Nguyễn Văn Lục:
Sử phi sử (I)
“Bây giờ trung thực phải đặt lên trước v́ là cái thiếu nhất”
Lời TT Phạm Văn Đồng. NXBCTQG. Hànội 2002, trang 693
Trên đây
là lời phát biểu của cựu TT Phạm Văn Đồng, người hơn ai hết hiểu cái bản
chất chế độ cộng sản là ǵ? Trước khi chết, hẳn ông hiểu rơ chế độ ấy và
cảnh báo tính chất thiếu trung thực, tính tuyên truyền trong hệ thống giáo
dục dưới chế độ CS. Ông đă đề nghị như thế với ban khoa giáo trung ương và
Bộ Giáo Dục và Đào tạo.
Nhưng rồi nước lă ra sông, mọi việc không thành. Và từ xưa đến nay, đă có
hàng trăm, hằng ngàn những lời phát biểu nước lă ra sông như thế. Đôi khi
càng nói càng tệ hại hơn. Ông nào lên cũng nói chống tham nhũng, nhưng tham
nhũng càng nhiều hơn đến không có thuốc chữa.
Tôi vốn không khó tính, tôi chỉ mong muốn kiếm cho ra trong cái ban lănh đạo
nhà nước bây giờ một người tử tế, một người thôi, một người sống đàng hoàng,
không lấy của dân.
Điều đó không thể t́m ra được. Đất nước này thế th́ nó hỏng rồi, nó mục nát
rồi.
V́ thế, Việt Nam chỉ có một con đường thoát: thay đổi cơ chế. Thay
đổi cơ chế cũng chưa hẳn là xong. Phải thay đổi cả cái năo trạng như những
tế bào ung thư đục ruỗng cơ thể con người Việt Nam. Công việc vạn nan.
Cái năo trạng đục ruỗng đó là sống thiếu trung thực, sống gian dối lừa phỉnh
quen rồi do tuyên truyền mà ra.
Khốn thay, sự lừa phỉnh, sự gian dối lại bắt
nguồn từ giáo dục, từ mẫu giáo, từ các mầm non, thiếu nhi,
thiếu niên đến thanh niên.
Đến lúc trưởng thành vỡ lẽ ra được th́ đă trễ rồi. Gian dối trở thành quán
tính con người. Đến cả nước nói dối. Khốn thay để làm người Việt Nam mà
không biết nói lời chân thật.
Cái lừa phỉnh man trá đủ loại mà nền giáo dục Việt Nam tạo ra rất nhiều
khoảng tối.
Hai khoảng tối rất quan trọng là các kỳ thi tuyển sinh đại học và sự cải
cách giáo dục trong các sách giáo khoa.
Riêng ông bộ trưởng giáo dục đă xin 10 năm, tức là vào năm 2010 để chấm dứt
và nói Không với hai tiêu cực: Nói không với các hiện tượng tiêu cực
trong thi cử và nói không với bệnh thành tích trong giáo dục?
Nay đă bắt đầu 2007, hai cái không đó h́nh như vẫn c̣n nguyên vẹn?
Từ đó, ông chưa làm được điều ǵ cụ thể cả. Thời gian chẳng c̣n bao lâu nữa
cho ông bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân?
Về thi tuyển sinh — Nhiều bài báo đă nói về điều ấy như:
Một đề thi khuyết tật... Tội nghiệp con tôi, Và mở
ra những cuộc hội thảo về: giải pháp chống tiêu cực trong thi cử, phong b́
cho thấy trước khi thi. Người ta gọi ông bộ trưởng giáo dục Nguyễn Thiện
Nhân là làm những cuộc phiêu lưu. Nói đổi mới nhiều quá đâm nhàm, ai đó đă
sáng chế ra chữ mới hơn: “B́nh minh thứ hai của đổi mới” . Rồi “nói Không
với tiêu cực từ phổ thông Trung học đến đại học”.
Có người c̣n bi quan hơn nói rằng thà là trả tiền để có được bằng cấp sản
phẩm dởm c̣n đỡ đau hơn là cố gắng học tập thật mà chỉ cho một sản phẩm giả.
Thật giả là nan đề của vấn đề giáo dục đại
học Việt Nam hiện nay
Những lời b́nh nghị đủ loại về thày dạy, tṛ học trong các kỳ thi tuyển như:
“Cơm chấm cơm”. Đó là t́nh trạng đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam, thày tṛ ngang
sức chấm nhau. Và ông Bộ Trưởng Nguyễn Thiện Nhân đưa ra lời nhận xét:
“Chấm 31 năm không sao, nhưng đến thời kỳ hội nhập là không b́nh thường,
không thể kéo dài t́nh trạng này”. Nếu không đạt chất lượng th́ tự an ủi:”
Thiếu c̣n hơn yếu. Và để giải quyết vấn đề chất lượng bằng cách thị trường
hóa, bằng cách liên kết với các đại học Quốc tế.
Và nay th́ nhiều người ngỡ ngàng thẫn thờ: “Chỉ thế thôi ư? Chỉ làm những
cuộc đổi mới ‘trên giấy’”.
Nhưng như một nếp sống văn hóa xă hội chủ nghĩa người ta đă tốn công với rất
nhiều nghị quyết, họp Hội đồng. Chỉ riêng năm 2001—2002, Bộ Giáo dục và đào
tạo đă tổ chức xây dựng “chương tŕnh khung” và coi như một bước tiến đổi
mới giáo dục. Có tất cả 12 Hội đồng khối và 106 Hội đồng ngành với tổng số
1.725 ủy viên. Từ tính thiếu trung thực nên hệ đào tạo đại học đă đẻ ra
nhiều tiến sĩ “giấy” như nhận xét của ông Trần Văn Thọ, một giáo sư từ nước
ngoài về nước giảng dạy. Ông cho biết đă tham dự 8 buổi thi Phó tiến sĩ, vậy
mà văn bằng sau đó được chuyển tự động sang thành tiến sĩ?(1)
Bài viết sau đây của tôi giới hạn vào cái góc tối sách giáo khoa, trong đó
đặc biệt là sách giáo khoa sử một vài lớp bậc trung học.
Tự nó, môn sử là bị người đời hiếp đáp nhiều nhất. Chân dung của nó có thể
ví như chân dung của một cô gái con nhà lành bị hiếp dâm nhiều lần, bị làm
nhục , bị mang ra bôi bẩn.
Mặc dầu vậy, có rất nhiều sử gia từ xưa đến nay răn dạy đủ điều hay lẽ phải
về môn sử. Sử gia Ngô Sĩ Liên, viết trong Đại Việt sử kư toàn thư: “Sử
để ghi chép việc, mà việc hay hay dở dùng làm gương răn cho đời”.
Lê Quư Đôn, trong bài tựa Đại việt thông sử th́ viết:
“Đại để phép làm sử là phải: mỗi sự kiện đều nhặt đủ không bỏ sót, để cho
người ta sau khi mở ra xem, rơ được manh mối, biết được đầu đuôi, tuy không
được mắt thấy tai nghe, mà rơ ràng như chính ḿnh được thấy”.
Đấy là chuyện người xưa. Nay là chuyện sách giáo khoa sử
Về những nét lớn trong các sách giáo khoa
sử lớp 10, 11, 12
Cảm tưởng chung khi tôi đọc các sách giáo khoa sử lớp 10, 11 là nội dung các
sách sử này bàng bạc chủ nghĩa Mác mà không có Mác.
Mang chủ nghĩa ấy một cách gián tiếp áp đặt lên các chế độ nông nô và phong
kiến là một cách suy diễn bằng loại suy (analogic/analogie) phiến diện và
ngụy tạo.
Chế độ nông nô là h́nh thức sơ đẳng của mối tương giao người–người, rất gần
với các định luật thiên nhiên theo đó cá lớn nuốt cá bé, nhưng lại rất xa
vời với ư thức về sự bóc lột, về ư thức tranh đấu giai cấp. Nó chưa có
điều kiện chín mùi để h́nh thành một nhận thức đầy đủ về ư niệm bóc lột,
về mối tương giao ông chủ-thằng ở theo nghĩa là một cặp đối kháng tranh đấu
một mất một c̣n. V́ thế, không thể nào mang ư thức hệ Mác xít chín mùi,
thành quả của nhận thức biện chứng, hiểu sâu xa bản chất sự bóc lột để giải
thích tính cách tương tự hay tính cách *mở đầu* cuộc đấu tranh giai cấp giữa
giầu nghèo.
Về điểm này, trước đây Đào Duy Anh cũng đă sai lầm khi xử dụng duy vật biện
chứng, duy vật sử quan để giải thích về các chế độ xă hội trước Mác.
Phải xác định rơ ràng Mác là Mác, bắt đầu từ đó và
dừng lại đó. Đi lui về trước Mác hay
tham vọng đi xa về sau đều tỏ ra bất cập và lúng túng. Chủ thuyết Mác đă tỏ
ra thất bại khi áp dụng vào các nền kinh tế đương đại và tỏ ra bất cập, hời
hợt khi dùng để giải thích chế độ nông nô và phong kiến.
Sách giáo khoa Sử, lớp 10, lớp 11 đă dựa vào các chế độ xă hội để minh chứng
cho những khung lư thuyết của ḿnh. V́ thế, nó đă
giản lược lịch sử con người vào lịch sử của các cuộc đấu tranh giai cấp.
Bằng chứng là đă có các cuộc đấu tranh trong các chế độ nông nô và các chế
độ phong kiến, rồi phóng chiếu ư thức giai cấp bị bóc lột và từ đó đưa ra
chiêu bài giải phóng con người ra khỏi các giai cấp bóc lột ấy.
Đó là một phóng chiếu phi thực không thích hợp cho
chế độ xă thôn, gia tộc Việt Nam. V́ thế, nó không lột tả được tinh thần
cũng như nếp sống bản địa của người Việt Nam.
Nó cũng không nêu bật được từng thời kỳ, từng bước đi gian nan dành lấy
quyền sống của tổ tiên chúng ta trong việc bảo vệ đất nước và bảo vệ nếp
sống Việt tính.
Nói trắng ra nó có thể sẵn sàng bỏ qua, bỏ quên, cố t́nh lờ đi tất cả các
triều đại lich sử từ thời Bắc thuộc, rồi qua các triều đại Ngô, Đinh, Lê,
rồi trải qua các đời Lư, Trần, Hồ và khởi nghĩa Lam Sơn. Tiếp đến là các
thời Lê, Mạc,Trịnh- Nguyễn Tây Sơn. V́ thế, nó đă cố t́nh bỏ qua tất cả các
khung xă hội với đơn vị làng xă, xă thôn, gia tộc, đơn vị gia đ́nh từ đó có
nếp sống văn hóa, luân lư, sinh hoạt làm ăn, sinh hoạt tín ngưỡng và phong
tục thật phong phú và sống động.
Con người Việt Nam đă không có mặt và xa lạ trong
tất cả tiến tŕnh từ xă hội nông nô đến phong kiến.
Đó là một thứ sử phi sử, một thứ sử chết.
Sự giải thích sử, cắt nghĩa hướng đi lịch sử dựa trên lư thuyết
C. Mác (Kark Marx) đă tỏ ra hết thời, nông cạn và
phiến diện. Ta không thể cứ tiếp tục dùng lư thuyết đó nhồi sọ
vào giới trẻ Việt Nam nữa.
Chẳng ai có thể chứng minh cho chúng ta thấy rằng ư thức giai cấp bị bóc lột
trong chế độ nô tỳ của Việt Nam nó như thế nào?
Ngược lại trong xă hội xă thôn, đơn vị là gia đ́nh và làng xă, chỉ cho thấy
sự hài ḥa, sống trong t́nh thần xă thôn có trên có dưới, có t́nh người
trong đó, chủ tớ không hẳn là một tương quan bóc lột, mà là một tương quan
đùm bọc.(2)
Áp dụng chủ thuyết Mác xít trong tương quan chủ ông–thằng ở là một giải
thích máy móc và phiến diện. Nó chỉ đúng trong các xă hội phương Tây ở vào
thời kỳ phôi thai của xă hội tư bản và không liên quan ǵ đến xă hội xă thôn,
lấy gia đ́nh, họ tộc làm kim chỉ nam cho nếp sống văn hóa Việt.
Chính những yếu tố gia đ́nh có nề nếp, có kỷ cương đă làm nên lịch sử con
người Việt Nam qua các thờ đại. Xóa trắng như thế là xóa trắng nền tảng của
Việt tộc.
Chính ở điểm này mà tội nghiệp cho giới trẻ của 83
triệu người Việt Nam đă không c̣n nh́n nhận ra tổ tiên, cha ông ḿnh đă sống,
đă tranh đấu để sống c̣n qua các thời kỳ lịch sử, đánh dấu bằng cái mốc các
triều đại các vua chúa từ đời vua Hùng trở về sau như thế nào?
Học sinh bị nhồi sọ bằng một thứ sử không sử.
Tôi không t́m thấy bóng dáng con người. Bóng dáng
của tổ tiên chúng ta trong những bài học sử đó.
Đó là thiếu sót không tha thứ được.
Sử là sử học về con người. Chính là nhừng con người có tên có tuổi, là tác
nhân ra sử, chứ không phải là những phong trào, những đám đông vô danh.
V́ thế, tôi cũng không t́m thấy vết chân tổ tiên tôi trên những đoạn đường
sử đó với đầy chông gai và khốn khổ, áp bức, tù đày, nghèo túng và khốn cùng,
nhưng vẫn đầy ḷng can đảm, sự tŕ trí và quyết tâm đi tới.
Tôi cũng không học được bất cứ điều ǵ, như t́nh yêu tổ quốc, yêu đất nước
con người, yêu mảnh đất quê hương yêu dấu như xóm làng, bà con, hàng xóm.
Tóm lại về cơ bản, tôi không chấp nhận thứ sử đó, sử phi sử.
Sử lớp 12: Trong phần sử liệu của học sinh lớp 12, tôi xin chỉ giới
hạn vào tập 2 và trong tập hai, chỉ xin giới hạn vào cuộc chiến tranh Việt
Pháp và chiến tranh giữa miền Bắc và miền Nam và sau đó thời gian sau 1975.
Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp từ 1946/1954, tôi nhận ra những điều
bóp méo, bẻ quặp đến kinh ngạc sau đây trong sách giáo khoa sủ lớp 12 này.
Tôi không hiểu những người thường quan tâm đến những vấn đề thiết thân đến
chuyện đất nước ngh́ ǵ? Như quư ông Phạm Vũ Hạc, Nguyễn Trung, Phan Đ́nh
Diệu, Hoàng Tụy, Nguyễn Lâm Dũng? Nội dung cuốn sách sử lớp 12 ấy có những
điều không nói sau đây:
– Không một chữ về khu tự vệ Phát Diệm vốn giữ một vai tṛ nhất định và
quyết định: Khu tự vệ cầm chân người Pháp, đồng thời là rào lũy che chắn
vùng kháng chiến. Và sau này, giữ vai tṛ trái đệm giữa vùng tề và vùng
kháng chiến, cửa ngơ cung cấp thuốc men,vật dụng, ngay cả súng đạn qua cửa
biển Cồn Thoi rồi đi suôi vào Thanh Hóa vào liên khu V của tướng Nguyễn Sơn.
– Không một chữ đả động đến các lực lượng Giáo phái Cao Đài, Ḥa Hảo ở miền
Nam vốn gây khó khăn cho người Pháp không ít.
– Nhất là không một chữ cho cuộc kháng chiến Nam Bộ, mở đầu cuộc kháng chiến
trên toàn quốc trong suốt những năm bị người Pháp chiếm đóng. Không biết nếu
Lê Duẩn c̣n sống sẽ nghĩ ǵ khi đọc cuốn sách sử này? Và nhất là những người
từng sống chết với kháng chiến Nam Bộ Như Trần Văn Giàu, Phạm Ngọc Thuần (anh
của Pham Ngọc Thảo, ông Giàu th́ c̣n ở Việt Nam, ông Thuần th́ nay ở Pháp)(3)
– Phía chính quyền Quốc gia với Quốc Trưởng Bảo Đại, với các đời Thủ tướng
như Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Hữu... đă cộng tác chiến đấu bên cạnh quân đội
Pháp, nhưng sách sử lớp 12 không hề nhắc tới, dù một ḍng. 35 trang sách
dành cho cuộc chiến tranh Việt Pháp Bảo Đại không được nhắc tới một lần nào.
Thật là hiếp đáp lịch sử quá đáng. Hầu như đây chỉ
là cuộc chiến tranh giữa người Pháp và người Cộng Sản. Lịch sử Không phải
được viết lại mà tái tạo theo ư muốn của những người lănh đạo Hà nội.
Và cuối cùng, đó chỉ c̣n là cuộc chiến của họ và thắng lợi cũng đương nhiên
là của họ.
Đấy là thứ sử của đảng Cộng Sản Việt Nam chứ không phải sử của 80 chục triệu
người Việt. Và rằng tất cả những lính bộ đội miền Bắc đă chết là chết cho
đảng Cộng Sản của Hồ Chí Minh. Không phải chết cho dân tộc Việt.
Copyright © 2006–2007 DCVOnline