Từ cộng sản sang thực dân (Kết)

Nguyễn Văn Lục

Bài báo viết tiếp:

Phát biểu với các đại diện doanh nghiệp, Nguyễn Thiện Nhân cho rằng các các cuộc đ́nh công xảy ra vừa qua là đáng tiếc và không đáng có. Thay mặt lănh đạo thành phố, y cũng bày tỏ sự chia sẻ về những thiệt hại của các doanh nghiệp do cuộc đ́nh công xảy ra. Lănh đạo thành phố cam kết sẽ bằng mọi biện pháp ngăn chặn không cho bạo động và đ́nh công tiếp tục xảy ra tại các doanh nghiệp.

Nguyễn Thiện Nhân, Phó chủ tịch thường trực UBND thành phố HCM c̣n thay mặt toàn thể lănh đạo chính quyền cộng sản, xác nhận vai tṛ đồng minh bảo vệ quyền lợi các doanh nghiệp ngoại quốc. Và khẳng định thêm: “Trong khi chưa có quyết định chính thức của Thủ Tướng chính phủ, các doanh nghiệp không nên tự ư tăng lương.”

Gọi các công nhân đói nghèo đ́nh công là bọn quá khích, phần tử xấu. Nguyễn Thiện Nhân cho thấy chính quyền cộng sản sẵn sàng cương quyết dẹp tan các cuộc biểu t́nh, các lực lượng vơ trang thẳng tay đàn áp các cuộc đ́nh công. Y dẫm đạp lên những lời nói mỵ dân thô bỉ của đảng cộng sản: “ Đảng cộng sản là đội ngũ tiên phong bảo vệ cho quyền lợi của giai cấp công nhân.”

Thế nhưng, đói quá th́ đầu gối phải ḅ. Các cuộc đ́nh công liên tiếp xảy ra. Nhưng tôi đặc biệt nhận thấy rằng: Hầu hết các cuộc đ́nh công đều xảy ra ở phía miền Nam chung quanh Sàig̣n, nhất là tỉnh Đồng Nai và B́nh Dương. Miền Bắc th́ ít hơn.

Tại sao vậy? Tại miền bắc quen đói, quen chịu đựng bóc lột từ trước đến giờ, tại quen bị hà hiếp, đàn áp? Tôi không biết trả lời sao cho đúng.

Trong năm 2007 có tất cả 387 cuộc đ́nh công ở Việt Nam và gần 300 cuộc đ́nh công này xảy ra ở các hăng xưởng có chủ nhân là người ngoại quốc.

Đó là theo lời ông Lê Đ́nh Quang, một viên chức của Vietnam Trade Union.

Gần 400 cuộc đ́nh công lây lan từ hăng này sang hăng khác trở thành một cái dịch đ́nh công ở mức báo động.

Giá tiền lương lao động ở Việt Nam là rẻ mạt rệp. Lợi tức trung b́nh một người lao động chưa tới ngàn đo-la/ năm. So với một công nhân tại các nước phát tiển là 20 lần ít hơn.

Thời thuộc địa tây, ta thử xem mức lương của thợ thuyền ra sao?

Lương công nhân sở Ba Son, Sài G̣n là 0$40, lương ở nhà máy sợi Nam Định là 0$28 và 0$25.

Nếu tính ra một tháng th́ mức lương vào khoảng 5-7 đồng/một tháng. Một công chức thời Tây vào năm 1930, có thể lĩnh lương từ 95-105 một tháng. Như thế, mức lương quá là chênh lệch. Thường th́ muốn biết đích thực giá cả th́ dựa trên giá gạo.

Vào năm 1915 th́ giá một tạ gạo (tạ ta th́ bằng 68kg) là 2 đồng 48 chiêm (chiêm chắc là xu), lương công chức vào khoảng 55-65 đồng. Nghĩa là dư dả. Nhưng lương công nhân th́ không đủ ăn, cùng lắm chỉ đủ mua gạo.

So với lương công nhân bây giờ khoảng 60 đô la/tháng. Một tô phở ngon ở Sàig̣n là 24 ngàn. 60 đô la ăn được 80 chục tô phở. Ăn 80 chục tô phỏ xong th́ lấy ǵ để sống.

Dầu vậy, công ăn việc làm không có. 60 đô la trở thành con đường cứu rỗi của nhiều thanh niên, thiếu nữ ở nhà quê. Có c̣n hơn không.

Theo chính ông cựu Thủ tướng cộng sản Vơ Văn Kiệt nhận xét: Người nghèo bị loại ra ngoài. Phát triển ở Việt Nam là hoang dă, Theo tổ chức UNDP, 20% người lao động nghèo ở Việt Nam chỉ chiếm 9% GDP-Tổng Sản lượng Nội địa. Trong khi đó 20% người giầu có chiếm 44.3% GDP. Tỉ lệ chênh lệch giầu nghèo là 34.4%.

Mặc dù vậy, người dân đổ xô đi làm lao động tại các xí nghiệp chế xuất. Không phải tự nhiên mà chỉ riêng tỉnh Đồng Nai đă có 450 xí nghiệp do các công ty nước ngoài làm chủ với số công nhân gần 300 ngàn người. Có thể nói các công ty mọc lên như nấm. Giá đất leo thang không kịp thở.

Đó cũng là hiện tượng kinh tế tương tự vào những năm sau thế chiến lần thứ nhất. Thực dân Pháp cũng không khác ǵ, đổ xô đi khai thác mỏ và đồn điền. Các giấy phép xin khai thác vào năm 1914 chỉ có 257. Đến năm 1926 tăng lên 1923 và năm 1930 vọt tăng lên 17.865. Các công ty mỏ ra đời, than, sắt, thiếc, kẽm ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng, Đông Triều, Mao Khê. Năm 1913 chỉ có 1200 công nhân mỏ. Năm 1928 đă lên tới 54.955 người. Cũng vậy, công nhân đồn điền cao su trước năm 1914 chỉ có 7, 8 ngàn người. Năm 1929 đă lên đến 8 vạn người.

Chưa kể các công nhân các công ty xí nghiệp mọc lên ở Nam Định, Hải Pḥng, Hà Nội như các nhà máy rượu, máy xi măng, máy in, máy gạch, đưa số công nhân từ 12.000 người năm 1905 lên con số 53.240 năm 1930. (Trích tập san sử địa ngoài Bắc, tháng 4/1957, số 27).

Qua một vài con số phác thảo trên cho thấy có sự giống nhau ở thời kỳ thực dân Pháp và sự khai thác thị trường công nhân lao động giá rẻ tại các nước kém mở mang bây giờ.

Trở lại bài viết, từ đầu năm 2008 đến nay, đă có thêm 16 cuộc đ́nh công lớn nhỏ như các cuộc biểu t́nh tại các doanh nghiệp Peaktop, All Super Garment, Asia Garment, Harranda, Key Hinge, Danu Vina.

Nhân viên của Tae Kwang Vina và giầy Nike
Nguồn: libcom.org


Nên nhớ rằng một số các công ty đều là trung gian chế xuất làm việc cho các các hăng lớn Như công ty chế tạo giầy cho Nike. Họ có đến 10 nhà máy hoạt động ở Việt Nam. Và hằng năm số lượng giày sản xuất là 75 triệu đôi giày. Theo hăng tin AP cho hay ngày 29 tháng 10, năm 2007, 14 ngàn công nhân do chủ Hàn Quốc, Tae Kwang Vina sản xuất giày cho Nike đă đồng loạt đ́nh công. Riêng hăng Tae Kwang Vina sản xuất 7 triệu rưởi đôi mỗi năm. Nếu chúng ta làm một con tính với 14 ngàn công nhân làm việc. Trung b́nh một năm, mỗi công nhân làm được 535 đôi giầy. Tính giá bán trung b́nh một đôi là 100 đô la. Tiền công một đôi giầy là khoảng hơn một đô la trên giá bán 100 đô la.

Sự bóc lột thấy rơ.

Tiếp theo hăng Tae Kwang Vina, gần đây nhất, có cuộc đ́nh công của công nhân hăng Ching Luh cũng có hợp đồng với hăng giày Nike, ở dưới Long An. Riêng Ching Luh có mặt ở Việt Nam từ 2002 và sử dụng 21.000 công nhân. Sản lượng giày dép một năm là 12% trong số 75 triệu đôi giày. Lương công nhân là 59 đô la. Nay họ muốn tăng lương là 20%. tháng. Tức là đ̣i tăng 12 đô la một tháng. Nạn lạm phát phi mă tăng giá cả tiêu dùng lên từng tháng đến 15% th́ việc tăng lương 20% cũng chẳng thấm thía vào đâu. Mặc dầu cuộc đ́nh công đă chấm dứt và công nhân đành chấp nhận mức tăng lương là 100.000 đồng một tháng thay v́ 200.000. Nhưng khi công nhân trở lại làm th́ xảy ra cuộc ẩu đả giữa một công nhân và nhân viên an ninh. Cảnh sát đă đến can thiệp và nhà máy làm giày Nike, chủ Đài Loan đă phải tạm đóng cửa trong ba ngày.

Trên đây là những công ty tiêu biểu, lương bổng “đàng hoàng” mà công nhân c̣n đói. Huống chi các hăng xưởng nhỏ khác. Ông Alan Marks, phát ngôn viên của hăng Nike nói rằng, họ khuyến khích cả hai bên ngồi xuống để thảo luận và giàn xếp những khác biệt. Nhưng với t́nh h́nh lạm phát phi mă như hiện nay, giá cả thực phẩm tiêu thụ có thể tăng từng ngày, tương lai đời sống công nhân làm việc trong các hăng xưởng sẽ là nạn nhân đầu tiên của t́nh trạng kinh tế lạm phát hiện này ở Việt Nam.

Tương lai quả thật không sáng sủa ǵ. Cộng thêm với nạn tham nhũng hoành hành đục phá rỗng đất nước ra từng mảnh. Một tỉ dụ nhỏ trong việc tham nhũng có bằng cớ. Hiện nay, Việt Nam phải nhập cảng giấy từ Canada. Nhưng các quan chức đă khai man, gian lận. Họ nhập cảng giấy vào Việt Nam, sau đó xuất cảng ngược lại bán sang Mỹ mà giá thành thấp hơn giá bán nhập cảng từ Mỹ sang Canada. Đó là một hiện tượng quái gở, nhưng có thật đến không hiểu được chỉ v́ lư do tham nhũng.

2.T́nh trạng công nhân xuất khẩu lao động

Xưa nay, người ta chỉ nói tới xuất khẩu sản phẩm tiêu dùng, xuất khẩu nguyên liệu. Nhưng nay th́ có hiện trạng xuất khẩu người. Hàng hóa không phải là những chiếc xe, nhựng bộ quần áo, con cá, con tôm. Nhưng là chính con người. Thường là những người trẻ ở thôn quê, tuổi 19 đến 35.

Con người vẫn được coi là vốn quư. Nhưng hơn ở đâu hết, con người Việt Nam là rẻ. Rẻ như bèo. Nhất là phụ nữ.

Thống kê không lấy ǵ làm chắc chắn cả th́ hiện nay có hơn 100 ngàn phụ nữ Việt, phần đông sống ở thôn quê, ít học, không có công ăn việc làm đă được bán sang Đài Loan, Đại Hàn, Hồng Kông, Trung Cộng. Họ được bán sang các nước này dưới danh nghĩa “lấy chồng”.

Mới đây chính phủ Cam Bốt có lệnh cấm phụ nữ Campuchia không được lấy chồng ngoại quốc như Đài Loan. Đó là bài học mà chính quyền cộng sản Việt Nam có thể học từ người Campuchia, mặc dầu họ c̣n nghèo gấp bội so với Việt Nam.

Nhưng bài này nhằm viết về t́nh trạng công nhân xuất khẩu lao động, một h́nh thức đem con bỏ chợ. Vô trách nhiệm. Vô nhân đạo của chính quyền CS.

Xuất khẩu lao động nằm trong chính sách của nhà nước, giải quyết một phần chính sách “Xóa đói giảm nghèo”, giảm bớt miệng ăn, giải quyết nạn thất nghiệp. Một năm, có thêm khoảng một triệu người trẻ gia nhập thị trường lao động. Làm sao giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho một triệu người mới tới?

Riêng trong năm 2007, Việt Nam xuất khẩu 82.000 lao động và thu về cho nhà nước 2 tỉ Mỹ kim. Con số 82.000 năm nay cộng với các năm trước có thể là vài trăm ngàn người tương đương với con số cu ly làm trong thời Pháp thuộc là 221.052 ngàn người làm trong các đồn điền, hầm mỏ, nhà máy. Không kể các công nhân làm thuê cho các nhà hàng, tiểu chủ, tư bản tư nhân người Pháp.

Thị trường lao động Việt Nam ở Mă Lai coi như trúng mùa. Vào tháng 04/2004 tiếp theo sau đó, thị trường xuất khẩu lao động sang Mă lai đạt “thành quả tốt đẹp”. Nó là giấc mơ của dân lao động Việt Nam. Nhưng kể từ 2006, thị trường này coi như sút giảm đáng kể. Năm 2007, chỉ c̣n hơn 20 chục ngàn người sang Mă Lai. Đến 2008, con số đó tụt xuống chỉ c̣n một nửa.

Lương trung b́nh ở các nước khu vực Đông Nam Á và Trung Đông ở vào khoảng 4-6 triệu đồng. Nếu có chuyên môn, tay nghề th́ mức lương vào khoảng 6-8 triệu đồng Việt Nam. Nhưng thực tế th́ không như vậy. Chẳng hạn, có 200 công nhân được gửi sang Jordan làm cho hăng may mặc W&D Apparel Jordan Corp với mức lương được hứa trả là 220 Mỹ kim một tháng. Thực tế họ chỉ được lănh từ 80-120. Khi quyết định không đi làm, đ̣i về Việt Nam th́ chủ t́m cách bỏ đói, bị cảnh sát địa phương đánh đập. Lănh sự hay ṭa đại sứ Việt Nam làm lơ.

(Theo phúc tŕnh của Ủy ban cứu người vượt biển).

Theo Trần Ngọc Thành, ông có làm một phóng sự từ Malaysia và đây là những lời tâm sự của những người lao động trẻ:

Cháu sang đây đă hơn hai năm, làm chẳng đủ ăn, làm sao trả hết nợ được chú. Công ty của cháu hợp đồng một đường làm một nẻo, chú bảo đấy là hợp đồng với môi giới, th́ gọi môi giới mà hỏi, c̣n đây là yêu cầu của công ty, làm th́ làm không làm th́ nộp phạt 2000 ringit, tự mua vé máy bay mà về Việt Nam. Trời ơi. 2000 ringit, hơn 600 đô la Mỹ tiền phạt, rồi tiền vé máy bay, 30 triệu tiền nợ lăi. Lấy đâu? Gọi điện thoại cho môi giới: xin lỗi quư khách số này hiện nay không c̣n liên lạc được, xin quư khách gọi lại sau.”

Và xin đọc thêm một đoạn trích dẫn về tiền lương của người cu ly thời Pháp:

“Để kiếm được nhiều lợi nhuận hơn nữa, chúng c̣n tăng cường dùng nhân công đàn bà và trẻ con. Công việc đàn bà trẻ con làm chẳng kém phần nặng nhọc so với đàn ông, nhưng họ chỉ được hưởng mức lương thấp chừng nửa lương đàn ông hay trên một chút. Trên sổ sách, lương công nhân được ghi chép rơ ràng rành mạch, nhưng có có bao giờ họ được lĩnh đủ số tiền lương đó đâu. Công nhân nhiều nơi lại không được trực tiếp lĩnh tiền công ấy. Những tên cai, sếp chủ mộ là những tên trung gian c̣n ăn cướp giật một lần nữa”

(Trích số 27, tập san Sử địa, tháng tư-1957).

Những sự việc trên xem ra có khác ǵ thời thực dân Pháp:

“Trước khi bước vào cuộc đời làm thợ, người công nhân được kư vào bản giao kèo đầy điều kiện tốt đẹp. Giờ làm, giờ nghỉ, tiền lương, nhà ở, thuốc men, bảo hiểm xă hội, mục nào cũng thi hành như luật lao động quốc tế. Nhưng tới khi đă bước chân vào hầm mỏ, nhà máy hay đồn điền th́ những điều tốt đẹp chỉ là những lời lừa bịp trắng trợn. Giao kèo biến thành tờ giấy lộn, để đó hay xé đi cũng thế thôi không luật pháp nào ngăn cản. Chưa nói đến chế độ làm việc quá khắt khe với món tiền lương chết đói...”

Người viết những đoạn văn trên là Nguyễn B́nh Ninh, vào năm 1957... Có thể nay ông đă quá văng.. Nhưng nếu may mắn ông c̣n sống th́ hiện trạng mà ông vừa tố cáo chế độ thực dân cũng là gián tiếp tố cáo chế độ hiện nay. Nó giống y hệt hoàn cảnh các lao động Việt Nam bị đem xuất khẩu.

Bởi v́ giao kèo kư với thực dân tây và giao kèo kư với thực dân ta chỉ là những tấm giấy lộn.
Được biết, theo các anh chị em công nhân, từ khi xuất khẩu được công nhân sang đây, tuyệt đại đa số công ty môi giới coi như hết trách nhiệm. Công nhân bị xén lương bổng, ốm đau, bị thương, ngay cả chết. Công ty môi giới phủi tay.

Các công ty môi giới này y hệt các sở mộ phu thời trước mọc lên ở các tỉnh nam Định, Thái B́nh, Quảng B́nh, Quảng Trị với những tên chủ mộ nổi tiếng lừa bịp như Bazin, F. Schmidt, Trouilleux với các tên chủ hăng như De Vogue, De Chambour, De la Chaume..

Tính từ năm 2004 đến nay, có đến 315 công nhân bị chết. Con số lớn thật khủng khiếp.

Nhiều người làm việc quá mệt mỏi, đi làm về, không cầm nổi bát cơm lên ăn,. Ốm yếu, mệt mỏi suy nhược với thời gian làm việc 15 tiếng đồng hồ ngày.

Và nhiều người đă nằm xuống và không bao giờ dậy.

Và đây là t́nh trạng phu đồn điền từ lúc bị mộ phu mang đi: “Trước khi xuống tầu, những người phải đưa sang đảo Thái B́nh Dương bị nhốt vào các căng riêng biệt. Lính khố xanh canh gác, cấm gia đ́nh bè bạn lại gặp họ. Những người đem vào đồn điền Nam Kỳ th́ lên cam nhông hay tầu hỏa vào nam có bọn giám thị mang súng áp tải. Trên đường đến địa điểm làm việc, họ đă hiểu số phận: có người thất vọng nhảy bừa xuống đường trong lúc ô tô hay tầu hỏa đang phóng nhanh.”

Bao nhiêu cu ly đă phải trốn đi v́ roi vọt của những tên cai, xếp. Đi làm chậm bị đánh. Nghỉ tay một chút bị đánh. Nhiều người đă trốn đi. Nhưng trốn đi đâu? Nhiều người khác đă gục xuống cho những cây cao su lớn lên.

Ai chịu trách nhiệm về những cái chết ấy? Thứ trưởng Lao động Nguyễn Thanh Ḥa đă gian dối, lấp liếm và lường gạt, đổ lỗi cho việc khám sức khỏe cho lao động đi Malaysia quá đơn giản.

Trường hợp anh Lâm Văn Có, quê ở Hải Pḥng, vay tiền với lăi xuất cao để được đi lao động. Sang đây, theo yêu cầu của môi giới Việt Nam, chủ trừ tiền lương hàng tháng để trả cho môi giới. Theo hóa đơn của chủ, số tiền vay đă trả hết từ lâu, nhưng chủ cứ tiếp tục trừ. “V́ yêu cầu của phía Việt Nam”. Không căi được, sự chịu đựng có hạn, anh bỏ ra làm ngoài. Nhiều anh chị em xa nhà đă 6 năm, nhưng chưa một lần về nước, dù Kua Lumpur cách Sài G̣n chỉ hơn một tiếng bay.

Chờ trúng tuyển đi lao động nước ngoài
Nguồn: vietnamaaa.noosblog.fr


Báo chí Việt Nam đưa tin về những vụ trấn lột, cướp của giết người dă man do những công nhân bỏ hợp đồng ra ngoài bất hợp pháp gây ra. Lănh đạo phía Việt Nam phủi tay, đại sứ quán phủi tay, quản lư lao động phủi tay, môi giới phủi tay. Tất cả tội lỗi đều trút lên đầu những tên tội phạm. Nhưng ai đă làm thủ tục, ai thu tiền để cho họ xuất khẩu.. Ai cấp hộ chiếu, ai đầy họ vào bước đường cùng. Ai cho phép chủ ngoại quốc giữ hộ chiếu có sự thỏa thuận của phía Việt Nam để pḥng hờ công nhân trốn? Không có giấy tờ, không có hộ chiếu, sống bất hợp pháp rồi bị bắt. Ai trách nhiệm?

Đă đến lúc nhà cầm quyền cộng sản cũng như chính phủ Malaysia phải có trách nhiệm điều tra những cái chết vừa nêu trên.

UBBV lao động đă lên tiếng cảnh báo, gióng lên một tiếng chuông và trông chờ sự tiếp tay của cộng đồng hải ngoại qua báo chí khơi động lên tiếng nói, đ̣i nhà cầm quyền Việt Nam trách nhiệm điều tra về những nạn nhân đă chết ở Kuala Lumpur.

Phía Tổng liên Đoàn Lao động của Malaysia, họ chờ phía Việt Nam lên tiếng để họ can thiệp. Họ cho biết, năm 2005, có 600 công nhân Việt Nam đói khát, tập trung kêu cứu trước sứ quán Việt Nam ở Kua Lumpur. Đại diện Liên Đoàn lao động Malaysia mời sứ quán Việt Nam tới bàn bạc. Sứ quán Việt Nam lên tiếng: “Chúng tôi không dám lên tiếng, nếu chúng tôi lên tiếng th́ phía Malaysia sẽ ngưng tiếp nhận lao động Việt Nam”.

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Ḥa giải thích: “ So với người ở trong nước. Thiệt mạng giữa độ tuổi 25-30 th́ tỉ lệ người lao động ở Việt Nam tử vong ở thị trường Malaysia thấp hơn 2.3 lần". Đó là lối nói chạy trách nhiệm vô đạo đức.

Trước t́nh trạng khốn khổ, cơ cực của công nhân xuất khẩu lao động. Nhiều công nhân đă trốn về. Theo Trịnh Giang Nam đă sang Malaysia từ năm 2006, dù c̣n một năm nữa mới hết hạn hợp đồng, nhưng Nam quyết định về nước bởi công việc quá cực nhọc, lương bổng chẳng ra ǵ” Theo báo Người lao động, cha mẹ Nam phải vay nợ ngân hàng công thêm tiền của nhà cho đủ 20 triệu đồng để anh đi, mong có chút vốn cưới vợ, làm ăn sau này. Lănh lương 650 ringit, chưa trừ thuế và tiền ăn uống. Lănh lương xong, trả nợ bạn bè coi như hết.

Tôi có cảm tưởng những lời tố giác vào năm 1957 để tố giác Tây Thực dân thuộc địa tàn ác, bóc lột th́ nay nó chính là phiên bản của chính quyền Cộng sản đang làm. Cũng ăn chặn lương của công nhân làm cho các hăng ngoại quốc. Cũng để cho bọn môi giới, đầu nậu ăn cướp bóc lột, cũng bênh vực bọn chủ ngoại quốc, ngăn chặn biễu t́nh v́ đă được bọn chủ Đài loan, Nam Hàn đấm mơm.

Hỏi xem có điều ǵ khác biệt giữa bon Tây thuộc địa và chính quyền cộng sản Việt Nam hiện nay?

Và cuối cùng th́ Nam cho biết: “Bố em thấy công việc như vậy gọi điện thoại bắt về”. Chỗ em có 11 người th́ chín người đă bỏ về rồi.

Trường hợp Nguyễn Tiến Thành ở Tuyên Quang. Lúc Thành ra đi, bố mẹ Thành đă phải bán ba con ḅ, một con bê mới đủ tiền trả cho công ty môi giới. Để có thể về nước, Thành đă phải chắt chiu, bóp mồm bóp miệng dành dụm gần 2000 ring để chuộc lại hộ chiếu từ công ty đầu tiên, lo các thủ tục giấy tờ và vé máy bay. Về đến nhà Thành là tay trắng, nhưng Thành c̣n may mắn hơn người khác. Không có tiền để mà về.

Đây là một thảm cảnh diễn ra ở khu mỏ Ḥn gay để nhắc nhở thảm cảnh bây giờ: “ Bốn người trốn đi đă bị bắt: ba phụ nữ và một đàn ông. Người số 9 (người nào cũng đeo số như ở nhà lao) là một phụ nữ trẻ, 21 tuổi. Người số 1021 là một phụ nữ 30 tuổi đang có thai 6 tháng. Người số 812 là một phụ nữ đă có 3 con. C̣n người đàn ông 21 tuổi. Người ta đă bắt được họ. Họ phải nằm dài xuống đất theo như thường lệ. Anh chạy giấy lấy giây thép quấn xung quanh chiếc roi. Mỗi người phụ nữ bị đánh 10 roi vào thịt, c̣n người đàn ông chịu 20 roi.” Ở đồn điền cao su Nam kỳ cũng vậy, việc đánh đập cũng diễn ra tàn khốc. Bọn chủ su, cai đủ quyền tự do đánh đập, hiếp tróc công nhân.

(Đây là bài viết phóng sự được trích dẫn từ một bài báo của ông H. Danjou).

Và có lẽ câu trả lời của Minh, ở Phú Thọ tóm tắt đầy đủ câu chuyện người lao động bị xuất khẩu: “Cha mẹ muốn em ở lại thêm một thời gian để đưa em trai sang, nhưng em nhất quyết là không, một người chịu khổ đă quá đủ"

Và đây là tiếng gào thét biến thành lời nguyền rủa căm thù của người cu ly đồn điền cao su:

Ôi, nghĩa địa đâu đây,
Bao nấm mồ thiêng
Vùng lên thét vào mặt chúng
Cùng bao cánh tay lao khổ.
Quật chúng xuống bùn đen đất cái.
Rồi ta làm chủ lấy ta,
Cơm no áo ấm sống đời vui ca.

Người viết nghĩ rằng những khát vọng vùng lên, quật chúng xuống cho đến bây giờ, lúc này vẫn là điều cần thiết phải làm. V́ những kẻ bóc lột, hút máu người công nhân lao động vẫn c̣n đó. C̣n giấc mơ. Rồi ta làm chủ lấy ta, cơm no áo ấm sống đời vui ca vẫn chỉ là những thiên đường mù, không biết bao giớ tới được.

32 năm “thống nhất” đất nước. 27 năm đổi mới, câu hỏi chưa có câu trả lời là Việt Nam đi về đâu và đang ở đâu...

© DCVOnline