truyền thống sống đạo hăng say và
nhiệt thành đem theo. Người dân có đạo
vùng Thanh Nghệ Tĩnh theo đạo là theo
lấy được, sống trọn vẹn. Thời hạn 300
ngày sắp hết mà dân chúng trong vùng bị
cộng sản che đậy vẫn không hay biết ǵ.
Đến khi biết được th́ dấy lên phong trào
đ̣i di cư vào Nam, rồi cộng sản phải
nhượng bộ. Thế là đồng bào gồng gánh,
thuê xe cộ để vượt qua cầu Bến Hải, vĩ
tuyến 17 vào Nam.
Sống trong bầu khí đạo hạnh ấy th́ không
ở đâu hơn được.
Nếp nhà, nếp đạo vẫn y như cũ.
Nhưng mặc dầu nó tồn tại cho đến 1975 và
sau này. Đă hẳn, người dân trong giáo xứ
phải sống chật vật lắm mà chỉ v́ yêu quư
nhau cùng một cội nguồn mà nhiều người
cứ nấn ná ở lại.
Việc chọn lựa địa điểm định cư này gồm
những nhân vật nổi tiếng như Phó Tổng Ủy
trưởng, ông Mai Văn Hàm, ban đại diện di
cư Vinh: các linh mục Khai, Đông, Kiệu,
ban đại diện giáo dân như: các ông Đinh
Thế Lựu, Nguyễn Báu, Nguyễn Xuân Hiền,
Nguyễn Trọng Hiếu, Nguyễn Trọng Thanh và
Hoàng Công Phu.
Các đại diện dân chúng đă đi thăm Ban Mê
Thuột và một số nơi, nhưng không ưng chỗ
nào cả và họ quyết định chọn B́nh Giả.
Trong khi đó, những đồng bào Thanh Nghệ
Tĩnh may mắn hơn đă chọn Ban Mê Thuột,
v́ đó là nơi đắc địa. Khí hậu và đất đai
cho cây trồng th́ không ở đâu tốt hơn
được.
Khi chọn B́nh Giả th́ cũng nhờ các
chuyên viên về thử mẫu đất, chuyên viên
về đo đạc, lập họa đồ cẩn thận lắm.
Nhưng B́nh Giả vốn là vùng đất dữ, hoang
dă, khí hậu khắc nghiệt sinh ra lắm bệnh
thời khí như thương hàn, sốt rét, kiết
lỵ, tử phúc trung (con chết trong bụng
mẹ). Dĩ nhiên, bấy giờ người ta biết
rằng những bệnh như thế chưa chắc đă do
khí hậu mà sinh ra. Và v́ vậy, nhiều
người đă dời đi nơi khác và trại nào
cũng có người bỏ đi. Nhất là sau 1963,
B́nh Giả phải đối đầu trực diện với cộng
sản, nhiều gia đ́nh có điều kiện một lần
nữa bỏ ra đi…
B́nh Giả là một tấm gương sáng của người
di cư từ Bắc vào Nam. Nhưng cũng là nơi
mà số phận đă dành cho quá nhiều cay
nghiệt. (Trích B́nh Giả, Quê Hai
của tác giả Đ́nh Quang)
Trại định cư tiêu biểu: Cái Sắn
Cái Sắn hội đủ các điều kiện về đất đai
ph́ nhiêu, lư tưởng của một trại định cư
kiểu mẫu và trù phú.Thủ tướng Ngô Đ́nh
Diệm gọi vùng đất này là để “dành
cho con người, để nối liền Long Xuyên
với Rạch Giá và qua Rạch Giá, mảnh đất
đem lại yên hàn và trật tự cho vùng này”.
C̣n đối với người Mỹ th́ như nhận xét
sau đây trong Passing the Torch:
“Cái Sắn was hailed by the US as a
symbol of South Viet Nam‘s determination
to shelter people who linked their
future with that of the free
government”. (Trích Passing the
Torch, trang 141) Cái Sắn được chính
quyền Mỹ chào đón như biểu tượng về ḷng
quyết tâm của miền Nam Việt Nam để che
chở những ai đặt tương lai của họ vào
tương lai của một chính quyền tự do”.
Nha định cư đă đưa tất cả 42.145 đồng
bào tới định cư ở Cái Sắn, gồm 15 trại
định cư và 8325 căn nhà.
Giải đất h́nh chữ nhật, rộng đến 270.000
ngàn mẫu tây, chiều dài kênh Cái Sắn là
25 dặm, chiều ngang 16 dặm, được tưới
tiêu bằng con kênh Rạch Sỏi, chạy dọc
theo trại và đổ ra ḍng sông Bassac.
Kênh đó nay được gọi là kênh Cái Sắn,
một trong những vùng đất lư tưởng nhất
cho việc định cư. Phía Bắc có 14 con
kênh đào, phía Nam có 3 kênh. Thêm vào
đó là 13 kênh nhỏ với chiều dài tổng
cộng là 159 cây số. Những con kênh này,
bề ngang rộng 6 mét và sâu 4 mét, chiều
sâu ở giữa kênh và bờ kênh th́ sâu 1 mét
50. Bên mỗi bờ kênh, sâu vào 20 mét là
những căn nhà ở của dân chúng. Đất đào ở
các con kênh th́ dùng để đắp nền nhà.
Việc đào kênh đều làm bằng tay mà trung
b́nh một người đào được khoảng 7mét khối/một
ngày.
Các kênh được gọi là kênh 1, kênh 2,
kênh 3, kênh 4, kênh 5 rồi kênh Tân Hiệp
và sau đó tiếp theo là các kênh A, B, C,
D, E, F, G, và H. Công chung tất cả các
kênh gồm 8.086 lô đất. Mỗi lô đất dành
cho một gia đ́nh là 3 mẫu tây vừa là nhà
ở và đất để trồng trọt. Mỗi lô đất rộng
30 mét tây chiều ngang và 1000 mét chiều
dài.
Nhưng để đất có thể trồng trọt được, cơ
quan USOM đă dùng 110 máy ủi đất để cào
sới đất, sau đó dùng máy cầy san đất.
Tính chung là 1.800.000 mét đất đă được
ủi và cào xới.
Chính quyền có cấp phát cho các gia đ́nh
trâu để cầy ruộng. Trâu mua từ Thái Lan
về. Đă có 2148 con trâu đă được cấp phát
cho các trại di cư ở Nam Phần và 40 con
ở Trung Phần.
Riêng ở Cái Sắn, cứ 4, 5 gia đ́nh chung
nhau một con trâu để cầy ruộng. Sau này,
nhiều người có tiền th́ có thể mỗi nhà
có một con trâu để lo việc cầy bừa ruộng.
Trên toàn thể các trại di cư, chính phủ
đă giúp đào được 5405 cái giếng và phân
phối khoảng 400 tấn phân bón. Đồng thời
phân phối khoảng 60 ngàn cuốc xẻng.
Chính phủ cũng cho nông dân đi định cư
vay một số tiền là 118.217.200 triệu
đồng.
Hầu hết diện tích 270.000 mẫu tây dành
cho người di cư và một phần dành cho
người dân địa phương chưa có nhà cửa.
Những cư dân địa phương, khoảng 20.000
ngàn người th́ được ở khu vực kênh Tân
Hiệp vốn đă có sẵn từ trước.
Chính phủ Hoa Kỳ c̣n cung cấp cho dân
định cư, lúc đầu là 50.000 người, dự trù
thêm 50.000 nữa, một số tiền là 400
triệu đồng cùng với tất cả các dụng cụ
nông nghiệp mà số tiền tính ra khoảng 1
triệu Mỹ kim.
Mùa gặt đầu tiên ở Cái Sắn đă thu về
được 4000 tấn gạo mà phần lớn từ mùa thu
hoạch “lúa xả, hay floating rice”.
Cái Sắn là một tiêu biểu cho sự thành
công của người di cư tị nạn cộng sản.
http://saigonecho.com/main/lichsuvn/chientranhvn/dicu1954/9604-Nh%C3%ACn%20l%E1%BA%A1i%20cu%E1%BB%99c%20di%20c%C6%B0%201954-1955%20(VI).html |