|
Sách cũ miền Nam 1954-1975
Nguyễn Văn Lục, Mar 23, 2006
Trích CaliToday.com
Cali
Today News - Đă định tâm như thế rồi. Cho nên, khoảng 6
tháng trước khi về Sàig̣n để thăm lại bạn bè, bà con
ḿnh, tôi đă nhờ bạn bè bên ấy t́m cho tôi những sách mà
tôi muốn t́m. Thật ra ít có ai có th́ giờ và có ḷng để
đi làm một công việc vô bổ như thế. Biết bao nhiêu phần
đời tôi, biết t́m cái ǵ, biết mua ra sao. Rất may là
tôi c̣n những người bạn có ḷng để tâm giúp đỡ, tên anh
là Hồ Công Danh. Đó không phải là đi mua sách cũ mà là
một việc truy lùng, sục sạo, ṃ mẫm đầy bất trắc và may
rủi, nhưng cũng đầy thú vị và mủi ḷng.
Bởi v́ sách vở thời ấy, số phận nó như số phận người. Nó
cũng phải trốn chạy, chui rúc, ẩn náu. Chúng cũng rơi
vào cảnh mồ côi cha mẹ, cảnh lạc đàn, cảnh tan nát, cảnh
tan hoang mất c̣n. Vận người dân miền Nam thế nào, vận
chúng như thế. Đứa may trốn thoát. Tôi có đứa cháu trai,
hồi đó, 6,7 tuổi. Khi đi di tản năm 1975, cháu chỉ mang
cặp sách của cháu và nhặt một cuốn sách giáo khoa tâm lư
học tôi viết thời đó. Sang sau vài năm, cháu đưa lại cho
tôi. Kể cũng mừng và cũng buồn cười. Đứa yểu tử th́ làm
mồi cho cuộc phần thư. Đứa không may làm giấy gói sôi
buổi sáng. Đứa bất hạnh làm giấy chùi đít. Đó là cuộc
trốn chạy vô tiền khoáng hậu mà những kẻ đi truy lùng
chỉ là các trẻ con lên 12, 13 tuổi. Các cháu ngoan bác
Hồ. Họ xô những đứa trẻ con vô tội đó ra đường. Chúng
quàng khăn đỏ hô hoán, reo ḥ như trong một vụ đi bắt
trộm, hay đi bắt kẻ gian. Chúng lục soát tận t́nh, chúng
đánh trống, chúng hát ḥ như một cuộc ra quân của một
đoàn quân chiến thắng.
Gia đ́nh nào cũng sợ hăi cái quang cảnh đó nên kẻ mà
phải hy sinh đầu tiên chính là sách vở.
Sách vở ǵ cũng sợ nên sách ǵ cũng phải tẩu tán. Sách
vở bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, mặc dầu chúng là người
ngoại quốc, mặc dầu chả dính dáng ǵ đến chuyện chính
trị hay chiến tranh Việt nam, chúng cũng chịu chung số
phận. Tôi cũng có khá nhiều sách vở bằng tiếng Pháp,
nhưng tôi biết rằng, trước sau ǵ tôi sẽ không bao giờ
dùng đến chúng nó nên lôi ra bán ve chai mà không thương
tiếc. Sách nhỏ bán trước, sách lớn bán sau, cuối cùng là
bộ Bách Khoa tự điển bằng tiếng Anh tuần tự rơi vào tay
các ông bà bán ve chai. Ở nơi ấy, chẳng mấy khi mà
Aristote gặp được Kant. Cũng chẳng ai ngờ được Bùi Giáng
gặp mặt được Heideigger.
Sách cũ đối với tôi là một ám ảnh mời gọi t́m về. Trong
đó đặc biệt có truyện sưu tập tài liệu triết cũ. Cũng từ
những sách cũ đó mà trước đây tôi lớn lên, được nuôi
dưỡng và phát triển về trí năng mỗi ngày. Nếu cơm gạo
miền Nam cho tôi lớn lên th́ sách miền Nam nuôi dưỡng
tôi thành người thông tuệ.
Đi truy lùng lại sách cũ là t́m lại một phần bản thân
tôi vậy.
Nhưng khi tôi nói sách cũ th́ không có nghĩa là sách cổ,
mà là sách của miền Nam xuất bản trước 1975. Sách mà
theo bá cáo của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng tại kỳ họp
thứ nhất của Quốc Hội, ngày 26 tháng 6, năm 1976 là :*
Việc xây dựng nền Văn Hoá mới đuợc tiến hành trong cuộc
đấu tranh quét sạch những tàn dư mà Mỹ đă gieo rắc ở
miền Nam. Đó là thứ Văn Hoá *nô dịch*, lai căng, đồi
trụy, cực kỳ phản động..* .
.Để thực hiện nghị quyết trên. Họ đă làm mọi cách : tịch
thu, tàng trữ và đốt sách và coi sách vở báo chí miền
Nam chỉ là thứ rác rưởi. Phần tôi, tôi dám gọi đó là
đống rác tinh thần, tài sản của tất cả trí thức, nhà
văn, nhà nghiên cứu, nhà phê b́nh, nhà khoa học miền Nam
trong ṿng hai mươi năm đă bị đốt. Tóm lại, đó là đống
rác thân yêu của miền Nam, cho người miền Nam ǵn giữ
lấy.
A.- T́nh h́nh sách cũ hồi 1975.
Cộng chung số sách đă bị tịch thâu, hay bị đốt theo là
bao nhiêu. H́nh như chưa có ai hỏi câu hỏi đó và cũng
chưa bao giờ có câu trả lời. Có thể chẳng ai biết được.
Chỉ tính theo đầu sách thôi, các số liệu cũ của Bộ Thông
Tin cho thấy, vào tháng 9- 1972, theo Ủy Hội Quốc Gia
Unesco Việt Nam Cộng Ḥa trung b́nh đă cấp giây phép cho
3000 đầu sách được xuất bản một năm. Cộng chung từ năm
1954 đến 1975, đă có khoảng từ 50000- 60000 đầu sách đủ
loại được xuất bản, thêm vào đó 200.018 đầu sách ngoại
quốc được nhập cảng. Giả dụ mỗi đầu sách in tối thiểu
3000 cuốn. Sẽ có 180 triệu cuốn sách tiếng Việt bị tiêu
hủy. Đây chỉ là một lối tính ước chừng. Và như vậy số
sách bị tịch thâu, bị đốt, bị bán ra vỉa hè hay ve chai
là khoảng 180 triệu cuốn trên khắp miền Nam. Miền Nam
theo nghĩa từ Bến Hải vào đến Cà Mâu.
Con số này đă không c̣n đúng nữa khi ta đọc một bài viết
của ông Vũ Hạnh, một nhà văn thời VNCH và là một đảng
viên cộng sản trong bài:* Mấy ư nghĩ về Văn Nghệ thực
dân mới đăng trong tuần báo Đại Đoàn kết: Từ 1954 đến
1972, có 271 ngàn loại sách lưu hành tại miền Nam, với
số bản là 800 triệu bản* Trong khi đó sách của ông Trần
Trọng Đăng Đàn đưa ra con số 357 ngàn loại. Và ông Đàn
dám cả gan nói: Như vậy là con số của Vũ Hạnh gần như
khớp với con số chúng tôi t́m được. Thưa ông Trần Trọng
Đăng Đàn, con số cách nhau gần một trăm ngàn mà ông dám
bảo là khớp th́ tôi chịu ông. Các ông đă bao giờ biết
nói thật chưa.
Cũng vậy, tờ Tin Sáng số ra ngày 1 tháng 8, năm 1976
tính rằng: Từ năm 1962 về sau, tại Nam Việt Nam đă xuất
bản 208 bộ sách chưởng, gồm 850 quyển, con số phát hành
này ước tính 5 triệu bản, bằng số sách giáo khoa trung
học xuất bản cùng thời gian. Con số này, xin nhờ những
vị chuyên gia về Kim Dung cho biết xem thực hư ra sao.
Độc giả thân mến, xin ghi nhận những thống kê của Ủy Hội
Quốc Gia Unesco VN là tài liệu đáng tin cẩn. Tôi chỉ xin
nói một điều, nước Pháp hiện nay mỗi năm xuất bản khoảng
1000 đầu sách tiểu thuyết mới. Làm sao VNCH có thể xuất
bản mỗi năm hơn 20 chục ngàn đầu sách một năm. Những con
số của ông Vũ Hạnh hay ǵ khác là một thổi phồng đến phi
sự thực. Tôi không dám bảo là ông ấy nói láo khoét. Hăy
trả lại các ông ấy những ǵ các ông ấy viết. Chỉ cần so
sánh con số dự đoán giữa ông và Trần Trọng Đăng Đàn đưa
ra cũng cách nhau cả gần một trăm ngàn đầu sách. Điều đó
muốn nói với chúng ta điều ǵ.
Nay tất cả những sách đó đều ra tro. Đây là một chính
sách man rợ và xuẩn động của nhà cầm quyền Hànội. Dĩ
nhiên, người ta đă không đốt hết mà mang bán, chính v́
thế nay c̣n rơi rớt lại một số nhỏ nơi các tiệm bán
sách.
V́ sợ hăi nên người ta mang sách vở tài liiệu ra chợ bán
kư, đó là thứ hàng vô dụng và nguy hiểm nhất trong lúc
ấy. Người ta đốt những sách nào liên quan đến chính trị,
nhất là sách vở chống Cộng. Người ta đốt những nhà văn
nào liên quan đến chính trị như Nguyễn Mạnh Côn. Nhă Ca,
Phan Nhật Nam vv… Người ta cũng đốt tài liệu, h́nh ảnh
cũ, giấy tờ, huân chương, bằng khen. Đó cũng là thứ mà
những người chủ mới không muốn nó có mặt.
Người ta đốt tất cả những kỷ niệm, dù đẹp nhất của đời
ḿnh.
Mọi người phải tự hiểu rằng, phải đốt tất cả những ǵ
cần đốt, không phải chỉ đốt những kỷ niệm mà tất cả
những ǵ liên quan đến đới sống đó. Một đời sống mà tự
nó đă là một điều xấu, một bản án.
Muốn sống yên, người ta phải đốt tất cả quá khứ đời một
người cùng với những kỷ niệm, những sự nghiệp từ quá khứ
đó mà ra.
Sách không đốt th́ được bày bán lén hoặc công khai. Sự
bầy bán sách vở như thế coi như dân chúng bắt mạch được
thâm ư người chủ mới muốn ǵ. Nhưng trong số vạn người
bán, vạn người mua, vẫn có những người nhà buôn bất đắc
dĩ mà đặc loại là một số nhà văn, nhà giáo chế độ cũ nắm
được cái ch́a khóa của nhu cầu và ư nuốn của người đọc.
Họ t́m ra giữa những kẽ hở để thấy được trong hàng tấn
sách báo thải loại, cái nào là thứ hàng có giá trị, có
giá đối với người chủ mới. Nạn chợ đen, nạn săn t́m sách
cũ cho một thị trường mới nhờ thế càng phát triển.
Một cách nào đó, chính những nhà giáo, nhà văn, những kẻ
bán sách lề đường, những tên lái sách trở thành những
người bảo tồn Văn hoá miền Nam.
Sách phản động càng cấm, càng có giá. Đó là phản ứng
ngược chiều ở thời điểm đó. Trên báo Đại đoàn kết, ngày
10—11-1982, Đinh Trần Phương Nam thú nhận một thực tế
phũ phàng như sau:* Các hoạt động của chúng ta vừa qua
thật rầm rộ, thật phong phú và đa dạng, song các loại
sách báo phản động đồi trụy, đă bị quét hết chưa. Xin
thưa ngay là chưa.* Số Tiền Phong ngày 23-9-1985 cũng
than thở* Thành phố Hồ Chí Minh đă thực hiện nhiều đợt
bài trừ sách báo xấu, nhưng hiện nay hiện tượng mua bán
và cho thuê các loại sách báo xấu vẫn c̣n tồn tại*
Càng những sách bị cấm lại càng có giá trên thị trường
đen. Trên vỉa hè phố, những sách từ ngoài đó được phép
bầy bán nằm chống mốc, cong queo ít được ai ngó tới.
Người ta bầy những sách trên để che mắt mà thôi. Người
mua sách sành điệu chỉ cần hỏi tên một tác giả nhà văn
Ngụy.. Năm phút sau, chạy đi một lúc có liền.
Lại một thách đố nữa cho người chủ nhân ông mới.
Sách Ngụy trở thành một thách đố chính quyền mới, thách
đố ai hơn ai chứ không phải ai thắng ai. Thách đố mang
tầm vóc văn học, giá trị nghệ thuật dựa trên nhu cầu
người đọc. Sách hay th́ t́m đọc, sách tuyên truyền th́
không đọc.
Đài phát thanh thành phố ra lệnh phải thu nộp tất cả các
sách vở, báo chí, phim ảnh, tài liệu in ấn trước ngày 30
tháng tư được coi là đồi trụy. Nhiều người tiếc rẻ đem
bán kilô. Các gói xôi bán buổi sáng, nay có tên Nguyễn
Thụy Long, Nhă Ca, Thanh tâm tuyền. Vừa ăn, vừa đọc kể
cũng vui. Nhiều chỗ mang sách vở cũ ra đốt. Mà phải đốt
lén vào ban đêm
Nhưng sau đó ai cũng thấy đốt là phí phạm. Không đốt th́
sách vở đó đi đâu ? Không ai biết nữa. Nhiều người nhắc
nhở đến tên Tần thủy Hoàng. Nhưng chẳng ai để ư đến có
mối liên hệ ǵ giữa chuyện xưa và chuyện nay.
Tại sao lại dị ứng với văn học như thế? Không lẽ tất cả
đều là phế liệu, tàn dư Mỹ Ngụy hết sao ?
Sách nào là phản động, đồi trụy.
V́ thế sách cũ ở đây được đồng hóa với sách cực kỳ phản
động, không phản động th́ đồi trụy, không đồi trụy th́
lai căng.. Mấy chữ trên như những khẩu lệnh bao trùm và
truy chụp hầu như bất cứ tác giả nào và bất cứ quyển
sách nào.
- Trước hết, các nhà xuất bản sách thiếu nhi bị cấm toàn
bộ.
Đó là các nhà xuất bản như Tuổi thơ, Nắng sớm, Tuổi Hoa
Niên, Sách Đẹp, Viễn Du, Hùng Dũng, Hoa Hồng, Hoa Hướng
Dương, Hoa Mai, Hoa Hồng.
- Các dịch giả kiếm Hiệp sau đây cũng bị cấm : Kim Dung,
Cổ Long, Trần Thanh Vân, Nam Kim Thạch, Từ Khánh phụng,
Phan Cảnh Trung, Long Đức Nhân.
- Các tác giả có sách bị cấm toàn bộ như : Bùi Giáng,
Chu Tử, Dương Nghiễm Mậu, Duyên Anh, Doăn Quốc Sĩ, Đinh
Hùng, Nguyễn Mạnh Côn Hoàng Hải Thủy, Lệ Hằng, Mai Thảo,
Nguyên Sa, Nguyễn Đ́nh Toàn, Thế Uyên, Thanh Nam, Vơ
Phiến, Văn Quang, Vũ Hoàng Chương, Vũ Tài Lực, Nguyễn
Mộng Giác, Thảo Trường, Nguyễn Thị Hoàng..
Nhận xét :
- .Những nhà xuất bản sách thiếu nhi này ấn hành đặc
biệt các truyện dành cho thiếu nhi. Những sách đó có
tính cách giáo dục, giải trí, hay nêu gương tốt cho các
em thiếu nhi. Nội dung lành mạnh và có chất lượng giáo
dục. Những nhà xuất bản này thường bất vụ lợi, có sự tài
trợ đằng sau của những tổ chức tôn giáo, hay những nhà
xuất bản có ḷng như trường hợp ông Khai Trí. Vậy mà tội
t́nh ǵ cũng bị cấm. Cứ cấm là cấm, cấm một cách chùy
dập vô tội vạ và vô ư thức.
Các trẻ em miền nam tự nhiên mù chữ v́ không có sách
đọc.
Về các dịch giả truyện Kiếm Hiệp cho thấy đây là những
sách dịch vô tội vạ, vô thưởng vô phạt xét về mặt luân
lư, giáo dục. Chủ đích của người dịch trước hết có thể
là giải trí người đọc. Ai đọc truyện kiếm hiệp chả thấy
hấp dẫn và hay, đọc để giải trí. Sau đó mới nói tới
những chủ đề t́nh yêu, y học, vơ thuật, nhân vật truyện,
chất hài, chất ghen tuông, chất giang hồ, kiếm pháp
trong các truyện kiếm hiệp ấy. Sách phải được coi là bổ
ích và nó là bộ phận không nhỏ trong sinh hoạt Văn học
miền Nam.
Trẻ đọc, già đọc, b́nh dân đọc, trí thức đọc.. Mỗi người
t́m ra được cái thích thú cho riêng ḿnh.
Đến có thể nói, một trong những nét đặc thù trong sinh
hoạt Văn Học miền Nam là sách của Kim Dung
Kim Dung tên thật là Trà Lương Dung. Truyện vơ hiệp đầu
tay là Thư kiếm ân cừu, xuất bản ở Hương Cảng, từ đó có
bút danh Kim Dung. Năm 1957 ra bộ Anh Hùng Xạ Điêu, 1969
ra Lộc Đỉnh Kư. Cho măi đến 1978 Đài Loan mới rút lệnh
cấm tác phẩm Kim Dung và 1986, sau khi tiến lên 4 Hiện
đại hoá ở Trung Quốc mới xuất hiện Kim Dung. Truyện
chưởng Kim Dung "độc bá quần hùng" trong sinh hoạt văn
học ở miền Nam thời ấy. Vào năm 1968, khi xuất hiện Tiếu
Ngạo Giang Hồ trên tờ Minh Báo th́ có đến 44 nhật báo ở
Sàig̣n đều tranh nhau dịch và đăng lại. T́nh trạng mê
Kim Dung đến như thế, và kéo dài cho đến 1972-1974 khi
bộ Lộc Đỉnh Kư ra đời. Và đây là lời Vũ Đức Sao Biển,
tốt nghiệp Đại học Văn Khoa, Sàig̣n, ban Hán Văn: "Tôi
học cách làm người, cách đối xử nhân thế, đắc thủ được
những kiến thức hoàn toàn không có trong giáo tŕnh đại
học từ các tác phẩm của một nhà văn nước ngoài chưa hề
biết mặt."
Với lượng tác phẩm đồ sộ như thế, với số người đọc đông
như thế, không thể không t́m hiểu văn học miền Nam nhất
là văn học dịch mà bỏ qua tác giả Kim Dung. Người ta có
thể bàn về bất cứ vấn đề nào của con người, của xă hội.
Có thể từ t́nh yêu, bạo lực, đạo đức, tâm lư hay sự đánh
tụt giá của chủ nghĩa bạo lực trong truyện Kim Dung. Từ
vấn đề nghệ thuật, cách xây dựng nhân vật tiểu thuyết,
chất thơ, chất hài... đến chứng cứ kiếm pháp, Vơ và
Hiệp, cho đến những vấn đề có thể trở thành tranh luận
văn học như hư cấu nhân vật, hư cấu lịch sử. Kim Dung đă
hư cấu lịch sử Trung Hoa cách đấy ba thế kỷ mà vẫn hay
với cấu trúc tiểu thuyết liên hoàn. Vương Sóc, nhà
văn-nhà phê b́nh Trung Hoa (mà nghĩ đến ông tôi bắt nghĩ
đến Trần Trọng Đăng Đàn của Việt Nam), đă gọi tiểu
thuyết Kim Dung là một trong "tứ đại tục" bởi đă hư cấu
méo mó h́nh tượng người Trung Hoa. Từ đó đă gây thành
những tranh luận lớn khắp Hoa Lục. Lại c̣n vấn đề tôn
giáo, giáo phái trong tiểu thuyết. Luận về anh hùng và
những nhân vật biểu tượng như Kiều Phong, một đại trí,
đại dũng lại rất giầu t́nh cảm và ḷng nhân ái vời vợi?
Trương Vô Kỵ, Lệnh Hồ Xung, tài trí hơn người, hành xử
quang minh lỗi lạc, tốt bụng hơn người? Dương Quá, Địch
Vân, Hồ Phỉ... Rồi c̣n nhân vật nữ, những mỹ nhân như
Hân Tố Tố, Nhậm Doanh Doanh, Triệu Minh, Tiểu Siêu, Song
Nhi, v.v.. mỗi người mỗi vẻ, mỗi người một thông điệp.
Không có những nhân vật nữ đó, tiểu thuyết Kim Dung c̣n
ǵ?
Vấn đề tâm đắc đối với tôi: Vấn đề chính hay tà, vấn đề
thị phi trong cuộc đời, giữa Hiệp nghĩa và xă hội đen,
giữa danh môn chính phái và ma giáo. Ai chính, ai tà. Tà
chính khác nhau chỗ nào? Đọc Kim Dung sẽ thấy sự phân
biệt Chính và Taø là vô thực. Trong Kim Dung, có một cố
gắng đánh tụt giá những người tự nhận là Chính Nghĩa, và
qua họ, những giá trị mà họ tượng trưng. Sự sa đọa xuống
tới sự bất nhân, sự dâm loạn, sự ngu xuẩn của những đệ
tử phái Toàn Chân th́ c̣n ai tin ǵ ở Chính Nghĩa?
Chuyện đă hay, cơ man nào nhân vật, cơ man nào t́nh tiết
cḥng chéo lôi kéo người đọc. Kim Dung phải là người
kiến thức rộng, đọc nhiều, dùng Quan Thoại, một thứ ngôn
ngữ trong sáng, lại kế thừa truyền thống của những nhà
văn như Lâm Ngữ Đường, Tào Ngu, Lỗ Tấn… đă biến những
chuyện vơ hiệp tầm thường thành những tác phẩm để đời.
Đă vậy, có những dịch giả như Hàn Giang Nhạn chuyển ngữ
tài t́nh làm say mê độc giả VN.
Hễ hay th́ người đọc, dở th́ bị người bỏ quên.
- Về các tác giả, các nhà văn bị xoá sổ cho thấy tính
cách tổng quát hoá và khái quát hoá đồng loạt. Tỉ dụ thơ
của Vũ Hoàng Chương như Hoa Đăng, Thơ say, Tâm sự Kẻ
sang Tần th́ tại sao cấm. Ǵn Vàng giữ Ngọc và Gịng
sông Định mệnh của Doăn Quốc Sĩ th́ chỗ nào là phản
động, chỗ nào là đồi trụy. Duyên Anh với Hoa Thiên Lư,
Sa Mạc tuổi trẻ, Ngựa chứng trong sân trường, Dấu chân
sỏi đá th́ chẳng những không đồi trụy mà c̣n có tác dụng
giáo dục nữa. Thơ Nguyên Sa, Gơ đầu trẻ, Một bông hồng
cho văn nghệ th́ hoặc là có tác dụng giáo dục, hoặc đặt
ra những vấn đề tranh luận trong văn học. Hầu hết người
ta không biết hoặc quên rằng Nguyên Sa c̣n có tập
thơ*Những năm 1960*, trong đó là thứ thơ dấn thân, nhập
cuộc. Thảo trường với Người đàn bà mang thai trên kinh
Đồng Tháp th́ có giá trị tố cáo sự tàn bạo của chiến
tranh. Bùi Giáng với Mưa nguồn, Đi vào cơi thơ là những
chất ngọc nào phải thứ đồi trụy rẻ tiền.
Có vẻ nhà cầm quyền lúc đó muốn truy chụp tác giả hơn là
tác phẩm. Vũ Hoàng Chương, Mai Thảo, Duyên Anh, Đinh
Hùng, Hoàng Hải Thủy, Nguyên Sa, Chu Tử, Thanh Tâm
Tuyền, Nhă Ca, Vơ Phiến, Văn Quang, Dương Nghiễm Mậu
Nguyễn Mạnh Côn, Tạ Tỵ có viết ǵ cũng vẫn bị coi là thứ
biệt kích văn nghệ.
Xin lấy trường hợp Vũ Hoàng Chương làm điển h́nh. Ai đă
gặp Vũ Hoàng Chương rồi th́ đều thấy đó là một thi sĩ
gầy ốm tong teo, nói năng nhỏ nhẹ, lúc nào cũng ăn mặc
rất chải chuốt, tươm tất, đầu chải mượt với cà rà vạt.
Tác phẩm th́ tóm gọn trong hai chữ mà thôi : Thơ T́nh.
Cả đời chỉ biết làm thơ. Và chỉ biết có thơ. Nhưng dù
chỉ làm thơ cũng bị coi là người bội phản. Ông đă đi tù
như một số nhà văn khác như trường hợp Hồ Hữu Tường. Khi
ra khỏi tù được vài ngày th́ ông chết.
Mai Thảo dù chỉ viết truyện thuần túy văn chương như
Người thầy cũ, Mười đêm ngà ngọc, Căn nhà vùng nước mặn
hay Bày thỏ ngày sinh nhật cũng vẫn bị coi là tên Biệt
kích văn nghệ hàng đầu của miền Nam. Thanh Tâm Tuyền dù
siêu thực hay lăng đăng bí hiểm như Tôi không c̣n cô
độc, Bếp lửa, Cát lầy cũng là kẻ cấy mầm độc tư tưởng
ngoại lai thoái hoá. Hủy diệt các niềm tin th́ đă có
Thanh Tâm Tuyền, Phạm Công Thiện. Duyên Anh có viết Dấu
chân sỏi đá, Hoa thiên lư, Thằng Khoa, Gấu rừng, Giặc ô
Kê cho trẻ con cũng vẫn là tên đầu sỏ văn nghệ nguy
hiểm.
Người ta nhắm đánh vào người, nhắm thái độ lập trường
chính trị để đánh giá tác phẩm của tác giả. V́ nhắm tác
giả nên có nhiều nhà văn tự nhiên được sót tên một cách
cố ư. Đó là những nhà văn một mặt nào đó có thể không
chịu xếp hàng trong xă hội miền Nam cho dù thực sự họ
cũng xếp hàng như mọi người. Có nghĩa là xét về mặt tác
phẩm th́ những nhà văn này cũng chẳng khác ǵ các nhà
văn vừa kể ở trên. Có ǵ phân biệt được về phong cách
viết giữa B́nh Nguyên Lộc với Lê Xuyên hay với Vơ Phiến.
Nhưng B́nh Nguyên Lộc được tha. Giữa Nguyễn Văn Trung và
Lư Chánh Trung mà đôi khi ta tưởng hai người có cùng một
lập trường, cùng một quan điểm và cùng một đường lối.
Nhưng sách vở th́ lại bị phân biệt đối xử khác nhau.
Trong số những người sót tên trong sổ đen phải kể đến
B́nh Nguyên Lộc, Sơn Nam, Vũ Hạnh, Lư Chánh Trung, Lữ
Phương, Nguyễn Trọng Văn, Thích Nhất Hạnh.
Sự đánh phá và truy chụp đó nói cho cùng là một sự muốn
xoá trắng Văn học miền Nam. Xin trích dẫn vài tư liệu
làm bằng cớ trong sách Văn Học VN dưới chế độ Cộng Sản
của Nguyễn Hưng Quốc, trang 200 :* Theo Phan Cư Đệ và Hà
Minh Đức, trong Nhà Văn VN, từ 1954-1975 có 286 bài viết
nhằm vu khống, xuyên tạc văn học miền Nam. Chỉ thị của
Lê Duẩn sau giải phóng, kỳ họp Quốc Hội khoá 5 : Sau
ngày giải phóng nhân dân ta đă làm rất nhiều việc nhằm
quét sạch những dấu vết và di hại của thứ văn hoá ấy.
Công việc này cần được tiếp tục một cách kiên tŕ, tích
cực và triệt để.*
Về những bài viết, xin kể vài bài : Tiếp tục đấu tranh
xóa bỏ tàn dư văn hoá mới. Nọc độc văn hoá nô dịch.
Những tên biệt kích cầm bút. Lại bàn về nọc độc văn học
thực dân mới Mỹ ở miền Nam những năm 1954-75.
Tên những người viết đó là : Trần Trọng Đăng Đàn, Lê
Đ́nh Ky, Trần Văn Giàu, Nguyễn Huy Khánh, Thạch Phương,
Phan Đắc Lập, Bùi Công Hùng và cả Lữ Phương.
Miền Nam có thể thua cuộc. Nhưng cái văn học đó không có
lư do ǵ bị xoá trắng oan uổng như thế. Bởi v́ trong 20
năm sinh hoạt văn học đó, nó xác định cho thấy chỗ đứng
của nó với sắc thái và cá tính của một nền Văn học đích
thực. Một nền văn học mà sản phẩm của nó là kết quả của
tự do suy nghĩ, tự do sáng tác. Đấy là cái ưu vượt của
sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam mà trong suốt mấy
chục năm chia cắt và cả sau mấy chục năm thống nhất đất
nước rồi, người ta vẫn chưa thực hiện nổi một điều đơn
giản đó.
Đặc biệt các giáo sư Triết, dù bị phê phán v́ rao truyền
chủ nghĩa Hiện Sinh, nhưng sách vở của họ lại không bị
cấm lưu hành toàn bộ như Lê Tôn Nghiêm, Trần Thái Đỉnh,
Trần Văn Toàn, Lư Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung và các
lớp giáo sư trẻ như Đặng Phùng Quân, Nguyễn Trọng Văn.
Trừ một trường hợp đặc biệt, dù là giáo sư triết, nhưng
viết văn nên cấm lưu hành toàn bộ như sách của Huỳnh
Phan Anh và Nguyễn Xuân Hoàng.
Phần tôi nghĩ rằng, thời kỳ sau 1975, đó là thời kỳ Văn
Học bất hạnh cho toàn miền Nam
Bất hạnh v́ sách bị tịch thu, bị thiêu hủy. Bất hạnh v́
hơn 200 nhà văn, nghệ sĩ bị đưa đi cải tạo. Bất hạnh
theo suốt cả đời họ. V́ kể từ đó, họ bị khước từ là nhà
văn, bản án tù cứ thế kéo dài măi măi v́ họ không bao
giờ c̣n có cơ hội để viết. Và kể từ đó đến sau này, ta
không c̣n bắt gặp lại mảnh đất miền Nam với những cây
trái văn học nữa, cùng lắm có những cây trái đau khổ,
đọa đầy và hủy diệt.
Và cái người bất hạnh nhất, tiêu biểu nhất có lẽ là nhà
văn Nguyễn Thụy Long mà người ta quen gọi là nhà văn
*Loan mắt nhung*. Sau 1975, ông lê kiếp số phận nhà văn
như một con chó đói, một loài chuột chui nhúc để kiếm
sống.
Hăy nghe ông kể :* Tôi về sống với mẹ già ở Ấp Đông Ba
Gia Định sau ngày * giải phóng*, bên này Cầu Bông, sau
khi bị phía nhà vợ thuộc gia đ́nh Cách mạng đuổi ra khỏi
nhà... Tôi ngậm đắng nuốt cay bước ra khỏi nhà sau khi
bị vu bao nhiêu là thứ tội, kể cả tội ăn cắp tài sản của
chính ḿnh, suốt nhiều năm cầm bút tạo thành... Mất nhà,
mất vợ chẳng nói làm ǵ, v́ đă cạn tầu ráo máng rồi,
nhưng mất con tôi mới đau.* Sau khi hồ Con Rùa trên
đường Duy Tân bị nổ, ông cùng nhiều trí thức, văn nghệ
sĩ bị bắt v́ vụ này. Xin đọc tiếp :* Những câu chuyện
vặt trong pḥng giam bỗng im bặt, khi tiếng nói thật lớn
thật to ở pḥng giam tử tội cuối hành lang cất lên :
Chào tất cả các anh em bạn tù, chúng tôi ba người mang
án tử h́nh, sẽ bị xử bắn vào sáng sớm ngày mai, chúng
tôi có lời chào vĩnh biệt tất cả các anh em c̣n ở lại.
Tôi là Nguyễn Xuân Hùng, tự Ali Hùng, hai người bạn tôi,
một là linh mục, một là chiến sĩ. Tôi là một người Việt
Nam lai da đen, xứ Phi Châu Sénégalais, mẹ tôi là người
Việt Nam, vậy tôi xin nhận nơi này làm quê hương, v́ mẹ
Việt Nam của tôi đă nuôi tôi khôn lớn và thành người.
Trong pḥng giam của tôi, vị linh mục đang quỳ dâng ḿnh
cho Chúa, người bạn chiến sĩ th́ đang huấn nhục. Tôi có
giọng khỏe, xin được hát thân tặng lại tất cả những anh
em c̣n ở lại. Những bài hát thấm đượm t́nh quê hương của
Phạm Duy mà tôi rất ngưỡng mộ..*
Chúng tôi đă mất Sàig̣n thật rồi.
Sau này, theo bs Trần Ngọc Ninh viết lại trên tờ Khởi
Hành, tháng 9-2005, ông từ chối không cho nhà xuất bản
sửa dù một chữ những tác phẩm của ông :* Tôi c̣n ǵ để
mất ngoài liêm sỉ, thà chết đói chứ tôi không sửa văn
tôi viết trước kia được*.
Chính ông cũng kể lại về trường hợp có nhà xuất bản cho
người đến đề nghị in lại cuốn Kinh nước đen với điều
kiện nó phải được sửa chữa lại. Ông đă từ chối không
chịu. Nay th́ tờ Khởi Hành đang tiến hành giải văn
chương năm nay dành cho ông. Thực tế trước mắt là ông sẽ
nhận được một số tiền để sinh sống ra khỏi kiếp chó đọa
đầy.
B.- T́nh h́nh sách cũ hiện nay.
Về Sàig̣n hôm nay, chỉ ở Sàig̣n thôi mà không ở Hànội,
tôi t́m lại xem trong đống tro tàn đó c̣n lại được ǵ.
Không c̣n bao nhiêu. Tôi thấy họa hiếm mới c̣n sót lại
một vài cuốn truyện. Và càng ngày, số lượng nó càng ít
đi, v́ mua vào mà không bán ra hoặc theo thời gian bị
tiêu ma v́ không có thư viện bảo quản. Chỉ c̣n lại một
số rất ít mà trên lư thuyết vẫn là sách cấm lưu hành,
bất hợp pháp, nhưng lại được bày bán công khai như thể
hợp pháp. Hơn thế nữa, các loại *sách cũ* thuộc loại
sách chưởng, kiếm hiệp, mặc dầu vẫn là sách cấm lưu hành
lại được in lại, sách cũ trở thành *sách mới*, bày bán
công khai và hợp pháp. Chẳng hạn những sách của Vũ Đức
Sao Biển như Kim Dung giữa đời tôi gồm các quyển Kiều
Phong, Khát vọng tự do, quyển thượng, Thiên hạ đệ nhất
mỹ nhân, quyển trung, Từ AQ đến Vi Tiểu Bảo, quyển hạ và
Thanh Kiếm và cây đàn, quyển kết th́ đă được Nhà xuất
bản Trẻ in ấn và phát hành đoàng hoàng. Gần như toàn bộ
các loại sách kiếm hiệp được in lại. Sách của nhóm TLVĐ
cũng vậy. Sách Triết cũng được in lại rất nhiều với các
tác giả Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm.
Thế th́ những bá cáo chính trị suốt bao nhiêu năm cũng
như những văn kiện, nghị quyết của Bộ chính trị Ban chấp
hành Trung Ương đảng Cộng sản phải chăng chỉ c̣n có giá
trị như những tấm giấy lộn.
Để hiểu rơ thêm về phần sách cũ này, tôi có một nhận xét
như sau : Kể tử 1975 đến 1985, Sàig̣n hay miền Nam có
hai bộ mặt sinh hoạt văn học : Mặt nổi và mặt ch́m. Mặt
nổi bao gồm những sách báo in ấn chính thức từ miền Bắc
gửi vào. Đó là một thứ văn học Cộng Sản mà tự nó mang
tính chất đồng phục, tính chất hợp pháp và giáo điều
buồn nản và tầm thường. Tôi c̣n nhớ trên vỉa hè phố
Sàig̣n những cuốn sách dịch in trên giấy xấu đến khó coi
cả từ bề ngoài đến tựa đề. Đọc lên nghe tức anh ách như
: Mười ngày của Bôcaxiô. 10 ngày ǵ mới được chứ. Thằng
cười, dịch V.Hugô. Cửa hàng v́ hạnh phúc các bà của
E.Zôla.. Dịch lạ quá, tôi đi t́m sách của nhà văn này,
nhưng đành chịu không kiếm ra cái tựa đề Cửa hàng v́
hạnh phúc các bà ở đâu. Trăm năm cô đơn của G.Market.
Tuổi thơ măi măi cùng ta của M. Karim, Đất vỡ hoang của
M. Sôlôkhốp, Thời gian để sống và để chết của E. Rơmacơ.
Ông già và biển cả của E. Hemingway, Đồi gió hú của
E.Brônti. Cả ba cuốn này đều đă được dịch ở trong Nam
trước đó rồi. Đốt Đỉnh gió hú, đốt Lăo ngư ông và biển
cả, đốt Thời gian để sống và để chết của miền Nam mà
chất lượng dịch đă hẳn là bảo đảm hơn miền Bắc để mang
nguyên con những thứ đó vào miền Nam với phẩm chất không
bảo đảm và giấy th́ thật xấu. Để làm ǵ.
V́ thế dân chúng trong Nam vẫn chịu khó tốn công, tốn
tiền đi t́m sách báo cũ để đọc, chuyền tay nhau để đọc.
Bởi v́, chính những sản phẩm văn hoá đó đă làm nên họ,
là của họ, là bản thân họ và trở thành biểu tượng của
những giá trị quá khứ cần được nâng niu giữ ǵn. Và như
thể, nếu không có những thứ văn hoá phẩm đó được nuôi
dưỡng th́ họ không c̣n là họ nữa, khô chồi và thui chột.
Nhưng một phần th́ sinh hoạt văn học miền Nam dừng lại ở
đó, bằng ḷng với tất cả những thứ đến từ dĩ văng, quá
khứ và trong tương lai sẽ mỗi ngày mỗi thưa vắng đi, bởi
v́ không có người làm công việc sáng tác nữa. Đó là thứ
văn học không có tương lai mà chỉ c̣n mở ra một sinh lộ
: Quay lại quá khứ của chính ḿnh để nhớ, để thương và
để sống lại. Nếu ở Hải ngoại thời đó người ta gọi VHHN
là thời kỳ văn học lưu vong. Trong nước phải gọi là thời
kỳ văn học của quá khứ, vang bóng một thời.
Từ một nền văn học đồng phục, bị động, nghèo nàn với
những sách vở lưa thưa và chưa định h́nh. Sách báo miền
Nam cũ vẫn có mặt mà chưa có kế thừa và thay thế. Kể từ
đó, sau ngày 30-4, sách báo miền Nam vỉa hè, giống như
số phận của chính nền văn học ấy, thực sự trở thành sinh
động chỉ nhờ vào sách báo cũ. *Điều đáng chú ư là đa số
chủ nhân các tụ điểm văn hoá này là những người có học.
Không thể nói là họ không am hiểu nội dung và tác hại
của thử sách ra. Lạ một điều là bất chấp mọi hậu quả, họ
cứ thản nhiên bày bán, những thứ rác rưởi văn hoá đó,
ngày này qua ngày khác. Cứ mỗi độ chiều về, ở những điểm
này, người bán kẻ mua tấp nập* .
Không có ǵ lạ. Cái lạ là các ông không hiểu ǵ về nếp
sống, nếp nghĩ, sinh hoạt văn học miền Nam cả. Những thứ
mà quư ông gọi là rác rưởi th́ dân miền Nam lại coi là
thứ rác quư, rác hiếm.
Sau 30-4, miền Nam có nhiều thứ rác lắm. Những thứ rác
có thể đốt. Nhưng đốt thứ rác sách vở, báo chí văn học
nghệ thuật miền Nam, các ông đă đụng chạm đến tinh thần
và niềm tự hào của cả một miền đất nước thân yêu của họ.
Điều đó khó mà tha thứ được.
C.- Những người có công với sách cũ của Sàig̣n.
Sách vở, báo chí miền Nam trở thành món ăn tinh thần là
do công sức của các nhà văn, nhà phê b́nh, giáo sư đến
các học giả. Điều hiển nhiên là thế. Nhưng sức bật, sự
tác động để phổ biến những văn hoá phẩm ấy là nhờ vào
một số lớn nhà xuất bản có công với Văn Học. Họ là những
nhà xuất bản như Tŕnh Bày, Nam Sơn, Nguyễn Đ́nh Vượng,
Văn Hoá Á Châu, Diên Hồng, Xưa nay, Khai Trí, Lá Bối, An
Tiêm. Những nhà xuất bản này đă đóng góp vào việc xuất
bản 200 triệu cuốn sách trong 20 năm. Con số thật không
nhỏ.
1.- Ông Khai Trí : Chẳng mấy ai biết tên thật của ông,
thành ra thương hiệu nhà sách KT, 62 Lê Lợi được đồng
hoá vào tên ông. Thật ra tên ông là Nguyễn Hùng Trương,
với hai tay trắng làm nên sự nghiệp. Ông vừa là một
doanh gia, vừa là người làm văn hóa. Ông biên sọan
khoảng 15 cuốn sách như Thơ t́nh Việt Nam và thế giới
chọn lọc, Chánh tả cho người miền Nam... và chủ trương
tuần báo Thiếu Nhi cùng với Nhật Tiến.
Sau giải phóng, nhà sách KT là nạn nhân của nạn hôi của,
đốt phá. Sách vở tung toé khắp nơi từ trong nhà sách ra
ngoài đường. Tôi đă chính mắt chứng kiến cảnh ấy trong
nỗi bất lực, bất lực của một người tự xếp hàng vào người
thua cuộc. Tôi không biết lúc bấy giờ ông Khai Trí đứng
ở đâu. Đứng ở đâu th́ cũng cùng tâm cảnh đau xót đó
thôi. Khi đă chứng kiến cảnh này rồi th́ đừng bảo tôi có
thể nghĩ hay cho những người mới đến. Họ không hiểu được
điều đó v́ quá hăng say trong men chiến thắng hay họ
chưa bao giờ biết nghĩ tới người dân muốn ǵ, nghĩ ǵ.
Tiếp theo đó là hai kho sách lớn cũng bi trưng thâu.
Hằng vài trăm ngàn cuốn sách ra khỏi kho, rồi biến mất
dạng.
Ông trắng tay sau bao nhiêu năm tốn công gây dựng.
Sau này, ông ở Mỹ về VN một lần nữa, mang theo hy vọng
làm được một chút ǵ cho đất nước. Ông đă mang về 2000
đầu sách để tiếp tục làm Văn hoá. Sách bị tịch thâu với
lư do : in trước 75. Theo Nguyễn Thụy Long, phần lớn
sách bị tịch thâu là các loại sách Học Làm Người, báo
chí quư hiếm trước 1954, như bộ Loa rất nổi tiếng. Sách
ông mang về ai cũng biết là sách về giáo dục, sách hiền,
sách tốt cả. Mà dại ǵ ông mang sách dữ, mà làm ǵ kiếm
ra đâu được sách dữ. Nó chỉ có một cái tội : Tội đă in
trước 1975.
Trước 75 là xấu, vi phạm luật. Sau 75 là tốt.
Ông đau ḷng v́ sách, ôm đơn đi kiện. Kết cục chẳng đi
đến đâu.
Trước khi ông mất, người ta đă không quên đặt tên ông
cho một con phố nhỏ. Đúng như ông thày TQ nhận xét : Hôm
qua nó giết ḿnh, hôm sau nó mang ṿng hoa đến phúng
điếu.
.. Ông ra đi lúc 5h15 ngày 11/3, linh cữu hiện quàn tại
nhà riêng (237 Điện Biên Phủ, quận 3, TP HCM), lễ động
quan lúc 6h ngày 14/3, hỏa táng tại B́nh Dương. Nguyện
vọng của gia đ́nh là gửi tiền phúng điếu vào quỹ từ
thiện thành phố.
Cụ Toan Ánh, năm nay 91 tuổi, trong bữa đưa đám ma ông
Khai Trí than thở: tại sao ḿnh sống lâu như thế, ông
Khai Trí mới có 80 tuổi.
2,- Nhà Lá Bối : nhà Lá Bối do nguyên Đại đức Từ Mẫn,
tên thật là Vơ Thắng Tiết trông nom. Sau ông hoàn tục.
Ông là người có ḷng, để việc phụng sự văn học nghệ
thuật lên trên tiền bạc. Từ Mẫn đă giúp các nhà văn có
nơi xuất bản những đầu sách có giá trị và người đọc có
cơ hội đọc những cuốn sách trang nhă, chăm sóc từng chút
trong việc tŕnh bầy ấn loát và cả đến nội dung sách.
Tất cả sách của Nhất Hạnh đều từ đây mà ra. Nếu không có
Lá Bối, những Chiến tranh và Hoà B́nh, Chiến Quốc Sách,
Sử Kư Tư Mă Thiên, Kiếp người của Sommerset Maugham,
Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay và Lối thoát cuối cùng
của V. Georghiu sẽ nằm ở đâu? Nếu không có Lá Bối, nhiều
sách chắc ǵ đă có cơ hội ra mắt bạn đọc. Nhất là bộ
Chiến tranh và Hoà B́nh của Léon Tolstoi. Sách in tốn
vài ba triệu thời bấy giờ, bao giờ lấy lại vốn. Sau này,
ở Hải ngoại, ông tiếp tục làm công tác văn học với nhà
xuất bản Văn Nghệ. Nếu cần một vinh danh ǵ cho 20 năm
Văn học dịch nói riêng và Văn học nói chung, có cần nên
nhắc đến Vơ Thắng Tiết không? Kẻ lót đường cho Văn học
miền Nam
3.- An Tiêm Thanh Tuệ.
Tôi chỉ xin trích dẫn hai bài viết lúc mà Thanh Tuệ nằm
xuống để thấy được rằng nhà xuất bản An Tiêm với Thanh
Tuệ có ḷng với văn chương như thế nào.
- Tiếc Văn Chương, thương chữ nghĩa, Trần Thị Lai Hồng.
Biết là vô thường, nhưng vẫn không khỏi tiếc thương. Tôi
tiếc thương người An Tiêm Thanh Tuệ hiền ḥa đă đành, mà
nỗi tiếc Thương Văn Chương chữ nghĩa c̣n trĩu quá nặng.
Thôi từ nay, c̣n ai khổ công lặn lội t́m ṭi đăi lọc để
phổ biến văn chương như đă từng với Tuệ Sĩ, Bùi giáng,
Sao Trên Rừng, Nguyễn Đức Sơn. Thôi từ nay c̣n ai trân
quư nâng niu bảo trọng chữ nghĩa như đă từng với Lá Hoa
Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột, Mười Hai con Mắt.. Đêm Nguyệt
Động, Cái chuồng khỉ và c̣n nhiều, rất nhiều công lao
với văn học đă, đang và chưa thực hiện được.
- Với nhà văn Lê Thị Huệ:
Rồi bỗng nhiên nghe tin Ông chết. Đặng Ngọc Loan hôm
trước rủ đi uống càphê với Ông một lần, gọi điện thoại
nói với tôi: Tin ǵ kỳ cục. Sao người vậy mà chết nghe
kỳ cục quá.
4.- Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, Sàig̣n.
Có lẻ phải nói đây là một ông Khai Trí thứ hai. Trong
một dịp đi dự một buổi phát giải thường, do cái
TTNCBTVPHVHDT. Viết tắt thế để quư vị khỏi mất thời giờ
với cái Trung Tâm đó. Tôi có gặp anh Vơ Thành Tân, Tổng
giám đốc nhà sách Thành Nghĩa và nhất là anh Vũ Quang
Tŕnh, trợ lư TGĐ trong bữa ăn trưa đó. Gốc gác các anh
đều là dân Quảng Nam, Quảng ngăi mà người dân gọi đùa
là: Cộng Hoà Xă Hội chủ nghĩa Việt Nam Quảng Nam, Đà
Nẵng. Gọi như thế để thấy cái dân ngoài đó đi theo đảng
nhà nước tận t́nh. Nay sau 30 tháng tư, Họ, những người
dân miền ấy có mặt khắp nơi, nhất là trong ngành báo
chí, xuất bản. Các báo lớn như Tuổi Trẻ, Thanh Niên vv.
đều có người của họ.
Vơ Thành Tân, sau 75 đang c̣n học Văn Khoa. Với cái vốn
liếng ấy đâm ra hữu dụng, anh làm nghề mua bán sách cũ.
Biết sách nào quư, biết sách nào giá trị là sở trường
của một người mua bán sách cũ. Có tư vốn rồi, anh mua
lại một cái ki ốt bán sách lẻ ở đường An Dương Vương.
Kịp đến thời mở cửa, 1986.. Theo lời anh Tŕnh, các anh
liên kết với các nxb của nhà nước để in sách. Họ đứng
tên, cho giấy phép rồi họ mặc cho ḿnh muốn làm ǵ th́
làm. Một cuốn sách mới đầu ít vốn in 1000 cuốn thăm ḍ.
Bán chạy th́ in lại, bán tiếp. Một năm mới đầu xuất bản
4,5 đầu sách, rồi cứ thế tăng dần. Đến năm 2004 th́ đă
cho xuất bản đến 3000 đầu sách đủ loại. 2005 tăng lên
3500 đầu sách một năm.
Nay th́ các anh trở thành tỉ tỉ phú trong ngành xuất
bản. Ngoài ra, các anh c̣n mở ra 18 cửa hàng bán sách
với 2000 nhân viên. Hỏi sao có nhiều nhân viên như thế.
Trả lời là để trông chừng những khách hàng ăn trộm đồ
trong tiệm sách.
Có những tiệm sách lớn có đến 40 chục ngàn đầu sách đủ
loại.
Làm ǵ c̣n có những Thanh Tuệ, những Từ mẫn nữa. Làm ǵ
c̣n có Lá Bối, An Tiêm, Nam Sơn nữa. Làm ǵ c̣n có *Loan
mắt Nhung* nữa.
Thôi chào vĩnh biệt sách cũ Sàig̣n. Chào những đứa con
tinh thần sinh trước 1975 c̣n sót lại.
Và như trong một số bài viết của tôi, tôi luôn luôn đ̣i
hỏi nhà cầm quyền đương thời một điều, một điều thôi.
Trước khi nói hoà giải, trước khi nói t́nh nghĩa, trước
khi kêu gọi Việt kiều về nước, trước khi nói đến khúc
ruột ngàn dặm vv và vv.. Yêu cầu các ông một lời xin lỗi
chúng tôi, xin lỗi những người lính VN cộng hoà, xin lổi
các nhà văn, nhà trí thức, xin lỗi các bà vợ, xin lỗi
người mẹ, xin lỗi trẻ con miền Nam và cuối cùng xin lỗi
sách vở miền Nam. Xin lỗi tất cả.
Không làm th́ hăy khoan nói đến truyện ǵ khác.
Ghi chú:
Trích Văn Hoá, Văn Nghệ..Nam Việt Nam 1954-1975, Trần
Trọng Đăng Đàn, trang 779, nxb Văn Hoá Thông Tin Hànội-
2000.
Trích lại trong Văn Hoá Văn Ngệ Nam Việt Nam 1954-1975
của Trần Trọng Đăng Dàn, trang 502, nxb Văn Hóa Thông
tin.
Trích lại trong Văn Hoá, Văn Nghệ, Nam Việt Nam
1954-1975 của Trần Trọng Đăng Đàn. Nxb Văn Hoá Thông
tin. Trg 502.
Trích Văn Học Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản, Nguyễn Hưng
Quốc, trang 226, nxb Văn Nghệ, 1991
Trích Kư ức về tiếng hát của người tử tù, Nguyễn Thụy
Long, tạp chí Khởi Hành số tháng 9-2005, trang 23.
Trích SGGP, ngày 15-2-1987. Trong Văn Học VN dưới chế độ
Cộng Sản của Nguyễn Hưng Quốc, trg 228. nxb Văn Nghệ.
|