Nguyễn Văn Lục
Đặt chân đến Sài G̣n, tôi chỉ có một ư nghĩ là về: về với gia đ́nh về
với những kỷ niệm và t́m lại ḿnh. Nh́n lại anh chị em ḿnh c̣n ở lại.
Gặp lại con cháu ḿnh mà từ hơn 30 năm chưa gặp mặt. Đứa chưa gặp th́ lạ
hoắc. Nh́n nhau mà ngỡ ngàng, mà cười. Tất cả là hơn 60 đứa cháu lớn nhỏ.
Tiền ĺ x́ trong dịp tết phải có danh sách lần lượt mỗi nhà. Vui ơi là
vui. Nhiều đứa đă lớn cái đầu, đă có dâu rể c̣n tỵ nạnh, mè nheo đ̣i cậu,
đ̣i ông trẻ cho thêm. Th́ cũng cho. Đứa gặp lúc thuở nhỏ th́ nay cũng đă
đứng tuổi hoặc chập chững bước vào tuổi già. Mừng vui lẫn lộn, cười chảy
nước mắt. Lúc ra đi, cả một bầy vẫy tay la hét. Cứ nhốn nháo cả lên. Ra
đi mà ḷng không đặng. Cuối cùng cái ǵ c̣n lại chỉ c̣n lại một cuộc nối
lại khúc ruột mà nhiều năm nay đứt đoạn.
Phần tôi chỉ mới nối được khút ruột máu mủ.
Phần c̣n lại, Việt Nam c̣n nhiều khúc ruột đứt như thế lắm. Cần phải nối.
Trước mặt là khúc ruột 75 của 3 triệu người di tản. Bài học thống nhất
nước Đức chẳng dạy dược chúng ta điều ǵ, cũng chẳng rút ra được bài học
ǵ. V́ thế mà thống nhất đất nước th́ đă xong từ lâu, nhưng thống nhất
ḷng người th́ hẳn là chưa. Hơn 30 năm rồi. Hận oán vẫn chưa nguội.
Và qua chuyến về này, tôi cũng thấy là chưa phải lúc, hay lúc chưa tới.
Phải thú thực với ḷng ḿnh, tôi chỉ thấy an b́nh khi về nhà. Ra khỏi
cái bầu khí đó tôi có cảm tưởng
cuộc sống ở đây như thể một cuộc sống
ở nơi nào khác. Cái ǵ cũng chổn rổn, lạ lẫm và không quen thuộc.
Hoặc lố bịch, hoặc vô trách nhiệm, hoặc hỗn loạn xô bồ vô tổ chức.
Vẫn đường phố ấy, nhộn nhịp hơn với những sợi giây trời giăng mắc chằng
chịt bừa băi.
Nhiều lúc tôi nh́n những sợi giây điện, từng bó, cả trăm sợi, quấn chằng
chịt, len lỏi vào ban công mỗi nhà, chui vào ngơ hẻm. Mà tôi rùng ḿnh
sợ hăi.
Tôi đếm ra được nhiều sợi. Sợi gian dối, sợi tuyên truyền, sợi vu oan,
sợi tô hồng, sợi gian tham, sợi tệ bạc.
Và ở nơi đây, đám đông người nhung nhúc, cứ như phải nhoi lên mà sống,
nhoi lên mà thở như thể lẽ sống c̣n.
Thời gian bất tận
Ở nơi đây, nơi mà tôi đă lớn lên, đă trưởng thành, tôi có thể đong đếm
mỗi năm cuộc đời bằng thời gian ngày, tháng, năm. Bằng thứ hai, thứ ba
và thứ bảy, chủ nhật... Có thứ bảy cuối tuần, có lúc hẹn ḥ, có lúc dong
chơi cuộc đời. Có ngày làm, ngày nghỉ như hai nhịp bước chân, có nhịp đi
th́ có nhịp nghỉ.
Tôi đă mất một cảm giác về thời gian như thế.
Thời gian bây giờ là thời gian miên tục, triền miên đến không c̣n ư niệm
thời gian nữa. Việt Nam, đất nước tôi, Sài G̣n, Hà Nội.
Thời gian lúc
nào cũng là lúc không giờ. Thời gian chuyển động triền miên cũng là
thời gian lúc nào cũng chỉ không giờ. Nó xoay chuyển liên tục, chóng mặt
như một ṿng xoáy, như một cơn lốc, như một cơn mê.
Nó không có lúc nào bắt đầu nên cũng không có lúc nào dứt điểm.
Người lao động các khu chế xuất làm từ sáng tới đêm, làm hùng hục, không
c̣n thấy ánh sáng mặt trời. Và nay th́ họ đă cất lên tiếng nói bằng đ́nh
công. Nhiều chỗ, nhiều nơi ở các khu chế xuất, nhất là Biên Hoà, Long
An. Ít lắm đă có gần 20000 ngàn công nhân đ́nh công..
Không làm th́ ăn uống suốt từ sáng đến đêm. Lúc nào cũng là ăn, lúc nào
cũng là uống và như thể không có công việc ǵ khác ngoài chuyện ăn uống.
Sáng trưa chiều tối. Đêm là ngày, ngày là đêm. Thứ hai, tư sáu, thứ bảy
chủ nhật. Lúc nào là nghỉ, lúc nào là làm. Xe cộ như mắc cửi như thể
không ai làm việc ǵ, ngoài việc phóng xe ngoài đường.
H́nh như cuộc sống chỉ c̣n có hai nhịp: hùng hục làm và hùng hục ăn.
Tiếng động triền miên
 |
|
Xe Sài G̣n
Nguồn: g4zfe.com
|
Ai mới đặt chân đến Sài G̣n đều có cảm giác là bị tiếng động tra tấn. Đó
là một cảm giác có thật. Tiếng động của đủ mọi loại xe, tiếng bóp c̣i
inh ỏi. Mà không có tiếng động th́ không c̣n là Hà Nội, Sài G̣n nữa.. Đó
là chu kỳ tần số âm thanh như những đợt sóng âm thanh bất tận đập vào
màng nhĩ tai. Tôi chỉ thực sự nhận ra Sài G̣n ngưng nghỉ có một lần. Đó
là lúc 5, 6 chiều tối 30 tết.. nhưng chỉ độ 9 giờ tối, nó lại rơi vào
cơn mê điên cuồng của tiếng Động.
Trong cơn mê điên cuồng của tiếng động, con người đánh mất bản thân ḿnh,
không c̣n là ḿnh.
Đó là cuộc vong thân trong tiếng động.
Con người không có th́ giờ để nghĩ, để yêu thương, để nh́n lại ḿnh. Mất
hẳn cuộc sống riêng tư một ḿnh. Tiếng động nay len lỏi vào bất cứ căn
ngơ hẽm nào, bất cứ chỗ nào gọi là đuờng. Cứ chỗ nào không có nhà th́
chỗ đó là đường đi, xe cộ chen chúc, lách mà đi và chỗ đó sẽ có tiếng
động.
 |
|
C̣n đâu nữa mà nghêng ngang
đứng trước cửa nhà gâu gâu
Nguồn: thetraveler.typepad.com
|
Tiếng động trấn áp tất cả. Đến gà không thể gáy, chó không thể
sủa. Hết rồi tiếng chim hót trên cành. Hầu như, ngay ở Hà Nội, đường phố
c̣n khá nhiều cây xanh mà tôi cứ tấm tắc khen măi. Ít ra c̣n có mảng da
trời, ít ra c̣n có cây xanh hai bên đường phố. Vậy mà tôi cũng chưa hề
nghe tiếng hát của loài chim, dù là chim sẻ. Hăy chỉ cho tôi, có con chó
nào dám ra đường sủa, hoặc dám tè một băi, nhất là dám nghêng ngang đứng
trước cửa nhà gâu gâu.
Chó cụp đuôi, gà tắt tiếng, chim ngừng hót.
Cuộc sống trí tuệ và t́nh cảm con người đă bị khô chồi và tàn lụi v́
tiếng động.. Tiếng động phá và làm rối lọan các cơ năng thần kinh năo bộ.
Người ta không thể tập trung tư tưởng được, không thể học được, không
thể nhớ được, nói chi có thể sáng tạo được. Người ta cũng không thể yêu
thương được, cùng lắm chỉ làm t́nh được.
Và rồi trong cơn mê điên cuồng của tiếng động, nó sẽ đánh thức tiềm lực
của bản năng, của những động lực vô thức, của bản năng sinh tồn, bản
năng t́nh dục.
Khi mà con người bị vong thân trong tiếng động th́ tất cả cơ chế vận
hành của con người sẽ là những bản năng tự tồn. Con người sẽ sống như
những loài động vật hay như những bộ máy biết đi, biết ăn, biết ngủ,
biết làm, biết kiếm tiền, biết làm t́nh. Trẻ con hùng hục đi học từ sáng
tới tối, tới đêm. Bừng con mắt dạy là học. Học như nhét, như nhồi. Học
như tống vào đầu mà đầu óc như một kho chứa.
Người ta tưởng là làm, nhưng thật ra chỉ là những vận hành cử động của
một guồng máy xă hội đẩy người ta đi.
Việt Nam báo hiệu có sự thay đổi và phát triển với tiềm năng và hy vọng
lớn. Nhưng nó cũng cảnh báo về một nguy cơ suy sụp toàn bộ giá trị làm
người.
Nh́n mà cảm thấy ngao ngán và lo ngại. T́nh người khan hiếm, bạo lực có
thừa, bản năng và thú tính ngự trị, lường gạt và dối trá là món hàng
trao đổi.
Việt Nam đang sống hay quay trở lại thời kỳ ngự trị của hoang dă, mất
khả năng thực hiện làm người. Đó không phải là xă hội người biết tôn
trọng pháp luật, biết để cái chung trên cái riêng, biết cho và nhận. Nó
không c̣n là xă hội lư, cũng chẳng phải xă hội t́nh (Theo sự phân biệt
của Paul Ricoeur) mà là xă hội ở thời kỳ hoang dă.
Nếu đất nói được, nếu thiên nhiên biết nói tiếng người, nó sẽ nguyền
rủa con người.
Một đất nước mà tôi xa lạ đến không hiểu được như cuộc sống ở một nơi
nào khác. Đó là cái cảm tưởng mà tôi cần phải nhắc lại. Tôi như bị vất
vào một tinh cầu nào đó, một cái ǵ đó mà tôi chưa rơ mặt. Tôi chưa thể
hội nhập vào cái ḍng chảy sự sống với tiếng động đêm ngày, với tốc độ,
với thời gian vô tận, với tương giao con người không c̣n nữa trong những
giao dịch..
Cùng lắm tôi chỉ c̣n thấy le lói nơi những người khó nghèo, nơi những
người cùng khổ. Tôi gần gũi họ hơn, tôi dễ chia xẻ hơn.
Xin từ từ để tôi c̣n có thể nhận ra quê hương ḿnh.
Bài viết này, không phải để nói xấu quê hương ḿnh, nhưng muốn bày tỏ
những điều tôi đă nghe, đă thấy và đă cảm nghiệm như thế nào với tư cách
một người Việt.
Đi Hà Nội để t́m lại một phần của đời ḿnh.
 |
|
Một góc Hà Nội
Nguồn: italia-vietnam.it/Ảnh: Le Figaro
|
Tôi đă ra Hà Nội và tôi đă thấy ǵ. Hà Nội tôi thế đấy? Nhắc lại bài
viết thời danh của Nguyễn Ngọc Lan. Thăm Hà Nội là để t́m lại một phần
đời ḿnh, một chút kỷ niệm, một chút mảnh đời tuổi trẻ.
Tôi c̣n nhớ lại trước đây vào những buổi sáng tinh mơ, mặt nước hồ Tây
hay c̣n gọi là Dâm Đàm có nghĩa là đồng sương mù c̣n mờ hơi sương. Sương
la đà mặt đất, phủ nhẹ trên các lá cây một lớp bụi trắng đọng lại thành
từng giọt nước. Phải lâu lắm, ánh sáng mặt trời mới làm tan lớp sương
mỏng. Trên cao, một đàn chim sâm cầm lượn đi ăn sáng, chân duỗi thẳng ra
đằng sau, thân ḿnh nhọn dài, đâm chéo lên chân trời như trong một bức
tranh.
Tôi c̣n là một cậu bé Hà Nội co ro trong chếc áo len nhiều mầu chật đến
muốn nứt ra, chân đất chân không tới trường. Hà Nội tôi thế đấy, nghèo
mà thân thương. Nhớ từng bụi cỏ, những buổi tối đi bắt ve sầu để xem nó
nở vào lúc nửa khuya, để xem một cuộc hoá thân diệu ảo. Đến những ngày
dông gió lớn, rét căm căm, khom ḿnh chạy ra đường buổi tối lúi húi nhặt
sấu. Ăn cho đỡ đói. Đến những buổi trưa ra gốc cây bàng, nhặt quả khô
rồi lấy đá đập ăn cái nhân bùi ở trong. Hoặc leo lên gác chuông nhà thờ
bắt chim sẻ. Đến những ngày làm lấy lưỡi câu, ra hồ Tây câu cá. Đến
những ngày lang thang đi quanh co trại lính tây để may ra nhặt được mẩu
thuốc lá Philipp Moris, hay một vỏ bao thuốc lá không th́ mừng vô tả.
Đến những lúc nhặt được một nút chai la bière Ô Mền, rồi ra đường tầu
điện để cán thành những đồng xèng.
Những lúc ấy, cái ǵ cũng thèm, cái ǵ cũng đẹp, cái ǵ cũng thích, cái
ǵ cũng nhớ. Nhớ mùi phở ḅ gánh bốc lên tỏa ra một sớm. Nhớ mùi lạc
rang bờ hồ ủ nóng. Cái ǵ cũng gần gũi thân thương. Từ tiếng ve sầu inh
ỏi lúc trưa hè, tiếng rao phá xa của một ông tầu già, tiếng tục tắc,
tiếng leng keng của đường tầu điện.
Đẹp ngay cả trong những khốn khổ lầm than, đói rét. Thương ngay cả những
cái nghèo tồi tàn đến tội nghiệp.
Nghĩ tới những người đàn bà gánh phân người kĩu kịt nối đuôi nhau hàng
một gánh ra khỏi thành phố. Nghĩ tới những người buôn phân, khều tay
ngửi xem phân tốt hay xấu, trả giá theo phân nhà giầu hay phân nhà nghèo.
Phân nhà giàu th́ tốt, giá cao hơn phân nhà nghèo. Tôi cũng thấy thiếu
cái thi vị Hà Nội mà mỗi buổi sáng tinh mơ, từng đoàn người lũ lượt từ
hướng làng Ngọc Hà, phía sau vườn Bách thảo, làng Nghi Tàm, khu vực cạnh
Hồ Tây quang gánh những tinh hoa của trời đất với những bông hồng, bông
sen trắng đỏ, những cụm sói bông trắng lá xanh, rồi những cành mai vàng,
cụm quất đem vào thành phố. Ngược chiều là những người đi đổ thùng phân
đi ra khỏi thành phố.
Hà Nội ngược chiều, nếu có những người đàn bà gánh phân đi ra đem theo
cái xú uế của thành phố th́ cũng có những người đàn bà kĩu kịt đem hương
hoa và cái tươi tốt vào thành phố.
Hà Nội trước 54 là Hà Nội với nét tương phản như thế. Cái cảnh đó không
c̣n nữa. Cái kỷ niệm đó cũng không c̣n nữa.
Con đường Cổ Ngư ở phía tay mặt, nay dựng lên những quán ăn che mất mặt
hồ. Tầm nh́n thu hẹp lại, chỉ c̣n ngửi thấy mùi thịt nướng từ quán ăn
xông ra. Phía cuối đường là chùa Trấn Quốc nay bị những khối bê tông
chắn hết tầm nh́n. Sừng sững và trấn áp. Bờ hồ Hoàn Kiếm th́ nay ch́nh
́nh việc xây cất một toà nhà lớn của công ty Bưu điện. Bệnh xây cất tùy
tiện là thứ bệnh dịch lan tràn khắp nơi. (Maladie de la pierre).
Con người cũng chả được tôn trọng th́ thiên nhiên xá ǵ.
Tôi cứ tự hỏi tại sao làm như thế. Mà h́nh như mọi người ở đây thấy
chuyện đó là b́nh thường, thấy tự nhiên và không có ǵ để nói.
Giữa người trong nước và người ở xa về có một sự khác biệt sâu xa về tầm
nh́n, tầm vision,
về cái b́nh thường và cái không b́nh thường.
Người trong nước thấy mọi chuyện đều b́nh thường, ngay cả cái tồi tệ
nhất, cái không chấp nhận được, cái không thể hiểu được. Người ở ngoài
về thấy mọi cái đều không b́nh thường.
Đất nước muốn khá phải phá vỡ cái tâm thức coi mọi chuyện là b́nh
thường ấy. Chẳng hạn ăn hối lộ công khai là không b́nh thường, xả
rác bừa băi là không b́nh thường, con gái Hà Nội chửi địt mẹ là không
b́nh thường. Nữ sinh viên vừa đi học, vừa làm điếm là không b́nh thường.
600 tờ báo đủ loại nói cùng một thứ tiếng là không b́nh thường. Hàng
trăm, hàng ngàn quán cà phê ôm, cà phê đủ thứ là không b́nh thường.
Và đất nước này, có hằng trăm, hằng ngàn thứ b́nh thường phải được coi
là không b́nh thường th́ mới khá lên được.
Chính v́ thế, người dân và chính quyền phải có con mắt, phải có sự thức
tỉnh để nh́n ra được cái điều b́nh thường, chính là bất b́nh thường.
Bài toán giải trừ nếp sống văn hoá người Việt chưa lành mạnh là nhận ra
cái bất b́nh thường trong cái b́nh thường. Cái quá quen thuộc, chính là
cái cần sửa đổi.
Cái cảm giác không an toàn là cảm giác thiết thực nhất khi sống ở Hà
Nội hay Sài G̣n. Cảm giác bất an vây bọc tứ phía, từng giờ, từng phút.
Tôi đạp xe xuống phía Giám để về Hà Đông vào thăm dinh Hoàng Cao Khải,
nơi mà tôi đă từng học nhiều năm với biết bao kỷ niệm. Gần đấy là G̣
Đống Đa giống như một cái lúm đất mỗi ngày mỗi lùn đi, bị khuất lấp bởi
những nhà xây cất phía trước mặt. Hỏi thăm măi mới t́m ra được. Lên trên
g̣ Đống Đa, ở phía tay trái, người ta lại tham lam làm một cái cái sân
chơi với các cây đu cho trẻ con. Sân chơi cho trẻ con là cần lắm, tốt
lắm. Nhưng phải làm ở chỗ khác, không được đụng đến di tích lịch sử. Nếu
đă đụng như thế th́ nên dẹp g̣ Đống đa đi cho rồi. C̣n ǵ là di tích
lịch sử nữa. Dinh Hoàng Cao Khải, thời trước 54, trước mặt là một cái hồ
bán nguyệt, rộng mênh mông nay thật đến ngu xuẩn người ta làm hồ nuôi cá.
Giữa hồ là cái bè nổi với các thùng phuy có cái bảng đề như sau:
Hồ
thả cá. Cấm câu cá, đổ rác. Cổng vào dinh th́ nay trở thành:
Trụ
sở tuần tra nhân dân quận 9. Dinh này có thể biến thành khu di tích
lịch sử nay trở thành hồ câu cá. Lấy cái lợi nhỏ, cục bộ quên cái lợi
lớn. Óc tham lam địa phương che mờ cái nghĩa lớn. Buồn thay. Tôi vừa đọc
tờ báo Khơi Nguồn, số 5, có bài của ông Diệu Tần viết như sau:
Vậy mà đi đến đâu cũng nói bảo tồn văn hoá. Cả thành phố Sài G̣n, cứ mỗi
cổng vào các phường khóm đều có cái bảng đề: khu văn hoá. Không ở đâu mà
có nhiều kêu gào, quảng cáo cho một nếp sống Văn hoá lại vô văn hoá đến
như thế? Người phu quét đường vừa thu dọn rác vừa xong, chưa đi hết dăy
phố, đă có người khác mang ra một túi rác ra để rồi. Cảnh đó ta có thể
nh́n thấy xảy ra hằng ngày, ở bất cứ đâu. Nhất là ở Hà Nội.
Hà Nội thu tóm trong một chữ
đéo, nếp sống phi văn hóa, xuống cấp
và tồi tệ.
Đó là nếp sống với đéo chỉ, đéo biết, đéo nghe, đéo cần, đéo sợ và cuối
cùng là đéo khá được.
Trên đường về, tôi nhớ đến hai toa tầu điện kêu kính keng với cái sào
điện trên nóc. Đă không c̣n nữa. Tôi thử đi t́m hiểu xem, đường tàu điện
đă được gỡ bỏ từ năm nào.Tôi kiếm được tờ National Geographic, nằm ở xó
kẹt tủ sách của tôi, số tháng 11/1989, có bức h́nh xe điện chiếm toàn
hai trang báo. Tôi ngắm đi ngắm lại. Dĩ nhiên nó không đẹp và rếch rác
hơn thời 1950. Nhưng tàu điện vẫn c̣n đó. Nó như một cái mền rách. Nhưng
chỉ cần nó c̣n đó, rách cũng đuợc, sơn quét lại mấy hồi. Lớp vỏ bên hông
tầu điện tróc sơn từng mảng, rách nát. Cửa sổ bằng then gỗ cái c̣n cái
mất. Nó chỉ chạy có một toa. Và đằng trước toa, đứng ở bên ngoài, vẫn có
một người mặc áo xanh, quần đen, đi dép, đang kéo một sợi giây hay cái
ǵ đó để điều khiển cho tầu điện có thể chạy được. Cái kỷ lục của xe
điện thành phố Hà Nội, trong hàng thế kỷ, theo ư nghĩ riêng tư của tôi,
có lẽ nó chưa cán chết một người nào, chỉ v́ nó đi chậm. Chậm đến độ,
tôi có thể nhảy lên lúc nào tôi muốn và nhảy xuống bất cứ chỗ nào để
khỏi trả vé. Cách nhảy lên cũng cần kỹ thuật lắm, phải chạy nhanh theo
hướng xe điện, rồi thuận đà nhảy lên. Xuống cũng vậy, nếu không th́ ngă
dập mặt. Tôi đếm được tất cả hơn 20 chục chiếc xe đạp đi ngược đi xuôi
chung quanh xe điện, sắp quẹo. Chắc là Ngă Giám. Trong đó chỉ có một xe
Honda.
|
 |
|
Xe điện thành phố Hà Nội
Nguồn: zib.de
|
Sau 14 năm thống nhấ một chiếc mền
rách. Nghèo nàn và lạc hậu.
Hà Nội chỉ có hai nơi có thể hấp dẫn khách du lịch là khu phố cổ và
đường tầu điện. Bỏ đường tàu điện là mất một nửa. Tàu điện làm nghẽn tắc
lưu thông th́ ta làm xe điện ngầm. Lấy nguồn lợi tức từ di tích lịch sử
đường tầu điện để bù khuyết vào. Ai đến San Francisco cũng bắt buộc phải
đi thăm cầu Golden Gate và đoàn xe điện. Đường có ùn tắc giao thông th́
ta giải tỏa. Du lịch là nguồn vốn sẽ thu lại sau.
May mắn là khu phố đối diện nhà thờ cửa Bắc, xưa gọi là thành cổ Hà Nội,
Bắc môn c̣n giữ lại được hai vết tích vết đạn đại bác của quân đội Pháp
bắn vào thành Hà Nội. Dưới đó có ghi: thành cổ Hà Nội, Bắc môn 25 tháng
tư, năm 1882. Bombardet de la citadelle par les cannonières surprise et
fanfare. Chỉ có hai lỗ đạn thị uy đủ làm khiếp đảm quân lính trong thành.
Thật ra đạn đó có giết ai đâu. Dọc con đường Hoàng Diệu hay Nguyễn Tri
Phương, trùng trùng điệp điệp, nay là dinh cơ của hằng trăm các cấp lănh
đạo lớn nhỏ, tướng lănh. Đây là những đền đài dinh thự của các vua chúa
mới thời Cộng Sản và có thể nói ươc mơ cuối đời của giai cấp lănh đạo
chỉ gồm có hai điều:
Sống ở nơi đây trong các dinh cơ đồ sộ và tráng
lệ, chết th́ lưu danh với tên tuổi trên đường phố.
Chỉ nh́n những con đường này, tôi nghĩ tới Con đường Trần Văn Bá của nhà
văn Lê Thị Huệ:
Một đất nước của những kẻ thâm niên làm lịch sử
Hà Nội nay như thiếu vắng một cái ǵ xác lập nó là Hà Nội. Hàng Đào
chẳng cần lụa nữa và hàng Bạc nay cũng chẳng cần vàng nữa.
Hà Nội chỉ c̣n một nét đẹp cố hữu là các hàng cây me, cây sấu bên đường.
Có thể dám nói Hà Nội có nét đẹp xanh. Những buổi trưa nắng gắt. Hà Nội
vẫn rợp bóng mát. Hà Nội hăy giữ măi vẻ đẹp thiên nhiên ấy như thế,
nhưng không biết c̣n được đến bao giờ?