|
Alas, wartime “Viet
Nam was not a land for pacifists,”
Robert Topmiller
Nguyễn Văn Lục
Political Monks.
Những nhà sư làm chính trị: TT
Thích Trí Quang
Đặt vấn đề như một gợi ư
Trong bối
cảnh tôn giáo và chính trị hiện
nay, nhân vụ cha Nguyễn Văn Lư
bị bắt giam tù rồi vụ biểu t́nh
của giáo dân Thái Hà cũng như vụ
sư ông Làng Mai với Bát Nhà, thử
đặt lại vấn đề tôn giáo và chính
trị trong biến cố Phật giáo 1963
mà nhân vật chủ chốt là TT Thích
Trí Quang như một tiếp cận!
Câu hỏi đặt ra là, “Một nhà tu
hành có thể đồng thời là là một
nhà tu và là là một nhà hoạt
động chính trị được không?
Trường hợp TT Thích Trí Quang
th́ nên coi ông là một nhà tu
hay là một nhà chính trị?”
Vấn đề Tôn giáo và Chính trị
Tôn giáo cho đến thế kỷ 18 tại
các nước Âu Châu giữ địa vị độc
tôn, chi phối hoàn toàn đời sống
chính trị, xă hội con người.
Lịch sử tôn giáo, đặc biệt là
Thiên chúa giáo như một đám mây
đen phủ lên đến đời sống con
người về chính trị, văn hóa,
sinh hoạt đời thường. Thần quyền
chế ngự thế quyền cũng đă gây ra
nhiều tai tiếng, hệ lụy chẳng
cần nói ra ở đây.
Nhưng từ thời kỳ Enlightenment,
c̣n gọi là thời kỳ Khai Sáng,
thời đại lư trí xuất hiện tại
Pháp th́ tôn giáo dần bước ra
khỏi đời sống chính trị, quốc
gia.
Từ nay tôn giáo và chính trị là
hai lănh vực khác biệt. Các nước
Âu Châu như Pháp th́ từ sau cách
mạng Pháp, giới tăng lữ không
c̣n vừa có thể là Giám mục vừa
là người “cai quản thành” nữa.
Điều này cũng cho thấy người Mỹ
khá phân minh về hai lănh vực
chính trị và tôn giáo nên tránh
được những dẫm chân và lợi dụng
nhau không như ở Việt Nam. V́
thế, Hiến Pháp Hoa Kỳ đă minh
định rơ ràng ngay từ đầu là có
sự tách biệt giữa Giáo Hội và
Nhà nước và sự phân chia đó vẫn
c̣n được duy tŕ cho đến ngày
nay
(The Separation of Church and
State).
Nhưng người Mỹ cũng như người
Pháp, họ chỉ “đàng hoàng” tuân
thủ pháp luật khi ở trong nước
họ, nhưng họ “chẳng ra ǵ” khi
sang Việt Nam. Chính họ là người
lợi dụng tôn giáo để can thiệo
vào nội t́nh chính trị ở Việt
Nam.
Lẽ dĩ nhiên, ai cũng hiểu là
biên giới giữa hai lănh vực
không phải lúc nào cũng rơ rệt
như trắng với đen. Có những thái
độ chính trị như phản kháng, bất
đồng chính kiến về những bất
công hay vi phạm quyền làm người
th́ xem ra người ta làm ngơ hoặc
ngầm đồng ư để cho các vị tu sĩ
lên tiếng.
Nghĩa là có thái độ chính trị
được coi là chính đáng th́ gián
tiếp tu sĩ được làm chính trị?
Đó là trường hợp mục sư Luther
King hay hiện nay Đạt Lai Lạt
Ma, Tây Tạng.
Hay cụ thể hơn nữa ở Việt Nam,
đó là trường hợp các linh mục
Phan Văn Lợi, Chân Tín và nhất
là Nguyễn Văn Lư. Phía Phật giáo
th́ có các vị như Ḥa thượng
Thích Quảng Độ hay Huyền Quang.
Theo tôi, bầy tỏ một thái độ đối
kháng hoặc đ̣i hỏi cho những giá
trị căn bản của con người như tự
do tôn giáo, tự do ngôn luận th́
bất cứ ai, dù là một vị tu hành
cũng đều được trân trọng.
Chẳng hạn trường hợp linh mục
Nguyễn Văn Lư, Ḥa thượng Quảng
Độ.
Nhưng nhân danh một linh mục đ̣i
hỏi đổi tên Sài G̣n hoặc đứng
trong tổ chức “Giải trừ những
huyền thoại về Hồ Chí Minh” th́
nó nghiêng về phần làm chính trị
hơn là tôn giáo. Công việc làm
đó dĩ nhiên được coi là nên làm.
Nhưng phải chăng là chỗ để cho
một vị linh mục để hết thời gian
và công sức cho việc làm có tính
cách chính trị ấy?
Có thể nào có thể ngầm ủng hộ
tinh thần và thái độ can đảm của
Ḥa thượng Thích Quảng Độ chống
lại nhà nước cộng sản, nhưng lại
khó có thể chấp nhận được việc
làm của Sư ông Nhất Hạnh? Mà cả
hai thực tế đều dính dấp đến
chính trị ngoài phạm vi tôn giáo?
Phần nước Việt Nam ta từ hồi nào
đến giờ, nếp sống tôn giáo với
các nhà sư xem ra ẩn khuất nấp
ḿnh sau các ngôi chùa với tụng
kinh gơ mơ. Chỉ có nhà thờ có sự
phô trương lộ liễu và ít nhiều
ảnh hưởng tới sinh hoạt chính
tri, dính dáng vào nội bộ chính
quyền như thời kỳ đệ nhất và đệ
nhị cộng ḥa.
Thật vậy, người Mỹ như đại sứ
Durbrow nh́n thấy người Thiên
Chúa Giáo di cư cũng như các
giáo phái từng đă có những hoạt
động chính trị chống Pháp trước
1954 nên trong một phúc tŕnh
gửi bộ Ngoại giao vào tháng 9,
1960 cho rằng những thành phân
tôn giáo có tiềm năng đi đến chỗ
có thể có những hoạt động như
mít tinh, âm mưu đảo chánh là
thuộc giới Thiên chúa giáo di cư
và các giáo phái.
Đại sứ Durbrow không nhắc nhở ǵ
đến Phật tử.
(In a survey of the
potentialities of various group
in South Viet Nam for political
activities such as
demonstrations and mounting of
coups that he had sent the
Department in september 1960,
Ambassador Durbrow had
mentionned the Catholic refugees
and the sects, but not the
Buddhists.
(Trích Saigon
Embassy to State, telegram 538,
September 5, 1960,
FRUS
1958-1960, vol. I, pp. 560-563)
Nhưng nh́n cả hai phía Thiên
chúa giáo và Phật giáo thời
1960, tôi chỉ thấy có hai vị
lănh đạo tinh thần tỏ ra hiểu
biết ranh giới giữa tôn giáo và
chính tri và khẳng định tôn gíáo
không nên xen vào chính trị. Đó
là Tổng giám Mục Nguyễn Văn B́nh
và ông Mai Thọ Truyền, phó chủ
tịch hội Phật học.
Riêng ông Mai Thọ Truyền tuyên
bố một cách khá cứng rắn như
sau:
Có thể chấp nhận để
các các cá nhân
người theo đạo Phật
tham gia vào các
họat động biểu t́nh,
nhưng không được
mang danh nghĩa đại
diện Phật giáo, ngay
cả trong trương hợp
phải đối đầu với
cộng sản vốn không
phù họp với Phật
giáo, Giáo hội Phật
giáo cũng không cho
phép một cá nhân nào
hoạt động đấu tranh
nhân danh tôn giáo.
(It was acceptable
for individual
members of the
Buddhist faith to
participate in
demonstrations, but
not as
representatives of
Buddhism. It was
obvious to an
individual Buddhist
that communism and
Buddhism were
incompatible, but
any resistance to
communism by
Buddhist faithful
would have to be
phrased in passive
terms because the
tenets of Buddhism
đid not permit
militant action in
the name of
religion”
(Trích The
Indochinese Experience
of the French and the
Americans, Nationalism
and Communism
in Cambobodia, Laos,
and Viet Nam, Arthur
J. Dommen, trang 508).
V́ vậy trong phong trào
Phật giáo chống lại lại
chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm th́ chủ yếu xuất
phát từ miền Trung chứ
không phải từ Phật giáo
trong Nam và các giáo
phái.
Về phía Thiên chúa giáo,
tôi nghĩ đó là một lỗi
lầm do một nhúm các linh
mục tiêu biểu mà về sau
này hy vọng Thiên Chúa
Giáo không c̣n tái diễn
lại “cái thời Trung cổ”
đó nữa. Tôi chống giáo
trị đến cùng
(anti-clerical).Tôi
học được thái độ đó của
ông Ngô Đ́nh Nhu đối với
Thiên Chúa Giáo, mỗi khi
ông có dịp “bắt buộc”
phải tham dự những buổi
lễ của Viện Đại Học, Đà
Lạt. Tôi nh́n, quan sát
thái độ cử chỉ của các
ông Trương V́nh Lễ,
Trương Công Cừu và Ngô
Đ́nh Nhu, tôi kính nể
ông Ngô Đ́nh Nhu bao
nhiêu th́ phần ngược lại
dành cho hai vị kia.
Ông Trương Vĩnh Lễ là
chủ tịch Quốc Hội của cả
nước, ông đă đứng ra làm
chủ tịch ủy ban mừng lễ
ngân khánh TGM Ngô Đ́nh
Thục vào ngày
29/03/1963. Cạnh đó thêm
các bộ trưởng giáo dục
Nguyễn Quang Tŕnh, viện
trưởng đại học giáo sư
Lê Văn Thới... Quan
khách được mời phải đóng
5000 đồng để dự bữa tiệc
đó.
Việc này nghĩ lại mà
thấy ngượng. Đám quan
lại và giám mục Ngô Đ́nh
Thục là những người gián
tiếp hại ông Diệm. Khi
có quyền thế, người ta
không c̣n biết cái đạo
phải trái, “lẽ thông
thường” nữa.
Phần ông Ngô Đ́nh Cẩn và
Ngô Đ́nh Nhu th́ đều
buồn chán giám mục Ngô
Đ́nh Thục mà không dám
nói ra. Anh em, theo tôn
ti trật tự thấy chướng
mà không dám nói lại
phải nhờ người này kia
nói dùm.
Trong sách Bên Gịng
Lịch sử, linh mục Cao
Văn Luân có kể lại việc
này như sau khi gặp ông
Ngô Đ́nh Nhu:
Ông Nhu
cũng trả lời
như ông Cẩn.
‒ Tôi cũng
hoàn toàn
đồng ư với
nhận định
của cha, đôi
khi buồn đức
cha v́ ngài
lầm lẫn phạm
vi tôn giáo
với phạm vi
quốc gia.
Khi ở Vĩnh
Long, tôi
cũng không
biết làm sao
khi thấy
từng lũ dân
biểu, tỉnh
trưởng, bộ
trưởng mườm
mượp kéo đến
gặp Đức cha”
(Trích Bên
gịng lịch sử,
Cao Văn Luận,
chương Chế độ
bắt đầu rạn nứt,
trang 7.)
Dĩ nhiên, tôi
hiểu, đó chỉ là
cái nhận thức
quá khích thời
tuổi trẻ. Nhưng
nó đă in sâu vào
tâm trí. Và cứ
như thế, sau này
tôi không ưa TGM
Ngô Đ́nh Thục,
càng không ưa
cha Hoàng Quỳnh.
Tôi đă xếp loại
các vị đó rồi.
Và sau này, trớ
trêu thay, Phật
giáo cũng muốn
đ̣i hỏi điều mà
chính giáo hội
bên Thiên chúa
giáo cần phải
gạt bỏ. Điều ấy
trở nên sự thực
hiển nhiên kể từ
sau khi lật đổ
TT Ngô Đ́nh Diệm
năm 1963, Phật
giáo đi lại vết
dấu dă tràng
trên cát mà
Thiên chúa giáo
đi qua.
Phật giáo cũng
đă mất cái thế
quân b́nh trong
mối tương quan
thần quyền và
thế quyền. Bám
theo thế quyền
với quyền lực
chính trị cộng
với vinh danh
trần thế đă xô
ngă nhiều vị.
Theo Arthur L
Dommen th́ TT
Thích Trí Quang
được coi như
người chỉ đạo kế
hoạch đă cho
thấy những
nguyên động lực
muốn lật đổ
chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm bằng
nhiều h́nh thức
thách thức chính
quyền. Đă có một
buổi họp tại
chùa Từ Đàm vào
đêm 15-16 với sự
có mặt của
(TT Thích Trí
Quang và -
DCVOnline)
TT Thích Thiện
Minh trong đó
vấn đề tự thiêu
đă đưa ra bàn
căi như một
chiến thuật
chính trị, đồng
thời chỉ định ai
là người đầu
tiên t́nh nguyện
tự thiêu ..
Riêng chùa Xá
Lợi phần đông
những người Việt
Nam cũng như
ngoại quốc đều
đồng ư là chùa
Xá Lợi là trung
tâm đầu năo các
hoạt động chính
trị của giới
lănh đạo Phật
giáo hơn là nơi
thờ phượng.
(His
subsequent
role
as
the
mastermind
of a
plan
to
bring
down
Diem’s
government
by a
series
of
such-provocations
clearly
confirms
his
motives
and
his
means.
There
had
been
a
meeting
at
Tu
Dam
on
the
night
of
april
15-16
attended
by
Tri
Quang
and
Thich
Thien
Minh,
among
others,
at
which
the
subject
of
self-immolations
by
fire
as a
political
tactic
had
been
discussed
and
the
first
volunteer
đecided
upon
...
There
was
little
disagreement
among
observers,
both
Vietnames
and
foreigners,
that
Xa
Loi
had
become
more
a
political
command
post
than
a
holy
place.)
(Trích
như trên,
trang
511 và
trang
524)
Phần ông
ông Cao
Xuân Vỹ
cho hay
là mỗi
lần đi
qua chùa
Xá Lợi,
ông thấy
có chăng
nhiều
bỉểu ngữ
chống
chính
phủ cộng
thêm các
loa
phóng
thanh
ngày đêm
kêu gọi
dân
chúng mà
nội dung
nhằm
chống
lại
chính
quyền
Ngô Đ́nh
Diệm.
Tôi đưa
ra nhận
xét của
ông Cao
Xuân Vỹ
với sự
dè dặt
thường
lệ.
Tuy
nhiên,
tôi có
liên lạc
với một
cựu sinh
viên
Phật tử
Huế cho
biết:
Lúc bấy
giờ, các
nam nữ
Phật tử
cũng như
các thầy
đều bị
cô lập
trong
chùa,
không dễ
để liên
lạc được
với bên
ngoài.
Phần TT
Trí
Quang
không có
chủ
trương
dùng
giải
pháp tự
thiêu
như một
h́nh
thức
phản đối
chính
quyền TT
Ngô Đ́nh
Diệm như
nhận xét
của
Arthur
J.
Dommen
nêu trên.
Bằng
chứng rơ
rệt là
cuộc tự
thiêu
đầu tiên
của ḥa
thượng
Quảng
Đức xảy
ra tại
Sài G̣n,
tại Ngă
Tư Phan
Đ́nh
Phùng,
Lê Văn
Duyệt.
Cứ theo
lời kể
lại của
đại đức
Thích
Đức
Nghiệp
th́ tối
ngày
10/06/1963,
Thượng
Tọa Tâm
Châu và
Thiện
Hoa đă
cho xe
đến Ấn
Quang
chở Đại
đức
Thích
Đức
Nghiệp
đến chùa
Xá Lợi,
nơi đây
TT Tâm
Châu yêu
cầu đại
đức TĐN
tổ chức
tự thiêu
cho Ḥa
Thượng
Quảng
Đức để
hỗ trợ
Phật
giáo Huế,
cũng là
thể theo
như ư
nguyện
của Ḥa
thượng
Quảng
Đức
trong
bức thư
xin tự
thiêu đề
ngày
27/05/1963.
Đại đức
Thích
Đức
Nghiệp
đă tổ
chức chu
đáo việc
tự thiêu
như sau:
‒ Thầy Chân Ngữ có nhiệm vụ đổ hết xăng lên người Ḥa thượng Quảng Đức khi cùng ngồi trên chiếc xe Austin của phật tử Trần Quang Thuận cho mượn.
‒ Thầy Trí Minh ngồi ghế dẫn đường cho tài xế tới ngă tư trên, rồi làm bộ chữa xe để Ḥa Thượng bước xuống đường và ngồi tự thiêu.
‒ Thầy Hồng Huệ giữ trật tự, hướng dẫn tăng ni đứng thành hai hàng xe để xe Ḥa Thượng đi ở giữa.
‒ Phần Đại đức Thích Đức Nghiệp khi xuống xe th́ trao tay cho Ḥa Thượng bao quẹt để Ḥa Thượng bật lửa thiêu...
Lập tức sau đó, yêu cầu 20 tăng ni nằm chặn ở bốn góc đường không cho xe cứu hỏa tới chữa lửa. Chừng 30 phút sau cuộc tự thiêu hoàn tất giữa tiếng khóc than và cầu kinh của các phật tử đang quỳ giữa đường.
Đại đức cũng đă không quên mật báo cho các phóng viên ngoại quốc tại hiện trường có mặt như Simon Michaud của Thông tấn xă AFP, Malcom Browne của AP và Neil Sheehan...
Cũng cùng lúc đó có xe của Đại tướng Harkins tới chứng kiến... Trong khi đó không có bất cứ phóng viên Việt Nam của các báo Việt ngữ được chứng kiến quang cảnh này.
(Trích trong Trang nhà Quảng Đức, Hồi kư đặc biệt Vụ tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức).
Việc tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quang Đức đă gây bàng hoàng và xúc động đối với lương tâm của thế giới. Việc tự thiêu của Ḥa Thượng Quảng Đức tự nó là một điều lư tưởng không bàn căi ǵ được.
Nhưng cách thức tổ chức cho thấy chỉ nhằm cho người ngoại quốc biết vô t́nh trở thành một sự dàn dựng mang tính cách political tactic như nhận xét của Arthur J. Dommen.
Cái vụng về đó sau này được lập lại nhiều lần, nhiều phía trong bất cứ biến cố chính trị lớn nhỏ nào. Người được thông báo đầu tiên bao giờ cũng là là các phóng viên ngoại quốc.
Tinh thần vọng ngoại thấy rơ. Tinh thần lệ thuộc cũng thấy rơ.
Chẳng hạn trong vụ bố ráp chùa Xá Lợi đêm 20/08/1963, nay đến lượt các tướng lănh trong nhóm đảo chánh đă tiết lộ bí mật đó cho phóng viên David Halberstam, báo New York Times. Phóng viên này đă vội lái xe đến chùa Xá Lợi để thông báo cho các vị lănh đạo Phật giáo trốn đi. Nhưng tất cả các vị lănh đạo đă quyết định ở lại, không đi đâu hết, ở lại sống chết với tăng ni và phật tử.
Người duy nhất trốn thoát được sang cơ sở USOM, cạnh chùa Xá Lợi là TT Thích Trí Quang.
Làm thế nào TT Trí Quang đă trốn thoát được?
Theo lời thuật lại của sinh viên Phật tử thân cận với thượng tọa Trí Quang nói truyện qua điện thoại với tôi th́ thầy Trí Quang kể lại đă được các tăng ni, sư quây quần chung quanh ông và rồi họ đă quyết định thay áo vàng, giả làm sư người Cao Mên, thuộc tiểu thừa, nhờ đó TT Trí Quang đă không bị lộ danh tánh và trốn được sang sở USOM.
Sau này, người viết nhận thấy đă có nhiều vụ tự thiêu ở các nơi và ở Huế hàng loạt. Ư nghĩa tôn giáo bắt đầu mờ nhạt và nhận xét của Arthur J. Dommen: Political tactic không hẳn là không có phần sự thật.
Khi tranh đấu th́ h́nh như lư tưởng tôn giáo lấn lướt và vượt những nhu cầu thực tế và manh động của chính trị. Lúc đó tôn giáo và chính trị c̣n tách biệt riêng rẽ.
Nhưng khi cuộc tranh đấu đă xong th́ đó là lúc mà tôn giáo dễ bị sa đà, bị lợi dụng.
Tôn giáo đă bị chính trị hóa và bị lợi dụng.
Sau đây, người viết, xin trưng dẫn một số bằng chứng c̣n ghi lại trong các báo hàng ngày ở thời kỳ đó.
Theo báo Chính Luận, ngày 30/08/1964, Trung tướng Nguyễn Khánh đă tiết lộ bức thư có chữ kư của TT Thích Tâm Châu và TT Thích Trí Quang, Chánh thư kư viện Tăng thống của Giáo Hội Việt Nam thống nhất ngày 26-08-1964 và đọc lên một đoạn trong bức thư đó:
“Dẫu lập trường thuần nhất của Phật giáo thống nhất là thuần túy tôn giáo, nhưng chính v́ thế để bảo vệ tín ngưỡng, chúng tôi khuyến cáo đồng bào Phật giáo với tư cách công dân, nhiệt liệt ủng hộ Trung tướng trong việc chống lại những kẻ phá hoại nước nhà, trong số có bọn phản cách mạng và bọn cộng sản.”
(Trích Người Việt online 27-08-2009)
Tôn giáo thế tục là một thứ tôn giáo đă sa đà, mất bản chất xảy ra cho bất cứ tôn giáo nào, trong bất cứ thời kỳ nào. Đừng vội tưởng rằng ḿnh có bàn tay sạch. Có thứ bàn tay bẩn kiểu J.P. Sartre theo tinh thần trách nhiệm liên đới c̣n hơn thứ bàn tay sạch của quan tổng trấn Pilate, rửa tay tuyên bố: Tôi vô can trong việc xử án người này.
Họ bước đúng vào những dấu chân để lại trên cát và lần này vết chân để lại trên cát sâu hơn và rơ nét hơn.
V́ thế, từ thời điểm 1960 trở đi và nhất là cao trào từ 1963 đến 1966-1975, khó có thể có h́nh ảnh nhà sư với phong thái sư cụ chùa Long Giáng nữa. Tôi có cái nh́n lăng mạn về giới tu sĩ Phật giáo qua văn chương mà rất tiếc sau này, tôi không bắt gặp lại được nữa.
|

|
|
Thiền sư Thích Nhất Hạnh và đệ tử cùng Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (Tháng 5, 2007)
Nguồn: OntheNet
|
Phần Sư ông Thích Nhất Hạnh, ông dơ cao khẩu hiệu: Đạo Phật nhập thế với truyền thống lịch sử, Phật giáo đồng hành với dân tộc hay đồng hóa Đạo Pháp và dân tộc. Khẩu hiệu lư tưởng lắm, nhưng đằng sau khẩu hiệu là những ǵ? Chính sư ông phải biết rơ hơn ai hết.
Khi nói như thế, liệu chúng ta có cần nh́n sang các nước láng giềng như Thái Lan, Miến Điện, Kampuchia để xem đạo Phật đă bám rễ sâu trên đất nước họ như thế nào? Và truyền thống của họ như thế nào?
Để bắt đầu thể hiện sự nhập thế là những tên gọi mới không quê mùa như cách xưng hô cũ. Thời đại mới nhập cuộc th́ tên gọi mới. Nay không c̣n ai gọi theo lối xưa là sư ông, sư bà, sư cụ dựa theo tuổi tác, thân quen như trước nữa. Tước gọi mới nay chú trọng tới phẩm trật địa vị, thứ bậc trong giáo hội. Điều đó chứng tỏ một giáo hội Phật giáo trưởng thành có tổ chức và quy củ hơn?
Đó là những danh xưng như Đại đức, Thượng tọa, Ḥa thượng và đại lăo Ḥa thượng. Chưa kể những chữ như Thượng thủ thêm vào như không chừa một chỗ trống nào cho bất cứ ai. Các phẩm chức này không biết có được dùng để gọi cho các vị sư nữ hay không? Nhiều lúc, tôi bắt gặp chữ kư của TT Thích Trí Quang, một nhà sư kư là Tỳ kheo Thích Trí Quang, Tôi rất thích và trân quư chữ này chỉ v́ nó có vẻ không huyênh hoang. Một nhà sư suốt đời ở trong chùa như ông mà bản thân lại không có chùa nào cho ḿnh cả, măc dầu lúc đương thời, ông muốn có mấy cái mà chả được.
Một nhà sư đi tu ở chùa mà coi như vẫn không nhà, không cửa, tôi nghĩ ít ra cũng là một điều tốt. Ít ra cũng hơn ông TT Thích Tiện Nghi ở Bát Nhă hiện nay.
Phật giáo với quyền uy mà biến chất th́ nó trở thành một thế lực chính trị như thế nào?
Cái quyền uy ấy, cái mà Jerrold L. Schechter gọi là Bộ mặt mới của Phật giáo: The new face of Buddha, trong đó trộn lần quyền lực chính trị và tôn giáo.
Không c̣n h́nh ảnh Phật ngồi an ḥa trên bàn thờ.
Phật xuống đường. Phật bây giờ qua h́nh ảnh TT. Thích Trí Quang ngồi biểu t́nh trước dinh Độc Lập. Đó là một h́nh ảnh biểu lộ quyền uy hay một thách đố chính trị?
|

|
|
Sau 3 năm vắng bóng, TT Thích Trí Quang (bên trái) xuống đường đ̣i tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức (31/3/1975, Sài G̣n, Việt Nam)
Nguồn: © Bettmann/CORBIS
|
Cạnh đó, giới tăng ni dấn thân cho Đạo pháp bên cạnh hàng rào giây kẽm gai: Buddhists to the Barricades. Thời đó, Mỹ đă gọi như thế đấy.
Phải chăng đây là cách dấn thân, nhập cuộc mà sư ông Nhất Hạnh muốn nói đến
Những tên tuổi như Thích Tâm Châu, Thích Trí Quang, Thích Nhất Hạnh được nhắc tới một cách trân trọng và vang danh khắp thế giới:
“In contrast to the open, unassuming Thich Nhat Hanh stood Thich Tri Quang, leader of the radical antiwar faction in the UBC. An enigmatic figure who projected an aura of intensity with his stern bearing and obscure pronouncements, his remained the best-known Buddhist monk to Americans in Saigon.”
(Trích Lotus Unleashed, Robert J Topmiller, trang 8)
Và để hiểu rơ hơn mối tương quan tôn giáo chính tri, tôi mượn nhan đề cuốn sách của Mark Moyar: Political Monks như ở tựa đề bài viết là có chủ đích. Các vị trên nổi danh là nhà tu hành “đắc đạo” hay nổi danh chỉ v́ là Political Monks? Và tự hỏi có thể có một nhà tu hành đồng thời là một nhà chính trị không? Vấn đề chính danh có cần phải đặt ra không? Và vấn đề vai tṛ và sứ mệnh của người tu sĩ phải được hiểu như thế nào?
Nếu lấy cái tinh thần minh triết, khai sáng của thế kỷ 18 bên Âu Châu th́ hoặc là nhà tu hoặc là nhà chính trị. Không thể cùng lúc cả hai được. Những trường hợp như mục sư King hay Đức Dạt Lai Lạt Ma là những trường hợp hiếm hoi không thể mang ra áp dụng cho mọi người được
Vào giai đoạn khủng hoảng Phật giáo ở miềnTrung, theo tôi, kể như lần đầu tiên tờ báo Time đưa ra h́nh ảnh TT Thích Trí Quang với tiêu đề: Politican from the Pagoda. Người làm rung chuyển nước Mỹ! Nhà chính trị đi ra từ cửa chùa. Đây là một lời khen hay là một lời khen với hậu ư?
Phải chăng tiêu đề đó đủ để diễn tả tính chất của cuộc khủng hoảng đó? Một lần nữa đặt ra ở đây câu hỏi biến cố Phật giáo 63 là một đ̣i hỏi tôn giáo b́nh đẳng hay đằng sau cái đ̣i hỏi ấy là một vận động chính trị nhằm lật đổ một thể chế chính trị?
Nước ta ở trong một hoàn cảnh đặc biệt, một nước lạc hậu về kinh tế. Ư thức về chính tri, ư thức dân chủ c̣n yếu kém, đảng phái tổ chức c̣n lỏng lẻo, thiếu lănh tụ và lănh đạo. Đă thế, trong một thời gian quá ngắn, thể chế quân chủ đă chuyển đổi sang thể chế cộng ḥa. Người lănh đạo chưa chuẩn bị xong. Thiếu người, thiếu nhân sự, thiếu những nhà lănh đạo chuyên nghiệp !
T́nh thế lúc ấy đ̣i hỏi th́ c̣n ai có uy tín hơn chính các linh mục, các nhà sư gia nhập thế giới chính trị? Hoặc cùng lắm đề cử người do sự chọn lựa của các linh mục, các nhà sư? Họ có đám đông đứng đằng sau họ mà phần đông cũng đều là thành phần dân chúng dễ bảo, dễ tin? Đây là một thứ dân chủ giả hiệu, bởi v́ người dân không chọn trực tiếp người mà họ chọn gián tiếp qua các cha hay nhà sư.
Và chỉ cần các vị tu sĩ gật đầu ưng thuận. Lá bài chính trị đă được thực hiện và đánh bại bất cứ đối thủ khác, dù là có uy tín chính trị đến đâu. Tôi đă từng chứng kiến một người bạn cũng khóa với tôi, anh Nguyễn Hữu Hiệp, 26 tuổi, chưa có một chút kinh nghiệm chính trị, đá văng một nhà chính trị có tiếng tăm từ trước 54, bác sĩ Hoàng Cơ B́nh ra khỏi chức vụ dân biểu tại Di Linh.
Xin trích dẫn một vài chứng từ, trích báo Công Luận ngày 31 tháng 8, 1971.
Bầu cử Hạ viện. Đối lập dẫn đầu ở Sài G̣n và miền Trung. Phật giáo đại thắng quân khu 4. Sài G̣n, Đối lập và độc lập thắng lớn.
Theo những số liệu được công bố tại Sài G̣n, trong toàn quốc đă có tới 5.567,463 cử tri đi bầu dân biểu Hạ viện, pháp nhiệm kỳ 71-75...
Quảng Ngăi.
Một sự kiện khác được ghi nhận là tại Quảng Ngăi các ứng cử viên Phật giáo đă toàn thắng với 4 người đưa ra đều được tín nhiệm..
ỨCV Thiên chúa giáo Hồ Ngọc Cẩn đang dẫn nh́ với số phiếu kém TT. Đôn trên 10 ngàn phiếu.
Các ứng cử viên của các đảng phái như Việt Quốc, Đại Việt, Cấp Tiến đều không được xếp hạng tại đây...
Người ta cũng ghi nhận tại Quảng Ngăi các đảng phái đă cố gắng vận động nhưng không có kết quả...
(Trích Người Viet online, ngày 29/08/2009)
Quả là một cuộc tranh cử không đồng sức. Con “gà ṇi” được chọn ra thay mặt hiên ngang tiến vào nghị trường. Từ đó, mối tương quan quyền lực tôn gíáo và chính trị tạo thành mối tương quan ông chủ-bầy tôi. Ông chủ là đại diện cho tôn giáo, bầy tôi đại diện cho chính trị. Ông chủ lúc này tưởng ḿnh là ông trời con, trở thành những kiêu tăng?
Cả hai kẻ thắng và kẻ bại đều bị vong thân vào quyền lực chính trị mà chẳng đại diện cho đám quần chúng nào cả.
Cho nên nếu thẳng thắn nh́n lại sinh hoạt chính trị miền Nam giai đoạn này cho thấy thiếu lành mạnh, tạo ra một đám người vô tài, nhiều khi thiếu tư cách, thiếu vốn liếng chính trị đưa đến t́nh trạng Nghị Gật, dân biểu buôn lậu..
Không dám vơ đũa cả nắm, nhưng thực tế có như vậy.
Sự có mặt của các lănh đạo tôn giáo sau hậu trường đă tạo ra những bất ổn chính trị liên tục mà ta đă mỉa mai gọi là “Những năm xáo trộn” môt năm thay ba lần thủ tướng và nếu không đạt được như ư muốn th́ ông chủ thúc đẩy dân chúng đi biểu t́nh, xuống đường có nguy cơ đưa đến t́nh trạng vô chính phủ?
Sai G̣n, ngày 27/08/1964. Miền Trung yên tĩnh. Trở lại chờ đợi.
Chính Luận 29-8-1964. Vài giờ trước khi Hội Đồng Cách Mạng ban hành các quyết định. Bạo động trước Bộ Tổng Tư Lệnh, 7 chết, 39 bị thương.
Trích báo Thần Phong ngày 12-8-1971. Các Phong trào tranh đấu sẽ khiến miền Trung 1971 “đại loạn” như năm 1967. Nhiều cuộc họp mặt sắp có nổ lớn.
Trích báo Độc Lập ngày 12-8-1971. Đồng bào các giới xúc động. 20 sinh viên tuyệt thực đă bắt đầu kiệt sức “ Dùi cui xiết chặt chung quanh chùa Ấn Quang”. kư giả Vũ Tiêu Giang.
(Trích Người Việt online 27-82009)
Cho nên, v́ chủ trương chống giáo trị bất cứ từ đâu tới, tôi khó ḷng mà chấp nhận quan điểm của thiền sư Nhất Hạnh trong bài Chính Trị và Tôn giáo trong đó có quan điểm Đức trị và Pháp trị ảnh hưởng lên nhau. Đồng thời ông có tham vọng trong nỗ lực mong muốn đồng hóa lịch sử dân tộc đồng hành với lịch sử của Phật gíáo. Cũng như thế đồng hóa đạo pháp và dân tộc. Đồng hóa lịch sử Phật giáo đồng hành với số mệnh lịch sử dân tộc.
Chưa kể có một thiểu số người lại có tham vọng về một chủ nghĩa bá quyền tôn giáo, đ̣i hỏi loại trừ, ngăn chặn “sự xâm lược văn hóa các ư thức hệ không tương hợp với nền văn hóa dân tộc” nói trắng ra là ki tô giáo.
Nội chỉ có ư tưởng loại trừ tôn giáo khác đó đủ đă bất xứng với yếu tính của lư thuyết Phật giáo rồi.
Nói ra th́ hay lắm, nhưng Phật giáo sẽ đồng hành với ai trong cái dân tộc đó? Giả dụ nếu có cuộc phân tranh giữa các triều đại th́ dân tộc sẽ thuộc về ai? Kẻ thắng hay kẻ thua? Trung thành với triều đại cũ hay ngả theo triều đại mới? Ai trong các lănh đạo tôn giáo có thể quyết định đồng hành với triều đại nhà Lư hay nhà Trần hay nhà Lê? Rồi trong cuộc Trịnh Nguyễn phân tranh, tôn giáo phải đứng ở góc độ nào đề đồng thuận với dân tộc? Trịnh hay Nguyễn, Tây Sơn hay Nguyễn Ánh?
Đă thế, từ khi phân chia Quốc Cộng, tôn giáo một lần nữa phải đồng hành với Quốc Gia hay Cộng Sản? Hăy giúp cho người Phật tử trong nước bây giờ một câu trả dứt khoát là nên theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất trước 1975 hay GHPG dựng lên năm 1981 của chính quyền cộng sản?
Chỉ một câu hỏi này thôi, tôi thấy họ đă ú a ú ớ không trả lời thẳng được. Phải chăng, Phật giáo đồng hành với dân tộc là ngả theo Giáo hội Phật giáo nhà nưởc?
Có lẽ nói như ông Trần B́nh Nam trong bài Tôn giáo và Đất nước có phần dễ được mọi người chấp nhận: “Tín ngưỡng th́ của mỗi chúng ta, c̣n đất nước chung của chúng ta.” (Trích Tôn giáo và Đất nước, Trần B́nh Nam , báo Đi Tới, trang 59, số 84, bộ mới).
Chúng ta chọn tôn giáo, chọn một lư tưởng đạo cho riêng ta, nhưng chúng ta không thể chọn không là người Việt Nam được. Tôn giáo của riêng ai nên không ai có thể “bẻ ghi” đất nước cho người khác được.
Kẻ mới tiếm ngôi vị th́ gọi kẻ trước là hôn quân vô đạo, bạo chúa nên ta thay ư Trời mà thế thiên hành đạo? Tôn giáo đứng ở chỗ nào để mà đồng hành với dân tộc? Dân tộc là ǵ trong các cuộc tranh bá đồ vương?
Chiến tranh nào, cuộc chiến thắng nào rồi cũng chỉ là một trận chiến tranh danh từ mà kẻ được th́ làm vua, kẻ thua th́ làm giặc. Và đă như thế th́ đạo giáo cứ đợi cho phân ngôi thắng bại và rồi đương nhiên sẽ đồng hành với kẻ chiến thắng? Phải chăng kẻ chiến thắng lúc ấy tự đồng hóa ḿnh là dân tộc?Tôn giáo dồng hành với dân tộc là đồng hành với kẻ chiến thắng?
Cho nên, sự phân chia thế quyền và thần quyền giúp tránh được sự lạm quyền và xa đọa tôn giáo như đă từng xảy ra một cách công khai thời đệ nhị cộng ḥa. Như trong Hồi kư của Lư Quư Chung, cuốn Nhật kư của im lặng, ông viết lại là ông đă phải đại diện cho tướng Dương Văn Minh ra Huế để xin sự ủng hộ của ông Thích Trí Quang.
Cho nên đối với tôi th́ rơ ràng tôn giáo là tôn giáo chính trị là chính trị. Áo nhà tu th́ có chỗ của nhà tu, áo chính trị th́ có nơi nghị trường. Hà cớ ǵ cứ mặc lẫn áo của nhau?
Và để tóm tắt phần này, tôi nghĩ rằng đường đi dài nhất và lâu nhất để lên được Niết Bàn hay Thiên đàng là con đường đi qua chính trị.
Chúng ta hơn 3 triệu người Việt Hải ngoại đă có kinh nghiệm sống trong một thế giới Đa Cực: Đa chủng tộc, đa tôn giáo, đa văn hóa sống trong ḥa đồng.
Điều ǵ làm cho thế giới đó ḥa đồng? Chính là sự tôn trọng người khác trong cái dị biệt, đa dạng.
Bài học các nước Hồi giáo vẫn c̣n đó. Đó là bài học tôn giáo xen vào chính trị.
© DCVOnline
|