Alas, wartime “Viet Nam was not a land for pacifists,” Robert Topmiller
 

Nguyễn Văn Lục
 

Political Monks.

Những nhà sư làm chính trị: TT Thích Trí Quang


Đặt vấn đề như một gợi ư

Trong bối cảnh tôn giáo và chính trị hiện nay, nhân vụ cha Nguyễn Văn Lư bị bắt giam tù rồi vụ biểu t́nh của giáo dân Thái Hà cũng như vụ sư ông Làng Mai với Bát Nhà, thử đặt lại vấn đề tôn giáo và chính trị trong biến cố Phật giáo 1963 mà nhân vật chủ chốt là TT Thích Trí Quang như một tiếp cận!

Câu hỏi đặt ra là, “Một nhà tu hành có thể đồng thời là là một nhà tu và là là một nhà hoạt động chính trị được không? Trường hợp TT Thích Trí Quang th́ nên coi ông là một nhà tu hay là một nhà chính trị?”

Vấn đề Tôn giáo và Chính trị

Tôn giáo cho đến thế kỷ 18 tại các nước Âu Châu giữ địa vị độc tôn, chi phối hoàn toàn đời sống chính trị, xă hội con người. Lịch sử tôn giáo, đặc biệt là Thiên chúa giáo như một đám mây đen phủ lên đến đời sống con người về chính trị, văn hóa, sinh hoạt đời thường. Thần quyền chế ngự thế quyền cũng đă gây ra nhiều tai tiếng, hệ lụy chẳng cần nói ra ở đây.

Nhưng từ thời kỳ Enlightenment, c̣n gọi là thời kỳ Khai Sáng, thời đại lư trí xuất hiện tại Pháp th́ tôn giáo dần bước ra khỏi đời sống chính trị, quốc gia.

Từ nay tôn giáo và chính trị là hai lănh vực khác biệt. Các nước Âu Châu như Pháp th́ từ sau cách mạng Pháp, giới tăng lữ không c̣n vừa có thể là Giám mục vừa là người “cai quản thành” nữa.

Điều này cũng cho thấy người Mỹ khá phân minh về hai lănh vực chính trị và tôn giáo nên tránh được những dẫm chân và lợi dụng nhau không như ở Việt Nam. V́ thế, Hiến Pháp Hoa Kỳ đă minh định rơ ràng ngay từ đầu là có sự tách biệt giữa Giáo Hội và Nhà nước và sự phân chia đó vẫn c̣n được duy tŕ cho đến ngày nay
(The Separation of Church and State).

Nhưng người Mỹ cũng như người Pháp, họ chỉ “đàng hoàng” tuân thủ pháp luật khi ở trong nước họ, nhưng họ “chẳng ra ǵ” khi sang Việt Nam. Chính họ là người lợi dụng tôn giáo để can thiệo vào nội t́nh chính trị ở Việt Nam.

Lẽ dĩ nhiên, ai cũng hiểu là biên giới giữa hai lănh vực không phải lúc nào cũng rơ rệt như trắng với đen. Có những thái độ chính trị như phản kháng, bất đồng chính kiến về những bất công hay vi phạm quyền làm người th́ xem ra người ta làm ngơ hoặc ngầm đồng ư để cho các vị tu sĩ lên tiếng.

Nghĩa là có thái độ chính trị được coi là chính đáng th́ gián tiếp tu sĩ được làm chính trị?

Đó là trường hợp mục sư Luther King hay hiện nay Đạt Lai Lạt Ma, Tây Tạng.

Hay cụ thể hơn nữa ở Việt Nam, đó là trường hợp các linh mục Phan Văn Lợi, Chân Tín và nhất là Nguyễn Văn Lư. Phía Phật giáo th́ có các vị như Ḥa thượng Thích Quảng Độ hay Huyền Quang.

Theo tôi, bầy tỏ một thái độ đối kháng hoặc đ̣i hỏi cho những giá trị căn bản của con người như tự do tôn giáo, tự do ngôn luận th́ bất cứ ai, dù là một vị tu hành cũng đều được trân trọng.

Chẳng hạn trường hợp linh mục Nguyễn Văn Lư, Ḥa thượng Quảng Độ.

Nhưng nhân danh một linh mục đ̣i hỏi đổi tên Sài G̣n hoặc đứng trong tổ chức “Giải trừ những huyền thoại về Hồ Chí Minh” th́ nó nghiêng về phần làm chính trị hơn là tôn giáo. Công việc làm đó dĩ nhiên được coi là nên làm. Nhưng phải chăng là chỗ để cho một vị linh mục để hết thời gian và công sức cho việc làm có tính cách chính trị ấy?

Có thể nào có thể ngầm ủng hộ tinh thần và thái độ can đảm của Ḥa thượng Thích Quảng Độ chống lại nhà nước cộng sản, nhưng lại khó có thể chấp nhận được việc làm của Sư ông Nhất Hạnh? Mà cả hai thực tế đều dính dấp đến chính trị ngoài phạm vi tôn giáo?

Phần nước Việt Nam ta từ hồi nào đến giờ, nếp sống tôn giáo với các nhà sư xem ra ẩn khuất nấp ḿnh sau các ngôi chùa với tụng kinh gơ mơ. Chỉ có nhà thờ có sự phô trương lộ liễu và ít nhiều ảnh hưởng tới sinh hoạt chính tri, dính dáng vào nội bộ chính quyền như thời kỳ đệ nhất và đệ nhị cộng ḥa.

Thật vậy, người Mỹ như đại sứ Durbrow nh́n thấy người Thiên Chúa Giáo di cư cũng như các giáo phái từng đă có những hoạt động chính trị chống Pháp trước 1954 nên trong một phúc tŕnh gửi bộ Ngoại giao vào tháng 9, 1960 cho rằng những thành phân tôn giáo có tiềm năng đi đến chỗ có thể có những hoạt động như mít tinh, âm mưu đảo chánh là thuộc giới Thiên chúa giáo di cư và các giáo phái.

Đại sứ Durbrow không nhắc nhở ǵ đến Phật tử.


(In a survey of the potentialities of various group in South Viet Nam for political activities such as demonstrations and mounting of coups that he had sent the Department in september 1960, Ambassador Durbrow had mentionned the Catholic refugees and the sects, but not the Buddhists.

(Trích Saigon Embassy to State, telegram 538, September 5, 1960,

FRUS 1958-1960, vol. I, pp. 560-563)
 

Nhưng nh́n cả hai phía Thiên chúa giáo và Phật giáo thời 1960, tôi chỉ thấy có hai vị lănh đạo tinh thần tỏ ra hiểu biết ranh giới giữa tôn giáo và chính tri và khẳng định tôn gíáo không nên xen vào chính trị. Đó là Tổng giám Mục Nguyễn Văn B́nh và ông Mai Thọ Truyền, phó chủ tịch hội Phật học.

Riêng ông Mai Thọ Truyền tuyên bố một cách khá cứng rắn như sau:

Có thể chấp nhận để các các cá nhân người theo đạo Phật tham gia vào các họat động biểu t́nh, nhưng không được mang danh nghĩa đại diện Phật giáo, ngay cả trong trương hợp phải đối đầu với cộng sản vốn không phù họp với Phật giáo, Giáo hội Phật giáo cũng không cho phép một cá nhân nào hoạt động đấu tranh nhân danh tôn giáo.

(It was acceptable for individual members of the Buddhist faith to participate in demonstrations, but not as representatives of Buddhism. It was obvious to an individual Buddhist that communism and Buddhism were incompatible, but any resistance to communism by Buddhist faithful would have to be phrased in passive terms because the tenets of Buddhism đid not permit militant action in the name of religion”

(Trích The Indochinese Experience of the French and the Americans, Nationalism and Communism

in Cambobodia, Laos, and Viet Nam, Arthur J. Dommen, trang 508).
 

V́ vậy trong phong trào Phật giáo chống lại lại chính quyền Ngô Đ́nh Diệm th́ chủ yếu xuất phát từ miền Trung chứ không phải từ Phật giáo trong Nam và các giáo phái.

Về phía Thiên chúa giáo, tôi nghĩ đó là một lỗi lầm do một nhúm các linh mục tiêu biểu mà về sau này hy vọng Thiên Chúa Giáo không c̣n tái diễn lại “cái thời Trung cổ” đó nữa. Tôi chống giáo trị đến cùng
(anti-clerical).Tôi học được thái độ đó của ông Ngô Đ́nh Nhu đối với Thiên Chúa Giáo, mỗi khi ông có dịp “bắt buộc” phải tham dự những buổi lễ của Viện Đại Học, Đà Lạt. Tôi nh́n, quan sát thái độ cử chỉ của các ông Trương V́nh Lễ, Trương Công Cừu và Ngô Đ́nh Nhu, tôi kính nể ông Ngô Đ́nh Nhu bao nhiêu th́ phần ngược lại dành cho hai vị kia.

Ông Trương Vĩnh Lễ là chủ tịch Quốc Hội của cả nước, ông đă đứng ra làm chủ tịch ủy ban mừng lễ ngân khánh TGM Ngô Đ́nh Thục vào ngày 29/03/1963. Cạnh đó thêm các bộ trưởng giáo dục Nguyễn Quang Tŕnh, viện trưởng đại học giáo sư Lê Văn Thới... Quan khách được mời phải đóng 5000 đồng để dự bữa tiệc đó.

Việc này nghĩ lại mà thấy ngượng. Đám quan lại và giám mục Ngô Đ́nh Thục là những người gián tiếp hại ông Diệm. Khi có quyền thế, người ta không c̣n biết cái đạo phải trái, “lẽ thông thường” nữa.

Phần ông Ngô Đ́nh Cẩn và Ngô Đ́nh Nhu th́ đều buồn chán giám mục Ngô Đ́nh Thục mà không dám nói ra. Anh em, theo tôn ti trật tự thấy chướng mà không dám nói lại phải nhờ người này kia nói dùm.

Trong sách Bên Gịng Lịch sử, linh mục Cao Văn Luân có kể lại việc này như sau khi gặp ông Ngô Đ́nh Nhu:

Ông Nhu cũng trả lời như ông Cẩn.

‒ Tôi cũng hoàn toàn đồng ư với nhận định của cha, đôi khi buồn đức cha v́ ngài lầm lẫn phạm vi tôn giáo với phạm vi quốc gia. Khi ở Vĩnh Long, tôi cũng không biết làm sao khi thấy từng lũ dân biểu, tỉnh trưởng, bộ trưởng mườm mượp kéo đến gặp Đức cha”

(Trích Bên gịng lịch sử, Cao Văn Luận, chương Chế độ bắt đầu rạn nứt, trang 7.)


Dĩ nhiên, tôi hiểu, đó chỉ là cái nhận thức quá khích thời tuổi trẻ. Nhưng nó đă in sâu vào tâm trí. Và cứ như thế, sau này tôi không ưa TGM Ngô Đ́nh Thục, càng không ưa cha Hoàng Quỳnh.
Tôi đă xếp loại các vị đó rồi.

Và sau này, trớ trêu thay, Phật giáo cũng muốn đ̣i hỏi điều mà chính giáo hội bên Thiên chúa giáo cần phải gạt bỏ. Điều ấy trở nên sự thực hiển nhiên kể từ sau khi lật đổ TT Ngô Đ́nh Diệm năm 1963, Phật giáo đi lại vết dấu dă tràng trên cát mà Thiên chúa giáo đi qua.

Phật giáo cũng đă mất cái thế quân b́nh trong mối tương quan thần quyền và thế quyền. Bám theo thế quyền với quyền lực chính trị cộng với vinh danh trần thế đă xô ngă nhiều vị.

Theo Arthur L Dommen th́ TT Thích Trí Quang được coi như người chỉ đạo kế hoạch đă cho thấy những nguyên động lực muốn lật đổ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm bằng nhiều h́nh thức thách thức chính quyền. Đă có một buổi họp tại chùa Từ Đàm vào đêm 15-16 với sự có mặt của
(TT Thích Trí Quang và - DCVOnline) TT Thích Thiện Minh trong đó vấn đề tự thiêu đă đưa ra bàn căi như một chiến thuật chính trị, đồng thời chỉ định ai là người đầu tiên t́nh nguyện tự thiêu ..

Riêng chùa Xá Lợi phần đông những người Việt Nam cũng như ngoại quốc đều đồng ư là chùa Xá Lợi là trung tâm đầu năo các hoạt động chính trị của giới lănh đạo Phật giáo hơn là nơi thờ phượng.

(His subsequent role as the mastermind of a plan to bring down Diem’s government by a series of such-provocations clearly confirms his motives and his means. There had been a meeting at Tu Dam on the night of april 15-16 attended by Tri Quang and Thich Thien Minh, among others, at which the subject of self-immolations by fire as a political tactic had been discussed and the first volunteer đecided upon ...

There was little disagreement among observers, both Vietnames and foreigners, that Xa Loi had become more a political command post than a holy place.)

(Trích như trên, trang 511 và trang 524)


Phần ông ông Cao Xuân Vỹ cho hay là mỗi lần đi qua chùa Xá Lợi, ông thấy có chăng nhiều bỉểu ngữ chống chính phủ cộng thêm các loa phóng thanh ngày đêm kêu gọi dân chúng mà nội dung nhằm chống lại chính quyền Ngô Đ́nh Diệm.

Tôi đưa ra nhận xét của ông Cao Xuân Vỹ với sự dè dặt thường lệ.

Tuy nhiên, tôi có liên lạc với một cựu sinh viên Phật tử Huế cho biết: Lúc bấy giờ, các nam nữ Phật tử cũng như các thầy đều bị cô lập trong chùa, không dễ để liên lạc được với bên ngoài. Phần TT Trí Quang không có chủ trương dùng giải pháp tự thiêu như một h́nh thức phản đối chính quyền TT Ngô Đ́nh Diệm như nhận xét của Arthur J. Dommen nêu trên.

Bằng chứng rơ rệt là cuộc tự thiêu đầu tiên của ḥa thượng Quảng Đức xảy ra tại Sài G̣n, tại Ngă Tư Phan Đ́nh Phùng, Lê Văn Duyệt.

Cứ theo lời kể lại của đại đức Thích Đức Nghiệp th́ tối ngày 10/06/1963, Thượng Tọa Tâm Châu và Thiện Hoa đă cho xe đến Ấn Quang chở Đại đức Thích Đức Nghiệp đến chùa Xá Lợi, nơi đây TT Tâm Châu yêu cầu đại đức TĐN tổ chức tự thiêu cho Ḥa Thượng Quảng Đức để hỗ trợ Phật giáo Huế, cũng là thể theo như ư nguyện của Ḥa thượng Quảng Đức trong bức thư xin tự thiêu đề ngày 27/05/1963.

Đại đức Thích Đức Nghiệp đă tổ chức chu đáo việc tự thiêu như sau:
 

‒ Thầy Chân Ngữ có nhiệm vụ đổ hết xăng lên người Ḥa thượng Quảng Đức khi cùng ngồi trên chiếc xe Austin của phật tử Trần Quang Thuận cho mượn.

‒ Thầy Trí Minh ngồi ghế dẫn đường cho tài xế tới ngă tư trên, rồi làm bộ chữa xe để Ḥa Thượng bước xuống đường và ngồi tự thiêu.

‒ Thầy Hồng Huệ giữ trật tự, hướng dẫn tăng ni đứng thành hai hàng xe để xe Ḥa Thượng đi ở giữa.

‒ Phần Đại đức Thích Đức Nghiệp khi xuống xe th́ trao tay cho Ḥa Thượng bao quẹt để Ḥa Thượng bật lửa thiêu...

Lập tức sau đó, yêu cầu 20 tăng ni nằm chặn ở bốn góc đường không cho xe cứu hỏa tới chữa lửa. Chừng 30 phút sau cuộc tự thiêu hoàn tất giữa tiếng khóc than và cầu kinh của các phật tử đang quỳ giữa đường.

Đại đức cũng đă không quên mật báo cho các phóng viên ngoại quốc tại hiện trường có mặt như Simon Michaud của Thông tấn xă AFP, Malcom Browne của AP và Neil Sheehan...

Cũng cùng lúc đó có xe của Đại tướng Harkins tới chứng kiến... Trong khi đó không có bất cứ phóng viên Việt Nam của các báo Việt ngữ được chứng kiến quang cảnh này.

(Trích trong Trang nhà Quảng Đức, Hồi kư đặc biệt Vụ tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức).


Việc tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quang Đức đă gây bàng hoàng và xúc động đối với lương tâm của thế giới. Việc tự thiêu của Ḥa Thượng Quảng Đức tự nó là một điều lư tưởng không bàn căi ǵ được.

Nhưng cách thức tổ chức cho thấy chỉ nhằm cho người ngoại quốc biết vô t́nh trở thành một sự dàn dựng mang tính cách political tactic như nhận xét của Arthur J. Dommen.

Cái vụng về đó sau này được lập lại nhiều lần, nhiều phía trong bất cứ biến cố chính trị lớn nhỏ nào. Người được thông báo đầu tiên bao giờ cũng là là các phóng viên ngoại quốc.

Tinh thần vọng ngoại thấy rơ. Tinh thần lệ thuộc cũng thấy rơ.

Chẳng hạn trong vụ bố ráp chùa Xá Lợi đêm 20/08/1963, nay đến lượt các tướng lănh trong nhóm đảo chánh đă tiết lộ bí mật đó cho phóng viên David Halberstam, báo New York Times. Phóng viên này đă vội lái xe đến chùa Xá Lợi để thông báo cho các vị lănh đạo Phật giáo trốn đi. Nhưng tất cả các vị lănh đạo đă quyết định ở lại, không đi đâu hết, ở lại sống chết với tăng ni và phật tử.

Người duy nhất trốn thoát được sang cơ sở USOM, cạnh chùa Xá Lợi là TT Thích Trí Quang.

Làm thế nào TT Trí Quang đă trốn thoát được?

Theo lời thuật lại của sinh viên Phật tử thân cận với thượng tọa Trí Quang nói truyện qua điện thoại với tôi th́ thầy Trí Quang kể lại đă được các tăng ni, sư quây quần chung quanh ông và rồi họ đă quyết định thay áo vàng, giả làm sư người Cao Mên, thuộc tiểu thừa, nhờ đó TT Trí Quang đă không bị lộ danh tánh và trốn được sang sở USOM.

Sau này, người viết nhận thấy đă có nhiều vụ tự thiêu ở các nơi và ở Huế hàng loạt. Ư nghĩa tôn giáo bắt đầu mờ nhạt và nhận xét của Arthur J. Dommen: Political tactic không hẳn là không có phần sự thật.

Khi tranh đấu th́ h́nh như lư tưởng tôn giáo lấn lướt và vượt những nhu cầu thực tế và manh động của chính trị. Lúc đó tôn giáo và chính trị c̣n tách biệt riêng rẽ.

Nhưng khi cuộc tranh đấu đă xong th́ đó là lúc mà tôn giáo dễ bị sa đà, bị lợi dụng.

Tôn giáo đă bị chính trị hóa và bị lợi dụng.

Sau đây, người viết, xin trưng dẫn một số bằng chứng c̣n ghi lại trong các báo hàng ngày ở thời kỳ đó.

Theo báo Chính Luận, ngày 30/08/1964, Trung tướng Nguyễn Khánh đă tiết lộ bức thư có chữ kư của TT Thích Tâm Châu và TT Thích Trí Quang, Chánh thư kư viện Tăng thống của Giáo Hội Việt Nam thống nhất ngày 26-08-1964 và đọc lên một đoạn trong bức thư đó:
 

“Dẫu lập trường thuần nhất của Phật giáo thống nhất là thuần túy tôn giáo, nhưng chính v́ thế để bảo vệ tín ngưỡng, chúng tôi khuyến cáo đồng bào Phật giáo với tư cách công dân, nhiệt liệt ủng hộ Trung tướng trong việc chống lại những kẻ phá hoại nước nhà, trong số có bọn phản cách mạng và bọn cộng sản.”

(Trích Người Việt online 27-08-2009)


Tôn giáo thế tục là một thứ tôn giáo đă sa đà, mất bản chất xảy ra cho bất cứ tôn giáo nào, trong bất cứ thời kỳ nào. Đừng vội tưởng rằng ḿnh có bàn tay sạch. Có thứ bàn tay bẩn kiểu J.P. Sartre theo tinh thần trách nhiệm liên đới c̣n hơn thứ bàn tay sạch của quan tổng trấn Pilate, rửa tay tuyên bố: Tôi vô can trong việc xử án người này.

Họ bước đúng vào những dấu chân để lại trên cát và lần này vết chân để lại trên cát sâu hơn và rơ nét hơn.

V́ thế, từ thời điểm 1960 trở đi và nhất là cao trào từ 1963 đến 1966-1975, khó có thể có h́nh ảnh nhà sư với phong thái sư cụ chùa Long Giáng nữa. Tôi có cái nh́n lăng mạn về giới tu sĩ Phật giáo qua văn chương mà rất tiếc sau này, tôi không bắt gặp lại được nữa.
 

Thiền sư Thích Nhất Hạnh và đệ tử cùng Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (Tháng 5, 2007)
Nguồn: OntheNet


 

Phần Sư ông Thích Nhất Hạnh, ông dơ cao khẩu hiệu: Đạo Phật nhập thế với truyền thống lịch sử, Phật giáo đồng hành với dân tộc hay đồng hóa Đạo Pháp và dân tộc. Khẩu hiệu lư tưởng lắm, nhưng đằng sau khẩu hiệu là những ǵ? Chính sư ông phải biết rơ hơn ai hết.

Khi nói như thế, liệu chúng ta có cần nh́n sang các nước láng giềng như Thái Lan, Miến Điện, Kampuchia để xem đạo Phật đă bám rễ sâu trên đất nước họ như thế nào? Và truyền thống của họ như thế nào?

Để bắt đầu thể hiện sự nhập thế là những tên gọi mới không quê mùa như cách xưng hô cũ. Thời đại mới nhập cuộc th́ tên gọi mới. Nay không c̣n ai gọi theo lối xưa là sư ông, sư bà, sư cụ dựa theo tuổi tác, thân quen như trước nữa. Tước gọi mới nay chú trọng tới phẩm trật địa vị, thứ bậc trong giáo hội. Điều đó chứng tỏ một giáo hội Phật giáo trưởng thành có tổ chức và quy củ hơn?

Đó là những danh xưng như Đại đức, Thượng tọa, Ḥa thượng và đại lăo Ḥa thượng. Chưa kể những chữ như Thượng thủ thêm vào như không chừa một chỗ trống nào cho bất cứ ai. Các phẩm chức này không biết có được dùng để gọi cho các vị sư nữ hay không? Nhiều lúc, tôi bắt gặp chữ kư của TT Thích Trí Quang, một nhà sư kư là Tỳ kheo Thích Trí Quang, Tôi rất thích và trân quư chữ này chỉ v́ nó có vẻ không huyênh hoang. Một nhà sư suốt đời ở trong chùa như ông mà bản thân lại không có chùa nào cho ḿnh cả, măc dầu lúc đương thời, ông muốn có mấy cái mà chả được.

Một nhà sư đi tu ở chùa mà coi như vẫn không nhà, không cửa, tôi nghĩ ít ra cũng là một điều tốt. Ít ra cũng hơn ông TT Thích Tiện Nghi ở Bát Nhă hiện nay.

Phật giáo với quyền uy mà biến chất th́ nó trở thành một thế lực chính trị như thế nào?

Cái quyền uy ấy, cái mà Jerrold L. Schechter gọi là Bộ mặt mới của Phật giáo: The new face of Buddha, trong đó trộn lần quyền lực chính trị và tôn giáo.

Không c̣n h́nh ảnh Phật ngồi an ḥa trên bàn thờ.

Phật xuống đường. Phật bây giờ qua h́nh ảnh TT. Thích Trí Quang ngồi biểu t́nh trước dinh Độc Lập. Đó là một h́nh ảnh biểu lộ quyền uy hay một thách đố chính trị?
 

Sau 3 năm vắng bóng, TT Thích Trí Quang (bên trái) xuống đường đ̣i tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức (31/3/1975, Sài G̣n, Việt Nam)
Nguồn: © Bettmann/CORBIS


 

Cạnh đó, giới tăng ni dấn thân cho Đạo pháp bên cạnh hàng rào giây kẽm gai: Buddhists to the Barricades. Thời đó, Mỹ đă gọi như thế đấy.

Phải chăng đây là cách dấn thân, nhập cuộc mà sư ông Nhất Hạnh muốn nói đến

Những tên tuổi như Thích Tâm Châu, Thích Trí Quang, Thích Nhất Hạnh được nhắc tới một cách trân trọng và vang danh khắp thế giới:
 

“In contrast to the open, unassuming Thich Nhat Hanh stood Thich Tri Quang, leader of the radical antiwar faction in the UBC. An enigmatic figure who projected an aura of intensity with his stern bearing and obscure pronouncements, his remained the best-known Buddhist monk to Americans in Saigon.”

(Trích Lotus Unleashed, Robert J Topmiller, trang 8)


Và để hiểu rơ hơn mối tương quan tôn giáo chính tri, tôi mượn nhan đề cuốn sách của Mark Moyar: Political Monks như ở tựa đề bài viết là có chủ đích. Các vị trên nổi danh là nhà tu hành “đắc đạo” hay nổi danh chỉ v́ là Political Monks? Và tự hỏi có thể có một nhà tu hành đồng thời là một nhà chính trị không? Vấn đề chính danh có cần phải đặt ra không? Và vấn đề vai tṛ và sứ mệnh của người tu sĩ phải được hiểu như thế nào?

Nếu lấy cái tinh thần minh triết, khai sáng của thế kỷ 18 bên Âu Châu th́ hoặc là nhà tu hoặc là nhà chính trị. Không thể cùng lúc cả hai được. Những trường hợp như mục sư King hay Đức Dạt Lai Lạt Ma là những trường hợp hiếm hoi không thể mang ra áp dụng cho mọi người được

Vào giai đoạn khủng hoảng Phật giáo ở miềnTrung, theo tôi, kể như lần đầu tiên tờ báo Time đưa ra h́nh ảnh TT Thích Trí Quang với tiêu đề: Politican from the Pagoda. Người làm rung chuyển nước Mỹ! Nhà chính trị đi ra từ cửa chùa. Đây là một lời khen hay là một lời khen với hậu ư?

Phải chăng tiêu đề đó đủ để diễn tả tính chất của cuộc khủng hoảng đó? Một lần nữa đặt ra ở đây câu hỏi biến cố Phật giáo 63 là một đ̣i hỏi tôn giáo b́nh đẳng hay đằng sau cái đ̣i hỏi ấy là một vận động chính trị nhằm lật đổ một thể chế chính trị?

Nước ta ở trong một hoàn cảnh đặc biệt, một nước lạc hậu về kinh tế. Ư thức về chính tri, ư thức dân chủ c̣n yếu kém, đảng phái tổ chức c̣n lỏng lẻo, thiếu lănh tụ và lănh đạo. Đă thế, trong một thời gian quá ngắn, thể chế quân chủ đă chuyển đổi sang thể chế cộng ḥa. Người lănh đạo chưa chuẩn bị xong. Thiếu người, thiếu nhân sự, thiếu những nhà lănh đạo chuyên nghiệp !

T́nh thế lúc ấy đ̣i hỏi th́ c̣n ai có uy tín hơn chính các linh mục, các nhà sư gia nhập thế giới chính trị? Hoặc cùng lắm đề cử người do sự chọn lựa của các linh mục, các nhà sư? Họ có đám đông đứng đằng sau họ mà phần đông cũng đều là thành phần dân chúng dễ bảo, dễ tin? Đây là một thứ dân chủ giả hiệu, bởi v́ người dân không chọn trực tiếp người mà họ chọn gián tiếp qua các cha hay nhà sư.

Và chỉ cần các vị tu sĩ gật đầu ưng thuận. Lá bài chính trị đă được thực hiện và đánh bại bất cứ đối thủ khác, dù là có uy tín chính trị đến đâu. Tôi đă từng chứng kiến một người bạn cũng khóa với tôi, anh Nguyễn Hữu Hiệp, 26 tuổi, chưa có một chút kinh nghiệm chính trị, đá văng một nhà chính trị có tiếng tăm từ trước 54, bác sĩ Hoàng Cơ B́nh ra khỏi chức vụ dân biểu tại Di Linh.

Xin trích dẫn một vài chứng từ, trích báo Công Luận ngày 31 tháng 8, 1971.
 

Bầu cử Hạ viện. Đối lập dẫn đầu ở Sài G̣n và miền Trung. Phật giáo đại thắng quân khu 4. Sài G̣n, Đối lập và độc lập thắng lớn.

Theo những số liệu được công bố tại Sài G̣n, trong toàn quốc đă có tới 5.567,463 cử tri đi bầu dân biểu Hạ viện, pháp nhiệm kỳ 71-75...

Quảng Ngăi.

Một sự kiện khác được ghi nhận là tại Quảng Ngăi các ứng cử viên Phật giáo đă toàn thắng với 4 người đưa ra đều được tín nhiệm..

ỨCV Thiên chúa giáo Hồ Ngọc Cẩn đang dẫn nh́ với số phiếu kém TT. Đôn trên 10 ngàn phiếu.

Các ứng cử viên của các đảng phái như Việt Quốc, Đại Việt, Cấp Tiến đều không được xếp hạng tại đây...

Người ta cũng ghi nhận tại Quảng Ngăi các đảng phái đă cố gắng vận động nhưng không có kết quả...

(Trích Người Viet online, ngày 29/08/2009)



Quả là một cuộc tranh cử không đồng sức. Con “gà ṇi” được chọn ra thay mặt hiên ngang tiến vào nghị trường. Từ đó, mối tương quan quyền lực tôn gíáo và chính trị tạo thành mối tương quan ông chủ-bầy tôi. Ông chủ là đại diện cho tôn giáo, bầy tôi đại diện cho chính trị. Ông chủ lúc này tưởng ḿnh là ông trời con, trở thành những kiêu tăng?

Cả hai kẻ thắng và kẻ bại đều bị vong thân vào quyền lực chính trị mà chẳng đại diện cho đám quần chúng nào cả.

Cho nên nếu thẳng thắn nh́n lại sinh hoạt chính trị miền Nam giai đoạn này cho thấy thiếu lành mạnh, tạo ra một đám người vô tài, nhiều khi thiếu tư cách, thiếu vốn liếng chính trị đưa đến t́nh trạng Nghị Gật, dân biểu buôn lậu..

Không dám vơ đũa cả nắm, nhưng thực tế có như vậy.

Sự có mặt của các lănh đạo tôn giáo sau hậu trường đă tạo ra những bất ổn chính trị liên tục mà ta đă mỉa mai gọi là “Những năm xáo trộn” môt năm thay ba lần thủ tướng và nếu không đạt được như ư muốn th́ ông chủ thúc đẩy dân chúng đi biểu t́nh, xuống đường có nguy cơ đưa đến t́nh trạng vô chính phủ?
 

Sai G̣n, ngày 27/08/1964. Miền Trung yên tĩnh. Trở lại chờ đợi.

Chính Luận 29-8-1964. Vài giờ trước khi Hội Đồng Cách Mạng ban hành các quyết định. Bạo động trước Bộ Tổng Tư Lệnh, 7 chết, 39 bị thương.

Trích báo Thần Phong ngày 12-8-1971. Các Phong trào tranh đấu sẽ khiến miền Trung 1971 “đại loạn” như năm 1967. Nhiều cuộc họp mặt sắp có nổ lớn.

Trích báo Độc Lập ngày 12-8-1971. Đồng bào các giới xúc động. 20 sinh viên tuyệt thực đă bắt đầu kiệt sức “ Dùi cui xiết chặt chung quanh chùa Ấn Quang”. kư giả Vũ Tiêu Giang.

(Trích Người Việt online 27-82009)
 

Cho nên, v́ chủ trương chống giáo trị bất cứ từ đâu tới, tôi khó ḷng mà chấp nhận quan điểm của thiền sư Nhất Hạnh trong bài Chính Trị và Tôn giáo trong đó có quan điểm Đức trị và Pháp trị ảnh hưởng lên nhau. Đồng thời ông có tham vọng trong nỗ lực mong muốn đồng hóa lịch sử dân tộc đồng hành với lịch sử của Phật gíáo. Cũng như thế đồng hóa đạo pháp và dân tộc. Đồng hóa lịch sử Phật giáo đồng hành với số mệnh lịch sử dân tộc.

Chưa kể có một thiểu số người lại có tham vọng về một chủ nghĩa bá quyền tôn giáo, đ̣i hỏi loại trừ, ngăn chặn “sự xâm lược văn hóa các ư thức hệ không tương hợp với nền văn hóa dân tộc” nói trắng ra là ki tô giáo.

Nội chỉ có ư tưởng loại trừ tôn giáo khác đó đủ đă bất xứng với yếu tính của lư thuyết Phật giáo rồi.

Nói ra th́ hay lắm, nhưng Phật giáo sẽ đồng hành với ai trong cái dân tộc đó? Giả dụ nếu có cuộc phân tranh giữa các triều đại th́ dân tộc sẽ thuộc về ai? Kẻ thắng hay kẻ thua? Trung thành với triều đại cũ hay ngả theo triều đại mới? Ai trong các lănh đạo tôn giáo có thể quyết định đồng hành với triều đại nhà Lư hay nhà Trần hay nhà Lê? Rồi trong cuộc Trịnh Nguyễn phân tranh, tôn giáo phải đứng ở góc độ nào đề đồng thuận với dân tộc? Trịnh hay Nguyễn, Tây Sơn hay Nguyễn Ánh?

Đă thế, từ khi phân chia Quốc Cộng, tôn giáo một lần nữa phải đồng hành với Quốc Gia hay Cộng Sản? Hăy giúp cho người Phật tử trong nước bây giờ một câu trả dứt khoát là nên theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất trước 1975 hay GHPG dựng lên năm 1981 của chính quyền cộng sản?

Chỉ một câu hỏi này thôi, tôi thấy họ đă ú a ú ớ không trả lời thẳng được. Phải chăng, Phật giáo đồng hành với dân tộc là ngả theo Giáo hội Phật giáo nhà nưởc?

Có lẽ nói như ông Trần B́nh Nam trong bài Tôn giáo và Đất nước có phần dễ được mọi người chấp nhận: “
Tín ngưỡng th́ của mỗi chúng ta, c̣n đất nước chung của chúng ta.” (Trích Tôn giáo và Đất nước, Trần B́nh Nam , báo Đi Tới, trang 59, số 84, bộ mới).

Chúng ta chọn tôn giáo, chọn một lư tưởng đạo cho riêng ta, nhưng chúng ta không thể chọn không là người Việt Nam được. Tôn giáo của riêng ai nên không ai có thể “bẻ ghi” đất nước cho người khác được.

Kẻ mới tiếm ngôi vị th́ gọi kẻ trước là hôn quân vô đạo, bạo chúa nên ta thay ư Trời mà thế thiên hành đạo? Tôn giáo đứng ở chỗ nào để mà đồng hành với dân tộc? Dân tộc là ǵ trong các cuộc tranh bá đồ vương?

Chiến tranh nào, cuộc chiến thắng nào rồi cũng chỉ là một trận chiến tranh danh từ mà kẻ được th́ làm vua, kẻ thua th́ làm giặc. Và đă như thế th́ đạo giáo cứ đợi cho phân ngôi thắng bại và rồi đương nhiên sẽ đồng hành với kẻ chiến thắng? Phải chăng kẻ chiến thắng lúc ấy tự đồng hóa ḿnh là dân tộc?Tôn giáo dồng hành với dân tộc là đồng hành với kẻ chiến thắng?

Cho nên, sự phân chia thế quyền và thần quyền giúp tránh được sự lạm quyền và xa đọa tôn giáo như đă từng xảy ra một cách công khai thời đệ nhị cộng ḥa. Như trong Hồi kư của Lư Quư Chung, cuốn Nhật kư của im lặng, ông viết lại là ông đă phải đại diện cho tướng Dương Văn Minh ra Huế để xin sự ủng hộ của ông Thích Trí Quang.

Cho nên đối với tôi th́ rơ ràng tôn giáo là tôn giáo chính trị là chính trị. Áo nhà tu th́ có chỗ của nhà tu, áo chính trị th́ có nơi nghị trường. Hà cớ ǵ cứ mặc lẫn áo của nhau?

Và để tóm tắt phần này, tôi nghĩ rằng đường đi dài nhất và lâu nhất để lên được Niết Bàn hay Thiên đàng là con đường đi qua chính trị.

Chúng ta hơn 3 triệu người Việt Hải ngoại đă có kinh nghiệm sống trong một thế giới Đa Cực: Đa chủng tộc, đa tôn giáo, đa văn hóa sống trong ḥa đồng.

Điều ǵ làm cho thế giới đó ḥa đồng? Chính là sự tôn trọng người khác trong cái dị biệt, đa dạng.

Bài học các nước Hồi giáo vẫn c̣n đó. Đó là bài học tôn giáo xen vào chính trị.



© DCVOnline