|
TT Thích Trí Quang và Mỹ (I)
TT Trí Quang và vai tṛ của Mỹ
trong biến cố Phật giáo năm 1963
Nguyễn Văn Lục
Lời mở: Tôn giáo và
chính tri. Đó là
loại đề tài cấm kỵ
mà người ta tránh
không muốn nói đến.
Đă đến lúc đủ thời
cơ chín mùi và đủ
mức độ trưởng thành
về nhận thức để có
thể tách rời tôn
giáo ra khỏi chính
trị? Có nên cứ tiếp
tục mặc nhầm áo của
nhau măi chăng?
Đó là về phía người
mặc áo. Nhưng cái
quan trọng là phá vỡ
cái “năo trạng Trung
cổ” trong đầu mỗi
người cứ vẫn trộn
lẫn hai phạm vi đó
vào làm một. Trộn
lẫn thế quyền và
thần quyền đă gây ra
biết bao hệ lụy cho
một đất nước.
Một nhà sư hay một
linh mục làm chính
trị có một sự “đánh
lận” với tṛ chơi
hai mặt. Việc đó
không fairplay tư
nào cả. Đụng đến họ
về phạm vi chính trị
th́ đụng ngay đến
tôn giáo của họ như
một lá bùa hộ mạng.
Nó chỉ biểu tỏ một
t́nh trạng ấu trĩ cả
về mặt tôn giáo và
chính trị cần phải
vượt qua.
Chúng ta phải cố
gắng phá cái “năo
trạng thời Trung cổ”,
theo kịp các xă hội
tân tiến trong đó có
sư phân giới, cắm
mốc rạch ṛi giữa
tôn giáo và chính
trị.
Làm chính trị th́
thắt cravate, mặc áo
complet. Làm tôn
giáo th́ mặc áo tu
hành mầu ǵ cũng
được.
Bài viết này như một
cái test về ư thực
tự do và dân chủ đối
vời người cầm bút và
bạn đọc. Nhưng tôi
cũng nhận thức một
cách sâu xa rằng phá
bỏ một “năo trạng
Trung Cổ” không dễ
dàng ǵ!
Nhưng chẳng lẽ không
làm, không bắt đầu.
Vai
tṛ của CIA trên thế
giới
Kể từ sau thế chiến thứ
hai, vai tṛ người Mỹ
nổi bật lên như một
cường quốc cả về mặt
kinh tế và chính trị,
trong đó không thể không
nói tới vai tṛ của CIA
Mỹ. Kế hoạch tái thiết
Âu Châu, kế hoạc Marshal
của tổng thống Truman,
1947, ngoài viện trợ
kinh tế c̣n là một kế
hoạch chính trị be bờ,
bao vây Liên Xô và các
nước Đông Âu.
|
 |
|
Trụ sở CIA
Nguồn: CIA
|
Từ đó CIA
có mặt khắp nơi trên thế
giới. Trung Quốc từ
1945-1960; Ư 1947-1948
rồi 1950-1970; Phi Luật
Tân 1940-1950; Đại Hàn
1945-1953; Albania
1949-1953; Đức Quốc
1950; Iran 1953;
Guatemala 1953-1954;
Costa Rica 1950; Syria
1956-1957; Trung Đông
1957-1958; Indonesia
1957-1958; Liên Xô
1940-1960; Cam Bot và
Lào 1955-1973; Haiti
1959; Guatemala 1960;
Ecuador 1960-1963; Congo
1960-1964; Brazil
1961-1964; Ghana 1966;
Iraq 1972-1975;
Nicaragua 1981; Và không
thể không kể tất cả các
nước Đông Âu.
(Trích tóm lược trong
The CIA, a forgotten
history, US Global
Interventions Since
World War 2, William
Blum. 1987.)
Và Việt Nam, OSS đến
trước, rồi CIA
1950-1975. Trong những
người có quan hệ mật
thiết nhất với Ngô Đ́nh
Diệm là Wesley Fishel mà
ông Diệm quen biết khi
sang Nhật. Kể từ đó,
Fishel sau này về dạy
tại Michigan State
College, một trường quản
lư những dựa án giúp đỡ
kỹ thuật mà CIA tài trợ.
Nhờ cái thế ấy, ông Diệm
được cảm t́nh của một số
lớn các chính trị gia Mỹ
như Mansfield, Kennedy,
William O. Douglas, v.v...
(Trích Talawas, 2007 tóm
tắt bài viết của Edward
Miller, Hoai Phi, Vi
Huyền chuyển ngữ:
Viễn kiến, quyền lực
và tính chủ động: Con
đường lên nắm quyền của
Ngô Đ́nh Diệm 1945-1954).
Số tiền mà CIA tài trợ
và chi phí nhân viên
trong một năm không phải
là nhỏ, 150.000 nhân
viên và 6 tỉ đô la vào
năm 1974 một cách bí mật
và hợp pháp:
“Operating
silently in
the shadows
of the
federal
government
carefully
obscured
from public
view and
virtually
immune to
congressissional
oversight,
the
intelligence
community
every years
spends over
$6 billion
and has a
full-time
workforce of
more than
150.000
people.”
(Trích CIA
and the Cult of
Intelligence,
Victor Marchetti
and John D.Marks,
trang 95).
Ở Việt Nam,
riêng về mặt Văn
hóa, ông Robert
Speer, Giám đốc
cơ quan Thông
tin Hoa Kỳ tại
Việt Nam đă làm
đơn lên bộ
trưởng bộ Thông
Tin và Thanh
niên, ngày
26/7/1956 để cho
xuất bản các tờ
báo Gia Đ́nh
(Life), in 80000 số phát không,
rất trang nhă và
đẹp và tờ Chân
Trời Mới sau đổi
là Sáng Tạo, do
Mai Thảo chủ
trương, sau này
thêm các tờ Hiện
Đại, Thế Kỷ 20.
Theo người viết,
các chương tŕnh
tài trợ của CIA
dưới các danh
nghĩa các cơ
quan JUSPAO,
USAID, USIS,
USOM, MACV, Asia
Foundation đều
đa dạng, phức
tạp, nhiều mặt
đă đem lại rất
nhiều lợi ích
cho việc phát
triển giáo dục
như các trường
Quốc Gia Hành
Chánh, các
trường kỹ thuật,
các chương tŕnh
xă hội, phát
triển cộng đồng.
Ngay như tờ Sáng
Tạo, dù được Mỹ
tài trợ, nhưng
Mai Thảo và nhóm
Sáng Tạo không
bị bất cứ một
kiềm chế hay
giới hạn hoặc
kiểm soát dù
gián tiếp nào
của ông Robert
Speer. V́ vậy
Sáng Tạo xứng
đáng trở thành
ngọn cờ đầu của
Văn Học miền Nam
sau 1955.
Đấy là chúng ta
chưa kể các
chương tŕnh “tư
nhân” như Ford,
Fulbright, Kế
hoạch Colombo
(Kế
hoạch Hợp tác
Kinh tế Phát
triển Xă hội
vùng Á châu Thái
B́nh Dương, của
tổ chức Liên
chính phủ, lâu
đời nhất – từ
năm 1951 –
DCVOnline), hăng
Shell đă đào tạo
một cách chính
quy bao nhiêu
nhân tài cho
miền Nam VN hay
các chương tŕnh
ngắn hạn như
World Youth
Program, The
Department of
States
International
Visitor program,
The Asian and
Pacific Students
Leaders
Projects, East
Asia and Pacific
Journalist
Program.
(Trích tóm tắt
bản phụ lục
trong cuốn:
Cuộc Xâm Lăng Về
Văn Hóa Và Tư
Tưởng của Đế
Quốc Mỹ tại Việt
Nam,
Lữ
Phương, trang
213-216).
CIA và Phật
Giáo
Trong một phúc
tŕnh của quỹ
tài trợ Châu Á
Việt Nam của đại
diện ở Việt Nam
(ông Frank E.
Dines mới qua
đời)
đề tối mật:
Chương tŕnh
Phật giáo ở Việt
Nam, ông
Frank có một số
nhận xét như sau:
“Phật
giáo
ở
Việt
Nam
có ư
nghĩa
không
phải
chỉ
v́
số
lượng
người
theo
từ
80%
đến
90%
dân
số
là
Phật
giáo
hoặc
chịu
ảnh
hưởng
Phật
giáo
mà
c̣n
v́
tính
chất
đặc
biệt
của
nó.
Nhiều
Phật
tử
tin
rằng
tôn
giáo
của
họ
nếu
được
rọi
vào
các
lĩnh
vực
xă
hội,
kinh
tế
và
chính
trị
th́
có
thể
đem
lại
một
giải
pháp
cho
sự
hỗn
loạn
và
khốn
cùng
đang
bủa
vây
Việt
Nam
nhiều
thập
niên
(...) Một
điểm
đặc
biệt
khác
thường
của
Phật
giáo
Việt
Nam
ngày
nay
là
sự
tập
trung
không
phải
chỉ
uy
thế
tôn
giáo
mà
cả
uy
thế
thế
tục
vào
tay
các
nhà
sư.
Viện
Hóa
Đạo
(The
Execution
of
Dharma) hiện
do
Tăng
lữ
kiểm
soát.
Trong
hoàn
cảnh,
làm
việc
với
các
Phật
tử,
quỹ
tài
trợ
đang
làm
một
công
việc
nguy
hiểm,
chúng
ta
có
thể
bị
chỉ
trích
ở
Việt
Nam
và
Hoa
Kỳ,
điều
này
có
thể
quan
niệm
dễ
dàng
nếu
các
Phật
tử
đi
tới
chỗ
chống
chính
phủ
và
chống
lại
nỗ
lực
chiến
tranh
(...)
Theo
quan
điểm
của
Quỹ
Tài
Trợ
th́
sự
quan
tâm
mới
đây
của
giới
tăng
lữ
với
giáo
dục
và
việc
họ
sẵn
sàng
giao
cho
Quỹ
tài
trợ
những
tăng
ni
trẻ
tuổi
khá
nhất
của
họ
để
huấn
luyện
ở
nước
ngoài
là
một
cơ
hội
tuyệt
vời
để
giúp
khuôn
nắn
giới
lănh
đạo
tương
lai.”
Trong
các
chương
tŕnh
xă
hội,
Quỹ
cũng
tài
trợ
đắc
lực
cho
Trường
Thanh
Niên
Phụng
sự
Xă
Hội
của
Thích
Nhất
Hạnh.
Ngay
cả
sách
vở
do
Thích
Nhất
Hạnh
hoàn
thành
cũng
được
sự
hỗ
trợ
của
quỹ
tài
trợ
như
nhận
xét
sau
đây:
“Những tác
phẩm
này
soi
rọi
ánh
sáng
vào
sự
suy
tưởng
xă
hội
của
Phật
giáo
ở
Việt
Nam” Phần
Đại
Học
Vạn
Hạnh.
Th́
được
ung
cấp
máy
in
cũng
như
tài
trợ
và
phát
triển
Thư
viện
của
Đại
Học..
Tuy
nhiên,
miễn
là
có
một
kế
hoạch
lâu
dài
được
triển
khai
để
xử
dụng
tăng
ni
được
huấn
luyện
như
thế.”
(Trích
tóm lược
bản phúc
tŕnh
của Quỹ
Tài trợ,
trong
phần phụ
lục cuốn:
Cuộc xâm
lăng về
Văn Hóa
và tư
tưởng
của đế
quốc Mỹ
tại miền
Nam VN,
Lữ
Phương,
trang
227-239.)
Sự tài
trợ của
CIA qua
các cơ
quan
Asia
Foundation
là điều
tốt cho
người Mỹ
mà cũng
tốt cho
Phật
giáo VN.
Sau này,
đa số
trí thức
Phật
giáo trở
về VN
trong
các vai
tṛ lănh
đạo Phật
giáo là
một bằng
cớ tốt
đẹp của
những
chương
tŕnh
này. Nó
cũng
giống
như các
Kế hoạch
Colombo,
v.v...
Tất cả
tuỳ
thuộc
vào
thành
phần
sinh
viên
được đào
tạo.
Chương
tŕnh
chỉ giúp
phương
tiện đào
tạo mà
không có
một ràng
buộc cụ
thể về
pháp lư
(ngoài
thời hạn
học
tŕnh:
học xong
phải về)
hay bó
buộc
tinh
thần nào
đối với
các
thành
phần
được cấp
học bổng.
CIA
trong
mối
tương
tác với
Phật
giáo qua
TT Thích
Trí
Quang
Sau khi hai anh em TT Ngô Đ́nh Diệm bị giết, ngay vào lúc 4 giờ chiều cùng ngày, “Big” Minh sai Đôn Và Kim qua gặp Cabot Lodge, sau đó Lodge dẫn hai người qua gặp TT. Trí Quang đang tỵ nạn trong ṭa đại sứ Mỹ.
Buổi gặp gỡ này thật ư nghĩa giữa 3 thành phần mà cùng có một mục đích chung: Đại sứ Mỹ, tướng lănh đại diện cho quân lực VNCH và Thích Trí Quang đại diện cho Phật giáo.
Nhưng măi đến ngày 4-11-1963, TT. Thích Trí Quang mới chính thức bước ra khỏi ṭa Đại sứ Mỹ, tại Sài G̣n.
Ư nghĩa của việc rời khỏi ṭa đại sứ Mỹ một cách kín đáo ngày 4-11-1963 cho thấy sự can thiệp của Mỹ vào biến cố Phật giáo 1963 tại miền Trung như thế nào.Theo Topmiller trong Lotus Unleashed, kể từ khi đi ra khỏi ṭa đại sứ một cách thầm lặng, phía người Mỹ cũng như phía tướng lănh quân đội VNCH đều nh́n nhận trong những năm sắp tới đây, TT. Thích Trí Quang sẽ đóng một vai tṛ quan trọng và khối Phật giáo nổi lên như một lực lượng chính trị trong thế đối đầu với cộng sản.
Phần TT. Thích Trí Quang trở thành một khuôn mặt được người Mỹ biết đến nhiều nhất như một nhà sư chính trị ngoại hạng.
(Trích tóm lược The Lotus Unleashed: The Buddhist Peace Movement in South Vietnam,
1964-1966, Robert J. Topmiller, The University Press of Kentucky, 2002, trang 4-8)
Người Mỹ hiểu rơ điều đó và CIA đă nhúng tay vào từ trước 1963. Thật ra, người Mỹ đă tham dự vào bất cứ phương diện nào từ quân sự, chính trị của cuộc chiến tranh 1954-1975. Và làm bất cứ truyện ǵ. Bất cứ thời điểm nào, ngay cả ném Việt cộng từ máy bay xuống biển.
Chẳng hạn năm 1960, CIA, theo Philip Liecht viết lại là họ đă thu gom các súng ống tịch thu được của Cộng Sản BắcViệt chất lên một thuyền ở một vùng nước cạn, ngụy tạo một trận đánh ch́m chiếc thuyền đó.
(Trích The CIA, A Forgotten History: U.S. Global Interventions Since World War 2,
William Blum, London: Zed Books, 1986, trang 142.)
Đối với Phật giáo, CIA đă nh́n thấy ở đó là một tiềm năng không thể coi nhẹ. V́ thế, họ đă gián tiếp tài trợ qua quỹ Asia Foundation để tạo một lớp tu sĩ ưu tú, sau này sẽ trở về lănh đạo Phật giáo. Nhất là kể từ 1965, CIA đă tài trợ kín đáo cho các chương tŕnh đào tạo các ứng viên Phật tử để sau này lănh đạo giới Phật giáo.
Người Mỹ nh́n thấy cái lợi trong tương lai của việc đào tạo này và để “uốn nắn” một cách khéo léo những vị ấy có cảm t́nh với đường lối của Mỹ.
Xem thêm: Buddhism and the Buddhist. Progamming of the Asia Foundation in Asia (San Francisco, 1968), 17-20, 110-20. Trích theo The Lotus Unleashed: The Buddhist Peace Movement in South Vietnam, 1964-1966, Robert J. Topmiller, trang 154. Hoặc The CIA and the cult of intelligence, Victor Marchetti, John D. Marks , từ trang 178 về quỹ Asia Foundation.)
Trong lúc có phong trào tranh đấu Phật giáo th́ một số nhà sư đă về nước như Thích Quảng Liên, thuộc cánh tả. (Dưới mắt người Mỹ trong bản “phúc tŕnh tối mật” nói ở trên, Thích Quảng Liên bị đánh giá là loại “vô tích sự”, chỉ thích xe hơi Hoa Kỳ thôi). Ở ngoại quốc th́ có Thích Nhất Hạnh, Thích Minh Châu, Thiện Châu, Thích Măn Giác và Mạn Đà La, v.v...
Cho nên nếu có người Mỹ nhúng tay vào trong Phong trào tranh đấu của Phật giáo năm 1963 th́ cũng không lấy ǵ làm lạ.
Việc thứ nhất là ṭa đại sứ Mỹ đă cho TT. Trí Quang tỵ nạn sau cuộc bố ráp khoảng 30 chùa trên toàn quốc vào đêm 20-8-1963.
Nhưng chỉ riêng việc này thôi th́ đă có khá nhiều luồng dư luận khác nhau mà người viết xin tŕnh bày ở đây.
Để chính thức được vào lánh nạn trong ṭa đại sứ Mỹ th́ không ai ngờ rằng TT. Trí Quang đă phải viết một lá thư gửi cho đại sứ Cabot Lodge để xin tị nạn.
Sau đây là những lá thư với bằng chứng hiển nhiên chứng tỏ rằng TT. Trí Quang là một nhà sư chính trị trong mưu toan lật đổ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm bằng cách mượn tay người Mỹ.
Cuộc tranh đấu Phật giáo chỉ là cái cớ che đậy cho những mưu toan ấy. TT Trí Quang đă viết một lá thư cầu cứu với hy vọng, “Đất nước của tự do sẽ không giao nộp ông cho chính phủ Diệm, nhất là Hoa Kỳ đang giúp nhân dân chúng tôi ǵn giữ tự do.”
Mấy ḍng này cho thấy TT. Trí Quang cũng không hẳn tin vào Hoa Kỳ và bộc lộ tâm trạng lo sợ nếu bị Hoa Kỳ trao lại cho chính phủ Ngô Đ́nh Diệm.
(Thư này hiện nay đang nằm ở thư viện John F Kennedy, Saigon to Secretary, September 2, 1963,
National Security File (NSF), box 199, State cables 9/1/1963-9/10/1963.
Trích lại trong Chỉ có tôn giáo là đáng kể ở Việt Nam:
Thích Trí Quang và chiến tranh VN, James McAllister, Trần Ngọc Cư dịch.)
Sau này, vào 06/10/1963, TT.Trí Quang gửi một thư nữa cho Tổng Thống Kennedy và đại sứ Cabot Lodge mà nội dung là muốn người Mỹ “giải quyết lá bài Ngô Đ́nh Diệm”. Nội dung lá thư cho thấy TT. Trí Quang nhờ người Mỹ can thiệp không phải cho mục tiêu tranh đấu của Phật giáo mà là hy vọng người Mỹ khai trừ chế độ Ngô Đ́nh Diệm.
Nhưng lá thư quan trọng nhất mà TT. Trí Quang viết cho Lodge vào ngày 09/09 mà mục đích là xin đi ra ngoại quốc. Bộ Ngoại Giao Mỹ đồng ư, nhưng muốn biết sẽ đi đâu. Tám ngày sau, 17/09 Lodge đề nghị cứ giữ TT. Trí Quang ở Sài G̣n. Nếu Diệm đổ, Trí Quang có thể dùng được. Nếu Diệm c̣n cầm quyền, sẽ di tản khỏi Việt Nam.”
(FRUS, 1961-1963, IV: tài liệu 75)
Lá thư này quan trọng ngoài dự đoán của nhiều người và đủ để giải thích toàn thể bài viết này.
Sự can thiệp của Mỹ trực tiếp vào biến cố Phật giáo 1963 nay đă đă là một hiện thực khó nói khác đi được. Sự can thiệp ấy rất khôn khéo và gián tiếp chẳng khác ǵ vụ đảo chánh 1963, họ đứng đằng sau các tướng lănh để giật giây và cấp giấy chứng nhận “bảo đảm sinh mạng cho các tướng lănh một con đường rút lui” và một phần thưởng trị giá khoảng 30 ngàn Mỹ kim khi công việc hoàn tất. Đúng ra, theo Trần Văn Đôn trong Our endless war, số tiền là 3 triệu đồng VN, tương đương 42.000 mỹ kim lúc ấy.
Không có sự bảo đảm đó, không một tướng lănh nào dám làm đảo chánh cả.
Như lời tường thuật của kư giả Marguerite Higgins tóm tắt sự can thiệp thô bạo của người Mỹ vào nội bộ của VN qua lời trần t́nh của ông Ngô Đ́nh Diệm, “Xem ra tôi không thể nào làm cho ṭa đại sứ Hoa Kỳ tin được rằng đây là nước Việt Nam chứ không phải Hoa Kỳ.”
(Trích lại điểm sách Chiến thắng bỏ lỡ, Minh Vơ, DCVOnline.net, tháng 8, 2007)
Sự can thiệp của Mỹ đến từ nhiều nguồn, nhiều phía. Có thể từ các viên chức trong ṭa đại sứ Mỹ ở Sài G̣n, lănh sự Mỹ ở Huế, nhân viên y tế của Mỹ ở Huế, CIA như Conein, chính khách đủ loại và bộ phận quan trọng không nhỏ là các phóng viên báo chí như Neil Sheehan, thuộc United Press International, Malcom Browne, thuộc Associated Press, nhà báo nổi tiếng với bức h́nh Ḥa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Bức h́nh sau đó đă được truyền đi khắp thế giới. H́nh Ḥa Thượng Thích Quảng Đức xuất hiện trong bữa ăn tối trong các gia đ́nh Mỹ ngày hôm ấy và cũng không khác ǵ bức h́nh đại tá Nguyễn Ngọc Loan xử bắn Việt Cộng đă xâm nhập vào tận pḥng ngủ của các vợ chồng người Mỹ sau này.
Nhưng chừng hơn một năm sau, khi người Mỹ không cần đến phong trào tranh đấu Phật giáo nữa th́ giọng điệu của họ đă đổi khác. Khi tiếp nhận những h́nh ảnh tự thiêu của một nhà sư nữ, khoảng chừng 50 tuổi do TT. Trí Quang sắp xếp và do Stanley Karnov gửi đi từ Huế, tổng thống Johnson nh́n những h́nh ảnh tự thiêu đó và đă gọi những cuộc tự thiêu đó là “những thảm kịch vô ích”:
“Những cuộc tự thiêu của Phật tử gia tăng. Johnson đă đưa ra lời tuyên bố trong đó, ông coi việc tư thiêu là một “thảm kịch và vô ích” và đă kêu gọi dân miền Nam Viet Nam ủng hộ chính quyền – Rơ ràng là dấu chỉ cho thấy Hoa Kỳ sẽ không bỏ rơi Kỳ và đám bộ hạ chung quanh ông ta.”
(Trích Vietnam: une histoire, Stanley Karnow, trang 270.)
Nhà báo có tầm ảnh hưởng quan trọng nhất là David Halberstam, tờ New York Times mà những bài viết của ông ảnh hưởng tới cả những quyết định của Ṭa Bạch Ốc. Chẳng hạn những bài như, Buddhists Mourn Viet Nam victims, 29-5-1963; Diem regime under fire, 7-7-1963; Mrs. Nhu denounces U.S for “Blackmail” in Viet Nam, 08/08/1963 tất cả đăng ở The New York Times.
Theo Mark Moyar th́ Halberstam là một trong những nhà báo hiểm độc nhất trong lịch sử Mỹ. (Trích Halberstam’s History, Mark Moyar, National Review Online, July 5, 2007)
Qua một số trích dẫn trên cho thấy vai tṛ quan trọng của báo chí Mỹ như thế nào? Ảnh hưởng như thế nào đối với t́nh h́nh chính trị ở VN lúc bấy giờ.
Có thể nói báo chí Mỹ trở thành một cơn ác mộng đối với chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa.
Bên cạnh cuộc tranh đấu của Phật giáo c̣n có một cuộc chiến tranh của giới truyền thông Mỹ với chính quyền Việt Nam và nói mỉa mai như Stanley Karnowo, “Thảm kịch của Việt Nam lúc bấy giờ đă trở thành một giấc mơ cho các nhà báo Mỹ.” (Trích Karnow như trên, trang 173.)
Nhưng khi Karnow viết như thế th́ oái ăm thay chính ông là một trong ba nhà báo viết tai hại nhất cho VN là: Halberstam, Sheehan và Karnow. Họ, những nhà báo Mỹ đó lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người Việt Nam để được nổi tiếng.
Và hẳn nhiên, các nhà sư tranh đấu đă không bỏ qua cơ hội lợi dụng các nhà báo này. V́ thế, họ đă có chủ đích là chỉ thông báo tin tức, biến cố của giáo hội cho các nhà báo Mỹ mà thôi. Các nhà sư có mối giao hảo tốt, săn đón và tiếp đăi với các nhà báo Mỹ mà không thông báo cho bất cứ báo chí Việt Nam nào.
Những thông tin của những nhà báo Mỹ v́ thế thường thiên lệch và gây những bất lợi không nhỏ cho chính quyền Sài G̣n đồng thời tạo ra một dư luận tiêu cực. Đó là cái ṿng luẩn tai hại chống lại Diệm, “The bonzes took care to keep American reporters like David Halberstam and Malcolm Browne appraised of their actions, contributing to Saigon government crackdowns on the journalists, which then led to negative reporting with consequent adverse shifts in opinion in the United States.”
(Trích Lost Crusader, The secret wars of CIA Director William Colby, John Prados,
New York: Oxford University Press, 2003, trang 110).
Rồi bà Nhu nổi nóng, mất khôn nói một câu khó tha thứ “barbeques”. Báo chí làm vẩn đục thêm bầu khí, làm cho hai bên chính quyền và Phật giáo không tin tưởng vào thiện chí của nhau nữa.
Ông Nhu tỏ ra cứng rắn hơn. Phần Ḥa Thượng Thích Tịnh Khiết gửi thư không tin tưởng vào thiện chí của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.
Câu chuyện nhỏ ngày càng trở thành lớn. Trùm mật vụ Colby sau này nghĩ lại nếu chính quyền Mỹ ủng hộ chính quyền ông Diệm trong lúc họ đang cần sự ủng hộ ấy th́ có thể thuyết phục ông Diệm đi đến một sự ḥa giải thuận lợi.
Nhưng rất tiếc điều đó đă không xảy ra.
Người đảm trách công việc giao thiệp với báo chí Mỹ của Phật giáo là Đại đức Thích Đức Nghiệp.(1)
|

|
|
HT Thích Quảng Đức tự thiêu
(ngă tư Phan Đ́nh Phùng/Lê Văn Duyệt, Saigon, 11/06/1963)
Nguồn: Malcolm Browne, AP
|
Theo lời khai của một thương tọa (xem chú thích cuối bài), TT Thích Đức Nghiệp đă có ư định cầm dao đâm một nhà sư khác v́ những bất đồng quan điểm trong công cuộc tranh đấu của Phật giáo. Đại đức Thích Đức Nghiệp vốn làm thông dịch viên cho Mỹ và cũng là người được TT Thích Tâm Châu giao phó tổ chức vụ tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức.
Ông đă tổ chức thật chi tiết và chu đáo vụ tự thiêu này.
Sự can thiệp của Mỹ sau này làm cho nhiều người không ngần ngại cho rằng giữa phong trào tranh đấu của Phật giáo và chính sách của Mỹ đối với đệ I Cộng Ḥa có những điểm chung về mục tiêu mà hai bên đều có lợi
|