Cuộc sống ở một nơi nào khác (la vie ailleurs)

Thóc thơm
Gạo trắng
Gió hiền
Miền Nam ph́ nhiêu nắng ấm

(Trích bài thơ xuôi cho Trần Văn Bá của Dương Như Nguyện)
Nguyễn Văn Lục

Đặt chân đến Sài G̣n, tôi chỉ có một ư nghĩ là về: về với gia đ́nh về với những kỷ niệm và t́m lại ḿnh. Nh́n lại anh chị em ḿnh c̣n ở lại. Gặp lại con cháu ḿnh mà từ hơn 30 năm chưa gặp mặt. Đứa chưa gặp th́ lạ hoắc. Nh́n nhau mà ngỡ ngàng, mà cười. Tất cả là hơn 60 đứa cháu lớn nhỏ. Tiền ĺ x́ trong dịp tết phải có danh sách lần lượt mỗi nhà. Vui ơi là vui. Nhiều đứa đă lớn cái đầu, đă có dâu rể c̣n tỵ nạnh, mè nheo đ̣i cậu, đ̣i ông trẻ cho thêm. Th́ cũng cho. Đứa gặp lúc thuở nhỏ th́ nay cũng đă đứng tuổi hoặc chập chững bước vào tuổi già. Mừng vui lẫn lộn, cười chảy nước mắt. Lúc ra đi, cả một bầy vẫy tay la hét. Cứ nhốn nháo cả lên. Ra đi mà ḷng không đặng. Cuối cùng cái ǵ c̣n lại chỉ c̣n lại một cuộc nối lại khúc ruột mà nhiều năm nay đứt đoạn.

Phần tôi chỉ mới nối được khút ruột máu mủ.

Phần c̣n lại, Việt Nam c̣n nhiều khúc ruột đứt như thế lắm. Cần phải nối. Trước mặt là khúc ruột 75 của 3 triệu người di tản. Bài học thống nhất nước Đức chẳng dạy dược chúng ta điều ǵ, cũng chẳng rút ra được bài học ǵ. V́ thế mà thống nhất đất nước th́ đă xong từ lâu, nhưng thống nhất ḷng người th́ hẳn là chưa. Hơn 30 năm rồi. Hận oán vẫn chưa nguội.

Và qua chuyến về này, tôi cũng thấy là chưa phải lúc, hay lúc chưa tới.

Phải thú thực với ḷng ḿnh, tôi chỉ thấy an b́nh khi về nhà. Ra khỏi cái bầu khí đó tôi có cảm tưởng cuộc sống ở đây như thể một cuộc sống ở nơi nào khác. Cái ǵ cũng chổn rổn, lạ lẫm và không quen thuộc. Hoặc lố bịch, hoặc vô trách nhiệm, hoặc hỗn loạn xô bồ vô tổ chức.

Vẫn đường phố ấy, nhộn nhịp hơn với những sợi giây trời giăng mắc chằng chịt bừa băi.

Nhiều lúc tôi nh́n những sợi giây điện, từng bó, cả trăm sợi, quấn chằng chịt, len lỏi vào ban công mỗi nhà, chui vào ngơ hẻm. Mà tôi rùng ḿnh sợ hăi.

Tôi đếm ra được nhiều sợi. Sợi gian dối, sợi tuyên truyền, sợi vu oan, sợi tô hồng, sợi gian tham, sợi tệ bạc.

Và ở nơi đây, đám đông người nhung nhúc, cứ như phải nhoi lên mà sống, nhoi lên mà thở như thể lẽ sống c̣n.


Thời gian bất tận

Ở nơi đây, nơi mà tôi đă lớn lên, đă trưởng thành, tôi có thể đong đếm mỗi năm cuộc đời bằng thời gian ngày, tháng, năm. Bằng thứ hai, thứ ba và thứ bảy, chủ nhật... Có thứ bảy cuối tuần, có lúc hẹn ḥ, có lúc dong chơi cuộc đời. Có ngày làm, ngày nghỉ như hai nhịp bước chân, có nhịp đi th́ có nhịp nghỉ.

Tôi đă mất một cảm giác về thời gian như thế.

Thời gian bây giờ là thời gian miên tục, triền miên đến không c̣n ư niệm thời gian nữa. Việt Nam, đất nước tôi, Sài G̣n, Hà Nội. Thời gian lúc nào cũng là lúc không giờ. Thời gian chuyển động triền miên cũng là thời gian lúc nào cũng chỉ không giờ. Nó xoay chuyển liên tục, chóng mặt như một ṿng xoáy, như một cơn lốc, như một cơn mê.

Nó không có lúc nào bắt đầu nên cũng không có lúc nào dứt điểm.

Người lao động các khu chế xuất làm từ sáng tới đêm, làm hùng hục, không c̣n thấy ánh sáng mặt trời. Và nay th́ họ đă cất lên tiếng nói bằng đ́nh công. Nhiều chỗ, nhiều nơi ở các khu chế xuất, nhất là Biên Hoà, Long An. Ít lắm đă có gần 20000 ngàn công nhân đ́nh công..

Không làm th́ ăn uống suốt từ sáng đến đêm. Lúc nào cũng là ăn, lúc nào cũng là uống và như thể không có công việc ǵ khác ngoài chuyện ăn uống. Sáng trưa chiều tối. Đêm là ngày, ngày là đêm. Thứ hai, tư sáu, thứ bảy chủ nhật. Lúc nào là nghỉ, lúc nào là làm. Xe cộ như mắc cửi như thể không ai làm việc ǵ, ngoài việc phóng xe ngoài đường.

H́nh như cuộc sống chỉ c̣n có hai nhịp: hùng hục làm và hùng hục ăn.


Tiếng động triền miên

 

Xe Sài G̣n
Nguồn: g4zfe.com


Ai mới đặt chân đến Sài G̣n đều có cảm giác là bị tiếng động tra tấn. Đó là một cảm giác có thật. Tiếng động của đủ mọi loại xe, tiếng bóp c̣i inh ỏi. Mà không có tiếng động th́ không c̣n là Hà Nội, Sài G̣n nữa.. Đó là chu kỳ tần số âm thanh như những đợt sóng âm thanh bất tận đập vào màng nhĩ tai. Tôi chỉ thực sự nhận ra Sài G̣n ngưng nghỉ có một lần. Đó là lúc 5, 6 chiều tối 30 tết.. nhưng chỉ độ 9 giờ tối, nó lại rơi vào cơn mê điên cuồng của tiếng Động.

Trong cơn mê điên cuồng của tiếng động, con người đánh mất bản thân ḿnh, không c̣n là ḿnh.

Đó là cuộc vong thân trong tiếng động.

Con người không có th́ giờ để nghĩ, để yêu thương, để nh́n lại ḿnh. Mất hẳn cuộc sống riêng tư một ḿnh. Tiếng động nay len lỏi vào bất cứ căn ngơ hẽm nào, bất cứ chỗ nào gọi là đuờng. Cứ chỗ nào không có nhà th́ chỗ đó là đường đi, xe cộ chen chúc, lách mà đi và chỗ đó sẽ có tiếng động.

 

C̣n đâu nữa mà nghêng ngang đứng trước cửa nhà gâu gâu
Nguồn: thetraveler.typepad.com


Tiếng động trấn áp tất cả. Đến gà không thể gáy, chó không thể sủa. Hết rồi tiếng chim hót trên cành. Hầu như, ngay ở Hà Nội, đường phố c̣n khá nhiều cây xanh mà tôi cứ tấm tắc khen măi. Ít ra c̣n có mảng da trời, ít ra c̣n có cây xanh hai bên đường phố. Vậy mà tôi cũng chưa hề nghe tiếng hát của loài chim, dù là chim sẻ. Hăy chỉ cho tôi, có con chó nào dám ra đường sủa, hoặc dám tè một băi, nhất là dám nghêng ngang đứng trước cửa nhà gâu gâu.

Chó cụp đuôi, gà tắt tiếng, chim ngừng hót.

Cuộc sống trí tuệ và t́nh cảm con người đă bị khô chồi và tàn lụi v́ tiếng động.. Tiếng động phá và làm rối lọan các cơ năng thần kinh năo bộ. Người ta không thể tập trung tư tưởng được, không thể học được, không thể nhớ được, nói chi có thể sáng tạo được. Người ta cũng không thể yêu thương được, cùng lắm chỉ làm t́nh được.

Và rồi trong cơn mê điên cuồng của tiếng động, nó sẽ đánh thức tiềm lực của bản năng, của những động lực vô thức, của bản năng sinh tồn, bản năng t́nh dục.

Khi mà con người bị vong thân trong tiếng động th́ tất cả cơ chế vận hành của con người sẽ là những bản năng tự tồn. Con người sẽ sống như những loài động vật hay như những bộ máy biết đi, biết ăn, biết ngủ, biết làm, biết kiếm tiền, biết làm t́nh. Trẻ con hùng hục đi học từ sáng tới tối, tới đêm. Bừng con mắt dạy là học. Học như nhét, như nhồi. Học như tống vào đầu mà đầu óc như một kho chứa.

Người ta tưởng là làm, nhưng thật ra chỉ là những vận hành cử động của một guồng máy xă hội đẩy người ta đi.

Việt Nam báo hiệu có sự thay đổi và phát triển với tiềm năng và hy vọng lớn. Nhưng nó cũng cảnh báo về một nguy cơ suy sụp toàn bộ giá trị làm người.

Nh́n mà cảm thấy ngao ngán và lo ngại. T́nh người khan hiếm, bạo lực có thừa, bản năng và thú tính ngự trị, lường gạt và dối trá là món hàng trao đổi.

Việt Nam đang sống hay quay trở lại thời kỳ ngự trị của hoang dă, mất khả năng thực hiện làm người. Đó không phải là xă hội người biết tôn trọng pháp luật, biết để cái chung trên cái riêng, biết cho và nhận. Nó không c̣n là xă hội lư, cũng chẳng phải xă hội t́nh (Theo sự phân biệt của Paul Ricoeur) mà là xă hội ở thời kỳ hoang dă.

Nếu đất nói được, nếu thiên nhiên biết nói tiếng người, nó sẽ nguyền rủa con người.

Một đất nước mà tôi xa lạ đến không hiểu được như cuộc sống ở một nơi nào khác. Đó là cái cảm tưởng mà tôi cần phải nhắc lại. Tôi như bị vất vào một tinh cầu nào đó, một cái ǵ đó mà tôi chưa rơ mặt. Tôi chưa thể hội nhập vào cái ḍng chảy sự sống với tiếng động đêm ngày, với tốc độ, với thời gian vô tận, với tương giao con người không c̣n nữa trong những giao dịch..

Cùng lắm tôi chỉ c̣n thấy le lói nơi những người khó nghèo, nơi những người cùng khổ. Tôi gần gũi họ hơn, tôi dễ chia xẻ hơn.

Xin từ từ để tôi c̣n có thể nhận ra quê hương ḿnh.

Bài viết này, không phải để nói xấu quê hương ḿnh, nhưng muốn bày tỏ những điều tôi đă nghe, đă thấy và đă cảm nghiệm như thế nào với tư cách một người Việt.


Đi Hà Nội để t́m lại một phần của đời ḿnh.

 

Một góc Hà Nội
Nguồn: italia-vietnam.it/Ảnh: Le Figaro


Tôi đă ra Hà Nội và tôi đă thấy ǵ. Hà Nội tôi thế đấy? Nhắc lại bài viết thời danh của Nguyễn Ngọc Lan. Thăm Hà Nội là để t́m lại một phần đời ḿnh, một chút kỷ niệm, một chút mảnh đời tuổi trẻ.

Tôi c̣n nhớ lại trước đây vào những buổi sáng tinh mơ, mặt nước hồ Tây hay c̣n gọi là Dâm Đàm có nghĩa là đồng sương mù c̣n mờ hơi sương. Sương la đà mặt đất, phủ nhẹ trên các lá cây một lớp bụi trắng đọng lại thành từng giọt nước. Phải lâu lắm, ánh sáng mặt trời mới làm tan lớp sương mỏng. Trên cao, một đàn chim sâm cầm lượn đi ăn sáng, chân duỗi thẳng ra đằng sau, thân ḿnh nhọn dài, đâm chéo lên chân trời như trong một bức tranh.

Tôi c̣n là một cậu bé Hà Nội co ro trong chếc áo len nhiều mầu chật đến muốn nứt ra, chân đất chân không tới trường. Hà Nội tôi thế đấy, nghèo mà thân thương. Nhớ từng bụi cỏ, những buổi tối đi bắt ve sầu để xem nó nở vào lúc nửa khuya, để xem một cuộc hoá thân diệu ảo. Đến những ngày dông gió lớn, rét căm căm, khom ḿnh chạy ra đường buổi tối lúi húi nhặt sấu. Ăn cho đỡ đói. Đến những buổi trưa ra gốc cây bàng, nhặt quả khô rồi lấy đá đập ăn cái nhân bùi ở trong. Hoặc leo lên gác chuông nhà thờ bắt chim sẻ. Đến những ngày làm lấy lưỡi câu, ra hồ Tây câu cá. Đến những ngày lang thang đi quanh co trại lính tây để may ra nhặt được mẩu thuốc lá Philipp Moris, hay một vỏ bao thuốc lá không th́ mừng vô tả. Đến những lúc nhặt được một nút chai la bière Ô Mền, rồi ra đường tầu điện để cán thành những đồng xèng.

Những lúc ấy, cái ǵ cũng thèm, cái ǵ cũng đẹp, cái ǵ cũng thích, cái ǵ cũng nhớ. Nhớ mùi phở ḅ gánh bốc lên tỏa ra một sớm. Nhớ mùi lạc rang bờ hồ ủ nóng. Cái ǵ cũng gần gũi thân thương. Từ tiếng ve sầu inh ỏi lúc trưa hè, tiếng rao phá xa của một ông tầu già, tiếng tục tắc, tiếng leng keng của đường tầu điện.

Đẹp ngay cả trong những khốn khổ lầm than, đói rét. Thương ngay cả những cái nghèo tồi tàn đến tội nghiệp.

Nghĩ tới những người đàn bà gánh phân người kĩu kịt nối đuôi nhau hàng một gánh ra khỏi thành phố. Nghĩ tới những người buôn phân, khều tay ngửi xem phân tốt hay xấu, trả giá theo phân nhà giầu hay phân nhà nghèo. Phân nhà giàu th́ tốt, giá cao hơn phân nhà nghèo. Tôi cũng thấy thiếu cái thi vị Hà Nội mà mỗi buổi sáng tinh mơ, từng đoàn người lũ lượt từ hướng làng Ngọc Hà, phía sau vườn Bách thảo, làng Nghi Tàm, khu vực cạnh Hồ Tây quang gánh những tinh hoa của trời đất với những bông hồng, bông sen trắng đỏ, những cụm sói bông trắng lá xanh, rồi những cành mai vàng, cụm quất đem vào thành phố. Ngược chiều là những người đi đổ thùng phân đi ra khỏi thành phố.

Hà Nội ngược chiều, nếu có những người đàn bà gánh phân đi ra đem theo cái xú uế của thành phố th́ cũng có những người đàn bà kĩu kịt đem hương hoa và cái tươi tốt vào thành phố.

Hà Nội trước 54 là Hà Nội với nét tương phản như thế. Cái cảnh đó không c̣n nữa. Cái kỷ niệm đó cũng không c̣n nữa.

Con đường Cổ Ngư ở phía tay mặt, nay dựng lên những quán ăn che mất mặt hồ. Tầm nh́n thu hẹp lại, chỉ c̣n ngửi thấy mùi thịt nướng từ quán ăn xông ra. Phía cuối đường là chùa Trấn Quốc nay bị những khối bê tông chắn hết tầm nh́n. Sừng sững và trấn áp. Bờ hồ Hoàn Kiếm th́ nay ch́nh ́nh việc xây cất một toà nhà lớn của công ty Bưu điện. Bệnh xây cất tùy tiện là thứ bệnh dịch lan tràn khắp nơi. (Maladie de la pierre).

Con người cũng chả được tôn trọng th́ thiên nhiên xá ǵ.

Tôi cứ tự hỏi tại sao làm như thế. Mà h́nh như mọi người ở đây thấy chuyện đó là b́nh thường, thấy tự nhiên và không có ǵ để nói.

Giữa người trong nước và người ở xa về có một sự khác biệt sâu xa về tầm nh́n, tầm vision, về cái b́nh thường và cái không b́nh thường. Người trong nước thấy mọi chuyện đều b́nh thường, ngay cả cái tồi tệ nhất, cái không chấp nhận được, cái không thể hiểu được. Người ở ngoài về thấy mọi cái đều không b́nh thường.

Đất nước muốn khá phải phá vỡ cái tâm thức coi mọi chuyện là b́nh thường ấy. Chẳng hạn ăn hối lộ công khai là không b́nh thường, xả rác bừa băi là không b́nh thường, con gái Hà Nội chửi địt mẹ là không b́nh thường. Nữ sinh viên vừa đi học, vừa làm điếm là không b́nh thường. 600 tờ báo đủ loại nói cùng một thứ tiếng là không b́nh thường. Hàng trăm, hàng ngàn quán cà phê ôm, cà phê đủ thứ là không b́nh thường.

Và đất nước này, có hằng trăm, hằng ngàn thứ b́nh thường phải được coi là không b́nh thường th́ mới khá lên được.

Chính v́ thế, người dân và chính quyền phải có con mắt, phải có sự thức tỉnh để nh́n ra được cái điều b́nh thường, chính là bất b́nh thường.

Bài toán giải trừ nếp sống văn hoá người Việt chưa lành mạnh là nhận ra cái bất b́nh thường trong cái b́nh thường. Cái quá quen thuộc, chính là cái cần sửa đổi.


Cái cảm giác không an toàn là cảm giác thiết thực nhất khi sống ở Hà Nội hay Sài G̣n. Cảm giác bất an vây bọc tứ phía, từng giờ, từng phút.

Tôi đạp xe xuống phía Giám để về Hà Đông vào thăm dinh Hoàng Cao Khải, nơi mà tôi đă từng học nhiều năm với biết bao kỷ niệm. Gần đấy là G̣ Đống Đa giống như một cái lúm đất mỗi ngày mỗi lùn đi, bị khuất lấp bởi những nhà xây cất phía trước mặt. Hỏi thăm măi mới t́m ra được. Lên trên g̣ Đống Đa, ở phía tay trái, người ta lại tham lam làm một cái cái sân chơi với các cây đu cho trẻ con. Sân chơi cho trẻ con là cần lắm, tốt lắm. Nhưng phải làm ở chỗ khác, không được đụng đến di tích lịch sử. Nếu đă đụng như thế th́ nên dẹp g̣ Đống đa đi cho rồi. C̣n ǵ là di tích lịch sử nữa. Dinh Hoàng Cao Khải, thời trước 54, trước mặt là một cái hồ bán nguyệt, rộng mênh mông nay thật đến ngu xuẩn người ta làm hồ nuôi cá. Giữa hồ là cái bè nổi với các thùng phuy có cái bảng đề như sau: Hồ thả cá. Cấm câu cá, đổ rác. Cổng vào dinh th́ nay trở thành: Trụ sở tuần tra nhân dân quận 9. Dinh này có thể biến thành khu di tích lịch sử nay trở thành hồ câu cá. Lấy cái lợi nhỏ, cục bộ quên cái lợi lớn. Óc tham lam địa phương che mờ cái nghĩa lớn. Buồn thay. Tôi vừa đọc tờ báo Khơi Nguồn, số 5, có bài của ông Diệu Tần viết như sau:

 
Về kiến trúc cổ, chùa Diên Hựu hay chùa Một Cột là một trường hợp điển h́nh có sự mâu thuẫn nặng nề giữa quyền lực ch́nh trị và nhu cầu bảo tồn di sản quốc gia... Nguồn tin mới tiết lộ là khi xây chỗ cho ông Hồ, những người có trách nhiệm muốn phá bỏ ngôi chùa đặc biệt có một không hai trên thế giới cho rộng chỗ, cho vĩ đại hơn.. Rất may là “chướng ngại vật” vẫn c̣n trơ trơ, nhưng người ta cho biết chùa nằm vào thế kẹt ngó rất khiêm nhường và thảm bại.

 
Vậy mà đi đến đâu cũng nói bảo tồn văn hoá. Cả thành phố Sài G̣n, cứ mỗi cổng vào các phường khóm đều có cái bảng đề: khu văn hoá. Không ở đâu mà có nhiều kêu gào, quảng cáo cho một nếp sống Văn hoá lại vô văn hoá đến như thế? Người phu quét đường vừa thu dọn rác vừa xong, chưa đi hết dăy phố, đă có người khác mang ra một túi rác ra để rồi. Cảnh đó ta có thể nh́n thấy xảy ra hằng ngày, ở bất cứ đâu. Nhất là ở Hà Nội.

Hà Nội thu tóm trong một chữ đéo, nếp sống phi văn hóa, xuống cấp và tồi tệ.

Đó là nếp sống với đéo chỉ, đéo biết, đéo nghe, đéo cần, đéo sợ và cuối cùng là đéo khá được.

Trên đường về, tôi nhớ đến hai toa tầu điện kêu kính keng với cái sào điện trên nóc. Đă không c̣n nữa. Tôi thử đi t́m hiểu xem, đường tàu điện đă được gỡ bỏ từ năm nào.Tôi kiếm được tờ National Geographic, nằm ở xó kẹt tủ sách của tôi, số tháng 11/1989, có bức h́nh xe điện chiếm toàn hai trang báo. Tôi ngắm đi ngắm lại. Dĩ nhiên nó không đẹp và rếch rác hơn thời 1950. Nhưng tàu điện vẫn c̣n đó. Nó như một cái mền rách. Nhưng chỉ cần nó c̣n đó, rách cũng đuợc, sơn quét lại mấy hồi. Lớp vỏ bên hông tầu điện tróc sơn từng mảng, rách nát. Cửa sổ bằng then gỗ cái c̣n cái mất. Nó chỉ chạy có một toa. Và đằng trước toa, đứng ở bên ngoài, vẫn có một người mặc áo xanh, quần đen, đi dép, đang kéo một sợi giây hay cái ǵ đó để điều khiển cho tầu điện có thể chạy được. Cái kỷ lục của xe điện thành phố Hà Nội, trong hàng thế kỷ, theo ư nghĩ riêng tư của tôi, có lẽ nó chưa cán chết một người nào, chỉ v́ nó đi chậm. Chậm đến độ, tôi có thể nhảy lên lúc nào tôi muốn và nhảy xuống bất cứ chỗ nào để khỏi trả vé. Cách nhảy lên cũng cần kỹ thuật lắm, phải chạy nhanh theo hướng xe điện, rồi thuận đà nhảy lên. Xuống cũng vậy, nếu không th́ ngă dập mặt. Tôi đếm được tất cả hơn 20 chục chiếc xe đạp đi ngược đi xuôi chung quanh xe điện, sắp quẹo. Chắc là Ngă Giám. Trong đó chỉ có một xe Honda.
 

Xe điện thành phố Hà Nội
Nguồn: zib.de


Sau 14 năm thống nhấ một chiếc mền rách. Nghèo nàn và lạc hậu.

Hà Nội chỉ có hai nơi có thể hấp dẫn khách du lịch là khu phố cổ và đường tầu điện. Bỏ đường tàu điện là mất một nửa. Tàu điện làm nghẽn tắc lưu thông th́ ta làm xe điện ngầm. Lấy nguồn lợi tức từ di tích lịch sử đường tầu điện để bù khuyết vào. Ai đến San Francisco cũng bắt buộc phải đi thăm cầu Golden Gate và đoàn xe điện. Đường có ùn tắc giao thông th́ ta giải tỏa. Du lịch là nguồn vốn sẽ thu lại sau.

May mắn là khu phố đối diện nhà thờ cửa Bắc, xưa gọi là thành cổ Hà Nội, Bắc môn c̣n giữ lại được hai vết tích vết đạn đại bác của quân đội Pháp bắn vào thành Hà Nội. Dưới đó có ghi: thành cổ Hà Nội, Bắc môn 25 tháng tư, năm 1882. Bombardet de la citadelle par les cannonières surprise et fanfare. Chỉ có hai lỗ đạn thị uy đủ làm khiếp đảm quân lính trong thành. Thật ra đạn đó có giết ai đâu. Dọc con đường Hoàng Diệu hay Nguyễn Tri Phương, trùng trùng điệp điệp, nay là dinh cơ của hằng trăm các cấp lănh đạo lớn nhỏ, tướng lănh. Đây là những đền đài dinh thự của các vua chúa mới thời Cộng Sản và có thể nói ươc mơ cuối đời của giai cấp lănh đạo chỉ gồm có hai điều: Sống ở nơi đây trong các dinh cơ đồ sộ và tráng lệ, chết th́ lưu danh với tên tuổi trên đường phố.

Chỉ nh́n những con đường này, tôi nghĩ tới Con đường Trần Văn Bá của nhà văn Lê Thị Huệ:

Một đất nước của những kẻ thâm niên làm lịch sử

Hà Nội nay như thiếu vắng một cái ǵ xác lập nó là Hà Nội. Hàng Đào chẳng cần lụa nữa và hàng Bạc nay cũng chẳng cần vàng nữa.

Hà Nội chỉ c̣n một nét đẹp cố hữu là các hàng cây me, cây sấu bên đường. Có thể dám nói Hà Nội có nét đẹp xanh. Những buổi trưa nắng gắt. Hà Nội vẫn rợp bóng mát. Hà Nội hăy giữ măi vẻ đẹp thiên nhiên ấy như thế, nhưng không biết c̣n được đến bao giờ?

Hà nội với chả cá Lă Vọng.

Nhà hàng chả cá Lă Vọng Hà Nội được chuyên mục du lịch của Hăng MSNBC đưa vào danh sách "10 nơi nên biết trước khi chết".
Ảnh/Nguồn: www.danangpt.vnn.vn

Như mọi người, tôi đă đến ăn chả cá Lă Vọng. Ăn chả cá Lă Vọng là ăn cái lịch sử, cái cội nguồn chả cá đó hơn là ăn chính cái chả cá đó. Ăn để biết được cái hương vị, cái ngon của Hà Nội trăm năm về trước. Và đây là lần đầu tiên tôi ăn chả cá ấy. Thời tuổi trẻ có muốn ăn cũng không có tiền. Điều đó cho thấy rằng chả cá Lă Vọng thời xa xưa là một món ăn xa xỉ phẩm, không phải ai muốn ăn cũng được. Năm thế hệ gia đ́nh chả cá Lă Vọng đă đi qua rồi, kể từ năm 1871. Cái ǵ c̣n lại và cái ǵ không c̣n lại trong tiệm chả cá ấy? Người đă thay đổi, nhiều thế hệ người đă đội nón ra đi, nhưng huyết thống vẫn c̣n đó. Nó giống như tiệm trồng răng Minh Sinh Hà Nội thời năm 1950. Đă hơn nửa thế kỷ mà nó vẫn c̣n đó, nay đổi là Sinh Sinh. Tôi đă vui mừng vào tiệm để hỏi gốc gác chủ tiệm. Được biết một nha sĩ, con trai của bà vợ hai của ông Minh Sinh đứng làm chủ, ở số 172 Hàng Bông, vẫn chuyên khoa răng giả. Nay th́ có thêm gắn kim cương, nắn chỉnh hàm, vẩu, ngược, lệch lạc... Điều mà thế hệ trước không làm được. Cũng vậy, hiệu thuốc cam Hàng Bạc thời 45 nay vẩn c̣n đó, vẫn quảng cáo đây là đời thứ ba. Vẫn có thuốc cam chuyên trị trẻ em biếng ăn, biếng ngủ, gầy, xanh xao và hay ra mồ hôi trộm và cao dán chữa nhọt mụn như trước. Gần như không có ǵ thay đổi, không thêm cũng không bớt.

Phố Hà Nội ngắn đến không thể ngắn hơn được.
 

Phố cổ Hà Nội - Tranh Bùi Xuân Phái.
Ảnh/Nguồn: www.nguoivienxu.vietnamnet.vn

Tranh Bùi Xuân Phái đă một thời chuyên vẽ các căn nhà đường phố Hà Nội với một mầu xám xanh đục, với những căn phố xiêu vẹo, trông rất ấn tượng và rất là buồn. Trong văn chương th́ Thạch Lam đă để th́ giờ ra viết cuốn Hà Nội 36 phố phường. Trong đó, ở trang 92 ông viết rằng: "Người Pháp có Paris, Người Anh có Luân Đôn, người Tàu có Thượng Hải... Ta phải nghe người Pháp nói đến Paris, người ở Paris mới hiểu được sự yêu quư ấy đến bậc nào. Chúng ta cũng có Hà nội, một thành phố có nhiều vẻ đẹp, v́ Hà nội đẹp thật, chúng ta chỉ c̣n t́m những vẻ đẹp ấy ra."

Vẻ đẹp như thế nào, trong suốt cuốn sách không thấy ông nói ra.

Phần tôi có những ư nghĩ sau đây về đường phố Hà Nội. Thứ nhất là Hà nội có những con đường ngắn quá. Ngắn đến nỗi chả ở đâu có. Ngắn đến không thể ngắn hơn được nữa. Có lẽ con đường Giải phóng là dài nhất với 4000 mét, kế đến là Hoàng Hoa Thám dài 3320 mét. Hoàng Diệu c̣n 1340 mét, Lư Nam Đế với 1090 mét. Kim Liên chỉ c̣n 250 mét. Hàng Gà tụt xuống c̣n 225 mét. Hàng Cân 104 mét và tụt nữa Hàng Hương c̣n 65 mét. Ngắn như thế, đi mấy chục nhà đă hết đường, muốn t́m đường cũng khó mà muốn chỉ đường cũng thật là gian nan. Chỉ c̣n mỗi cách hỏi đường từng đoạn một. Nhưng được cái, người Hà nội nói chung, nhất là các người lái xe ôm lúc nào cũng sẵn sàng chỉ đường. Tại sao đường Hà nội ngắn thế? Cái đó phải hỏi người Hà nội. Nó có cái ǵ giống với người Hà nội. Cái đó cũng phải hỏi người Hà Nội.

Nhận xét thứ hai là tôi thấy họ tôn trọng khu phố Cổ, ít đổi tên đường. Tên đường phố Sài g̣n th́ người ta đă đổi hầu như toàn bộ, đổi cả những cái không cần đổi. Đường Công Lư th́ có ǵ cần đổi? Đường Tự Do, Lê Thánh Tôn, Lê Văn Duyệt th́ có ǵ cần đổi? Hay người ta lại sợ hai tiếng Tự Do? V́ thế thiên hạ mới có câu rằng: Nam Kỳ khởi nghĩa tiêu Công Lư. Đường phố Hà nội với nhiều tên đường từ thời Pháp thuộc thế nào th́ nay vẫn để như vậy. Như các đường Hàng Cân, Hàng Đường, Hàng Đào, Hàng Khay, Hàng Quạt v.v... Nghe quen và thân thương. Hoặc các phố Quan Thánh, Ngọc Hà, đường Cổ Ngư, Phủ Doăn, Cầu Giấy, Thụy Khuê, Tràng Tiền, Ngọc Hà, Hoàn kiếm, Khâm Thiên và chợ Đồng Xuân.

5 ô cửa chợ Đồng Xuân giờ chỉ c̣n 3 ô
Ảnh/Nguồn: www.ttvnol.com/hanoi


Thời xưa, người ta coi chợ Đồng Xuân là:

Hà nội là Động tiên nga
Sáu giờ tắt hết đèn xanh đèn gần
Vui nhất là chợ Đồng Xuân.
Ba câu thơ trên bây giờ có thể đă không đúng nữa. Chợ Đồng Xuân cho dù đă được xây cất cất lại khang trang hơn. Ngày nay nó chỉ đóng vai tṛ trung gian vận chuyển hàng hóa đi các tỉnh. Hàng hóa ở đây phần lớn lại là hàng buôn lậu từ Trung Quốc về.

Tạ Hiền là phố rất quen thuộc đối với tôi v́ tôi thường thuê xe đạp của một cậu bé ở đây. Nhà có bố già và bà chị chừng hơn 20 tuổi. H́nh như chẳng ai làm nghề ǵ cả, chỉ trông vào việc cho thuê xe đạp mỗi ngày. Một lần ra trả xe vào buổi tối, thấy cô gái và bố cô đang căi nhau. Tôi chỉ loáng thoáng nghe cô gái chửi: địt mè mày chỉ… Tai tôi muốn ù đi. Choáng váng.

Thật may cho miền Nam, v́ ở đó ít ra chúng ta đă không như thế.

Nhưng điều đáng nói là tên các lănh đạo Đảng và nhà nước đă chết đều có mặt hết. Không thiếu một ai, và nếu thiếu một ai th́ tại họ thôi như ông Trần Độ. Có người này th́ phải có người kia, không lẽ bỏ. Gần như có đủ cả như Nguyễn Lương Bằng, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng… và nếu có thiếu ai th́ chỉ thiếu đường Hồ Chí Minh.

Tôi không thấy đường Hồ Chí Minh (HCM). V́ HCM có lăng rồi.

Nhưng một nhà văn ở Hà Nội rỉ tai tôi nói rằng: "Ngày nay các bố lănh đạo đảng, nhà nước sắp tịch, bố nào cũng có niềm mơ ước nho nhỏ là khi chết được để tên ở một đường phố. Nhưng cứ cung mực này th́ dần sẽ có sự lạm phát tên các vị lănh đạo đảng và nhà nước".

Ngơ Hà nội

Phố và ngơ là hai đặc điểm sắc thái văn hoá của Hà Nội. Phố là đời sống bên ngoài, ngơ là đời sống bên trong. Cứ vài nhà lại có một ngơ. Ngơ sâu hun hút đến dài bằng một con đường phố nhỏ. Nơi ấy là nơi ra vào của hàng chục gia đ́nh lớn nhỏ. Bề ngang chỉ chừng hơn nửa thước mà nếu có hoả hoạn th́ không biết sẽ ra sao. Bề dài có thể 50 đến 60 chục mét. Có ngơ chật như thế chỉ vừa một người đứng một tư mà trong đó có một cửa hàng bán đồ vàng bạc. Tủ kính dựa vào tường, thế là thành một cửa hàng. Có cái ngơ ǵ quên mất bán chè chí mào phù và trong tiệm có một con chó đá. Chắc xưa hẳn là cửa ngơ đi vào đền. Chúng tôi đă quên đường và đi hỏi bằng được tiệm bán chè chí mào phù có con chó đá. Vậy mà hơn một tiếng đồng hồ sau, tôi cũng t́m ra. Khá vất vả. Tôi vừa tức, vừa vui, vừa đùa, tôi ngồi lên lưng con chó đá nói: "V́ Mày mà tao phải vất vả thế này." Người trong quán nh́n tôi trách móc: "Đây là chó thờ đấy." Tôi vội vàng tụt xuống xin lỗi mọi người v́ vô lễ và cúi vái ông chó đá vài cái. Quả thực trước mặt ông chó đá có bát nhang thờ.

Tín ngưỡng miền Bắc c̣n khá nhiều vương vất tính cách thờ vật tổ, chen lẫn mê tín và dị đoan, khác hẳn trong Nam.

 

Phố Hàng Cân
Ảnh/Nguồn: www.hanoi.gov.vn/hanoiwebs


Ngơ như thế trở thành quen thuộc và là nét văn hoá đặc thù của Hà Nội. Chỉ có ở Hà Nội mới có. Một nếp sống chung đụng hàng vài chục người. Và người Hà Nội đă sống như thế, thế hệ này qua thế hệ khác. Nhất là kể từ sau 1954, mỗi hộ thay v́ một nhà có thể thêm cả chục nhà sống chen chúc nhau. Tôi có cô em họ ở 16 Hàng Cân. Tôi đă đến thăm cô vào một buổi trưa. Vào đến bên trong là vô số nhưng bếp lớn nhỏ ở dưới và trên lầu của mỗi gia đ́nh. Hỏi thăm cô, cô cũng chả thích thú ǵ cái đời sống với ngơ ngách như thế. Có đứa con trai đă ra ở riêng. Cô nói muốn bán cũng không phải dễ, phải tất cả những người trong căn hộ đều muốn bán. Chắc bên trong cũng có nhiều điều phức tạp. Ǵ chứ kèn cựa nhau từng tấc vuông đất, từng ly từng chút chịu đựng nhau, nhịn nhục nhau mà sống chung là không tránh được. Đi ra đi vào chạm mặt, nhà này làm ǵ, mua bán, căi nhau, con cái ra sao, nhà kia biết hết. Khó mà có thể dung hợp hết mọi người trong mấy thước đất đó được. Khó mà có chỗ riêng tư. Đấy là một bi kịch của đời sống kiểu "l’enfer c’est les autres". Tranh dành, căi cọ, ḍm ngó, ghen tuông, đố kỵ, bon chen, giả dối, ác độc, thù hằn, khó tính khó nết. Có thể có hết. Có khi ở mấy chục năm không thèm ngó mặt nhau. Cô em tôi vốn là thừa kế gia sản của ông ngoại. Ông cụ vốn có 14 căn nhà. Nhưng sau 1954 bị tịch thu hết, chỉ c̣n giữ được căn nhà 16 Hàng Cân này. Nhưng cũng chỉ được ở một phần, phần c̣n lại nhà nước chia cho người khác. Có lần, tôi gặp một bà cụ đi mua một quả trứng. Tôi ṭ ṃ hỏi thăm cụ. Thế là cụ dẫn tôi vào ngơ và lên lầu. Cụ dặn tôi, con mẹ bán ngoài cửa hàng là khó chịu lắm. Đừng để nó biết lại lôi thôi ra. Cụ nay ở một ḿnh, trong nhà vương vất lối sống giàu có thời xưa, cũng sập gụ, tủ chè, ghế salông gụ chạm trổ. Cúng ông cụ vỏn vẹn có một quả trứng đi mua và một bát cơm.

T́nh nghĩa vợ chồng của một người c̣n ở lại dương thế trong cái nghèo nàn cô quạnh như một vất vưởng chờ ngày để về.

Căn nhà trong ngơ cũng là quăng đời của bà cụ và biết đâu cũng là quăng đời c̣n lại của ngơ. Và đến một lúc nào đó cũng là lúc chấm dứt một thứ văn hoá ngơ. Bao giờ người Hà Nội ra khỏi những quăng đời tăm tối của những căn nhà hút sâu trong các ngơ hẻm. Bao giờ. Chắc rồi cũng thay đổi. Và nếu thay đổi th́ đây chẳng khác ǵ một biến cố lịch sử của ngơ mà cũng là lịch sử cuộc đời của vô số người Hà Nội. Thật khó mà quên.

Hà Nội với những gánh hàng rong.

 

Tranh dân gian (1909). Con dao to bản và cái xóc bánh cho ta biết rằng đây là một gánh phở
Ảnh/Nguồn: vn.kaist.ac.kr


Xin đừng quên một điều là Hà Nội có những cửa hàng di động. Ấy là nói theo lối bây giờ. Ngay từ xưa đă có rất nhiều gánh hàng rong như thế. Phở gánh, xôi chè gánh, hoa quả gánh, bất cứ cái ǵ cũng gánh. Có khi một bên là cửa hàng, bên này là một chú nhỏ ngồi. Tôi c̣n nhớ những hàng phở gánh sớm đông, khói toả ra nghi ngút, mùi phở thơm đến sặc mũi trên đường phố cửa Bắc, xế con đường đôi, nay là đường Hoàng Diệu. Một bên gánh là tủ kính để bánh phở và điă thịt thái tươm tất. Bên kia nồi nước phở nghi ngút khói. Khó quên được mùi phở, thơm ơi là thơm, sao mà nó thèm thuồng đến chảy nước dăi ra được. Lại có những cửa hàng với hai tủ kính đàng hoàng, lịch sự và trang nhă bán cà phê, bánh ḿ. Mùi cà phê cũng thơm nức mũi.

Cả một nếp sống Hà Nội.

Cạnh đó, có một số hàng rong dùng xe đạp. Cũng khá là đặc biệt. Bán cá cảnh th́ dùng xe đạp. Có một khung tṛn bằng sắt, có nhiều ṿng. Những túi ni lông buộc cá chung quanh những khung sắt tṛn đó. Ai mua cứ tự do lựa chọn. Trông cũng vui mắt lắm và tức cười. Như là một cuộc rong chơi chứ không phải buôn bán. Rồi có cửa hàng di động bán các đồ chơi bằng nhựa lúc lắc đung đưa trên xe đạp. Chưa kể bán đồ hàng mă, trên đó treo đủ thứ hằm bà lằng.

Các người bán hàng rong với các cửa hàng di động, thật ra công an cũng nương tay với họ một chút. Có làm thiệt hại ai đâu. Các nước bên này cũng nới tay đối với các xe bán kem, hot dog… Khách du lịch đôi khi thấy tiện, thấy lạ, cũng muốn ăn thử.

Các người buôn thúng bán mẹt đó, v́ không có lối thoát nào khác mới phải bán hàng rong. Nên nới tay cho họ. Thay v́ họ phải đi ăn xin, trông không đẹp mắt tí nào. Bán hàng rong nào có tội t́nh ǵ.

Người buôn bán như thế cũng có cái lợi là tránh được công an rượt bắt. Nếu cần, họ có thể chạy được mang theo cả cửa hàng. Chạy te tái đến sút quần.

Bán rong, cửa hàng di dộng là một nét văn hoá đẹp của Hà Nội ít ra cũng hơn hai hạng người: Người đi ăn xin, và người tham nhũng hối lộ.

Và chả nhẽ ra Hà Nội mà lại không nói một tiếng về người Hà Nội. Thật ra sau 50 xa cách, tôi không h́nh dung ra người Hà Nội qua ông A, ông B hay chị C nữa.

Và đó có lẽ là cái thay đổi lớn lao nhất trên toàn bộ sinh hoạt đời sống người Hà Nội. Tôi không có dịp tiếp xúc nhiều, phần đông những người trên đường phố th́ đều là những người b́nh thường. Một thứ "Mr tout le monde". Ở đâu cũng có, ở đâu cũng vậy, nhưng tiếp xúc rồi th́ cũng ngại. Tại sao người Hà Nội ăn nói tục tĩu thế. Một cô gái trẻ, xinh đẹp có thể văng tục không ngượng miệng. Nhiều người đi về đă nói với tôi như thế rồi. Nhưng lần đầu nghe vẫn thấy thế nào ấy. Đó không phải người Hà nội trong mắt tôi nữa mà người Hà Nội nguyên con, nguyên h́nh. Cái nơi mà tôi có thể nhận ra người Hà nội chắc hẳn không phải nơi các cô chiêu đăi, các chị làm công trong khách sạn, hay các người bán hàng, hay mấy ông nhà văn, nhà báo.

Phải nh́n ra người Hà Nội qua đám trẻ từ 12-14-17 tuổi. Chỉ cần vào một tiệm Internet. Ta sẽ gặp, ta sẽ thấy. Đây là sản phẩm nguyên gốc của xă hội người Hà Nội. Ta sẽ gặp những đứa trẻ ngổ ngáo, hỗn xược, nói tục tĩu hết chịu nổi. Những thanh thiếu niên, thiếu nữ này không biết con cái nhà ai, thuộc thành phần xă hội nào. Thật t́nh tôi không biết. Nhưng từ cách ăn mặc, cử chỉ, ngồi trên ghế, nói to quát tháo, chửi thề, thái độ biểu tỏ một sự vô giáo dục ở mức độ báo động.

Tôi không nói ngoa cho người Hà Nội đâu nhé. Và sự khác biệt giữa lớp trẻ Hà Nội và lớp trẻ Sài G̣n làm tôi thay v́ kinh dị th́ ngạc nhiên. Lớp trẻ Sài G̣n, cũng chỉ trong tiệm Internet thôi nhé, biểu tỏ một nếp sống văn hoá có giáo dục, có lễ độ trong một chừng mực có thể tin tưởng được.

Cái này những bậc làm cha mẹ, những nhà giáo dục phải nên nghĩ tới. Tại v́ đâu? Tại cha mẹ, thầy giáo hay xă hội? Tại sao có sự khác biệt giữa lớp trẻ trong Nam, ngoài Bắc và nói rộng ra lớp trẻ hải ngoại.

Thật là không vui phải viết ra điều ấy. Cứ t́nh trạng này th́ Hà nội có phát triển đến đâu cũng báo hiệu những cơn lốc phá hoại, hủy diệt, không ai lường trước được về mức độ hư hỏng và mức độ tội phạm.

Lời cảnh báo này chẳng biết có ai muốn nghe không. Nhưng cảnh báo vẫn phải cảnh báo.
 

Có cái ǵ thâm cung bí sử...
Ảnh/Nguồn: odoit.files.wordpress.com


Và cuối cùng, ấn tượng sâu sắc để lại trong tôi khi rời Hà Nội là ở nơi đây sẽ là trung tâm quyền lực của cả nước. Cái quyền uy đó, nó lồ lộ ra khi đi qua những con đường như Hoàng Diệu. Bóng dáng quyền uy của những căn nhà, những biệt thự như chụp trên ta. Có cái ǵ thâm cung bí sử, có cái ǵ ghê sợ phát tiết ra ngoài. Nó bàng bạc trên không, trên mái nhà, trên những bức tường cao quá đầu người, trên những cây me, cây sấu già trăm tuổi, trên người lính gác hiền lành trước cửa. Không thể kiếm ra những người lính gác hiền hơn thế. Vậy mà tôi vẫn sợ anh, mà anh có làm ǵ tôi đâu. Tội sợ anh, hay sợ cái ǵ đằng sau anh. Tôi không biết. Không một bóng người, không một ai tới gần, không dám tới gần hay không muốn tới gần. Phần tôi, chỉ sợ anh lính gác chận lại hỏi đi đâu v́ lỉnh kỉnh máy ảnh, sổ tay ghi chép. Anh mà đọc những thứ ấy, có thể tôi bị bắt giam.

Tôi cảm thấy ḿnh nhỏ bé, yếu ớt quá, tôi cảm thấy ḿnh như con giun, con dế. Mặc dầu tôi là người nước ngoài, mặc dầu tôi không làm ǵ, mặc dầu trong thâm tâm tôi cũng muốn nó khá lên, mặc dầu tôi cũng yêu đất nước này, đất nước đó cũng là của tôi.

Tôi cũng từng nhiều lần đi qua ṭa Bạch ốc. Nó đồ sộ và uy nghi gấp nhiều lần. Lính canh và an ninh nghiêm ngặt gấp nhiều lần. Loạng quạng có thể nó bắn ḿnh chết ngay. Cứ bề ngoài th́ nó dễ sợ lắm. Vậy mà tôi không sợ. Vậy mà hằng trăm, hằng ngàn người đi qua đó cũng không sợ. Tôi thản nhiên đi lại như một người khách du lịch nhàn tản. Thấy cái ǵ thích th́ chụp. Tôi có dám đứng lại mà chụp những ṭa nhà có lính gác không ở Ba Đ́nh, ở Hoàng Diệu. Chụp cái cổng trụ sở an ninh, dinh Hoàng Cao Khải mà tôi cũng sợ len lét, nh́n trước nh́n sau.

Tôi chỉ có thể nói được rằng, lúc nhỏ tôi sợ ma, về nước, ra Hà nội nay tôi sợ người.

Xin mượn lời nhà văn Lê Thị Huệ :
Không thấy dân chủ đại đồng Cộng Sản đâu
Chỉ thấy bước chân trâu buồn nản
Ở Cuối thếy kỷ 20
Đi trước bước chân người
Trên đồng ruộng héo
 
Trích DCVOnline