|
Những kẻ bị khai
trừ (I)
Nguyễn
Văn Lục
Kể từ khi thành lập đảng Cộng Sản
Việt Nam đến nay (1) đă có
bao nhiêu cuộc thanh trừng nội bộ,
hoặc thủ tiêu các đồng chí của chính
họ?
Câu trả lời là không kể xiết được.
Bàn tay sắt của đảng cộng sản với
bạo lực và lừa bịp đă kéo dài từ hơn
nửa thế kỷ nay. Lúc mà người ta nhận
diện ra được thế nào là chủ nghĩa
cộng sản th́ đă quá trễ… Sở dĩ có
t́nh trạng khai trừ là v́ chế độc
độc đảng, độc tài đến nỗi con người
nghĩ ngợi cũng cần phải xin phép.
Con người luôn luôn ở trong t́nh
trạng có tội, bị khai trừ. Đó là một
thứ tù nhân trong tương lai.
Và mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, mỗi
lần thay đổi chính sách lại có thứ
tù nhân mới, có kẻ bị khai trừ mới.
Có thứ bị khai trừ trong “thời kỳ”
theo đệ tứ hay theo đệ tam, khai trừ
“thời kỳ” cải cách ruộng đất, khai
trừ “thời kỳ” Nhân Văn Giai Phẩm,
khai trừ “thời kỳ” chính sách theo
Nga hay theo Tàu, khai trừ “thời kỳ”
trong “vụ án chống đảng, chống nhà
nước ta đi theo chủ nghĩa xét lại và
làm t́nh báo cho nước ngoài”, khai
trừ “thời kỳ” Mặt trận Giải phóng
miền Nam, khai trừ “thời kỳ” những
người cựu kháng chiến Nam bộ.
Và nay có thêm một thứ khai trừ mới:
Phe phái tranh ăn t́m cách loại trừ
nhau... Như mới đây, những người
dính dáng trong vụ PMU nay bị bắt và
bị điều tra. Tướng công an Phạn Xuân
Quắc bị điều tra. Hai nhà báo Thanh
Niên và Tuổi Trẻ bị bắt.
Tham Nhũng liên kết với đảng được
dịp trả thù đối với những ai đ̣i
công lư.
Thêm nạn nhân, thêm oán hận, thêm
tủi nhục, thêm phân hóa, chia rẽ,
thêm lăng phi nhân lực. Đă có biết
bao gia đ́nh tan nát lầm than trong
cải cách ruộng đẩt. Phùng Quán đă
diễn tả bản chất đảng cộng sản đối
với dân:
Những con người tiêu máu của dân
Như tiêu giấy bạc giả
Chúng tôi, xin lược chọn một vài
thời kỳ khai trừ chưa được nói tới
nhiều mà thôi.
Đối với người cộng sản, họ chia dân
chúng ra ba loại người và có ba cách
đối xử. Hoặc dân phải “ngoan”, chữ
dùng của Vũ Thư Hiên. Ngoan th́ tạm
yên thân Bảo biểu t́nh chống Mỹ,
chống Tàu th́ chống. Bây giờ bảo
không được chống th́ không đựợc
chống. Nghĩa là bảo ǵ nghe nấy.
Nhưng nếu trong xă hội chẳng may có
nmhiều người ngoan th́ bướng trở
thành một cái tội. Bướng, bất măn,
không “giáo dục” được, tức ngoan cố
th́ bị khai trừ. Nhưng nếu chống đối
nữa thi trở hành phản động sẽ bị
thanh trừng, bị tù tội hoặc thủ tiêu,
ám sát..
Khai trừ nhóm đệ tứ, c̣n gọi là
Trốt-kít
V́ thế, ngay từ cuối năm 1937, tại
Nam phần, đă xảy ra liên tiếp các
cuộc thanh trừng nội bộ giữa đệ tam
và đệ tứ quốc tế do cộng sản Pháp
như Duclos, Gitton giật giây những
người cộng sản đệ tam như Trần Văn
Giàu, Nguyễn Văn Tạo, Trần Văn Thạch,
Nguyễn Văn Nguyễn. Gitton đă viết
thơ cho Nguyễn Văn Nguyễn, đề ngày
19 tháng 5, 1957 như sau:
“Phải chấm dứt sự hợp tác với bọn
Tạ Thu Thâu kể từ nay..Phải gấp rút
ly khai”.
Chứng cớ là Daniel Guérin, bạn thân
của ông Tạ Thu Thâu hồi ở Pháp đă
viết như sau:
|
 |
|
Tạ Thu Thâu
(1906-1944)
Nguồn:
tusachnghiencuu.org
|
“Ngoài sự bắt bớ của
chính phủ, bọn Stalinist
quyết đồ sát Tạ Thu
Thâu, vu cáo là Phát
Xít. Ấy là, chính ở
Paris mà bọn Stalinist
mưu đồ sát hại Tạ Thu
Thâu và các bạn của
Thâu. Các bạn nên hiểu
ràng, chính từ trong
khám đường sâu thảm, Tạ
Thu Thâu, người bạn của
chúng ta chỉ c̣n trông
cậy có chúng ta, hy vọng
có chúng ta.
(trích dẫn Nguyễn Kỳ Nam,
Hồi kư 1925-1964, từ trang
23-25, chưa xuất bản).
Ngoài Tạ thu Thâu, lần lượt
đến Phan Văn Hùm, Huỳnh Văn
Phương, Trần Quang An, Phan
Văn Chánh, Nguyễn B́nh hay
những người có cộng tác với
Việt Minh trong Mặt trận
Quốc gia thống nhất như
Huỳnh Phú Sổ, Dương Văn
Giáo.
Họ đă lần lượt bị sát hại.
V́ đối với cộng sản, đệ tứ
là kẻ thù trên cả kẻ thù như
thực dân Pháp.
Trong dịp Trần Văn Giàu đến
Paris hồi tháng 10, 1989,
hơn 100 nhân sĩ, trí thức VN
ở Pháp đă chất vấn Trần Văn
Giàu về vấn đề thủ tiêu ám
sát đệ tứ. Theo bác sĩ Trần
Ngươn Phiêu cho biết Trần
Văn Giàu rất lúng túng. Việc
họp này đă được thu băng và
c̣n được lưu giữ. Trần Văn
Giàu cũng hứa “rửa” tiếng
cho Tạ Thu Thâu, nếu đảng
cộng sản VN không “rửa”.
Nhưng từ đó đến nay, chưa
bao giờ thấy Trần Văn Giàu
làm ǵ để “rửa” cả.
(Trích
Trần Ngươn Phiêu, Phan Văn
Hùm, thân thế và sự nghiệp,
trang 358).
Ngoài các nhóm
đệ tứ bị sát hại ở miền Nam,
ngoài Bắc những trí thức
miền Bắc như Trương Tửu,
Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang,
Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh
Tường cũng bị tiếng oan là
đệ tứ. Nhất là trường hợp
Trần Đức Thảo, một trí thức
thân với đệ tam.
Nhưng ai đă giết Tạ Thu
Thâu?
Vào năm 1989, tại Pháp, hơn
100 nhân vật chính trị và
văn hóa đ̣i phục hồi danh dự
cho Tạ Thu Thâu bị giết tại
ven biển Mỹ Khê, Quảng Ngăi
vào tháng 9, 1945. Những
người giết Tạ Thu Thâu kết
tội ông làm Việt gian cho
phát xít Nhật. Cuối năm
1939, chính Nguyễn Ái Quốc
gửi báo cáo cho quốc tế cộng
sản ghi rơ:
Đối với bọn Trốt
Kưt, không thể
có một thỏa hiệp
hay nhân nhượng
nào cả. Phải lột
mặt nạ chúng như
là tay sai của
Phát xít, phải
tiêu diệt chúng
về chính trị.
Ông viết tiếp khi ở
bên Tàu: “Bọn Trốt kít là một lũ
bất lương, những con
chó săn của chủ
nghĩa Phát xít Nhật
và chủ nghĩa Phát
xít Quốc tế”
(Trích Thành Tín,
Mặt Thật, trang
112-113, Turpin
Press 1994).
Theo ông Hoàng Hoa
Khôi, thuộc nhóm đệ
tứ trong tập hồ sơ:
Nh́n lại sáu mươi
năm tranh đấu cho
Việt Nam, ông viết:
“Sau khi
điều
tra,
chúng
tôi biết
được ba
thủ
pham. Họ
đều là
những
người
cộng
sản.
Người
thứ nhất
là Kiều
Đức
Thắng,
trách
nhiệm
nghiệp
đoàn,
người
thứ hai
là
Nguyễn
Văn
Trấn, đă
từng
được đi
học tập
ở
Moscow,
người
thứ ba
là
Nguyễn
Văn Tây,
cựu bộ
Trưởng
chính
phủ Trần
Văn
Giàu”.
(trích Hoàng
Hoa Khôi, Hồ
sơ đệ tứ,
trang 228 ).
Cũng cần nói
thêm ông
Nguyễn Văn
Trấn sau này
đă phản tỉnh
và viết
cuốn:
Viết cho mẹ
và Quốc Hội.
Trong sách,
ông Trấn né
tránh về vai
tṛ sát thủ
của ông
trong việc
thủ tiêu
những người
CS đệ tứ.
Ông là cánh
tay mặt của
Trần Văn
Giàu, người
bị coi là có
trách nhiệm
trong các vụ
ám sát nhóm
đệ tứ. Ông
mất năm
1998.
Cũng có
nhiều tài
liệu khác
viết về cái
chết của Tạ
Thu Thâu như
cuốn Việt
Nam
1920-1945
của ông Ngô
Văn hay tài
liệu:
Người Việt ở
Pháp
1940-1954
của ông Đặng
Văn Long.
Khai trừ
nội bộ ở
ngoài Bắc
Sau cuộc
chiến
1954-1975,
theo ông Bùi
Tín, có đến
hàng trăm vụ
án chính trị
gọi là
“chống lại
lănh đạo”,
“chống
đảng”, “xét
lại”, “phản
động” vẫn
không được
thanh minh
để giải tỏa
nỗi oan ức.
Những người
trực tiếp
trách nhiệm
là Lê Duẩn
và Lê Đức
Thọ. Mà Vơ
Nguyên Giáp
sợ. Mà Hồ
chí Minh im
lặng. Sau
đó, ông Bùi
Tín trong
bản kiến
nghị của một
công dân,
ông đă đưa
ra hằng trăm
tên tuổi
những người
bị tù, bị
oan ức, bị
xỉ nhục. Gia
đ́nh họ bị
điêu đứng.
Có người đă
chết oan ức
và tủi nhục.
Ông Bùi Tín
đă đ̣i công
lư cho các
người sau
đây:
Các
tướng Đặng
Kim Giang,
Nguyễn Vinh,
Lê Liêm; các
đại tá Đỗ
Đức Kiên,
Nguyễn Minh
Nghĩa,
Nguyễn Hiếu,
Phan Hoàng;
các giáo sư:
Bùi Công
Trừng,
Nguyễn Mạnh
Tường, Đào
Duy Anh; các
nhà báo:
Hoàng Thế
Dũng, Nguyễn
Kiên Giang,
Quang Hân,
Mai Luân,
Mai Hiển,
Định Chân,
Trần Thư,
Khắc Tiếp,
Hồng Văn;
các văn nghệ
sĩ Hoàng
Cầm, Lê Đạt,
Trần Dần,
Phùng Quán,
Nguyễn Bính,
Hữu Loan,
Minh Giang,
Quang Dũng,
Trần Châu,
Trần Đĩnh,
Hà Minh
Tuân, Việt
Phương, Anh
Chính, Sỹ
Ngọc, Văn
Cao, Tử
Phác, Đặng
Đ́nh Hưng,
Trần Lê Văn,
Chu Ngọc,
Trần Tích
Linh; vụ
trưởng Vũ
Đ́nh Huỳnh;
các đại tá
Ngọc Bằng,
Cao Nham, Đỗ
Trường,
Nguyễn Trần
Thiết bị giữ
và vụ án ông
Ta Đ́nh Đề.
Trong cuốn
Án tích cộng
sản Việt
Nam, tác giả
Trần Gia
Phụng đă đưa
ra một danh
sách trong
“Thông Điệp
xanh” mà
nhiều tên
tuổi phù hợp
với danh
sách của ông
Bùi Tín. Xin
được đưa ra:
Bùi Công
Trừng, Bùi
Ngọc Tấn,
Dương Bạch
Mai, Đào
Phan tức Đào
Huy Dếnh,
Đặng Cần,
Đặng Đ́nh
Cầu, Đặng
Kim Giang,
Đinh Chân,
Đỗ Đức Kiên,
Đỗ Văn Doăn,
Hoàng Minh
Chính, Hoàng
Thế Dũng,
Huy Vân, Lê
Liêm Lê Minh
Nghĩa, Lê
Trọng Nghĩa,
Lê Vinh
Quốc, Lưu
Động, Mạc
Lân, Mai
Hiến, Mai
Lân, Minh
Tranh,
Nguyễn Cận,
Nguyễn Gia
Lộc, Nguyễn
Hồng Sỹ,
Nguyễn Kiến
Giang,
Nguyễn Minh
Cần, Nguyễn
Thị Ngọc
Lan, Nguyễn
Văn Thẩm,
NguyễN Văn
Vịnh, Phạm
Kỳ Vân, Phạm
Quang Đức,
Phạm Viết,
Phan Thế
Vấn, Phùng
Văn Mỹ,
Quảng Hân,
Trần Châu,
Trần Đĩnh,
Trần Minh
Việt, Trần
Thư, Tuân
Nguyễn, Ung
Văn Khiêm,
Vũ Đ́nh
Huỳnh, Vũ
Huy Cương,
Vũ Thư Hiên.
Đó là những
nạn nhân ở
phía Bắc mà
ông Bùi Tín
có giao
tiếp, quen
biết và biết
rơ.
Trong số
những người
trên, nhà
văn Vũ Thư
Hiên cho
biết bố ông
là Vũ Đ́nh
Huỳnh bị bắt
v́ tội thành
phần “xét
lại”. Ông bị
bắt ngày
18/10/1967
v́ “chống
đảng”. Theo
bà Phạm Thị
Tề, chồng bà
bị c̣ng tay
bằng c̣ng số
8, nhưng
c̣ng sắt
không vừa,
họ đă trói
giật cánh
khủy ông,
một ông già
đă về hưu.
H́nh ảnh đó
cho đến chết
tôi cũng
không thể
quên, v́ nó
tàn bạo và
man rợ gấp
bội phần so
với thời
thực dân”
(trên Diễn
đàn số 44).
Ít lâu sau
đến lượt Vũ
Thư Hiên
theo bố vào
tù. Bố đi tù
th́ theo lư
lịch, theo
luật tru di
tam tộc,
không tội
trở thành có
tội, con
phải tù theo
là phải rồi.
Cũng nhờ đó
mà sau này
Vũ Thư Hiên
viết cuốn
Đêm giữa ban
ngày.
Một cuốn
sách làm nên
tên tuổi
anh.
Mặt trận
giải phóng
miền Nam
|
 |
|
Dươnng
Quỳnh
Hoa
tự
Bảy
Hồng
Nguồn:
roninfilms.com.au
|
Phần đông
những người
của MTGPMN
đều là trí
thức, chuyên
viên. Có tất
cả khoảng 30
người vào
khu. Chỉ có
ba cặp vợ
chồng, c̣n
tất cả đi
một ḿnh. Có
thêm 6 thanh
niên chưa
quá 30 tuổi.
Vào khu rồi
bà Dương
Quỳnh Hoa
mới thành
hôn với kỹ
sư Huỳnh Văn
Nghị. Ngay
sau 1975,
chừng một
tháng, Hà
nội đă xóa
sổ MTGPMN.
Từ đó phần
đông những
người đă
theo Mặt
trận bất
măn, chống
đối và ly
khai. Họ là
những người
như Lữ
Phương,
Nguyễn Ngọc
Lan, Chân
Tín, Nguyễn
Trọng Văn,
(ba người
này không
vào khu, vẫn
ở thành phố)
Trương Như
Tảng, Dương
Quỳnh Hoa.
Trước đây,
họ bị coi là
bù nh́n, sau
họ cảm thấy
bị phỉnh gạt
trắng trợn.
Phần lớn âm
thầm, nuốt
nhục rút
lui, hoặc
trốn ra
ngoại quốc
như bộ
trưởng
Trương Như
Tảng.
Dù sao, bỏ
quên là một
h́nh thức
khai trừ nhẹ
nhàng nhất
mà họ may
phúc được
hưởng.
Hoặc xin ra
khỏi đảng
như vợ chồng
bác sĩ Dương
Quỳnh Hoa.
Bà Dương
Quỳnh Hoa
mất ngày
25/02/2006,
tại Sài g̣n.
Sinh thời,
bà theo học
ngành thuốc
tại Sài g̣n
và nhất là
tại Pháp,
gia nhập
đảng cộng
sản Pháp vào
những năm
1948-1954.
Với tư tưởng
xă hội và
cấp tiến như
thế, bà tham
gia
MTDTGPMN.
Sau này bà
đă thú nhận,
đó là một ảo
tưởng chính
trị trong
đời.
Ông Huỳnh
Văn Nghị,
chồng bà đă
phản đối
quyết định
thống nhất
ngay lập tức
Mặt trận
giải phóng
miền Nam và
Liên minh
các lực
lượng dân
chủ và ḥa
b́nh. Họ bị
loại trừ. Bà
xin ra khỏi
đảng, nhưng
thời đó, thủ
tướng Phạm
Văn Đồng
đồng ư với
điều kiện bà
phải giữ im
lặng. Nhưng
sư im lặng
đó không kéo
dài được lâu
khi bà phải
chứng kiến
quá nhiều
điều “phản
cách mạng”
từ khi đảng
cộng sản
Việt Nam
‘thực thi’
cái lư tưởng
mà bà đă hy
sinh cả đời
sống cho nó.
Khi được tờ
báo Far
Eastern
Economic
Review
(FEER) phỏng
vấn vào ngày
17/10/1996:
Quel est
l’évènement
le plus
marquant
pendant les
50 années
passées?
Bà trả lời:
L’effondement
du mur de
Berlin qui
mit un terme
à la “grande
illusion”
(Tạm dịch.
Biến cố nào
được kể là
nổi bật nhất
trong 50 năm
qua? DQH: Sự
sụp đổ bức
tường Bá
Linh và chấm
dứt một “ảo
tưởng” lớn.
Nhất là khi
được Stanley
Karnow phỏng
vấn về sự
thất bại của
cộng sản
Việt Nam (The
Failure of
Communism in
Vietnam,
Nguyen Phuc
Buu Chanh,
Online:
http://snipurl.com/29phe
[www_freerepublic_com],
May 19,
2008) bà
Dương Quỳnh
Hoa đă trả
lời rằng:
Tôi đă là người cộng sản cả đời tôi. Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa cộng sản và sự thất bại của nó, quản trị kém, tham nhũng, đặc quyền, áp chế, lư tưởng của tôi đă không c̣n. (“I have been a Communist all my life, but now I’ve seen the realities of Communism, and it is a failure—mismanagement, corruption, privilege, repression. My ideals are gone.”)
Chủ
nghĩa
cộng
sản
là
tai
họa.
Những
cán
bộ
đảng
cộng
sản
không
hề
hiểu
biết
về
sự
cần
thiết
của
việc
phát
triển
một
cách
hợp
lư.
Họ
bị
mê
hoặc
bởi
những
khẩu
hiệu
của
Mác
Xít
đă
không
c̣n
giá
trị
nữa,
nếu
không
muốn
nói
rằng
chúng
không
bao
giờ
có
giá
trị.
Họ
là
những
kẻ
(tàn
ác)
quá
độ.
(“Communism
has
been
catastrophic.
Party
officials
have
never
understood
the
need
for
rational
development.
They’ve
been
hypnotized
by
Marxist
slogans
that
have
lost
validity—if
they
ever
were
valid.
They
are
outrageous.”)
Người
ta
tự
hỏi
rằng
nếu
bà
Dương
Quỳnh
Hoa
không
phải
là
một
khuôn
mặt
nổi
tiếng,
một
trí
thức
hàng
đầu
của
MTGPMN
th́
bà
có
được
b́nh
yên,
không
bị
tù
tội
sau
khi
tuyên
bố
những
lời
như
trên
với
một
kư
giả
Hoa
Kỳ?
Nhưng
điều
này
có
thể
giải
thích
phần
nào
v́
khi
nhà
cầm
quyền
cộng
sản
nộp
đơn
kiện
chính
phủ
và
một
số
công
ty
hoá
chất
Hoa
Kỳ
tại
toà
án
New
York
về
những
thiệt
hại
về
nhân
mạng
và
nhất
là
ảnh
hưởng
tai
hại
phụ
nữ
Việt
Nam
ở
những
vùng
ô
nhiễm
thường
bị
xẩy
thai
hay
sinh
ra
trẻ
dị
dạng.
Một
trong
ba
người
đứng
tên
trong
đơn
kiện
này
lại
là
bà
bác
sĩ
Dương
Quỳnh
Hoa.
Những
dữ
kiện
về
bà
Dương
Quỳnh
Hoa
trong
đơn
kiện
do
phía
cộng
sản
đưa
ra
trước
toà
án
New
York
đọc
được
như
sau:
Người đi kiện DUONG QUYNH HOA
Điều thứ 135. Năm 1964, plaintiff Duong Quynh Hoa là một người Việt Nam và là một y sĩ cư ngụ tại thành phố Saigon thuộc miền Nam Việt Nam
Điều 136. Trong thời gian này, bà thường đi lại tỉnh Biên Hoà và vùng Sông Bé là những nơi bị nhiễm thuốc độc do những bị cáo trên đây sản xuất.
Điều 137. từ 1968-1976, Dr. Hoa là Bộ Trưởng Y tế cuả CPLT MNVN và sinh sống tại tỉnh Tây Ninh.
Điều 138. Trong thời gian ở Tây Ninh, bà được chỉ thị nhiều lần phải bao đầu bằng bao Plastic v́ quân đội Hoa Kỳ sẽ rải hoá chất độc. Trong thời gian này, bà đă trông thấy một thùng đựng chất độc da cam sản xuất bởi những bị cáo được thả xuống từ máy bay quân đội Hoa Kỳ.
Điều 139. Tháng 5, 1970, Dr. Hoa sinh hạ một bé trai tên là Hùynh Trung Son. Plaintiff Huynh Trung Son sinh ra bị dị tật và bị tàn phế.
Điều 140. Plaintiff Huynh Trung Sơn chết khi được 8 tháng tuổi.
Điều 141. Sau chiến tranh, Dr. Hoa bắt đầu có triệu chứng ngứa ngáy và bị lở ngoài da.
Điều 142. Năm 1971, Dr. Hoa có thai và bị sẩy thai vào tháng 7, 1971 sau 8 tuần lễ có thai.
Điều 143. Dr. Hoa có thai lần nữa nhưng lai sầy thai sau sau tuần vào tháng 1 năm 1972.
Điều 144. Sau khi mất đứa con đầu ḷng và sầy thai hai lần, Dr. Hoa quyết định sẽ không có con nữa.
Điều 145. năm 1985, sau khi bị ngất xỉu và chóng mặt nhiều lần, Dr. Hoa bị khám phá là bị bệnh tiểu đường.
Điều 146. Năm 1998, Dr. Hoa bị bệnh ung thư vú và phải giải phẫu cắt bỏ ngực.
Điều 147. Năm 1999, Dr. Hoa thử máu và khám phá ra nồng độ chất độc da cam dioxin trong máu bà cao hơn độ b́nh thường rất nhiều.
Điều 148. Cả hai cái chết của hai người đi kiện, plaintiff Duong Quynh Hoa con trai của ba là Huynh Trung Son là do chất độc da cam do những bị cáo nêu ra ở trên sản xuất.
(trích từ phán quyết cuả toà UNITED STATES DISTRICT COURT
EASTERN DISTRICT OF NEW YORK vụ VN xin kiện vụ chất độc da cam)
Năm 2004, mặc dù chi rất nhiều tiền cho các tổ hợp luật sư danh tiếng cuả Hoa Kỳ toà án ờ New York đă bác đơn xin kiện của chính phủ Việt Nam về vụ chất độc da cam. Từ đó đến nay, tuy phía Việt Nam cho biết sẽ kháng án nhưng vấn đề này không c̣n được đề cập tới sôi nổi như trước đây. Ghi chép lại dài ḍng về những chi tiết của đời sống riêng của bà Dương Quỳnh Hoa để thấy rằng dù không bị cộng sản thanh trừng, bà cũng đă phải trả cái giá quá đắt. Bà là một điển h́nh cho trí thức miền Nam khi chọn sai lư tưởng để theo đuổi và nhất là khi đó lại là chủ nghiă cộng sản. Ít ra th́ khi có phán quyết này của toà án Hoa Kỳ, bà Dương Quỳnh Hoa đă qua đời, khỏi phải thêm một lần thất vọng
Trong Hồi ức Nguyễn Thị B́nh, một người c̣n được trọng dụng, dày đến 700 trang, người đă một thời là đồng chí với nhau ở trong bưng là bà Dương Quỳnh Hoa đă không được bà B́nh nhắc đến một lần.
Những người khác như quư ông Trịnh Đ́nh Thảo (1901-1982), vợ là bà Ngô Thị Phú, quê quán Sóc Trăng. Ông Lâm Văn Tết ( 1896-1982) Ông bà Phùng Văn Cung, vợ là Lê Thoại Chi. Giáo sư Nguyễn Văn Kiết, Nhà văn Thanh Nghị, Hoàng Trọng Quỳ, vợ là nghệ sĩ Tâm Vấn. Ông bà Trần Kim Bảng, bút hiệu Thiên Giang, vợ là nữ sĩ Vân Trang, thân sinh ra gs địa chất Trần Kim Thạch. Em gái bà Vân Trang là nghệ sĩ Mộng Trung, vợ Trần Văn Khê. Giáo sư Nguyễn Văn Ch́, vợ là là bà Nguyễn Đ́nh Chi, Chánh án Phạm Ngọc Thu, Vơ Ngọc Thành, dược sĩ Hồ Thu, kỹ sư Cao Văn Bổn, kỹ sư Tô Văn Cang, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, chức sắc Cao Đài Nguyễn văn Ngỡi, bà Bùi thị Nga (vợ của ông kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát.)
Sau 1975, sau “ngày giải phóng”, họ làm ǵ? Họ ở đâu ? Họ chẳng làm ǵ cả. Họ tiếp tục ngồi chơi xơi nước với danh hăo? Họ tiếp tục ăn bánh vẽ dù chẳng c̣n muốn ăn. Bà Bùi Thị Nga có thay chồng viết cuốn Huỳnh Phát, cuộc đời và sự nghiệp, dày trên 600 trang cùng không một chữ cho bà Dương Quỳnh Hoa.
Hồi đó quư vị được đảng bố trí ở biên giới Việt Nam-Campuchia, khoảng giữa bót Tà Xúa tới Chợ Giữa, Kà tum. Nhưng v́ vấn đề an ninh, quân sự, chỗ ở cũng bị thay đổi nhiều lần để tránh phi cơ Mỹ ném bom.
Nhiều vị được dẫn đến “Trung ương” MTGPMN, phải vất vả lắm.Trước hết, phải vượt qua kinh Đ́a Vàng, đến Ba Thu trong vùng Mỏ Vẹt. Nhà ở là mấy chục nóc nhà ni lông. Ai cũng ngủ vơng cả. Nghe tiếng máy bay là lăn từ vơng xuống hầm ngay đó. Nhà ăn tập thể th́ nóc lợp lá trung quân, chung quanh có nhiều hầm đào sẵn để tránh bom. Nhà này vừa dùng làm chỗ ăn uống đồng thời là chỗ hội họp chính tri. Hằng ngày, Huỳnh Tấn Phát, linh hồn của Mặt trận, họp để đọc tin tức, nghe bá cáo và học tập. Nhất là nhanh chóng “để các vị ổn định tư tưởng và đời sống riêng tư.”
Nhiều vị ra đi tưởng chỉ vài tuần là “Giải phóng xong miền Nam”. Nay nhớ nhà, nhớ cơm, nhớ phở, nhớ điện, nhớ nước, nhớ cầu tiêu, nhớ tiện nghi Sài G̣n. Nhiều khi không biết làm ǵ th́ gs Nguyễn Văn Kiết mang triết học của Kant, Hegel ra giảng cho các quư vị nghe đỡ buồn. Vấn đề ăn uống chắc không có trở ngại ǵ. Chỉ sợ kiến rừng. Đồ ăn dư phải để trong một bát nước, nếu không kiến ḅ vào bát xơi trước. Nhưng vấn đề tắm rửa cho mấy vị phụ nữ th́ thật phiền hà. Người như bác sĩ Dương Quỳnh Hoa mà nay phải ra tắm suối cởi truồng th́ coi sao được. Bảo vệ phải làm nhà tắm, đi khuân nước về, rồi phải đun sôi cho vị nữ bác sĩ tắm cho đỡ lạnh. Đối vị nữ lưu như bà, thế là cực khổ lắm rồi.
Công việc chính là ngồi chơi xơi nước. Biết ḿnh bị lợi dụng, biết bị làm cảnh, biết bị lừa.
Nhưng, như nhạc TCS, Tiến thoái lưỡng nan, đi... về… lận đận.
Muốn về cũng không có đường về.
|

|
|
Huỳnh Tấn Phát (1913-1989)
Nguồn: wikimedia.org
|
Quư vị th́ nhàn, không có việc ǵ làm, họp hành đưa ra nghị quyết, tuyên bố rồi biên bản bị vứt vào sọt rác, v́ Trung ương đă soạn sẵn. Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch Hội đồng cố vấn chính phủ cũng nhàn. Ngồi chơi xơi nước đến hai lần. Trong khi đó theo Trần Thanh Quốc, thư kư riêng của Huỳnh Tấn Phát – chủ tịch Phát làm chủ tịch chính phủ cách mạng lâm thời cộng Ḥa miền Nam VN – với chức vụ đó ông “không có một chút th́ giờ để nghỉ ngơi. Chỉ có thể nói những phút giây rảnh rỗi là khi anh lên yên con ngựa sắt để đi họp. Đó là thời gian nghỉ ngơi thanh thản nhất.” Bận thế đấy.
Trước 1975, 4 vị thanh niên là Trần Quang Long, Trần Triêu Luật, Lê Hiếu Đằng, và Trần Thiên Tứ sang công tác ở tuyên huấn R. Trần Quang Long và Trần Triệu Luật đă chết sau ba đợt bom tại đây.
Hầu hết những vị này, sau 30/04/1975 đều cho ngồi chơi xơi nước. Đó là cách đăi lọc kiểu cộng sản. Chỉ riêng những người đă từng chiến đấu dưới hàng ngũ cộng sản như Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị B́nh c̣n được giữ chức vụ ngồi chơi nước như Phó Thủ tướng chính phủ. Ông Phát sau này chỉ lo vụ tiêp tân, đón tiếp khách ngoại quốc hoặc có nhiệm vụ đi ra nước ngoài thay mặt chính phủ.
Đó là số phận dành cho những kẻ chạy cờ. Một cách khai trừ “ êm dịu”
(C̣n tiếp)
© DCVOnline
|
|
|
|
|