TT Thích Trí Quang và Mỹ (II)

 

TT Trí Quang và vai tṛ của Mỹ trong biến cố Phật giáo năm 1963

Nguyễn Văn Lục
 

Việc tấn công chùa Xá Lợi

Mấu chốt đưa đến t́nh trạng khủng hoảng Phật giáo khó hàn gắn được là việc tấn công chùa Xá Lợi vào 12 giờ 5 phút đêm, ngày 20/08/1963. Oái ăm thay, ngôi chùa này được xây cất với tài trợ của TT. Ngô Đ́nh Diệm. Tại sao trụ sở Ủy ban liên phái lại đặt ở chùa Xá Lợi của cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền, một người ôn ḥa, mà không đặt tại Ấn Quang? Xá Lợi đâu có phải là trung tâm cho Phật giáo Việt Nam.

Đây là lời giải dáp vấn nạn qua lời trần t́nh của TT. Thích Tâm Châu:
 

“Tôi nhận nhiệm vụ rồi, tôi tưởng rằng được đặt văn pḥng tại chùa Ấn Quang, nhưng không ngờ các vị tại Ấn Quang e ngại chính quyền, không dám cho đặt văn pḥng Ủy Ban tại đây. Tôi rớt nước mắt phải đi van xin Cụ Chánh Tŕ Mai Thọ Truyền cho đặt văn pḥng tại chùa Xá Lợi, mời cụ giữ cho chức vụ Tổng Thư Kư Ủy Ban và vay cụ 35 đồng để sắm chút ít văn pḥng.”

Trích Bạch Thư của TT Thích Tâm Châu, trang 23


TT. Tâm Châu không có tiền đến nỗi chỉ vay có 35 đồng bạc! Thật đáng ngạc nhiên đến không hiểu được. Những dấu hiệu rạn nứt giữa các vị lănh đạo cao cấp Phật giáo đă khó tránh được sau này.

Việc tấn công chùa là một vụng về của chế độ. Bất kể là có sự khiêu khích của các vị sư từ chùa Xá Lợi hay Từ Đàm và Diệu Đế. Nó chấm dứt mọi con đường dẫn đến đàm phán và ḥa giải và tạo một h́nh ảnh xấu về sự đàn áp Phật giáo một cách công khai.

Dư luận nói chung từ trong nước đến ngoài nước tỏ ra bất lợi cho chính quyền của TT Ngô Đ́nh Diệm. Cái tiếng ấy sau này cũng khó rửa cho sạch.

Theo ông Colby đó là một thứ công khai khai chiến rồi. Phần thắng lợi nghiêng về phía Phật giáo được coi như nạn nhân của việc đàn áp Phật giáo.
 


 

TT. Trí Quang biểu t́nh trước Dinh Độc Lập (1/10/1967)
Nguồn: Image by © Bettmann/CORBIS


 

Việc tấn công chùa này lại do chính hai tướng Trần Văn Đôn và Tôn Thất Đính khuyến cáo ông Diệm và Nhu.

Về kế hoạch tấn công chùa Xá Lợi của chính quyền Sài G̣n là một kế hoạch tối mật chỉ ḿnh ông Nhu và 5 sĩ quan cao cấp như Tôn Thất Đính, Trần Thiện Khiêm... Đứng ra hành động là Lực lượng đặc biệt và Cảnh sát đặc biệt của Nguyễn Văn Y.

Vậy mà nhà báo Mỹ được biết trước! Thế mới buồn thay, không có việc lớn nhỏ ǵ xảy ra của chính quyền VNCH mà lại không kịp thời thông báo cho báo chí Mỹ!

Nhờ sự tiết lộ cho các nhà báo Mỹ nên họ đă kịp thời đến chùa Xá Lợi trước khi cuộc khám xét chùa của lực lượng đặc biệt và yêu cầu các vị Thượng Tọa trốn đi, nhưng các vị ấy đă từ chối đi trốn và ngồi lại với các tăng ni trong chùa.
 

“Theo lời tường thuật của Mert Perry, một nhà báo nói được tiếng Pháp, sau khi nghe được tin mật báo như trên, ông và nhà báo Halberstam đă đi taxi đến ngay chùa Xá Lợi trước nửa đêm và đă chứng kiến lực lượng đặc biệt của đại tá Lê Quang Tung và họ nhận ra không có binh chủng nào khác.

Việc lục soát kéo dài trong ṿng 2 tiếng đồng hồ. Riêng TT Trí Quang theo các phóng viên này th́ TT. đă vượt thoát trước khi cuộc lục soát được tiến hành”

“Dites-lui qu‘is vont arrêter tous les Bouddhistes juste après minuit, dit en francais la voix mystérieuse.” Nói với ông ta là họ sẽ đến bắt tất cả các Phật tử vào trước nửa đêm, một giọng nói bí mật bằng tiếng Pháp như vậy đă điện thoại cho Mert Perry.


(Trích trong L'innocence perdue. Un Américain au Vietnam ,

Neil Sheehan, May 3rd 1990, Seuil, trang 300)
 

Halberstam đă tường thuật một buổi họp báo vào ngày 29 tháng 8 rằng chính tướng Đính tuyên bố ông là người chỉ huy cuộc tảo thanh chùa, ông đă dùng quân đội và các lực lượng khác trong cuộc tảo thanh ấy. Lực lượng gồm hai đại đội thuộc lực lượng đặc biệt, Bảo An và Cảnh sát. Cũng theo Tôn Thất Đính, phía tăng ni không có ai bị thương, phía công lực có 20 người bị thương.

(Trích New York times, 30/08/1963)


Hầu hết các tăng sĩ đă bị bắt như Ḥa Thượng Thích Tịnh Khiết, Thượng Tọa Thích Tâm Châu trong cuộc tảo thanh chùa này. Chỉ riêng TT Trí Quang trốn thoát được và được Mỹ cho lánh nạn tại ṭa đại sứ.

Riêng ông Ngô Đ́nh Nhu trong dịp phát biểu hàng tuần về Ấp Chiến lượng nhận xét về t́nh trạng Phật giáo:

“Thiện chí ôn ḥa của chính phủ đă bị số sư săi trên coi là biểu hiệu của một sự nhu nhược, nên họ càng làm tới. Họ đă biến các chùa chiền nhất là Xá Lợi thành những trung tâm khuấy rối...

Ai ưng tu hành th́ quyết tâm tu cho đắc đạo và ai ưng làm chính trị th́ phải từ bỏ áo tu, ra hẳn ngoài đời để làm chính trị, chứ không thể kéo dài t́nh tràng mập mờ, nửa đạo, nửa đời như từ hơn ba tháng nay.”

(VNCH, UBLBĐTACL, Biên Bản số 62.

Phiên họp tại Dinh Gia Long ngày 23/8/1963 tr 6-12, PTT/1CH, HS8278.)
 

Cuộc trốn thoát của TT. Trí Quang

Có một số dư luận khác nhau về truyện trốn thoát của TT Trí Quang cần được nêu ra.

Theo TT. Thích Tâm Châu:

“Tại chùa Xá Lợi, trụ sở của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo cũng bị bắt trọn vẹn. Ḥa Thượng Thích Tịnh Khiết cũng bị bắt. Tôi cũng bị bắt, và họ đem nhốt tôi vào một cái cầu tiêu nào đó. Thượng Tọa Trí Quang may mắn trốn được vào Ṭa Đại Sứ Mỹ.”

(Trích Bạch thư, Thích Tâm Châu, trang 22.)

 

Nhưng trong bài phỏng vấn của nhà báo Vĩnh Phúc bằng điện thoại được ghi lại trong cuốn Những huyền thoại và sự thật về chế độ Ngô Đ́nh Diệm, ông đă chi tiết hơn:

- Lúc đó thầy Trí Quang đang tỵ nạn trong ṭa đại sứ Mỹ?
- Dạ không phải đâu. Cũng cùng bị bắt cả. Nhưng sau Trí Quang lẩn vào đám chư tăng ni cải dạng đi. Nhưng cũng bị bắt nhốt ở Rạch Cát, sau đó ngài mới chạy vào ṭa đại sứ.

(Trích sách đă dẫn, Vĩnh Phúc, trang 297.)

 

“Theo Phiếu đệ tŕnh số 0289/QĐIIIVPTL ngày 22/8/1963 của Tôn Thất Đính đệ tŕnh Tổng Thống cho thấy TT. Trí Quang không có trong danh sách những người bị bắt. Vậy th́ lời xác nhận của TT. Tâm Châu là không đúng sự thật. Ngay cả hai tăng sĩ tị nạn tại cơ quan USOM Mỹ không có ai là Trí Quang cả (III, tài liệu 275)
 

Các người bị bắt là Ḥa thượng Thích Tịnh Khiết, TT. Tâm Châu, Bửu Chơn, Thiên Hoa, Tâm Giác cùng nhiều người khác sau một giờ chống cự”

(Trích Phiếu đệ tŕnh số 0289/QĐ III/VPTL ngày 22-8-1963

của Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn III kiêm Tư lệnh vùng III chiến thuật,

kiêm Tổng trấn Đô thành Sài G̣n, gởi Tổng thống Việt Nam Cộng ḥa.

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Kư hiệu tài liệu TM-HS 209.)
 

Tuy nhiên, các lời giải thích của các kư giả ngoại quốc th́ hoàn toàn trái ngược với TT. Tâm Châu.

Neil Sheehan th́ cho rằng:

Le plus dynamique des chefs bouddhistes, Thich Tri Quang, qui avait organisé la preḿere manifestation à Hue et se savait condamné à mort avait réussi à fuir avant le raid avec deus autres bonzes”
Người năng động nhất trong đám lănh đạo Phật giáo, Thích Trí Quang chính là người tổ chức cuộc biểu t́nh đầu tiên ở Huế và ông biết rằng ông bị coi như bị kết án tử h́nh, ông đă trốn thoát được trước khi có cuộc lục soát chùa cùng với hai nhà sư khác.

(Trích L’Innocence perdue, Neil Sheehan, trang 300.)


Nhưng có lẽ quan trọng nhất là nguồn tài liệu sau đây từ thư viện Kennedy:

“Tri Quang escaped arrest and disappeared mysteriously for ten days before seeking and obtaining asylum at the Us embassy.”

(Trích Saigon to State 1, september 1963, JFKL, box 199.)


“Embassy officials who listened to him denounce the Diem Government found that he changed his position on an issue as soon as he discovered that it had not convinced the Americans of Diem’s undesirability”

(Trích Saigon to State, 21 november 1963, NA II, RG 59, Central files, 1963, box 4047. )
(Trích lại trong Triumph forsaken, Mark Moyar, trang 460)
 


 

TT. Trí Quang và Tướng Nguyễn Ngọc Loan

trước Dinh Độc Lập
Nguồn: Image by © Bettmann/CORBIS


 

Trí Quang đă trốn thoát khỏi cuộc lùng bắt và biến dạng một cách bí mật 10 ngày trước khi xin được ṭa đại sứ Mỹ cho phép lánh nạn ở ṭa đại sứ..

Nhân viên sứ quán đă nghe TT Trí Quang tố cáo chính quyền Sài G̣n và đă khám phá ra ông thay đổi quan điểm về một đề tài khi mà ông thấy rằng ông đă không thuyết phục được người Mỹ về việc không thích ông Diệm.

Theo Arthur J. Dommen viết th́ cho đến 1/9, Trí Quang và hai nhà sư khác mới thực sự xin tỵ nạn vào đại sứ quán Hoa Kỳ. Điều này phù hợp với việc ông bỏ trốn biệt tích 10 ngày trước đó theo Mark Moyar. Và chỉ đến ṭa đại sứ Hoa Kỳ lánh nạn sau khi biết chắc chắn là ông đă được Mỹ chấp thuận:

“On september 1, Tri Quang and two other monks sought political asylum in the American Embassy.”
Vào đầu tháng 9, Tri Quang và hai nhà sư khác đă xin tỵ nạn chính trị ở ṭa đại sứ Mỹ.

(Trích The Indochinese Experience on the French and the American, Arthur J. Dommen trang 527.)


Chỉ một việc lánh nạn vào ṭa đại sứ thôi mà đă có nhiều nguồn dư luận khác biệt!
 


Hai tháng ăn ở trong ṭa đại sứ Mỹ

Sau đấy, TT. Trí Quang đă ở trong ṭa đại sứ Mỹ khoảng hơn 2 tháng trời. Ông làm ǵ, sinh hoạt ra sao, ăn cơm chay hay ăn đồ Mỹ? Không một nhà báo Mỹ cũng không ai biết đến những chi tiết này.

Mặc dầu`TT Trí Quang là người rất kín miệng. Tính ông ít nói, cục tính và cao ngạo. TT. Tâm Châu nhận xét,
Tính ông Trí Quang là tự tôn và tự kiêu. Ông mỉa mai thêm: Giáo Hội Phật giáo thống nhất trở thành Nhất Thống.”

Sư ông Nhất Hạnh cũng dị ứng với ông Trí Quang khi nhận xét,
“Thông minh, nhưng quá nhiều tự tin, thiền sư Trí Quang gặp quá nhiều trở lực nội bộ.”

(Trích Việt Nam Phật giáo Sử lược, chương 38,

Cuộc vận động chống chế độ Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Lang.)


Topmiller nhận xét,
“Ông là loại người gây khích động, anh hùng khi chống Diem, nhưng lại cực kỳ nguy hiểm đối với bất cứ chính quyền VNCH sau 1963.”

(Trích Topmiller, như trên trang 8).


Các nhận xét trên quả thực không xa lắm với con người thật của TT . Trí Quang. Ông Trí Quang là người rất khó để được mọi người chấp nhận. Sau này, ngay chính Lodge cũng e ngại là Trí Quang có tiềm năng gây rối loạn.

Ông cũng ít khi nào chịu cho ai phỏng vấn. Có lần phóng viên báo Time được ông cho phỏng vấn đă viết:

“In an unusual private interview, one of the relatively few he has granted to Western newsmen, Thich Tri Quang talked for an hour last week with TIME Correspondents Frank McCulloch and James Wilde at his Saigon residence, a room in a maternity clinic.”

(Trích “A talk with Thich Tri Quang”, Friday, Apr. 22, 1966)

 


 

Telegram của ĐS Cabot Lodge gởi Bộ Ngoại Giao Mỹ (26/08/1963)
Nguồn: FRUS, Tài liệu 292


 

Trong Bản Tiểu truyện tự ghi, ông đă không hề nhắc nhở tới bất cứ một sự việc ǵ, một liên lạc nào hoặc tên bất cứ một người Mỹ nào mà ông đă gặp trong thời gian tỵ nạn trong ṭa đại sứ. Bản Tự Truyện của TT Trí Quang theo tôi là quá ư sơ sài và thiếu rất nhiều chi tiết đáng lẽ cần phải viết đầy đủ hơn. Nó vỏn vẹn chỉ có mấy chục trang và ông hầu như không đả động một chữ nào về “những biến động miền Trung” kể từ 1963-1966.

Phải chăng đó là những tính toán và quyết định sai lầm trong cuộc đời làm chính trị mà ông không muốn nhắc tới nữa? Hay là một thứ trốn tránh tất cả trách nhiệm về những năm tháng xáo trộn này?

Tôi nghĩ rằng Bản Tiểu truyện tự ghi quá sơ sài cho thấy thiếu sự trung thực với chính ông và công luận đ̣i hỏi ông cần viết lại đầy đủ hơn để công bằng với lịch sử sau này. Viết sao là tùy sự suy nghĩ của ông, nhưng điều chính yếu là viết thật đầy đủ hơn, ít lắm cũng vài trăm trang về những năm tháng ấy.

Khôn ngoan, kín đáo như thế. Nhưng tôi có cảm tưởng hai tháng ẩn ḿnh trong ṭa Đại sứ, ông đă nói khá nhiều về nhiều vấn đề. Và h́nh như ông có xu hướng tin người ngoại quốc và thường đố kỵ với người Việt Nam, nhất là chức sắc Phật giáo?

V́ thế tài liệu gốc
(primary source) của Mỹ ngày nay cho thấy một điều chắc chắn là bất cứ điều ǵ ông phát biểu th́ đều đă được kín đáo thu băng và gửi đi từ ṭa đại sứ Sài G̣n về Hoa Thịnh Đốn. Ít lắm có vài chục phúc tŕnh từ ṭa đại sứ Sai G̣n gửi về Hoa Thinh Đốn về những tuyên bố của TT. Thích Trí Quang.

Rất nhiều điều được coi là bí mật về con người, về những suy nghĩ, về những việc làm của TT. Trí Quang nay mọi người biết được là từ phía người Mỹ.

Theo James McAllister:

“Các giới chức Mỹ thường xuyên gặp gỡ Trí Quang trong suốt những năm 1964-1966. Những đàm thọai này đủ cung ứng một cái nh́n toàn diện về những tín lí của ông với hàng loạt vấn đề. Mặc dù Trí Quang trên một số mặt nào đó vẫn c̣n là một nhân vật mà giới sử gia khó nắm bắt, nhưng những tương tác giữa ông và giới chức Mỹ có thể cung ứng một nguồn tư liệu không thể thiếu và chưa được sử sụng trong việc t́m hiểu cả phong trào Phật giáo lẫn sự thất bại to lớn của Mỹ tại Việt Nam.”

(Trích Thích Trí Quang và chiến tranh Việt Nam, Nghiên cứu của JAMES McALLISTER, giáo sư Williams College, dựa trên hồ sơ lưu trữ của Bộ ngoại giao Mĩ. Trần Ngọc Cư dịch từ tiếng Anh.

[“Only Religions Count in Vietnam: Thich Tri Quang and the Vietnam War,” tạp chí Modern Asian Studies 42, 4 (2008), pp. 751–782 , http://snipurl.com/u7uba, diendan.org)


Mặc dầu TT. Trí Quang liên hệ mật thiết với Mỹ như vậy, nhưng TT. Trí Quang vẫn tự hào là không nhờ vào Mỹ. Ông tuyên bố:
 

“Tôi không nằm trong túi áo ai cả.”


Nhưng vào tỵ nạn trong ṭa đại sứ Mỹ có phải là nằm trong túi áo của Mỹ chăng? Và sau 1975 th́ số phận Phật giáo Việt Nam và TT. Trí Quang như thế nào? Lúc đó không có cái túi áo nữa mà là cái rọ - một căn pḥng nhỏ chôn vùi cả một cuộc đời tranh đấu tôn giáo và chính trị. Sau 1975, ông đă tâm sự với một người bạn giáo sư đại học: “
Anh với tôi, tụi ḿnh hết thời rồi. Bây giờ, tôi chỉ lo ngồi dịch sách.”

Việc ông được chấp nhận tỵ nạn trong ṭa đại sứ Mỹ là một điều mà ngay chính nhiều người Mỹ cũng không hiểu nổi.

Cho nên có thể nói hai tháng ở ṭa đại sứ Mỹ đă có thể cứu cái mạng của ông cũng không phải là ngoa ngôn.

Phần c̣n lại là ông có bổn phận trả cái ơn ấy và chính Lodge cũng nghĩ rằng ông Trí Quang là một nhân vật nguy hiểm, nhưng ông tin rằng Trí Quang không thể nào quên cái ơn cứu mạng và sẽ chấp nhận Mỹ như một đồng minh chiến lược.

Nghĩ đến hai nhân vật Trí Quang và Cabot Lodge, mặc dầu một kẻ mặc áo tu hành, một kẻ mặc áo chính trị mà họ giống nhau nhiều điểm.

Họ đều thông minh, lanh lợi và quyền biến, sẵn sàng thương lượng. TT. Trí Quang đă từng nói với người Mỹ và ông Trần Văn Hương là ông sẵn sàng loại trừ Khánh với điều kiện Trần Văn Hương thỏa măn những điều kiện của phe Phật giáo. Ông cũng đă muốn loại trừ nhiều người, nhiều lănh đạo chính phủ sau này. Nhưng sau này đến lượt Cabot Lodge là “người bạn của Trí Quang” đă loại trừ ông Trí Quang một cách không thương tiếc. Xin sẽ có những bài riêng về các vấn đề này.


(C̣n tiếp)


© DCVOnline