|
TT Thích Trí Quang và Mỹ (Kết)
TT Trí Quang và vai tṛ của Mỹ
trong biến cố Phật giáo năm 1963
Nguyễn Văn Lục
Trí Quang và Cabot Lodge
Cho dù việc hợp tác với Mỹ chỉ
có tính cách giai đoạn th́ sự
thực ấy cũng không v́ thế có thể
chối bỏ được đă có một thời họ
là những đối tác chiến lược.
Việc lật đổ ông Diệm là một
thành công mà cả hai bên đều
hoan hỉ vỗ tay như trong một bữa
tiệc thân mật giữa đại diện
người Mỹ với Cabot Lodge và các
chức sắc hàng đầu của Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
năm 1964.
Họ đều hỗ trợ nhau trong mục
đích chiến lược là lật đổ chế độ
Đệ I Cộng Ḥa.
Người Mỹ qua Cabot Lodge xoa tay
hoan hỉ v́ đă thành công trong
việc lật đổ ông Diệm và họ tự
xác nhận, không có họ, không có
biến cố chính trị 1963.
Họ không cần dấu diếm nữa.
Không có Mỹ can thiệp, không có
chuyện ông Diệm bị lật đổ. Người
Mỹ đă chính thức nh́n nhận vai
tṛ của họ. Stanley Karnow trong
chương: The end of Diem
đă viết ngắn gọn đầy đủ ư nghĩa
như sau,
“His collapse would had been
impossible without American
complicity”.
(Viet
Nam: A History, Stanley
Karnow, trang 227)
Việc ông Diệm bị lật đổ sẽ không
bao giờ có thể xảy ra, nếu không
có sự đồng lơa của Hoa Kỳ.
Phần giới Phật tử, đa số đều tin
rằng biến cố 1963 là một cuộc
cách mạng, một cuộc tranh đấu để
giải thoát Phật giáo ra khỏi
những kỳ thị tôn giáo và để đạt
được sự tự do tôn giáo hoàn toàn.
Đó là chiến tích của người Phật
tử mà không có ai khác dự phần.
Họ tin một cách thành thực như
vậy. Những sinh viên tranh đấu
đă không nén được nỗi vui mừng
khi viết, “1963
đă đánh dấu một chặng đường Tuổi
Trẻ làm nền thao thức của cả đời
người, cho nên 1963 khó quên hay
không thể quên.”
(Trích
Những tháng ngày không quên,
Thái Kim Lan).
Hơn nửa năm sau ngày 1-11-1963,
Hoàng Văn Giàu, trưởng đoàn sinh
viên Phật tử viết,
“Ngày 1-11-1963, toàn dân thở
phào sung sướng khi thấy đồng
bào quân đội của ḿnh đă tiếp
tay với cao trào quật khởi để
giáng cho “triều đại nhà Ngô”
một cú ân huệ vào phút chót.”
(Trích báo
Lập Trường, thứ bảy 6-6-1964,
Những cơ hội trôi qua, Hoàng
Văn Giàu.)
Nhưng theo nhận xét thực tế của
Stanley Karnow th́ biến động
1963 cho dù khởi đầu mang tính
cách tôn giáo không lấy ǵ làm
quan trọng, nó đă mau chóng trở
thành một phong trào chính trị
nhằm lật đổ một chính quyền.
|
 |
|
Người Mỹ và TT Trí Quang
Nguồn: DCVONline tổng
hợp
|
“The
end to the Diem regime began
with a religious controversy
that seemed, at first, to be
trivial. But it quickly
crystallized the accumulated
other grievances against the
government and swelled into a a
political upheaval.”
(Trích như
trên trang 278)
Cũng cùng một nhận xét như thế,
trùm Colby cũng nhận xét rằng,
“Colby saw the troubles as a
false issue when they began,
then argued they had been
surpassed. Diem was the ticket,
the Buddhist crisis little more
than the result of unfortunately
timed photos of burning
bonzes...”
(Trích Lost
Crusader, Jonh Prados, trang
130)
Phải, thật bất hạnh cho mọi
người.
Mark Moyar, dựa vào tài liệu CIA
c̣n quả quyết hơn khi cho rằng
chính quyền dù có tương nhượng
ǵ đi nữa, TT. Trí Quang cũng
vẫn tiếp tục từ chối cả hai lần,
năm 1963 và sau này. Bởi v́ ông
chỉ ngừng phản đối cho đến khi
nào chính Phủ Diệm sụp đổ.
“Over and over again, Tri
Quang would refuse to accept
generous concessions from the
government, both in 1963 and
later. During the summer of
1963, he openly stated that he
would not stop protesting until
the Diem government felt.”
(Trích
Triump Forsaken, Mark Moyar,
218. Trích lại tài liệu CIA”
Situation Appraisal of the
political Situation, 8-july-1963
FRUS, 1961-1963, vol. 3, 212).
Nhưng nếu Cabot Lodge vỗ tay reo
mừng chia xẻ phần chiến thắng
th́ TT. Trí Quang vẫn muốn minh
định một cách rơ ràng Phật giáo
không vào tay ai và không để ai
lợi dụng như trong Tiểu truyện
đă ghi, “
Có điều phải nói trước, trước và
sau 1963, cho đến 1975, Phật
giáo Việt Nam không bao giờ nằm
trong túi ai cả, măc dâu suốt
thời gian này việc ǵ nổi lên mà
không có sự khai thác riêng.”
Ông cũng là một trong số hiếm
hoi những người không muốn vỗ
tay quá sớm coi việc lật đổ ông
Diệm chỉ là giai đoạn I và ông
mong muốn thấy một chế độ chính
trị thực sự không c̣n ảnh hưởng
của ông Diệm hay Cần Lao. Điều
đó hàm ư chỉ ḿnh ông mới có
thẩm quyền xác định tính chính
đáng của các chính phủ ấy. Ông
đă viết trong Tiểu truyện tự ghi,
“Nhưng ông Ngô Đ́nh Diệm đổ
rồi, đúng như tôi dự đoán, vấn
đề Phật giáo không phải kết thúc
mà bắt đầu .. Từ đây sắp đi,
Phật giáo ở trong t́nh trạng cây
muốn lặng mà gió không ngừng...”
Điều ông viết trên đă cho thấy
dụng tâm của ông không phải
tranh đấu Phật giáo mà lật đổ
một chế độ và xây dựng một chế
độ mới theo mẫu thức của ông. V́
thế có thể ông nhờ Mỹ, nhưng
không muốn lệ thuộc vào Mỹ.
Cho dù tạm bỏ không nói đến
những ǵ xảy ra sau 1975 cho
Phật giáo và cho riêng số phận
của TT. Trí Quang th́ lời khẳng
định trên của TT. Trí Quang chỉ
có một giá trị tương đối v́ thực
tế đă không hẳn là như vậy..
Những bằng chứng th́ thực sự
không thiếu.
Xin trích dẫn lại những nhận xét
của các nhà báo Mỹ khi được tin
Cabot Lodge sang Việt Nam và sự
biểu dương đón chào của khối
Phật giáo như thế nào theo sách
lược của TT. Trí Quang.
Sau khi đại sứ Nolting về Mỹ, TT.
Trí Quang đă trải thảm đỏ để
chào đón Cabot Lodge.
Riêng ông Diệm đưa ra nhận xét,
“Về việc bổ nhiệm đại sứ mới
(Lodge).
Diem cho rằng Mỹ đang thay đổi
chính sách và có ư loại Diệm.
Điều này, theo Thuần khiến Diệm
càng cứng rắn
(extreme
stubborness).
Diệm nói với Thuần: Người ta có
thể gửi 10 Lodge tới đây, nhưng
tôi không để cá nhân hay đất
nước này bị hạ nhục, ngoại trừ
họ huấn luyện pháo binh bắn vào
Dinh (Gia
Long)
này.”
(Trích
FRUS, 1961-1963, tài liệu 186.
Trích lại Vài Cảm Nghĩ Về
Thượng Tọa Thích Quảng Đức,
Vũ Ngự Chiêu, trên
chuyenluan.net)
Khi được tin Cabot Lodge sẽ sang
Việt Nam đảm nhận chức đại sứ
thay thế Nolting, nhà báo
Halberstam một lần nữa đă nói
đùa với một phát ngôn viên lănh
đạo Phật giáo, “Tôi
không tin là kỳ này, đại sứ
Cabot Lodge sẽ làm ông Diệm
thích thú.”
Xin ghi lại nhận xét của nhà báo
Neil Sheehan, rất thân cận với
Ấn Quang:
“Le lendemain, 18
aôut, ils firent une
démonstration de
leur force
grandissante comme
s‘ils voulaient
impressionner le
futur ambassadeur
par les dépêches de
Presse. 15.000
personnes, une des
foules les plus
importantes et les
plus enthousiastes
qu‘ils aient réunies,
se rassamblèrent à
la grande pagode Xa
Loi pour entendre
pendant des heures
les discours des
bonzes qui
dénoncaient la
tyrannie du régime
et les outrages
infligés au
bouddhisme Viet
Namiens. Les prières
alternaient avec les
harangues. À
intervalles
réguliers, les
bonzes détenaient
l‘atmosphère avec un
intermède apprécíé:
une plaisanterie
ordurière sur Mme
Nhu. Cette fois-ci,
le palais n’ordonna
pas à la police
d’intervenir, en
dépit de la
provocation, et la
manifestation se
termina dans le
calme.”
(Trích
L’Innocence
perdue, Neil
Sheehan, trang 298.)
Ngày hôm sau, 18
tháng tám, các lănh
đạo Phật giáo đă tổ
chức một cuộc mít
tinh thật lớn như
thể họ muốn gây một
ấn tượng cho vị tân
đại sứ thông qua các
hăng thông tấn gửi
đi. Có 15 ngàn người,
đó là một trong
những cuộc mít tinh
tập họp lớn và quan
trọng nhất cũng như
hăng hái nhất từ
trước đến nay tại
ngôi chùa lớn là Xá
Lợi để được hằng giờ
nghe các bài diễn
văn của các nhà sư
lên tiếng tố cáo sự
độc tài của chế độ
và sự xúc phạm lăng
nhục mà người Phật
tử Việt Nam phải
lănh chịu. Rồi những
lời cầu kinh tiếp
nối với những bài
diễn từ. Và từng
chặp đều đặn, các
nhà sư tạo một không
khí thoải mái xen kẽ
giữa những bài diễn
văn và lời câu kinh
và đă được mọi người
tán thưởng: Chế diễu
một cách khá dơ dáy
về bà Nhu. Lần này,
dinh tổng thống đă
không ra lệnh cho
cảnh sát can thiệp,
mặc dầu có sự gây
hấn, buổi mít tinh
rồi cũng chấm dứt
trong sự êm đềm.
Sự gây hấn đó cho dù
chính quyền có muốn giải
quyết ổn thỏa cũng tỏ ra
vô hiệu như nhận xét của
Stanley Karnow,
“Trong khi chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm chờ
thời th́ phía người Phật
tử đă cho nổ một trái
bom.”
(Trích
“Viet Nam: A History,
Stanley Karnow, trang
161).
Cùng một quan điểm với
nhà báo Neil Sheehan ở
trên Arthur J. Dommen
viết một bài báo mấy
ngày sau đó khi Cabot
Lodge đă đến Sài g̣n như
sau:
“Tri
Quang had
planned a
much bigger
demonstration
for August
25 to
coincide
with Lodge’s
arrival,
which had
been
forestalled
by the
government‘s
actions to
clean up the
pagodas. As
he told
American
Embassy
officers
later, the
plan
involved
giving
information
to the press
and
government
at least 48
hours in
advance. The
aim would
have been to
publicize
the fact
that the
Buddhists
believed
that the Ngô
family must
relinquish
its power.”
|
 |
|
Thích
Trí
Quang:
The
Buddhist
Bid
for
Power
(4/1966),
với
E.
Wulff
(tác
giả
Viêtnamesische
Lehrejahre,
11/1967),
1990
—
Nguồn:
time.com,
thuvienhoasen.org,
giaodiem.com
|
Trí Quang đă
lập một kế
hoạch cho
một cuộc mít
tinh lớn hơn
nữa vào ngày
25 để trùng
hợp với việc
Cabot Lodge
đến Saigon
mà về phía
chính quyền
cũng đă trù
liệu việc
quét sạch
các chùa
trước khi
Cabot Lodge
đến. Sau này,
TT. Trí
Quang đă nói
với các các
nhân viên sứ
quán là kế
hoạch trù
liệu thông
báo cho báo
chí và chính
quyền ít
nhất là 48
tiếng đồng
hồ trước.
Mục đích của
buổi mít
tinh là để
phổ biến cho
thấy những
người Phật
tử tin rằng
gia đ́nh họ
Ngô phải dời
bỏ quyền
hành mà họ
đang nắm giữ
“
(Trích The
Indochinese
Experience of
the French and
the American,
trang 526).
Tổ chức những
cuộc mít tinh
như thế th́ đó
là món quà ra
mắt của TT Trí
Quang đối với
ông đại sứ Mỹ.
Những chứng
từ cho thấy Mỹ
can thiệp trực
tiếp vào nội bộ
Phật giáo
Trước hết theo
báo Times of
Viet Nam có sự
giảm viện trợ
cho Nam Việt Nam
của TNS Frank
Church v́:
‒ Tiền chi phí
cho CIA miền
Nam: có tất cả
60 toán, mỗi
toán ít nhất 3
người, đôi khi
20 người, mỗi
người ăn lương
khoảng 8.000 mỹ
kim. Như thế
tổng số chi phí
lên tới
1.400.000/năm.
Ngoài ra c̣n
phải chi tiêu
300.000MJK chi
phí di chuyển .
‒ Cuộc đảo chánh
hụt, ngày
18/8/1963, thực
ra là 1/9/1963,
chi tiêu mất 24
triệu Mỹ Kim, kể
cả tiền thuê và
nuôi dưỡng những
người biểu t́nh,
tiền in bích
chương, truyền
đơn và cả tiền
túi.
(Trích lại
Vài Cảm Nghĩ Về
Thượng Tọa Thích
Quảng Đức,
Vũ Ngự Chiêu,
chuyenluan.net)
Sau khi cuộc “bố
ráp” khoảng hơn
30 chùa trên
tổng số hơn 4000
chùa trên toàn
quốc hoàn tất.
May mắn là viên
trưởng ty cảnh
sát Thừa Thiên
Huế, ông Lê Văn
Dư thời bấy giờ
c̣n giữ được tập
tài liệu của Ty
Cảnh sát lấy lời
khai của một số
người bị bắt
trong đó có một
số tu sĩ và Phật
tử.
Tập tài liệu này
chứng tỏ Mỹ đă
xen vào nội bộ
Phật giáo như
thế nào và cho
thấy cuộc tranh
đấu của Phật
giáo biến thành
một phong trào
chính trị nhằm
lật đổ chính
quyền Ngô Đ́nh
Diệm.
Tập tài liệu này
cho đến nay th́
tôi có thể khẳng
định là tài liệu
thật sau khi hỏi
một số người có
tên trong danh
sách bị bắt xác
nhận về lời khai
của họ. Phần ông
Lê Văn Dư nay
sống ở bên Mỹ
với tư cách của
một nhân chứng.
Về tính xác thực
của tài liệu th́
cho đến nay,
những người
trong cuộc, chưa
ai lên tiếng
phản bác tài
liệu này cả.
Tập tài liệu khá
dày trên 100
trang đánh máy,
mỗi trang được
cẩn thận đóng
dấu triện với
con dấu ở giữa
là một bụi trúc,
chung quanh có
in: Việt Nam
Cộng Ḥa, Ty
Cảnh Sát Quốc
gia Thừa Thiên.
Tập tài liệu
đánh máy mà chữ
thường bị mờ ở
các chữ o, e, a
cho thấy máy chữ
không được chùi
như thường thấy
trước 1975. Lối
hành văn khá
chuyên nghiệp,
văn gọn, chính
xác, khách quan,
dùng ở ngôi thứ
ba. Nhưng nhất
là những lời
khai của nhiều
người trùng hợp
với nhau. Chẳng
hạn như trong vụ
“thiêu” nhà sư
Thích Tiêu Diêu.
Nhưng nay th́ đă
rơ ràng hơn,
theo tác giả Vũ
Ngự Chiêu, người
đă được chính
quyền cho tiếp
cận hồ sơ miền
Nam Việt Nam,
tài liệu Phủ
Tổng Thống đệ
nhất công ḥa
th́ thật sự có
tập hồ sơ này
mang sô 8502 Nha
CS miền Bắc TNTP
bá cáo về sự can
thiệp của Mỳ để
khuynh đảo chính
phủ .
Như vậy đă rơ
ràng không cần
trở lại vấn đề
này nữa.
Xem thêm tài
liệu về vấn đề
đàn áp Phật giáo
Xét về mặt chính
trị th́ việc can
thiệp của Mỹ vào
nội bộ Việt Nam
qua trung gian
ṭa lănh sự Mỹ
cũng như cơ quan
t́nh báo Mỹ là
điều không thể
chấp nhận được.
Phần các phong
trào Phật tử
miền Trung tranh
đấu trong t́nh
thế “chẳng đặng
đừng” mà tất cả
chúng ta đều là
những con bài
của Mỹ trong
từng giai đoạn,
từng trường hợp
mà không dễ ǵ
ai nói hay được.
Con bài “Thiên
chúa giáo di cư”
đă qua, nay đến
con bài “Tranh
đấu Phật giáo”
mà tài liệu CIA
cho thấy trong
các chương tŕnh
như Asia
Foundation như
thế nào như đă
tŕnh bày ở trên.
Hồ sơ tối mật
mang tên
Tổng kết nội vụ
Phật giáo và Đại
Học, ghi
Huế ngày
22/10/1963, tức
là sau ngày bố
ráp các chùa
chiền hai tháng
trước đây. Bản
tổng kết nội vụ
ghi số
I.C364-CSĐB.4.M
ngày 21/10/63
của Ty tôi. Kư
tên: Lê Văn
Dư
Những người bị
bắt gồm một số
đại đức và
Thượng Tọa, một
số trí thức,
giáo sư Đại và
Trung học và
nhân sĩ cộng với
các sinh viên
Phật Tử trong
thời kỳ đó.
Xin trích dẫn
một số lời khai
tiêu biểu trong
số gần 40 chục
lời khai của các
bị can bị
bắt.Trong một
chừng mực và dè
dặt cần thiết là
có thể pḥng hờ
lời khai đă bị
ảnh hưởng áp lực
từ phía cơ quan
công lực có thế
có.
Lời
khai
của
Thích
Thiện
Minh
‒
Tục
danh
Đỗ
Xuân
Hạng.
Nhận
xét
của
Ty
là y
có
nhiều
thủ
đoạn
vặt,
sâu
sắc,
kín
đáo
và
khôn
ngoan.
Theo
đó
th́
Thích
Trí
Quang
có
mưu
đồ
xây
dựng
lực
lượng
quần
chúng
từ
trước,
hậu
thuẫn
ở
phía
chính
quyền
có
Hà
Thúc
Luyện
đi
sát
với
Trí
Quang
trong
thời
gian
tại
chức
Tỉnh
Trưởng.
Và
đáng
lẽ
theo
Luyện
cuộc
tranh
đấu
Phật
giáo
đă
được
phát
động
từ
Phật
Đản
năm
ngoái
và
đă
được
trù
bị
hằng
năm
rồi,
như
vậy
lần
này
không
phải
là
ngẫu
nhiên.
Y
khai
không
có
chân
trong
Ủy
Ban
Liên
Phái
nên
không
rơ
chủ
trương
âm
mưu
chính
trị.
Y
được
bố
trí
ra
Huế
tổ
chức
hai
buổi
nói
chuyện
kêu
gọi
quân
dân
chính
tham
gia
phong
trào
đấu
tranh,
bố
trí
cho
Thích
Chánh
Lạc
nói
truyện
trước
15.000
người,
luận
điệu
chống
chính
phủ
quyết
liệt,
kêu
gọi
toàn
thể
Phật
giáo
sống
chết
với
chính
quyền.
Đương
sự
cũng
xác
nhận
có
sự
giúp
đỡ
về
tin
tức
qua
lại
từ
Việt
Nam
ra
ngọai
quốc,
đánh
giúp
những
điện
tín
từ
Huế
đi
Sài
G̣n
hoặc
ngược
lại.
Việc
này
do
kư
giả
UPI
làm.
Cung
cấp
báo
chí
ngoại
quốc
cho
Xá
Lợi.
Việc
này
do
Đức
Nghiệp
và
Huyền
Quang
liên
lạc
qua
lại.
Có
một
người
Mỹ
mật
vụ,
do
Đức
Nghiệp
cho
biết
đă
đến
gặp
Ủy
Ban
Liên
Phái
và
nói
rằng:
Nếu
các
ngài
không
tin
chính
phủ,
không
thi
hành
Thông
Cáo
Chung
th́
các
Ngài
c̣n
đợi
ǵ ?
Và
nếu
chính
phủ
bắt
hết
các
lănh
đạo
th́
sao
?
Ngữ
khí
ấy
có ư
thôi
thúc,
xúi
giục
khuynh
đảo
chính
quyền
và
cuối
cùng
người
Mỹ
đưa
ra
hai
nhân
vật
:
Nhân
vật
Nguyễn
Tôn
Hoàn,
Nghiêm
Xuân
Thiện,
hỏi
có
biết
không
và
ngụ
ư
hỏi
ủng
hộ
người
nào.
Y đă
trả
lời
cho
tên
Mỹ
là
Phật
giáo
không
ủng
hộ
ai
cả
mà
chỉ
đấu
tranh
thi
hành
thông
cáo
chung.
Lời
khai
của
Thích
Chánh
Lạc
‒
Y
đến
chùa
Xá
Lợi
và
nhiệm
vụ ở
đây
là
đọc
và
trích
dẫn
tất
cả
báo
chí
trong
nước,
ngoài
nước
tŕnh
cho
Thich
Tâm
Châu.
Một
lần
Thích
Tâm
Châu
có
đưa
cho
y
một
bức
thư
gửi
cho
đại
sứ
Mỹ,
Nolting,
để
đương
sự
chỉnh
văn,
bản
thảo
y có
đem
ra
Huế
và
bị
nhà
chức
trách
tịch
thu.
Sư
Trí
Quang
có
giao
cho
y
cầm
ra
Huế
một
bức
thư
gửi
thầy
Trí
Thủ
và
các
thầy
Từ
Đàm.
Câu
cuối
cùng
của
bức
thư
viết:
Đă
chiến
đấu
là
chấp
nhận
sự
hy
sinh
mà
đă
không
dám
hy
sinh
th́
đừng
cản
trở
người
khác
hy
sinh?
Đương
sự
nh́n
nhận
Mỹ
đă
lợi
dụng
phong
trào
đấu
tranh
của
Phật
giáo
để
âm
mưu
khuynh
đảo
chính
phủ.
Trong
thời
gian
ở Xá
Lợi,
một
người
Mỹ
tên
Browne
của
hăng
AP
thường
điện
thoại
báo
tin
cho
Thích
Đức
Nghiệp
và
có
rất
nhiều
người
Mỹ
thường
tới
lui
tiếp
xúc
với
Ủy
Ban
Liên
Phái.
Lời
khai
Thích
Mật
Nguyện
(tại
ngoại)
‒
Tục
danh
Trần
Lộc.
Nhận
xét:
Tính
t́nh
vui
vẻ,
dễ
dăi,
ăn
nói
cởi
mở,
không
sâu
sắc,
thái
độ
cầu
an.
Tỏ
ra
hiểu
biết
trong
khi
bị
bắt
giữ,
thành
khẩn
nhận
tội..
Không
có ư
thức
chính
trị,
nặng
về
tu
hành.
Đương
sự
đă
từng
bàn
với
Thích
Trí
Thủ
ngăn
chặn
những
hành
động
quá
khích
của
Phật
giáo
mà
đương
sự
nhận
thấy
đi
trái
với
vẻ
thuần
túy
tôn
giáo.
Đương
sự
thành
khẩn
nhận
tội
trước
chính
phủ.
Đương
sự
đă
được
chính
quyền
tạm
phóng
thích
ngay
từ
lúc
đầu
để
đi
SàiG̣n
tham
dự
vào
công
tác
Ủy
Ban
Liên
Hiệp
Sinh
viên
Hoàng
Văn
Giàu
(Trưởng
đoàn
sinh
viên
Phật
tử,
Huế)
‒
Trong
cuốn
nhật
kư,
đương
sự
ghi:
“Đạo
đối
với
tôi
chỉ
là
phụ,
hành
động
của
tôi
không
phải
hoàn
toàn
Đạo,
mà
là
không
ưa,
không
c̣n
tin
tưởng
chế
độ
này.
Hành
động
của
tôi
là
đóng
góp
làm
cho
chế
độ
hiện
hữu
dần
sụp
đổ.”
Tham
gia
làm
Đoàn
Trưởng
sinh
viên
Phật
tử,
đương
sự
tự
nhận:
“Tôi
đă
biết
đấu
tranh
của
tôi
là
chỉ
làm
lợi
cho
những
kẻ
đầu
cơ
chính
trị
hơn
là
Phật
giáo,
song
tôi
vẫn
phải
làm,
miễn
sao
cho
chính
phủ
hiện
hữu
thua
th́
thôi.”
Dưới
sự
lănh
đạo
của
đương
sự,
đoàn
sinh
viên
Phật
tử
trở
thành
linh
hồn
của
cuộc
đấu
tranh.
Hướng
dẫn
biểu
t́nh,
phát
thanh
bài
xích
chế
độ,
in
truyền
đơn,
trích
dịch
báo
chí
ngọai
quốc,
mạt
sát
chính
quyền,
vận
động
đ́nh
công
băi
thị,
thiêu
nhà
sư
Thích
Tiêu
Diêu,
kêu
gọi
sinh
viên,
học
sinh
nổi
lên
chống
chính
quyền.
Đương
sự
nh́n
nhận
đương
sự
biết
rơ
các
sư
tăng
đầu
năo:
Thích
Trí
Quang,
Thích
Thiện
Minh,
Thích
Trí
Thủ
hướng
dần
đấu
tranh
tôn
giáo
vào
mục
đích
lật
đổ
chính
phủ
mà
đương
sự
vẫn
tích
cực
hoạt
động
theo
sự
chỉ
đạo
của
các
sư
nói
trên,
v́
đương
sự
cũng
muốn
lật
đổ
chế
độ
hiện
hữu.
Nhận xét
chung
của
Trưởng
Ty Cảnh
Sát Quốc
gia Thừa
Thiên
Huế cho
thấy có
những
đặc điểm
sau đây:
Về tổ chức
‒ Cấp lănh đạo trong Tổng Hội Phật giáo chỉ là cái mộc, hữu đanh vô quyền. Vị ḥa Thượng Hội chủ giao phó mọi quyền hành và quyết đoán vào trong tay TT. Trí Quang.
‒ Thích Trí Quang và Thích Thiện Minh đă gấp rút thành lập đoàn sinh viên Phật tử Huế gồm khoảng 200 người vào đầu năm 1963 theo mẫu thức của đoàn sinh viên Phật tử Sài G̣n năm 1962. TT. Trí Quang giao cho một Thượng tọa từ Sai g̣n ra và lănh đạo tổ chức được hai kỳ họp. Vị sư ấy đă khéo léo khích động, bằng những luận điệu xa xôi xuyên tạc chính quyền. Một sinh viên Phật tử đầu năo khai: Đoàn sinh viên Phật tử trở thành linh hồn của cuộc đấu tranh như: hướng dẫn biểu t́nh, phát thanh bài xích chế độ, in truyền đơn, trích dịch báo chí ngoại quốc, mạt sát chính quyền, vận động đ́nh công băi thị, tổ chức thiêu nhà sư Thích Tiêu Diêu để kích động ḷng căm thù của quần chúng, kêu gọi sinh viên, học sinh nổi lên chống chính quyền.
‒ Ngày 9/81963, chính quyền đă yêu cầu Thiện Minh tháo gỡ các biểu ngữ chống chinh phủ theo tinh thần buổi họp ngày 9/8/63 và cấm dân chúng tụ họp tại Từ Đàm và Diệu Đế.
‒ Việc treo cờ Phật Đản cùng khắp nơi công cộng là do TT Trí Quang khích động cũng như việc chăng biểu ngữ, phát động quần chúng Phật Tử đấu tranh nhân dịp lễ Phật Đản bằng ba giai đoạn. Đặc biệt theo lời khai của một Thượng Tọa th́ Thích Trí Quang đă bàn định kế hoạch, sắp xếp tổ chức mít tinh, căng 7 biểu ngữ trong đó 6 biểu ngữ đả kích và chống TT Ngô Đ́nh Diệm chung quanh chùa Từ Đàm. Tất cả đều nhận chỉ thị của Thích Trí Quang. Theo công văn của ṭa Hành Chánh tỉnh Thừa Thiên, số 7554/TT/HO/TQ, ngày 27-4-1963 th́ chỉ có biểu ngữ duy nhất được chấp nhận là: Kính mừng Phật Đản. Theo lời khai của một sinh viên Phật tử th́ một nhà sư nhận thấy có những biểu ngữ chống chính phủ, nhà sư đă giật những biểu ngữ ấy vất xuống đường, Đoàn biểu t́nh khi đến thư viện đại học, những biểu ngữ tương tự lại xuất hiện. Một lần nữa có nhà sư khác lại giật biểu ngữ và vứt xuống đường.
‒ Một cán sự điều dưỡng khai là tại chùa Từ Đàm, Thích Trí Quang đứng giải thích các khẩu hiệu viết trên biểu ngữ và tuyên bố chịu trách nhiệm về những khẩu hiệu ấy. Nhiều lời khai cũng khai tương tự như vậy.Trong khi đó Trí Quang có tuyên bố: Nếu chính phủ không giải quyết vấn đề Phật giáo “sẽ có một vụ Đại Hàn thứ hai” (Ư nói sẽ có vụ lật đổ chính quyền).
‒ Hai Thượng tọa được phái ra Huế để trực tiếp lănh đạo phong trào đấu tranh. Các buổi nói truyện của họ tại chùa Từ Đàm công khai chống chính phủ, kêu gọi quân nhân, công chức bất hợp tác với chính phủ. Ngày 20-8-63, trước cuộc mít tinh có khoảng 15 ngàn người tại chùa Diệu Đế, một thượng tọa công khai tuyên bố không tin tưởng vào chế độ này, kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân phải đứng lên. Theo lời khai của một sinh viên Phật tử th́ anh ta có dự, Cũng v́ thính giả đông đảo nên thầy đă quá lời và xa cách với người tu sĩ, đă động đến chính phủ. Ṭa tỉnh đă gọi lên Từ Đàm để Thượng tọa lănh dạo về cản ngăn, nhưng khi các thượng tọa đến nơi th́ thầy đă hết nói. Một vị sư đă ngăn cản các vụ tự thiêu th́ nhận được thư của Trí Quang từ Sài G̣n gửi ra mà nội dung như sau: “Đă tự ḿnh không dám hy sinh th́ đừng ngăn trở người khác hy sinh” và đương sự đoán có lẽ việc hỏa thiêu này là do Ủy Ban liên phái và sư Trí Quang khuyến khích và chủ trương.
Về sự tiếp tay của người Mỹ
‒ Mỹ đă lợi dụng phong trào đấu tranh Phật giáo để âm mưu khuynh đảo chính phủ.
‒ Tài liệu ghi thêm các nhân vật chính trị và phóng viên Mỹ công khai ra vào Từ Đàm để khai thác tin tức xúi giục hành động và giúp đỡ phương tiện truyền thông vào Sài G̣n. Đặc biệt ṭa đại sứ Sài G̣n đă cho viên phó lănh sự ở Huế và nhân viên an ninh liên lạc với Trí Quang ở Từ Đàm. Về điều này, một sinh viên y khoa Huế cũng xác nhận là: Sau này khi đương sự về Từ Đàm, có viên phó lănh sự Mỹ ở Huế và một nhân viên USOM có đến thăm đương sự, hỏi thăm sức khỏe và việc học hành, lập trường, gia cảnh của đương sự. Sư Trí Quang c̣n nói với đương sự là các giáo sư y khoa, người Đức như Hotchike, Kaufmann là có công với Tổng Hội Phật giáo đă quay phim vụ đài phát thanh và mang về Sài G̣n trao cho các các ṭa đại sứ và lănh sự như: Lào, Cao Mên, Đức, Mỹ, Ấn Độ, v.v...
‒ Phần đông các bị can đều khai rằng, Phong trào Phật giáo tranh đấu ở miền Trung đều có mục đích là lật đổ chinh quyền Ngô Đ́nh Diệm.
Đôi ḍng cuối cùng
Sau cái chết của ông Diệm, người Mỹ hy vọng cuộc đảo chánh lật đổ ông Diệm sẽ dẫn đến sự đoàn kết quốc gia rộng răi hơn và một chính quyền miền Nam ổn định để có thể tiếp tục cuộc chiến chống Cộng Sản.
Ngược lại, miền Nam đă rơi vào một khủng hoảng quyền lực phần lớn do TT. Trí Quang gây ra. Tháng 12, 1963, một tháng sau ”cách mạng” TT. Trí Quang đă nói với người Mỹ ông sẽ hoan nghênh một cuộc đảo chính nữa để lật đổ Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ, một thứ tàn dư của Diệm.
Chúng ta chỉ cần mở lại tờ tuần báo Lập Trường, do TT. Trí Quang chủ xướng. Tờ Lập Trường phản ánh trực tiếp quan điểm của Thích Trí Quang.
Nội dung ư tưởng trên của TT. Trí Quang đựợc tŕnh bày một cách trực tiếp, thẳng thừng và không khoan nhượng trong một bài viết trên tờ Lập Trường: Mở một nước cờ. Ở cuối bài không có đề tên tác giả mà kư tên Lập Trường. Điều đó nói lên quan Điểm chính thức và dứt khoát của tờ báo. Xin tóm tắt một vài đoạn:
“Trao quyền cho quân đội là một điều cần thiết. Bởi v́ sau một cuộc cách mạng, công việc đầu tiên phải làm là quét sạch những tàn tích dơ bẩn của quá khứ. Những rác rưởi dơ bẩn đó, ở Việt Nam, đă cao ngút lên đầu trong trong 9 năm qua, phi quân đội, không lực lượng nào có thể quét sạch được...
Chính quyền đă thi hành những biện pháp ǵ đối với các chúa tể Cần lao? Các ngài bộ trưởng của ông Diệm bây giờ ra sao? Quí vị dân biểu của ông Cẩn ông Nhu bây giờ nghỉ mát tại phương nào? Ngài Nguyên Đại Biểu chính phủ Nguyễn Xuân Khương của chúng tôi sao biệt vô âm tín?.. Chính quyền bảo rằng sẽ đem “bọn chúng“ ra Ṭa án Cách Mạng xử tuốt hết.. Nhưng với cái đà 3 tháng hai vụ như dân chúng đă thấy, bao nhiêu thế kỷ nữa mới xử cho xong?
Quan niệm chúng tôi rất rơ ràng: Không ai xây nhà trước khi san bằng nền móng..
Hôm nay, chúng tôi muốn đặt câu hỏi đó ra trước chính quyền: Nhân dân đă trao quyền cho các tướng lănh để thi hành trọng trách quét sạch quá khứ. Trọng trách đó, chính quyền đă làm xong chưa ?”
Kư tên
Lập Trường
(Trích tuần báo Lập Trường số ra ngày thứ bảy 30-5-1964).
Lật đổ ông Diệm chỉ là bước một, quét sạch quá khứ là bước thứ hai..Chính ở bước thứ hai này là nguyên nhân và mầm mống của cái gọi là “ Biến động miền Trung” trong suốt thời gian từ 1963-1966 có nguy cơ làm sụp đổ miền Nam.
Trong cả Hai giai đoạn, TT Trí Quang đều là linh hồn của các biến động đó.
Làm chính trị th́ phải có tham vọng.
Riêng TT. Trí Quang có tham vọng, vừa cao ngạo như một thứ lănh tụ đứng trên mọi quyền lực tôn giáo và chính trị. Có thể, ông có tham vọng như một thứ Makarios III (1913-1977). Makarios vừa làm giáo chủ cộng đồng chính thống giáo Hy Lạp ở đảo Chypre, vừa là tổng thống cộng ḥa Chypre năm 1960.
Nhưng người ta c̣n nhớ rằng, khi ở Huế, TT Trí Quang chỉ tuyệt thực có một ngày th́ bị ngất síu. Sau này bị dẫn giải về dưỡng Đường Duy Tân, Ông đă tuyệt thực 100 ngày mà vẫn khỏe mạnh..
Kể từ sau ngày tuyệt thực 100 ngày này coi như chấm dứt sự nghiệp chính trị của ông. Và với ba năm xáo trộn ở miền Trung cũng làm lu mờ đi h́nh ảnh cuộc tranh đấu Phật giáo miền Trung năm 1963.
“He also arrested Tri Quang, who had gone on a hunger strike, and transferred him to detention in a Saigon Hospital.
“The Buddhist Movement never recovered from the defeat”
Trích Viet Nam, History, Stanley Karnow, trang 450.
Phần ông Kỳ, nhờ Cabot Lodge mà đă hạ được ông Trí Quang trả lời cho nỗi lo lắng của Cabot Lodge về vụ tuyệt thực của nhà sư bằng nhận xét trấn an rất cay độc như sau, When Lodge expressed concern, I said, “Mr. Ambassador, don’t worry. If Tri Quang was merely a monk, then may be he would fast until death. But, he is a politician. Have you ever seen a politician die of hunger.” (Trích Buddha’s child, Nguyen Cao Ky, trang 226).
Phụ chú ‒ Vấn đề đàn áp Phật giáo
Nhân tiện nói về tài liệu, xin lợi dụng dịp này nói rộng ra về các tài liệu chứng tỏ có đáp áp Phật giáo. Vũ Ngự Chiêu có cho biết chỉ có một tập tài liệu HS 7941, ngày 20/2/1961, Tịnh Khiết gửi cho Diệm. Than phiền việc đàn áp áp Phật giáo tại Phú Yên, B́nh Định, Quảng Ngăi, Quảng Nam. Ông Diệm đă gặp ông Mai Thọ Truyền và cử Bùi Văn Lương điều tra. Lương cử trung tá Trần Văn Thưởng, Giám độc CSCA TNTP điều tra. Theo Thưởng, cả hai đều có lỗi. Chỉ xảy ra ở một vài xă. (Báo cáo ngày 18-6-1962 của Bùi Văn Lương).
Tài liệu tham khảo:
‒ Tập Hồ sơ của Ḥa Thượng Thích Tịnh Khiết nhan đề: Hồ sơ cuộc đàn áp Phật giáo đồ tỉnh Phủ Yến, tập 2, 19 vụ khiếu nại. Tập hồ sơ 12 trang..
‒ Tập Hồ sơ: Bản báo cáo của phái đoàn điều tra L.H.Q. về vụ đàn áp Phật giáo 1963, người dịch là ông Vơ Đ́nh Cường.
‒ Tập Tiểu truyện tự ghi của TT. Trí Quang mà nội dung nói về sự thiên vị sai trái của ông Diệm như:
‒ Bắt tăng sĩ Phật giáo đi quân dịch làm những chức vụ nguy hiểm mà vô quyền
‒ Trong quân đội, sĩ quan Thên Chúa giáo nắm quyền chỉ huy ngay từ hạ tầng
‒ Chương tŕnh Bac C, D có lư thuyết Thượng Đế và thuyết nhân vị.
‒ Sửa điện Thái Ḥa th́ có lưỡng long mà không có chầu nguyệt để ḥng cắm Thánh giá.
‒ Ông Ngô Đ́nh Diệm bèn bắt công chức Huế kê tên cả nhà để đưa cho anh ḿnh bá cáo là giáo dân để cho thấy dân chúng Huế theo anh ḿnh hết rồi
‒ Dụ số 10 được thêm dụ bổ túc, tăng cường sự hạ giá và kềm chế đối với Phật giáo
‒ Sát hại Phật tử th́ có tập thể lên đến 36 người ở một nơi cùng một lúc.
‒ Ấp chiến lược th́ chỗ rào chùa vào trong để để hạn chế đi lại, chỗ th́ rào chùa ra ngoài để tự bắn phá.
Xin đọc và kiểm chứng từng việc một.
© DCVOnline
|