|

Kiều
Chinh, tháng 8, 2004
“Là
con út trong ba anh chị em, tôi được bố
thương nhất. Suốt thời niên thiếu, tôi
chi biết có bố. Bố tôi quyết định vào
Nam. Nhưng đêm trước ngày ra đi, anh tôi
bỏ nhà trốn ra khu theo phong trào thanh
niên cứu quốc. Anh Lân là con trai duy
nhất của bố, năm đó mới 20 tuổi. Sáng
hôm sau, chỉ c̣n hai bố con ra phi
trường Bạch Mai, Hà Nội. Hàng ngàn người
già trẻ lớn bé nằm ngồi la liệt dưới
nắng cháy, chờ đợi đển được lên máy bay
di cư vào Nam. Măi tới cuối ngày mới tới
lượt bố con tôi. Bố đẩy tôi lên máy bay
rồi bất ngờ nói: con vào Nam trước,
bố ở lại t́m anh Lân rồi sẽ vào sau.
Tôi la khóc cố nhào ra với bố, nhưng bị
đám đông xô lấn đẩy lui. Cửa máy bay
đóng xập xuống. Đó là lần cuối, tôi được
nh́n thấy bố.
Lần đầu xa bố, lần đầu xa nhà, lần đầu
đi máy bay. Tôi ngồi co rúm trên sàn máy
bay vận tải nhà binh Pháp, suốt chuyến
bay nôn oẹ khóc sướt mướt giữa đám người
chen chúc ngột ngạt... Tôi chờ bố từng
giờ. Hy vọng mỏng dần...Tôi đếm từng
ngày cho tới buổi phát thanh cuối cùng
của đài Pháp Á loan tin thời hạn 300
ngày đă hết...Tôi ̣a khóc. Bức màn tre
đă xập xuống, chia đôi đất nước ngăn
cách bố con tôi. Năm mươi năm sau cuộc
di cư đă qua. Bố tôi đă chết. Anh tôi đă
chết. Nhiều người di cư thời năm mươi
năm trước đă ra đi vĩnh viễn.Thế hệ tôi
cũng sắp ra đi. Xin thắp một nén nhang
cho những người quá cố. (Trích 50
năm Bắc Kỳ di cư 1954-2004, trang
82-83)

Nguyễn
Duy Chính
“Cho đến giờ phút này tôi vẫn không sao
hiểu được tại sao gia đ́nh tôi lại di cư
vào miền Nam. Mà nào có phải ra đi một
cách thoải mái, dễ dàng ǵ, trải qua
chín chết, một sống, ba bốn đợt mới dắt
díu nhau xuống Hải Pḥng… hôm đó, cha
tôi chở hai anh em trên xe đạp từ làng
lên Thạch Thất nói dối là đưa chúng tôi
sang làng Nủa ăn giỗ. Mẹ tôi và đứa em
út phải ở lại để cho người ta tin rằng
chúng tôi không có âm mưu trốn đi. Lên
Sơn Tây, chúng tôi lên xe về Hà Nội, có
chú tôi chờ sẵn, đợi những đợt sau ra
được để thu xếp cho gia đ́nh xuống Hải
Dương. Đầu năm 1955, một ít ngày trước
khi thời hạn di cư chấm dứt th́ mẹ tôi
ôm đứa em trai đi thoát. Gia đ́nh tôi
phải đi làm nhiều đợt nên mới lâu như
thế.
Chúng tôi lại bồng bế nhau xuống tầu há
mồm đưa ra tầu lớn đậu xa xa ngoài khơi.
Chiếc tầu đó là của nhà binh Pháp đi từ
bến Hải Pḥng đến bến Sài G̣n mất cả
thảy 3 ngày, hai đêm, sau đó có xe cam
nhông chở vào trại di cư Phú Thọ cạnh
trường đua, xế trường Bách Khoa ngày
nay…
Quả thực những người như gia đ́nh tôi
không đủ trí tuệ và kiến thức để bảo
rằng ra đi nhằm mục đích t́m tư do, hay
chọn lựa một chính nghĩa theo lằn ranh
Quốc Cộng. Chúng tôi quyết định hoàn
toàn do bản năng, theo linh tính như
những con thú đánh hơi thấy hiểm nguy,
đằng trước là sự sống, đằng sau là sự
chết. H́nh ảnh đó tôi lại thấy trên
khuôn mặt những người dân hoảng hốt di
tản năm 1975. (Trích 50 năm Bắc Kỳ
di cư, trang 69-70)
Đời tỵ nạn của
N.N.T
Cha tôi bị Việt Minh giết. Vâng, bị Việt
Minh giết. Anh tôi, v́ là người pḥng vệ
Giám mục Phạm Ngọc Chi nên tính mạng
luôn bị đe dọa. Thời gian đ́nh chiến,
Việt Minh công khai hoạt động. Chúng
lùng bắt người quốc gia gán cho tội theo
Tây theo Pháp hay theo Ki tô giáo. Chúng
gọi những thành phần này là phản động.
Có những lần chúng đem theo giáo mác,
súng ống, gậy gộc, xiên nhọn, đi từng
nhà lùng bắt, chúng lục lạo từ nhà trên
nhà dưới, bụi tre, đống rơm để t́m kiếm.
Vào một buổi chiều, đại gia đ́nh tôi gồm
9 người chuẩn bị rời nhà. Từ nhà đến địa
điểm của thuyền chờ đợi cách xa chừng
bốn cây số. Không ai nói với ai, cứ đi
theo người đi trước ḿnh... Thuyền được
rời bến ngay sau đó. Chừng hơn 30 thuyền
lênh đênh trên sông Hồng. Người thuyền
trưởng cho biết đọan đường nguy hiểm đă
qua. Nghe thế, mọi nguời trên thuyền đều
mừng rỡ. Xa xa, có nhiều ánh sáng như
thiên đàng chờ đón ngượi tỵ nạn chúng
tôi. Càng chạy tới th́ ánh sáng càng tỏ
hiện. Nhiều tầu chiến, nhiều tầu há mồm,
ánh sáng tỏa ra như một thành phố trước
mặt. Đối với tôi, đó là một thiên đường…
(Trích Đời Tỵ nạn, trong 50
năm Bắc Kỳ di cư, trang 64)
Ghi lại một vài chứng từ đối với
những người c̣n ở lại miền Bắc
Phải xin thú thực với ḷng ḿnh rằng khi
viết về cuộc di cư 1954-1955, tôi chỉ
nghĩ đến những kẻ ra đi, đến những người
di cư đă rời bỏ miền Bắc vào miền Nam.
Nghĩ đến tâm trạng của họ, đến nỗi lo âu
khốn khổ cũng như gương can đảm và ḷng
quyết tâm của họ.
Có nghĩa là coi vấn đề di cư chỉ trực
tiếp liên hệ đến kẻ ra đi mà không liên
quan ǵ đến kẻ ở lại.
Sách vở viết về cuộc di cư cũng chỉ viết
về kẻ đă ra đi. Không một ai nghĩ đến kẻ
ở lại nghĩ ǵ, sống ra sao, có hệ lụy ǵ?
Đấy là một thiếu sót cần được bổ khuyết.
Nhưng mặt khác, người di cư bỏ miền Bắc
ra đi không thể nghĩ hay viết thay cho
người ở lại. V́ thế, người viết xin ghi
lại một vài tâm t́nh của một vài người
bạn đă ở lại miền Bắc sau 1954.
Chứng
từ thứ nhất
“Sau thời
hạn 300 ngày, gia đ́nh tôi đă quyết định
ở lại Hà Nội. Đúng ra là gia đ́nh tôi có
người ở lại, có người ra đi. Phần không
nhỏ đă di cư. Chẳng hạn, ông anh tôi là
thiếu uư, sĩ quan, cùng khoá 4, Thủ Đức
với ông Thiệu nên đă theo quân đội đi
vào miền Nam. Sau này lên Trung tá và
hiện nay đang sinh sống ở Hoa Kỳ. Trong
gia đ́nh có kẻ đi người ở nên đưa đến
cảnh chia ĺa Nam Bắc trong mấy chục năm
trời. Đó cũng là bất hạnh của nhiều gia
đ́nh. Mẹ tôi hồi đó 54 tuổi, Bố tôi 56,
thấy ḿnh đă già. V́ thế quyết định ở
lại. Quyết định ở lại của gia đ́nh tôi
không phải v́ lư do chính trị ǵ cả, chỉ
là lư do gia đ́nh.
Ông bố tôi th́ nghĩ rằng, gia đ́nh ḿnh
là dân lao động, chắc ở lại cũng không
sao, họ để yên, không làm ǵ nên ở lại.
Phần cá nhân tôi th́ tôi cũng muốn đi
vào miền Nam một chuyến, muốn đi để thay
đổi v́ ṭ ṃ muốn biết miền Nam như thế
nào. Tôi có người bạn là anh Nguyễn Ngọc
Bội, anh và gia đ́nh quyết định đi vào
Nam và có rủ tôi đi theo. Nhưng tôi đă
quyết định ở lại theo gia đ́nh. Mặc dầu
tôi có đủ điều kiện để đi. Lúc đó tôi 15
tuổi rưỡi.
Mặc dầu không đi vào Nam, nhưng như mọi
người lúc bấy giờ, chúng tôi rất hoang
mang. Trăn trở gữa đi hay ở. Mỗi gia
đ́nh lại mỗi trường hợp. Người quyết
định ra đi th́ lo bán tống, bán táng thứ
ǵ có thể bán được. Chợ trời mọc ra ở
nhiều nơi, kẻ buôn, người bán.
Riêng trường hợp tôi c̣n mê mấy ông Bộ
đội thấy họ lư tưởng quá, mời về nhà đăi
đằng cơm nước, làm tội bà cụ phải hầu hạ
cơm nước. Nhưng đần đần th́ bộ mặt cộng
sản của họ cũng đă lộ ra.
Cải cách ruộng đất, đấu
tố
Các ông bắt đầu đặt loa phóng thanh ở
mỗi góc phố. Đó là nỗi phiền và nỗi bực
ḿnh cho chúng tôi. Mỗi sáng các loa
phóng thanh đó cứ rót vào tai, bắt phải
nghe. Đó là lối tuyên truyền của họ,
không nghe cũng phải nghe.
Bắt đầu mệt rồi, công an nay có thể xông
vào nhà khám xét bất cứ lúc nào. Nhất là
sau giai đọạn Tập Trung cải tạo và Hợp
tác hóa với chế độ tem phiếu. Họ bắt đầu
siết chặt rồi. Người dân cảm thấy ḿnh
bị kẹt, bị sa vào cái lưới thiên la địa
vơng. Nhưng trễ quá rồi. Muốn trốn đi,
nhưng không được nữa rồi.
Nghĩ tới thân phận ḿnh và số phận của
những người di cư, tôi thấy người di cư
là những người may mắn quá. Và chúng tôi
th́ không được cái may mắn như họ.Tôi
ước ǵ được rơi vào số phận như họ. Tự
nhiên là có sự so sánh giữa họ và tôi.
So sánh để thấy họ có cơ may mà ḿnh
không có được. Từ đó, không khỏi rơi vào
tâm trạng tiếc nuối. Cũng chẳng phải chỉ
có ḿnh tôi có tâm trạng đó, nhất là ông
bà cụ tôi. Ông cụ tôi đau khổ, ṿ đầu
bứt tai v́ đă không chịu di cư vào miền
Nam.Trong bữa cơm, không ai được nói xa
gần đến quyết định sai lầm đă ở lại, đến
truyện xưa. Một quyết định làm ông ân
hận cả đời, nhất là giết hại cả cuộc đời
tuổi trẻ của tôi.
Chẳng phải chỉ có gia đ́nh tôi hoặc ông
cụ tôi nuối tiếc.Tôi nghĩ bạn bè tôi
hoặc người dân Hà Nội nói chung, họ cũng
có tâm trạng như chúng tôi, nhưng không
tiện nói ra. Mọi người đều vô cùng đau
khổ, nhưng biết trách ai bây giờ. Người
ta so sánh và tiếc cái thời tây như một
thiên đường. Nghĩ tới đời sống thoải
mái, no đủ, mặc dù có làm bồi cho Tây
cũng sướng hơn.
Trong khi đó, miền Nam th́ xa vời như
một thế giới chỉ có trong trí tưởng
ttượng. Báo chí Hà Nội hay đài chỉ đưa
tin nói cầu Thị Nghè bị xập, chết người
vô số. Giáo phái đánh nhau với quân
chính phủ của ông Ngô Đ́nh Diệm. T́nh
h́nh trong đó rối loạn. Người di cư bị
phỉnh gạt, vào đó phải sống khốn khổ.
Thanh niên th́ bị đưa đi đến các đồn
điền cao su lao động, bị bóc lột. Nhưng
trước t́nh h́nh mỗi ngày mỗi bị bóp
nghẹt, đời sống khó khăn. Nhiều người
bàn tính đến chuyện chốn vào miền Nam?
Nhưng không dễ ǵ trốn được. Nói hở ra
một tư là bị bắt liền.
Chẳng may, năm 1961, tôi bị đi tù. Trong
nhà tù, tôi thấy người ta bị bắt đông
lắm, không tưởng tượng nổi là có cả ngàn
người, nhất là giới thanh niên bị bắt v́
muốn trốn vào miền Nam. Chỉ cần bàn bạc
cũng đủ để vào tù và bị ghép vào tội:
trốn theo địch. Nhẹ nhất cũng bị 5 năm
tù. Nặng có thể tử h́nh.
Như trường hợp ông Trần Văn Tửu, ông
cướp thuyền để trốn vào miền Nam, nên
ông bị lôi ra xử bắn. Và đó là trường
hợp mê vào Sài G̣n nên có câu: Sài
G̣n ơi, ta chết v́ người.
Nhiều lúc ngồi trong tù, tôi nghĩ thà có
bị chặt một tay, bị tàn tật mà đi được
cũng đi. Chán quá rồi. Cho nên, dù có bị
tàn tật vẫn c̣n là một may mắn hơn là
phải ở lại với cộng sản.
Viết ra những điều này, tôi mong mỏi
đồng bào ḿnh hiểu rằng, dù may mắn di
cư vào được miền Nam hay dù phải ở lại
miền Bắc th́ tâm trạng của cả hai miền
cũng không khác ǵ nhau. Ai cũng chán
ghét cộng sản. Ai đi được th́ mừng cho
họ. Ai không đi được th́ buồn cho họ.
Hơn phân nửa cuộc đời tôi đă phải sống
dưới chế độ ấy, nay c̣n lại phần cuối
đời, tôi mong mỏi Việt Nam ḿnh thoát
khỏi cảnh bạo tàn cộng sản để cho dân
chúng hai miền hưởng được tư do, dân
chủ. Đời ḿnh đă không đạt được. Hy vọng
thế hệ sau, thế hệ con cháu ḿnh có cơ
hội hưởng cuộc đời tự do hạnh phúc.
Chứng
từ thứ hai
Cuộc Di
Cư 54-55 đă ghi dấu ấn trong lịch sử VN
không thể phai nhoà. Nó khẳng định ranh
giới giữa cộng sản VN với những người
Việt quốc gia, để h́nh thành một nền đệ
nhất cộng hoà non trẻ dân chủ, tự do,
nhân ái, nhưng cũng c̣n đầy rẫy nhưng
gian lao, hệ lụy ở phiá Nam. C̣n ở miền
Bắc tôi ở, nhà cầm quyền cộng sản đă tự
xé bức màn chiêu bài dân tộc, lột trần
bản chất độc tài, khát máu, chuyên chính
vô sản theo cộng sản Tàu. Họ phát huy
tối đa cao trào cải cách ruộng đất đẫm
máu, tàn ác, bất nhân. Đă phá vỡ kiến
trúc xă hội ngàn năm từ văn hoá, tôn
giáo, tôn ti trật tự khắp nông thôn đến
thị thành.
Cuộc di cư vào Nam hồi 54-55 của những
người miến Bắc là một sự lưạ chon đúng
đắn và dũng cảm. Họ đă đứt ruột rời bỏ
quê hương, nơi tổ tiên họ đă bao đời
sinh sống. Nơi từng nắm đất, ngọn cỏ,
bụi cây cũng chứa đầy máu, nước mắt, mồ
hôi của những thế hệ ông cha. Họ ra đi
như một khẳng định dứt khoát và quyết
liệt. Không thể sống chung với cộng sản.
Dẫu trước mắt, có thể c̣n đầy rẫy khó
khăn, chập chững bước đầu nơi đất khách,
lập quê hương mới. Nhưng nơi đó, họ được
có tự do, hạnh phúc và nhất là nhân thân
họ được tôn trọng.
Người đi đă thế. Những thân nhân c̣n ở
lại chịu khổ ải bội phần. Họ bỗng dưng
thành những công dân loại hai. Rất nhiều
người bị nhà cầm quyền kéo ra đấu tố, tù
đày chẳng kém ǵ những thành phần cường
hào đ́ạ chủ. Tuy họ không giàu, cũng
không có chức tước ǵ trong thôn xă.
Nhưng họ bị tội là có thân nhân ruột
thịt di cư vào Nam theo giặc.
Những gia đ́nh có thân nhân di cư vào
Nam thường không được vào đảng… Không
được nâng đỡ, thăng tiến trong công tác.
Nhất là sau khi có tin tức về những vụ
bắt gián điệp, biệt kích từ trong Nam
gửi ra. Th́ những gia đ́nh có thân ruột
thịt di cư như ngồi trên đống lửa. V́
lúc nào họ cũng bị theo dơi nghi ngờ với
những tin đồn có cánh.
Họ sống trong nơm nớp sợ hăi, bất an và
nghi kỵ... không kém chi những thành
phần địa chủ, cường hào.
Đọc bài Di Cư anh viết, tôi thấy người
đi đă vậy mà người ở lại cũng lănh bao
nhiêu hệ lụy. Những hệ lụy dai dẳng suốt
mấy chục năm kéo theo bao những cảnh đời
cùng khổ. Mà chẳng giấy bút nào viết
hết. Không biết những người ra đi có
hiểu cho người ở lại không?
Và như vậy bài Di Cư không đề cập đến hệ
lụy của người ở lại là chưa đầy đủ. Phải
không anh?
Nhân đây tôi cũng chép lại bài thơ về
người con gái có chồng theo giặc vào Nam
(Bài thơ khá được phổ biến, ngân ngợi,
ḥ, vè). Thời đó rất nhiều người thuộc.
Sông Tam Bạc (Hải Pḥng
CÔ LÁI Đ̉
Khoan khoan cô lái đ̣ ơi,
Có c̣n rộng chỗ cho tôi sang nhờ.
Khách đông, thuyền đă rời bờ,
Nể ḷng cô gái quay đ̣, tôi sang.
Nắng thu như dải luạ vàng,
Trên sông Tam Bạc (1)
nhịp nhàng chảy xuôi.
Môi cô luôn nở nụ cười
Tay cô thoăn thoắt đưa đôi mái chèo.
Mạn thuyền tiếng sóng êm reo,
Có ḍng nước bạc chảy theo con đ̣.
Thuyền sang tới bến bao giờ,
Bỗng dưng tôi thấy ngẩn ngơ, bàng hoàng.
Ước ǵ có chuyến đ̣ ngang,
Dài bằng cả một thời gian mười ngày...
Thu qua, rồi đến xuân nay,
T́nh cờ qua bến sông này năm xưa.
Vẫn c̣n nhớ lại trong mơ,
Vẫn sông, vẫn bến đôi bờ xôn xao.
Vẫn con đ̣ của độ nào,
Vẫn cô gái nhỏ, má đào chưa phai.
Nhưng sao cô khẽ thở dài,
Thẫn thờ nh́n khách ngồi hai mạn thuyền.
Nụ cười tươi thắm, hồn nhiên,
Năm xưa, chẳng thấy nở trên môi hồng.
Hỏi ḍ mấy bạn sang sông,
Biết thêm cô đă lấy chồng thu qua.
Đời đang tươi đẹp như hoa,
Chồng cô theo giặc, bỏ nhà vào Nam.
Đêm thu dưới anh trăng vàng,
Dừng chèo trên bến, đ̣ ngang đợi chờ.
Nước non ngăn cách đôi bờ,
Hờn căm đế quốc bao giờ cho nguôi...
Bài này viết theo thể lục bát. Từ ngữ
b́nh dị mà vần điệu nhuần nhuyễn. Tôi
không biết tên tác giả nhưng thuộc ḷng
từ thuở lên mười.
Vân Hải
Phần Kết luận
Bài viết này đă đi được một đoạn đường
dài, rảo qua tất cả những đoạn đầy cam
go và thử thách của cuộc di cư năm
1954-1955. Chắc chắn c̣n rất nhiều điều
chưa nói hết và chưa nói đủ. Kinh nghiệm
khổ đau của hàng trăm ngàn người, bút
nào tả cho cùng?
Bỏ ra ngoài những uẩn khúc, những tỵ
hiềm, những chuyện cá nhân giữa người
với người, ngay cả những mánh mung vặt
vănh hay có tổ chức cũng không tài nào
tránh được trong các tổ chức trại tỵ
nạn. Rồi khi có nhiều va chạm giữa những
kẻ mới tới và dân chúng địa phương. So
sánh có, tỵ hiềm có, đố kỵ có, khinh khi
có, tránh né nhau cũng có, thù hằn nhau
cũng có. Tất cả những điều đó đều có
thể.
Cuộc di cư 1954-1955 là
cơ hội để con người có cơ may làm người:
Rạch Bắp
Cũng bỏ
ra ngoài chuyện ăn chặn tiền cứu trợ,
hoặc có những người di cư khai báo đến
hai ba lần để nhận tiền cứu trợ. Những
điều như thế chắc không cần viết ra đây
làm ǵ.
Không kể biết bao trở ngại, khó khăn để
người tỵ nạn có thể an cư lạc nghiệp.
Chẳng hạn, như ở Cái Sắn, người di cư
không phải chỉ trông vào ba mẫu tây đất
là có thể ngồi đó rung đùi hút thuốc lào.
Phải xoay sở, phải chật vật làm thêm đủ
thứ để có thêm thu nhập gia đ́nh như
trồng rau, hoa mầu, lưới cá, nuôi gà vịt,
heo và trăm thứ khác. Và đó mới là cuộc
sống thực, sống đích đáng và đúng nghĩa.
Tôi cũng đă nghĩ tới những thành công về
mặt chính trị trong thế đối đầu với cộng
sản mà cuộc di cư này như cái tát trái
vào mặt người cộng sản. Số lượng người
di cư khổng lồ như thế làm thế giới kinh
ngạc và nể phục đồng thời tác động mạnh
mẽ đến thất bại tinh thần của chủ nghĩa
cộng Sản.
Người di cư,
những 80% dân nghèo đă bỏ mà đi (nhấn
mạnh của DCVOnline.net), và bài học đó
cần phải nhớ.
Về ảnh hưởng của người di cư trên mảnh
đất mới cho thấy ở thành thị, chỉ từ 10%
đến 20% chất sám, chất sám miền Bắc đă
làm nên chuyện lớn. Nhưng 70% dân nghèo
mà 60% là nông dân, 10% là dân thuyền
chài đều là những dân làm ăn cần cù,
chăm chỉ (hard-working persons) với một
nếp sống giản dị thu vén, liệu cơm gắp
mắm nên ăn ít mà làm nhiều. Chả mấy lúc
mà khá giả và góp phần vào sự thịnh
vượng của mảnh đất này... Và về mặt xă
hội, nó là hiện tượng kích cầu thúc đẩy
những thành phần khác trong xă hội cố
gắng vươn lên theo.
Nhưng tôi nghĩ đến, từ kinh nghiệm cá
nhân những ǵ tôi đă trải qua để thấy
báu vật vô vàn của đời dành cho người di
cư: Đó là từ nay, họ có thể sống cuộc
đời của họ, tự do tôn giáo của họ, kinh
nguyện của họ, bài tụng của họ, nhà chùa
của họ, nhà thờ của họ.
Một điều xem ra tầm thường mà những
người c̣n ở lại bên kia bức màn tre
không bao giờ có được. Họ có được những
điều mà những người c̣n ở lại vô phúc
không có được.
Điều tôi muốn được bày tỏ ở đây, tôi
muốn nói cho rơ để thế hệ mai sau thấy
rằng cha mẹ, tổ tiên của họ đă có cơ may
ngàn vàng có được cơ hội “đổi đời” từ
miền đất khô cằn phải lao lực, phải đổ
mồ hôi nước mắt mới có hạt cơm vào mồm.
Đời sống dân cư miền Bắc, miền Trung là
vô vàn khốn khổ. Thời của tôi, nhiều
người chưa bao giờ có cơ hội ngồi trên
chiếc xe hàng chạy bằng hơi nước, chưa
bao giờ biết miếng bánh ḿ, chưa bao giờ
biết ăn một cái kẹo tây, chưa bao giờ
biết đánh răng bằng bàn chải, chưa bao
giờ biết xỏ chân vào một đôi dép, chưa
bao giờ biết cắt tóc, chưa bao giờ biết
xà pḥng, chưa bao giờ biết đến xe đạp.
Có khi bánh xe đạp là bánh đặc. Chưa bao
giờ thong thả, ngồi nghe vọng cổ, chưa
bao giờ biết cờ bạc...
Nhiều cái chưa bao giờ lắm. Cả làng chỉ
có một trường tiểu học tŕnh độ biết
đọc, biết viết. Cả tổng chưa có trường
trung học, cả huyện cũng thế, may ra ở
tỉnh th́ có một trường. Các khu vực theo
Thiên chúa giáo có thể khá hơn. Cả làng
có thể mù chữ, trừ vài người. Có được
vài sào ruộng đă lấy làm tự an ủi. Có
dăm ba mẫu ruộng đă nên ông nên bà. Cơm
trắng là điều xa xỉ. Ngủ giường là điều
không thể xảy ra. Quần áo vá chằng vá
đụp như một cái mền rách.
Tôi nghe kể rằng, ngay ở Sài G̣n sau
này, có trường hợp sư bà Đàm Hướng ở
đường Phan Đ́nh Phùng chăm sóc trẻ mồ
côi. Người Mỹ có phân phát cho mỗi em
một tube thuốc đánh răng. Nhiều em tưởng
ăn được, mút ăn ngon lành. Sinh đau
bụng. Phải gọi cấp cứu bác sĩ Mỹ đến.
Hóa ra chỉ v́ những tube kem đánh răng,
mùi thơm, hơi ngọt nên trẻ con tưởng ăn
được
Đời sống người dân quê có được hai ba
sào ruộng đă là quư. Nhà ở là túp lều
tranh vách đất, trống trước trống sau.
C̣n nếu không có nổi vài ba sào th́ đi
cấy rẽ, cấy thuê, hoặc làm thuê làm
mướn. Tôi đă thấy những bữa ăn của thợ
cấy, thợ cầy. Chỉ có vài quả cà. Khá lắm
có chút rau muống luộc th́ lấy nước rau
muống chan để và vội bát cơm. Cả năm
không biết có mấy lần ăn được một miếng
thịt. Đi ăn cỗ thường 6 người/một cỗ. Họ
bảo nhau ăn vài miếng, thường sau đó
chia nhau ăn hết món nấu, rồi cả mâm
chia phần c̣n lại làm sáu phần lấy lá
chuối gói về cho vợ con.
Vào trong Nam, tại trại định cư Cái Sắn,
mỗi người được chia đến ba mẫu ruộng.
Nhà cửa khang trang. Cầy cấy th́ có trâu
thay cho người. Cấy lúa sạ làm chơi mà
ăn thật khỏi phải chân lấm tay bùn, quần
quật từ sáng tới tối. Vào Cái Sắn người
di cư phút chốc lên làm người. Kể từ
nay, không c̣n vất vả quần quật nữa. Tại
nơi đây, một sức sống mới đang vươn dạy
theo tinh thần Tự lực cánh sinh và dần
dần được địa phương hóa.
Trên tờ Nữu Ước thời báo ra ngày
16/02/1956 đă viết như sau về trại định
cư này:
“Trên
địa hạt con người, đối với những người
tỵ nạn, đây có nghĩa là một đời sống
sung sướng và có nghĩa lư hơn, v́ họ sẽ
không cần những sự trợ giúp có tính cách
làm phúc nữa. Trên địa hạt kinh tế, điều
này có nghĩa là trong một ngày gần đây,
Nam Việt sẽ có thể xuất cảng một triệu
năm trăm ngàn tấn gạo, cũng như hồi tiền
chiến”.
Chưa kể đủ thứ bệnh. Chết lúc nào không
hay. Các bệnh như toét mắt, ghẻ lở, bệnh
cứt trâu, bệnh tiêu chảy chỉ là bệnh
ngoài da, bệnh thông thường. Bệnh nặng
th́ đành chịu.
Chưa kể lúc chết không có miếng đất để
chôn, phải chôn nhờ. Cho nên cuộc di cư
1954-1955 đối với nhiều người là một
sinh lộ giải thoát con người ra khỏi tối
tăm và cơ cực.
Cuộc di cư 1954-1955, phải chăng là cơ
hội để con người có cơ may làm người?
Hết |