|
Từ một góc, nh́n lại
cuộc chiến (Kết)
Nguyễn Văn Lục
Từ một góc độ, nh́n lại
cuộc chiến 1954–1975
Trở lại vấn đề trên, ở Mỹ, người ta nh́n cuộc chiến khác chúng
ta. Nixon và Kissinger là những tay chơi cờ bạc giả. V́ thế,
ngay cả những cuộc ném bom dữ dội xuống miền Bắc Việt Nam tưởng
để xoá trắng Bắc Việt. Không phải vậy. Các cuộc oanh tạc đó cũng
nhằm hai điều: Một mặt trấn an ông Thiệu là dù hiệp định Paris
sau này thế nào đi nữa, nước Mỹ vẫn bảo vệ miền Nam. Mặt khác,
cảnh cáo cộng sản coi chừng. Đừng coi thường sức mạnh của người
Mỹ. Hăy tôn trọng luật chơi và những ǵ đă thỏa thuận với nhau.
Trong đoạn văn ghi âm vào tháng 05/1972 ghi lại cuộc đối thoại
giữa ông Nixon và Kissinger, ông Nixon đă không dấu diếm rằng
đối với ông: việc thắng cử là quan trọng hơn việc quân Bắc
Việt tấn công quân Nam Việt Nam hay ngược lại. Phần
Kissinger cho rằng, cần giữ được t́nh thế trong một hoặc hai năm
sau đó th́ vấn đề Việt Nam sẽ rơi vào quá khứ. Nếu Washington
dàn xếp được, giả dụ vào ngay tháng 10 này, th́ đến tháng giêng
năm 1974 sẽ chẳng c̣n ai để tâm tới nữa… Đối với Kissinger khi
kư hiệp định Ba Lê, ông nghĩ mọi việc chỉ là “two-year thing”
tức chỉ được hai năm là xong. Tóm lại cả hai người: ông Nixon và
Kissinger tin rằng ngay cả khi có một lực lượng quân sự lớn mạnh
hơn những ǵ họ đă điều động cũng không có khả năng thắng được
cuộc chiến ở Việt Nam.
|
 |
|
Operation Rolling Thunder - B66
dẫn đầu đoàn F-105 đánh bom Bắc Việt
Nguồn: wikipedia.org
|
Cho dù,
ông Nixon đă ra lệnh bỏ bom miền Bắc bằng B-52, cày nát miền Bắc
đến độ sau này không c̣n mục tiêu để đánh phá nữa. Vậy mà số tử
vong chỉ giới hạn vào 1138 người chết ở Hà Nội và 305 người ở
Hải Pḥng. Dĩ nhiên có kế hoạch sơ tán. Nhưng ngay trung tâm Hà
Nội nhà cửa, cơ sở vẫn c̣n nguyên vẹn.
Đây cũng nằm trong chính sách chiến tranh giới hạn.
Chỉ trừ một số khu vực như Khâm Thiên bị bỏ bom lạc. Chỉ việc so
sánh giữa cuộc bỏ bom miền Bắc và cuộc bỏ bom ở Tokyo vào tháng
3/1945. Cuộc dội bom xuống Tokyo đă gây tổn thương cho 84 ngàn
người dân Nhật. Sự khác biệt về số tổn thương giữa hai lần thật
là rơ ràng.
Điều đó cho thấy tác dụng gây ra chết chóc ở miền Bắc có giới
hạn.
Đó là lối chơi hù doạ và chơi ép của Nixon. Dọa xong th́ nếu cần
bỏ của chạy lấy người.
V́ thế, người Mỹ đă ra đi không tiếc nuối, vứt lại đằng sau mọi
thứ.
Chiến dịch bỏ chạy có tên là “Operation Frequent wind”
Chiến dịch Operation Fredquent wind.
|
 |
|
Toà Đại sứ Mỹ
(Saigon, 4/1975)
Nguồn: Amazon.com
|
Cách bờ
biển Việt Nam 200 dặm là 40 tầu biển, trong đó có 3 hàng không
mẫu hạm là Hancock, Okinawa và Midway với 70 trực thăng khổng lồ
CH-53. Với 70 chiếc trực thăng trong ṿng vỏn vẹn từ 18 đến 24
tiếng đồng hồ để chuyên chở người của họ mà người ta có thể
không ngần ngại gọi là một cuộc tháo chạy.
(Xem thêm The Ten Thousand Day War, Michael Maclear, trang 402)
18 tiếng vào năm 1975 so với một năm cho cuộc di cư từ miền Bắc
vào miền Nam. Và một phần không nhỏ cuộc di tản này được diễn ra
trên nóc sân thượng ṭa nhà đại sứ. Có 50.000 người được di
chuyển bằng trực thăng ra biền, 70.000 bằng đường biển… Cộng
chung vào khoảng 190.000 đă được định cư tại Mỹ. Trong đó có
40.000 người quyết tâm đi Canada hoặc Âu Châu.
Điều đó cho thấy rơ ràng, 1954–1955 là ra đi có trật tự, có tổ
chức, mang đi theo những ǵ muốn mang theo. C̣n 1975, chạy trốn
trong hốt hoảng và kinh hoàng, để lại tất cả đúng như câu nói
“bỏ của chạy lấy người”. Xem ra, trong toàn lịch sử thế giới, có
thể chưa có trận chiến nào đă xảy ra tương tự như ở Việt Nam.
Trong đó dọc dài từ miền hỏa tuyến đến Cà Mâu. Mọi sự kể như c̣n
nguyên vẹn. Và kể như một trao quyền vậy.
Riêng ông Kỳ và bộ hạ đáp trực thăng xuống Hàng không mẫu hạm
Midway mà đô đốc Harris vốn là một người bạn của ông. Không được
đón tiêp chu đáo. Sau đó ông được chuyển sang chiến hạm chỉ huy
Blue Ridge. Gặp Martin, ông này khuyên ông nên giữ miệng, đừng
phát biểu ǵ. Ông viết như sau:
“When fourteen of us-all high-ranking
officers-stepped out of the helicopter, the first
words of welcome by an officious American colonel
were a shout “All of you come here”. He directed us
to a table and asked, “Have you any objections to
being searched?”
(Trích How We
Lost The VietNam War, Nguyễn Cao Kỳ, trang 230)
Đối với
người Mỹ là như thế. Không có ǵ là khó hiểu.
V́ thế, đối với ông Nixon trong cái nh́n toàn cầu th́
“cuối cùng chúng ta cũng đạt được một nền hoà b́nh trong
danh dự”.
Đối với Kissinger th́:
“Nếu
lịch sử xoay vần, chuyện cộng sản làm chủ toàn diện nước
Việt Nam là điều Washington có thể chấp nhận được.”
C̣n đối với đại sứ Martin, một người Mỹ tại chỗ, có
trách nhiệm th́ nghĩ rắng kết thúc xong như thế này thấy
“nhẹ người”
(one of enormous relief).
Ông là người Mỹ cuối cùng rời khỏi ṭa đại sứ Mỹ vào 4
giờ 30 sáng, ngày 30-4. Ông vội vă rời văn pḥng theo
lệnh từ ṭa Bạch ốc và không biết ông quên hay cố t́nh
quên không mang theo bức chân dung tổng thống Nixon đề
tặng cho ông với hàng chữ, It was signed: “For all
your great work in Indochine.”
Theo Wolf Lehmann trong bài viết của ông: “This is
the last Message from Embassy Saigon” . Khi mà chiếc
trực thăng nhẹ nhàng đáp xuống trên mái sân thượng. Đại
sứ Martin đi trước hướng vế phía trực thăng đậu, tiếp
theo là trùm mật vụ Tom Polgar và George Jacobson và
những người c̣n lại nối đuôi theo.
Wolf Lehmann c̣n ngồi chờ chiếc trực thăng cuối cùng
đang lượn ṿng chờ đáp xuống. Lúc ấy là 5 giờ 20 sáng.
Wolf Lehmann viết:
“The chopper was packed with the rest of the
staff and remaining civilian guards, mission
warden guards, and it was utterly silent
except for the rotors of the engine. I don’t
think I said a word on the way out and I
don’t think anybody else did. The prevailing
emotion was tremendous.”
(Cũng trích
sách như trên, trang 45)
Mặc dầu đây là chuyến bay trực thăng cuối cùng
rời khỏi miền Nam. Nhưng sau này được biết c̣n
ít nhất 50 người Mỹ c̣n bị kẹt lại miền Nam v́
lư do này lư do khác.
Nhưng có những nhà báo như Arnett ghi lại cảm
tưởng của ḿnh giống như một số đông người Việt
Nam:
|
 |
|
The
Ten Thousand Day War
Nguồn: Amazon.com
|
“By
noon it was all over and in thirteen
years of covering the Viet Nam war I
never dreamed it would end that way.
I had figured there might be a
political deal similar to the one in
Laos a decade earlier. Or even an
Armagedon-type battle to the finish
with the city left ruins like World
War 2 in Europe. A total sưrender
was what I did not expect…”
(Trích
The Ten Thousand Day War,
Michael Maclear, trang 410)
C̣n phần tôi, một người Việt như triệu
người Việt vô danh khác th́ đứng như
trời trồng, há hốc mồm ra ngạc nhiên
nh́n bộ đội miền Bắc đi về phía dinh Độc
Lập như một cuộc đi dạo trên đường Công
Lư gần nhà. Hai bên đường, rất nhiều
quân trang của quân đội VNCH vứt lại.
Tôi cố gắng mường tượng nh́n tận mặt họ
để nhận ra đây là những kẻ chiến thắng,
nhưng đành bất lực không nhận ra được.
Tôi không hiểu được v́ mọi biến cố diễn
tiến ra nhanh quá.
C̣n đối với người Việt Nam như ông Bùi
Diễm, có thể có nhiều người cũng đồng ư
với ông Bùi Diễm là cái cách chấm dứt
cuộc chiến tranh này là một thảm kịch.
Phần tôi thêm vào, một thảm kịch có thể
tránh được và đáng nhẽ đă không nên xảy
ra.
3. Những ǵ người Mỹ để lại sau 1975
Chiến tranh sau cùng bao giờ cũng để lại
nhiều thứ, mà đều là những thứ mất mát.
Mất mát về người, về của, về xă hội, về
đạo đức. Tính ra hơn 2 triệu người Việt
cả hai phía đă chết mà phần lớn là dân
chúng. Hơn 50 ngàn lính Mỹ tử trận th́
họ đă mang xác đồng đội theo họ về Mỹ.
Họ đă chết ở đây, nhưng chỗ chôn họ lại
ở một nơi nào khác. Họ có thể hy sinh,
nhưng chỗ họ về để được tưởng nhớ th́
lại ở một nơi nào đó trên nước Mỹ khác
hẳn những người Pháp chết trong chiến
tranh 1945-1954. Người Pháp hy sinh ở
đâu th́ chôn ở đó. V́ thế, ngày nay,
không c̣n một dấu tích ǵ của người Mỹ
trên mảnh đất miền Nam, dù chỉ là một
tấm bia tưởng niệm.
Cạnh đó, 25 triệu mẫu đất trồng trọt bị
bỏ hoang cầy xới lên v́ bom đạn. Và phải
mất bao nhiêu thời gian để lấy lên hết
những tấn thuốc nổ nằm dấu đưới mặt đất?
12 triệu mẫu rừng bị tàn phá do 19 triệu
tấn thuốc khai quang trải xuống. Chỉ nội
B-52 thôi đă có 5000 lần xuất trận rải
bom xuống An Lộc và Quảng Trị nhằm tiêu
diệt quân đội Bắc Việt. Bà Marilyn B.
Young viết tóm gọn trong The Viet Nam
wars 1945-1990, trang 235, một câu:
Nothing was left standing. Không
c̣n thứ ǵ có thể tồn tại được nữa.
Đấy mới chỉ là nói về của.
Riêng người Mỹ, mỗi năm, họ bỏ ra từ 11
đến 17 tỉ mỹ kim chi phí cho chiến tranh
Việt Nam, vào thập niên 1960, sau này cứ
thế leo thang lên đến trên 20 chục tỉ,
chiếm tỉ lệ 3% ngân sách. Nhưng vẫn
không nhằm nḥ ǵ khi họ phải chi ra 48%
ngân sách cho chiến tranh thế giới thứ
hai và 12% cho chiến tranh Triều Tiên.
9000 máy bay đủ loại bị bắn hạ trên
chiến trường hai miền Nam- Bắc và Miên
Lào. Riêng máy bay B-52, có 15 chiếc bị
bắn hạ ở miền Bắc.
Về người th́ có 879.000 trẻ mồ côi,
181.000 người bị thương tật, một triệu
đàn bà góa. Nhưng dù sao, đây vẫn chỉ là
những con số không nói lên được điều ǵ.
Riêng miền Nam th́ kế thừa 200.000 gái
măi dâm mà miền Bắc không nhận. Cộng
thêm một triệu quân nhân ră ngũ như
những kẻ sống bên lề xă hội. Những vết
thương chiến tranh đó chả bao giờ lành,
nhất là trường hợp những sĩ quan bị đi
học tập cải tạo nhiều năm. Đúng như lời
viên chủ nhiệm báo Nhân Dân nói với
Christine Pelzer White:
“The war lasted thirty years, but it
will take another twenty years before we
will be able to overcome the legacy the
problems it has left.”
(Trích
Christine Pelzer White, Interview
with Nguyen Huu Tho, Journal of
contemporary Asia, 1981, trang 130)
Mất mát đă là nhiều. Nhất là về mặt đạo
đức, xă hội th́ di sản để lại là khôn
lường. Không tính bằng tiền được. Cũng
không tính bằng con số được. Tang tóc
khổ đau không lấy ǵ đo đếm được.
Người Mỹ đă dở sang trang khác. Nhiều
người đă quên, nhất là những người làm
chính trị.
Nhưng về phía người Việt nói chung. Mặc
dầu giấy đă ngả màu, sờn rách. Họ không
làm cách nào khác được nên vẫn dở đi, dở
lại trang sách cũ. Chuyện cũ vẫn như nắm
tro chấu ủ, âm ỉ và đôi lúc lại bùng
cháy.
Có thể họ sẽ chẳng bao giờ quên, v́
chính cái quá khứ ấy đă làm nên cuộc đời
họ.
Nhưng những cơ may hàn gắn vết thương
chiến tranh và phục hồi xứ sở lại do
chính những người cộng sản đương quyền
bỏ lỡ dịp may.
Sau ông Johnson đến Carter làm tổng
thống, ông này đă nghĩ tới chuyện bắt
tay ḥa giải bằng cách b́nh thường hóa
quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Nhưng
v́ phía Việt Nam quá mông muội ảo tưởng
với chứng bệnh vĩ cuồng, “ngon” nên đ̣i
món quà 4 tỉ Mỹ kim vô điều kiện về lời
hứa của Nixon khi kư thoả ước đ́nh chiến
vào năm 1973.
(Trước
khi kư kết thỏa ước ngưng bắn 1973,
Nixon có hứa bồi thường để hàn gắn vết
thương chiến tranh khoảng 4 tỷ đô la,
nhưng chưa có sự thoả thuận của Quốc Hội
Hoa Kỳ. Như vậy vẫn có thể chỉ là một
lời hứa xuông).
Phái đoàn đại diện chính thức của Mỹ đến
Việt Nam vào tháng 3, 1977 do Leonard
Woodcock kể như về tay Không. Họ chỉ
mang theo về được 12 thi hài lính Mỹ
thuộc diện MIA. Tổng thống Carter sẵn
sàng làm mọi chuyện, trừ truyện bồi hoàn
không điều kiện. V́ thế Leonard Woocock
đă nói với đại diện phía Việt Nam Phan
Hiền như sau:
“Let us go outside and jointly
declare to the press that we have
decided to normalize relations. Hien
refused”.
(Trích
Hotbrooke, trích lại của Chanda,
Brother Enemy, trang 152)
Sau này, hồi kư của Trần Quang Cơ, cựu
thứ trưởng ngoại giao đă bày tỏ nỗi thất
vọng chua chát về sự mông muội của Việt
Nam qua Phan Hiền. Biết bao hệ lụy của
việc từ chối này. Như việc Mỹ dùng quyền
phủ quyết Veto, ngăn chặn việc VN vào
Liên Hiệp Quốc hay vào tháng 2/1979,
Trung Cộng xua 200.000 quân sang VN, đối
chọi với 100.000 quân đội miền Bắc với
sự thỏa thuận ngầm của Mỹ
(blessing of the United States).
Và sau đó, gần 200.000 người gốc Trung
Hoa đă t́m cách rời khỏi VN.
Và phải mất thêm gần 20 năm sau mới có
cơ hội b́nh thường hóa với Mỹ, với các
tổ chức quốc tế. Tự ḿnh, chính quyền
mới đă tự cô lập trong sự thỏa măn với
chính ḿnh…
(Dưới thời đệ I và đệ II cộng ḥa, miền
Nam Việt Nam đă có quan hệ ngoại giao
với hầu hết các nước trên thế giới và
với tất cả các tổ chức về y tế, các học
viện, các quỹ tiền tệ và các tổ chức như:
Plan de Colombo, FAO, O.N.U, OMS, WHO,
UNESCO, UIT, UPU, IPF, ILO, OAA.v.v…)
Chỉ tính đến năm 1955, chúng ta đă có
mặt và là thành viên của trên hơn 30 tổ
chức quốc tế này.
(Trích
tài liệu Viet Nam d’Hier et
d’Aujourd’hui, Thái Văn Kiểm, trang
332).
Ngoài những hoang tàn đổ vỡ do chiến
tranh để lại, cạnh đó c̣n có một để lại
rất quan trọng của người Mỹ và chính phủ
VNCH sau 1975 mà cho đến nay ít người
nhắc tới.
Những để lại như quà tặng
Cuộc chiến này rất là không b́nh thường.
Không b́nh thường ngay cả khi rút lui.
Có thể nói người Mỹ đă để lại toàn bộ
tất cả những ǵ mang vào Việt Nam. Một
sự để lại có chủ đích và có chiến lược?
V́ thế, gần như toàn bộ cơ sở guồng máy
chiến tranh của Mỹ c̣n nguyên vẹn đă
được sang tay.
(Trừ những máy bay F5 được yêu cầu bay
sang Phi Luật Tân hoặc Thái Lan)
Một sự để lại làm chính những kẻ chiến
thắng ngạc nhiên và thích thú. Trần Bạch
Đằng, kẻ chiến thắng nay thừa hưởng tất
cả những ǵ kẻ bại trận để lại. Ông ngồi
trên xe hơi Mercedès-Benz do kẻ thua
trận để lại, có tài xế lái. Chỉ có một
điều khác biệt là nay có thêm điện thoại
cầm tay. Ông ở một ngôi biệt thự gần ṭa
đại sứ Mỹ trước đây nay là cơ quan của
tổng công ty dầu khí. Có hàng trăm ngàn
căn nhà đủ loại để lại cho kẻ chiến
thắng. Và họ thừa hưởng nguồn lợi từ
những căn nhà đó mà có thể không cần
phải tham nhũng. Đường bà Huyện Thanh
Quan là nơi mà các quan chức lớn chiếm
ngụ. Như nhà của cựu phó thủ tướng Vũ
Đ́nh Liệu, đối diện bên kia đường về
phía tay phải là nhà của ông thủ tướng
Dũng.
Ông Trần Bạch Đằng nói với kư giả Peter
T. White như sau:
|
 |
|
Trần Bạch Đằng
Nguồn: Vietnamnetvn
|
“The Amrericans left us a
very good infrastructure,
roads, bridges, a wonderful
airport,” he says “Only now
does Thailand have the
infrastructure we had”. But
it’s all gone to pot. “Our
machines are rusty or gone,
those with high skill in
management and production
have gone away. Now we must
bring in Filipinos to help
us train air controllers!
Before, the Philipinos were
trained by Vietnamese…”
(Trích Viet Nam, Hard to road
to peace, Peter T. White,
trong National geographic, trang
616)
Có thể v́ thiếu chuyên viên
không lưu ở phi trường Tân Sơn
Nhất nên măi đến ngày thứ ba
10/06/1975, đại sứ Pháp Merillon
mới có chuyến bay thứ ba từ nước
ngoài chở theo viên đại sứ và
một số nhà ngoại giao c̣n sót
lại.
Văn Tiến Dũng trong Đại thắng
mùa xuân nhắc lại cái cảm
tưởng của ông khi lái xe trên
đường phố Sài G̣n, trên những
đường phố lớn với những căn nhà
và kho hàng rộng răi. Những nhà
băng, những tiền Đô la Mỹ, những
khách sạn, những cửa hàng đồ sộ
nối đuôi nhau như thể không
ngừng.
Họ ngạc nhiên là phải. Để xây
dựng bộ máy chiến tranh với con
số nửa triệu quân Mỹ ở Việt Nam.
Người Mỹ cần xây dựng các cơ sở
hậu cần như kho chúa hàng, bến
cảng cho tầu cập bến, phi trường
tối tân cho các máy bay hạng
nặng có thể đáp xuống, các căn
cứ quân sự như Long B́nh, Cam
Ranh, v.v…
Không thể mở rộng cuộc chiến
tranh quy mô nếu đường xá không
đủ, doanh trại, kho hàng sân bay
thiếu. Năm 1965, khi số lượng
quân Mỹ vào Việt Nam gia tăng
lên 184.000 binh lính. Hơn 120
con tàu chở đủ loại thiết bị
chiến tranh phải nằm thả neo ở
ngoài bến cảng Sài G̣n nằm chờ
dỡ hàng trong nhiều tháng
V́ thế, chính quyền Mỹ đă quyết
định kư các hợp đồng với các
hăng như tập đoàn, tổ hợp
RMK.BRG mà nhiều người Việt Nam,
khoảng 11.000 người đă là nhân
viên của tổ hợp này. Tổ hợp này
đă nhận những hợp đồng xây cất
lên đến 670 triệu đô la.
Cộng chung các căn cứ Long B́nh,
bến Tân cảng, phi trường Tân Sơn
Nhất với các căn cứ quân sư như
Cam Ranh, Đà Nẵng đă tiêu tốn
một số tiền là 790 triệu đô la
khi hoàn thành.
Năm dự án vừa kể trên, dầu vậy
cũng chỉ chiếm chưa đầy một nửa
tổng số chi phí xây dựng mà Mỹ
xây dựng để tiến hành chiến
tranh ở Việt Nam. V́ vậy, cho
đến khi măn hạn hợp đồng, Viet
Nam Builders
(RMK-BRG đổi tên)
đă đầu tư gần 2 tỉ đô la trải
dài khắp miền Nam.
Kể từ đó, họ đă biến miền Nam
thành một nơi có thể đủ sức tiếp
tế với các cơ sở hậu cần để có
thể chấp nhận 536.000 lính Mỹ
vào cuối năm 1968.
(Trích bài Kỳ tích xây dựng
của Thập kỷ, tiến sĩ James
M. Carter, BBC, 02/12/2008)
Tất cả những cơ cấu xây dựng hạ
tầng trên nay để lại toàn bộ cho
cộng sản vào tháng tư, 1975.
Văn Tiến Dũng c̣n ngạc nhiên
không ít khi đến bộ Tông Tham
Mưu quân lực VNCH với hệ thống
máy vi tính hiện đại, tồn trữ
đầy đủ danh bạ toàn thể sĩ quan
và binh sĩ VNCH hàng triệu người,
vẫn c̣n hoạt động. Tổng nha Cảnh
sát quốc gia cũng c̣n để lại các
hồ sơ cảnh sát mà nhiều hồ sơ có
thể di hại cho những vị sĩ quan
c̣n ở lại miền Nam.
Cộng sản sau này c̣n tiết lộ cho
biết sau khi tiếp thu dinh Độc
Lâp, họ thu tập được toàn bộ một
tập hồ sơ mật, trong đó có 27 lá
thư của TT Nixon gửi TT Nguyễn
Văn Thiệu.
Ông Nguyễn Tiến Hưng trong
The Palace File đă cho đăng
lại toàn bộ những lá thư ấy,
cộng thêm những lá thư của TT
Ford với những lời chú thích
viết tay của ông Thiệu với lời
giới thiệu như sau:
|
 |
|
T.T. Nguyễn
văn Thiệu
Nguồn:
vtc.vn
|
“The Palace File of
letters, messages
and proposals
exchanged among
President Richard M.
Nixon, President
Gerald R. Ford and
President Nguyen Van
Thieu from December
31, 1971 to March
22, 1975 was
maintained by Thieu
in his bedroom in
the Independence
Palace. The File is
reproduced as Nguyen
Tien Hung carried it
from Saigon in 1975.
There are 31
numbered letters
from President Nixon
to Thieu, in which
four are duplicates…
Hung did not imagine
he would need copies
of President Thieu’s
letters to Nixon and
Ford in his final
appeal to The
Congres, so he left
them behind in the
Palace, where they
were captured by the
North VietNamese.
Some of the letter
has been released by
them, but Appendix A
constitutes the full
file Thieu
personally guarded
and entrusted to
Hung. All the
handwritten notes
and marks were
Thieu’s…
Tôi nghĩ đến điều này
nhiều lắm và không thể
trách người Mỹ được. Tôi
tự hỏi tướng Kỳ mang
theo được ǵ, tướng Cao
Văn Viên, tướng Trần
Thiện Khiêm và các ông
Tổng bộ trưởng?
Trừ các cơ quan lệ thuộc
Mỹ đă có kế hoạch di
chuyển hoặc đốt bỏ các
hồ sơ mật. Theo Vũ Quang
Ninh, Giám Đốc đài phát
thanh Tự Do của Mỹ, đài
phát tuyến đặt tại Cồn
Tề, cửa bể Thuận An có
một đại đội địa phương
giữ an ninh. Đài có 2
máy với công xuất cực
mạnh 100 KHz. Đài có 8
tiếng phát thanh bằng
tiếng Hoa, tiếng Pháp
th́ do Thanh Lan đọc,
tiếng Mỹ do người Mỹ đọc.
Vào ngày 22/03/75, người
ta đă chuyển các máy móc
của đài vào Sài G̣n tại
số 7 Hồng Thập Tự. Riêng
đài mẹ Việt Nam thiết
lập năm 1972 th́ c̣n
nguyên vẹn, không kịp
tháo gỡ. Các nhân viên
trực thuộc đều được đưa
trước ra đảo Phú Quốc.
Riêng ông Vũ Quang Ninh
được ṭa đại sứ Hoa Kỳ
đưa vào ṭa đại sứ Mỹ và
rời Việt Nam ngày
29/04/1975.
Chỉ có toà Khâm sứ, do
thư kư lúc bấy giờ là
Đức ông Thụ, đă đóng
thùng các hồ sơ và gửi
về Roma, Ư gần một tháng
trước khi mất miền Nam.
Chúng ta đă mất Sài G̣n.
Nhưng là một Sài G̣n
nguyên vẹn, nh́ều khi
đến vô trách nhiệm, trao
cho lại cho chính quyền
mới. Nhiều chỉ huy các
cơ quan sau này đă trao
trọn gói nhân sự, tổ
chức, quyền hành cho
những người đại diện đến
từ miền Bắc và guồng máy
hành chánh có thể hoạt
động gần như b́nh thường.
V́ thế, không lạ ǵ,
những đám cưới tổ chức
sau 1975, người ta vẫn
nh́n thấy những chiếc xe
du lịch Plymouth
Belvedere, đời 1958, mầu
đỏ dài tḥng của Mỹ. Bên
cạnh chiếc xe Hoa kỳ là
bảng hiệu chào mừng:
Chào mừng ngày nhà giáo
20/01. Dinh Độc Lập chỉ
bị hư cái cổng chính ra
vào v́ bị xe tăng cán
xập. Cùng lắm, có một
thay đổi nhỏ – thay lá
cờ Quốc Gia bằng lá cờ
MTGPMN trên nóc dinh Độc
Lập. Hồ sơ, sổ sách
trong dinh chắc c̣n
nguyên vẹn. Thư từ tối
mật c̣n để lại th́ thứ
gí được mang đi. Trừ
những số tiền không biết
là bao nhiêu đă được
mang theo với ông Thiệu
mà Frank Snepp đă nhận
xét một cách có hậu ư:
Khi di chuyển những
chiếc valise lên máy
bay, những chiếc valise
nặng chĩu, nghe có tiếng
lục cục, lạc cạc do sự
va chạm của kim khí bên
trong.
Khách sạn Majestic vẫn
c̣n đó, nhưng khách hàng
lúc bấy giờ là những
người Liên Xô và từ các
nước XHCN. Camp David
của Mỹ cạnh trung tâm
sân bay Tân Sơn Nhứt chỉ
một chút tróc nóc nhỏ.
Căn cứ Cam Ranh, xây
dựng từ tháng tư, 1967,
được giao lại cho quân
đội VNCH năm 1973, một
tactical fighter base
c̣n đó. Cộng sản chiếm
miền Nam năm 1975. Và 4
năm sau, 1979, chính
quyền cộng sản thỏa
thuận cho Hải quân Sô
Viết xử dụng Căn cứ Cam
Ranh trong thời hạn 25
năm.
Xa lộ Biên Ḥa c̣n đó.
Kết luận
Viết bài này nhắc nhở
tôi đến một cuốn sách
dịch cách đây gần nửa
thế kỷ, cuốn Chúa đă
khước từ. Truyện của
Richard E. Kim, bản dịch
của Lê Khắc Cầm.
Cuốn truyện nhắc nhở câu
truyện một đơn vị quân
đội Mỹ đóng tại Hán
Thành
(Seoul).
Sự có mặt của quân đội
Mỹ lúc bấy giờ là một
phao cứu an toàn cho đám
dân Thiên Chúa giáo tin
tưởng và ăn mừng ca hát
về ngày chiến thắng.
Nhưng chỉ trong ṿng một
đêm, cả đội quân Mỹ hùng
mạnh đă không báo trước
rút đi một cách thầm
lặng, để lại đám dân
chúng tán loạn và mất
tinh thần.
Đó là một kinh nghiệm
đau thương về chiến
tranh.
Nhưng kinh nghiệm đó
được diễn tả lại trong
câu truyện phải chăng là
một lời cảnh báo cho bất
cứ ai c̣n muốn đem vận
mạng đất nước ḿnh vào
sự cam kết của người Mỹ
ở Việt Nam.
Quả thực khi cần rút lui,
họ có vô số ǵải pháp
như Việt Nam hóa chiến
tranh. Và Hiệp định Ba
Lê hoàn toàn không chấp
nhận được. Ông Thiệu có
lư để không chấp nhận
Hiệp Định ấy, v́ đó là
cái tḥng lọng treo cổ.
Chẳng hạn điều kiện rút
quân th́ Mỹ phải rút
quân, c̣n quân đội của
Bắc Việt th́ không cần
rút như Nixon giải thích
trong No more Viet
Nams, trang 152-153
|
 |
|
No
more
Vietnams
và
chữ
kư
của
R.
Nixon
Nguồn:
historyinink.com
|
“We knew
there was no
way to force
them to
concede this
point (to
maintain
their troups
in South
Viet Nam).
It is an
axiom of
diplomacy
that one can
win in the
conference
table what
one could
win on the
battlefield…
If we had
stood firm
in demanding
North
Vietnam’s
withdrawal,
there would
have been no
peace
agreement by
october 31.”
Để đạt được thỏa
ước, Nixon không
có con đường nào
khác là hù dọa
Bắc Việt và trấn
an ông Thiệu
bằng cách Nói
dối. Ellsberg
dành một chương
trong cuốn sách
của ông, điều mà
ông gọi là “A
lying machine”…
Cuộc chiến này
đă bắt đầu như
thế và đă chấm
dứt như vậy
ngoài mọi sự
quyết định của
người Việt Nam.
Điều mà chúng ta
mong muốn là: No
more Viet Nam.
Người Mỹ để
lại xa lộ Biên
Ḥa
Có lẽ, việc xây
cất xa lộ Biên
Ḥa để lại một
ấn tượng rơ nét
về sự quyết tâm
tham chiến của
người Mỹ ở Việt
Nam lúc khởi đầu.
Nó biểu tượng
cho sức mạnh của
Hoa Kỳ, sự giầu
có cũng như kỹ
thuật tân tiến.
Lúc đầu, có dư
luận cho rằng xa
lộ Biên Ḥa sẽ
dùng làm băi đáp
cho những máy
bay phản lực của
Hoa Kỳ.
Tin đồn được
nhiều người cho
là đúng, mặc dầu
hoàn toàn vô căn
cứ. Việc xây đắp
xa lộ Sà́ G̣n–Biên
Ḥa chưa đầy 2
năm, sau cuộc di
cư 1954 đem lại
một tin ttưởng
vững chắc sự
quyết tâm của
Hoa Kỳ trrong
công cuộc chiến
đấu chống cộng
sản. Công tác
khởi công vào
tháng 7, 1957 và
hoàn thành 46
tháng sau và
được tổng thống
Ngô Đ́nh Diệm
khánh thành vào
ngày 28/04/1961.
|
 |
|
Xa lộ
Biên Hoà
Nguồn:
wikimapia.org
|
Xa lộ bắt đầu từ
ngă ba Phan
Thanh Giản–Nguyễn
Bỉnh Khiêm và
chấm dứt ở Hố
Nai trên quốc lộ
1 với chiều dài
32 cây số. Lộ
giới rộng từ 60
đến 100 mét. Mặt
đường rộng 16
mét với 1700 mét
cầu. Hai cây cầu
lớn là cầu trên
sông Sài G̣n,
dài 936 thước
với ba nhịp sắt
ở giữa sông và
20 nhịp với bê
tông tiền áp.
Cột trụ cầu có
nơi phải đóng
sâu xuống đến 60
mét, v́ đất xấu.
Cầu có thể chịu
nổi xe tải nặng
32 tấn và 1000
xe cộ lưu thong
mỗi giờ.
Việc xây cầu
được giao cho
công ty Capitol
Engineering
Corporation
thiết kế và công
ty Hobnsom Drake
and Piper of
Viet Nam thi
công với tổn phí
35 triệu Mỹ kim.
Xa lộ Biên Ḥa
nối liền với 11
tỉnh miền duyên
hải và 6 tỉnh
miền cao nguyên.
Ngă tư hương lộ
31 là làng đại
học Thủ Đức,
cách đó một cây
số là nhà máy
dệt sợi Vimitex.
Cũng trong khu
vực Thủ Đức đă
xây cất nhà máy
điện cho Sài G̣n
và một nhà máy
thép nhỏ, nhà
máy biến điện,
xưởng kim khí,
nhà máy nghiền
đá cho hăng xi
măng, trại nuôi
heo, v.v…
Ở cây số 22 là
khu kỹ nghệ mới
thiết lập trên
bờ sông Đồng Nai
với các hăng
giấy Cogido,
rộng 24 mẫu tây
và tổn phí xây
cất là 150 triệu
đồng. Một trong
những nhà máy
giấy tối tân
nhất ở Á Châu
cung ứng 15 % số
giấy tiêu thụ ở
miền Nam VN. Ở
đây c̣n có nhà
máy làm bao bố
mà mỗi năm có
thể sản xuất
được 3 triệu bao
bố gạo và đường.
Đặc biệt nhà máy
chỉ dùng sợi
kenaf vốn có sẵn
ở Việt Nam để
chế tạo giấy.
Chúng ta cũng
không cần kể hết,
nhiều làng đă
mọc lên bên cạnh
xa lộ và có bộ
mặt mới như
trường hợp khu
Hố Nai đang trờ
thành những trú
khu thịnh vượng
và trù phú chung
quanh xa lộ.
Xa lộ Sài G̣n–Biên
Ḥa là món quà
gây thích thú
cho chính quyền
mới để đổi lấy
một nền ḥa b́nh
khập khiễng và
một đất nước tồi
tệ trong quản lư
và xây dựng.
Ngày nay tên của
xa lộ này là Hà
Nội.
© DCVOnline
|