Từ cộng sản sang thực dân (I)

Nguyễn Văn Lục


Cao su đi dễ khó về,
Trai đi bỏ xác, gái th́ ra ma



Từ chủ nghĩa Cộng sản sang chủ nghĩa thực dân

Chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới đă tiêu phí trên 100 triệu sinh linh từ gần một thế kỷ nay nhằm tiêu diệt những “thế lực phản động” như tư bản, phong kiến và thực dân. Theo Jung Chang và Halliday trong The Unknow Story, xuất bản năm 2005, Mao Trạch Đông trách nhiệm về cái chết của hơn 70 triệu dân Tầu (Mao... who for decades held absolute power over the lives of one-qurter of the world’s population, was responsible for well over 70 millions deaths in peacetime, more than any other 20th century leader.

Trích trong Los Angeles Times, April 13, 2008)
 

Phần c̣n lại của con số hơn 100 triệu sinh linh là phần trách nhiệm của Joseph Staline và đồng bọn.

Riêng Việt Nam, nếu chỉ kể từ 1946, Hồ Chí Minh đă tiêu phí khoảng 5 triệu nhân mạng dân Việt. Nghĩa là một phần tư dân số người Việt thời 1946 đă bị hy sinh cho lá bài của đảng cộng sản Việt Nam.

Nhưng khi côäng sản trên toàn thế giới sụp đổ th́ thế giới đă không tốn một giọt máu. “Tự nó” tan ră. Tự nó sụp đổ. Chúng ta cần nh́n cho rơ vấn đề tại sao đă không tốn một giọt máu đủ khiến cho thế giới cộng sản tan ră.

Người cộng sản Việt Nam hẳn cũng nhận ra nguyên nhân của sự tan ră của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới mà trước sau họ chỉ là cái đuôi thừa.

Nếu chịu khó nh́n lại lịch sử Việt Nam, Hồ Chí Minh đă cúi mặt kư Hiệp định sơ bộ ở Hà Nội, ngày mồng 6 tháng 3 với chữ kư của Sainteny, Hồ Chí Minh và kèm bên dưới chữ kư của ông Vũ Hồng Khanh. Hiệp định sơ bộ đă làm thất vọng mọi người, nhất là các đảng phái quốc gia v́ không đạt được hai điều: Độc lập và thống nhất.

Hồ Chí Minh cũng đă lừa được vua Bảo Đại, GM Lê Hữu Từ ra làm cố vấn “bù nh́n”, sau đó lại t́m cách tống khứ Bảo Đại sang Tầu, lừa cụ Nguyễn Hải Thần, cụ Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Tường Tam trong chính phủ “đoàn kết kháng chiến” bằng cách đă tặng không 70 ghế cho các nhóm Quốc dân và đồng minh trong ngày bầu cử Quốc Hội ngày 6 tháng giêng 1946 để có thể chính thức thành lập chính phủ” Đoàn kết kháng chiến” vào ngày 03/03/1946, tiếp đến là hội nghị Đàlạt 12/05/1946.

Sau khi Hội nghị Fontainebleau tự giải tán vào ngày 12/09/1946, Hồ Chí Minh đă lén lút đến nhà Bộ trưởng Hải quân pháp Moutet vào buổi tối kư một tạm ước... (đặc biệt trong đó không đả động ǵ đến chính phủ Nam Kỳ tự trị...) Và cuối cùng vào lúc tám giờ rưỡi tối, ngày 19 tháng 12, 1946 mở đầu cuộc chiến tranh Việt-Pháp.

(Trích Một vài kư văng về Hội nghị Đà lạt của Hoàng Xuân Hăn).
 

Chiến tranh Việt-Pháp kéo dài 3 năm. Đến năm 1949, Vua Bảo Đại đă chấp nhận về nước với điều kiện người Pháp phải trao trả độc lập và thống nhất 3 kỳ. (Không c̣n có chế độ Nam Kỳ tự trị nữa). Việt Nam đă được Pháp trao trả độc lập vào ngày 08/03/1949, tại điện Elysées, Paris. Theo kư kết giữa Tổng Thống Pháp Vincent Auriol và vua Bảo Đại, trong đó nước Pháp công nhận nước Việt Nam được độc lập, thống nhất trong khuôn khổ của Liên Hiệp Pháp. Chúng tôi sẽ xin đăng lại toàn bộ các văn kiện, các bài diễn văn liên quan đến Hiệp định Élysées này. Bởi v́ rất nhiều người Việt Nam đă quên, đă không nhớ, không muốn nhớ tới nhất là đảng cộng sản miền Bắc.


Từ đây trở đi tôi đă thu hồi được đất Nam Kỳ, tôi coi như nhiệm vụ của tôi về điều đ́nh đă chấm dứt.... Sau nữa thỏa hiệp này trước mắt tôi chỉ là một giai đoạn để tiến tới độc lập hoàn toàn. Sự thành đạt về độc lập như thế đă xảy ra cho các nước lân cận ở Đông nam Á như Phi Luật tân, Miến Điện, Án Độ làm tôi càng tin tưởng trong hy vọng. Tôi tin tưởng rằng htỏa ước mùng 8 tháng 3, 1949 phải là một yếu tố nhất định đưa đến văn hồi hoà b́nh. Hỏi Việt Minh c̣n có thể đ̣i hỏi ǵ nữa khi tôi đă thành công, mà họ th́ bị thảm bại ờ các Hội Nghị Fontainebleau và Đà lạt vào năm 1946.

(Theo hồi kư của Bảo Đại)


Mặc dầu văn kiện này chỉ là một giải pháp giai đoạn, giải pháp Bảo Đại (La solution Bảo Đại) đă là buớc mở đầu có thể giúp chúng ta tiến được một bước lớn trên con đường tranh đấu dành độc lập cho Việt nam mà chắc chắn là chúng ta sẽ không phải tiếp tục mang sinh mạng người Việt Nam ra để mua lấy độc lập tự do nữa. Chúng ta đă tránh được chiến tranh và chắc chắn đỡ tốn những giọt máu chảy ra vô ích. Đảng cộng sản Việt Nam bị đặt ra bên ngoài Hiệp định, v́ không kư vào hiệp định đó nên họ tiếp tục chiến tranh, để cuối cùng họ chỉ được chia nửa nước Việt nam cho riêng họ. Họ bằng ḷng với phần bánh được chia đó bất kể số phận đất nước bị chia cắt làm hai. Phần phía người quốc gia đă không chấp nhận sự phân chia đó. Những ai c̣n cho rằng chỉ có cộng sản mới có công dành được độc lập, thống nhất đất nước bằng chiến tranh th́ nên nh́n lại giải pháp Bảo Đại.

Ngày đó, chúng ta có đủ các yếu tố khách quan của t́nh h́nh thế giới để thu hồi độc lập. Xu hướng giải thể chủ nghĩa thực dân (decolonisation) trước sau như vết dầu loang đứng trước nguy cơ tranh chấp lưỡng cực giữa thế giới Tư Bản và Cộng Sản. Nhiều nước bị trị đă dành lại được độc lâp mà không cần mang sinh mạng người dân ra thế chấp.

Cộng sản Việt Nam đă nằm trong gọng ḱm của cuộc đối đầu đó nên đă không nh́n ra cái xu hướng chính trị giải thể ấy. Hoặc nh́n ra, nhưng họ bị ràng buộc bởi nghĩa vụ quốc tế, bởi tham vọng của họ lớn hơn nhu cầu độc lập, thống nhất: tham vọng của chủ nghĩa bá quyền cộng sản trên toàn thế giới?

Nay th́ chủ nghĩa cộng sản đă tan ră trên toàn thế giới. Mối đe dọa v́ chủ nghĩa này đă biến dạng. Bởi v́ thế giới đang đứng trước nguy cơ của một chủ nghĩa thực dân mới, một thứ chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Hoa trong đó có cái đuôi cộng sản Việt Nam.

Tên chủ nghĩa mới của Cộng sản Tầu và Việt Nam bây giờ là chủ nghĩa thực dân mới.
Dân số Trung Hoa hiện nay chiếm 1/5 dân số thế giới. Nhưng về nhiều mặt, ho đang ra sức lấn át, chèn ép, đe dọa, cạnh tranh bằng mọi mánh khoé, cường bạo về nhiều mặt, đe dọa chẳng những trật tự kinh tế thế giời, đe dọa môi sinh môi trường, ảnh hưởng trực tiếp trên thị trường thế giới, ảnh hưởng trên cán cân mậu dịch... Từ đó Trung Hoa trở thành mối lo ngại cho tất cả các nước láng giềng lớn nhỏ, ngay cả Nhật cũng như Mỹ cũng như tạo ra một ám ảnh đen tối đến viễn tượng Hoà B́nh thế giới.

Hăy thử nh́n xem, nội cái ăn, Trung Cộng ngốn nửa số lượng thịt heo. Chưa kể ½ số lượng xi măng, 4/5 lượng đồng và 1/3 nhôm quặng thế giới. Giá dầu lửa hiện nay tăng phần lớn là do Trung cộng nhập năng lượng dầu lửa gấp hai lần trước đây.

Về kinh tế, Trung cộng tạo ra những bùng nổ chu kỳ (cyclical expansion) và hơn thế nữa những siêu chu kỳ (supercycle) ảnh hưởng đến nhiều nước trên thế giới về giá cả, thị trường tiêu thụ, thất nghiệp..

(Trích ra từ bản dịch bài viết của tờ The Econosmist, 13/03/2008.)
 

Lẽ dĩ nhiên, để giải quyết những bài toán tiêu thụ khổng lồ về nguyên liệu ṛng đó cũng như những khó khăn về ô nhiễm môi sinh, môi trường, Trung cộng trong tương lai không thể nào không xử dụng bạo lực đủ loại mà ta gọi chung là một thứ thực dân mới.

Ở Việt nam hiện nay, với hơn 80 triệu dân và với 3 triệu đảng viên mà thực chất bên trong là một thứ thực dân mới chỉ biết vơ vét làm giầu, bóc lột tận xương tủy người nghèo bằng bạo lực và lừa đảo.

Đảng cộng sản Việt Nam đă vơ vét bằng bạo lực nhà cửa, tài sản của hàng triệu người di tản, từ quần áo, tiền bạc, vàng bạc, tài sản nhà cửa để mang về Bắc. Dùng chính sách cai trị, đàn áp bằng dân số (demographic agression) như Trung cộng đă dùng đối với dân Tây Tạng. Miền Nam Việt Nam hiện nay chỗ nào cũng bị người miền Bắc cài đặt, chỉ huy, lấn át. Tôi đă đi, đă thấy hàng dăy cửa hàng tại những đường phố lớn Sài G̣n ngày nay, chủ nhân các cửa hàng nói toàn giọng Bắc kỳ 75. Họ vơ vét, họ lừa đảo nhét cho đầy túi tham vô đáy thay thế những Tây thuộc địa mà chính họ đă hô hào, tranh đấu, hy sinh sinh mạng của nhân dân để lật đổ. Họ đă thay thế những kẻ mà trước đây họ nguyền rủa. Và sợ rằng,.họ c̣n tồi tệ hơn những kẻ ngoại xâm mà họ thay thế.

Họ chẳng những vơ vét, thanh trừng mà c̣n lừa đảo tất cả mọi người.

Lừa đảo những người kháng chiến Nam Bộ mà đại diện là Nguyễn Hộ, Phạm Khải( Ba Ka) thượng tướng Trần văn Trà, Đổ Trung Hiếu và với hằng trăm chữ kư, bản kiến nghị... Chúng tôi khát khao mong mỏi những tập hồ sơ sau đây được phổ biến sâu rộng cho mọi người.


• Thứ nhất, tập hồ sơ: Quan điểm và cuộc sống của ông Nguyễn Hộ, dày 50 trang, TN 1994.

• Thứ hai, tập Hồ sơ Kháng chiến Nam Bộ với những tài liệu, những thơ kháng nghị gửi chính phủ, với danh sách đầy đủ tên tuổi những người kháng chiến Nam bộ bị loại trừ gói chung trong tập: Những người kháng chiến cũ, TN, 1995, dày hơn 100 trang

• Thứ ba, tài liệu liên quan đến giáo hội Phật giáo qua tập hồ sơ Phật giáo thống nhất. Tài liệu này cho biết Hà nội đă tổ chức, đài thọ, nhất là chọn danh sách tăng sĩ , chọn 140 đại biểu miền Nam được ở nhà khách chính phủ để cho đi phó hội, trong đó không có một khuôn mặt có thẩm quyền của Phật giáo trước 1975: Thượng tọa Thích Trí Quang. Loại trừ Thích Quảng Độ và Huyền Quang, trục xuất ra khỏi thành phố, đưa ra Thái B́nh quản thúc tại chùa Long Khánh ở xă Vũ Đoài. Hiến chương được kư kết với sự có mặt của TBT Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Hữu Thọ...tại Hà nội ngày 29, tháng 12 năm 1981 với những chữ kư sau đây: Thay mặt đoàn chủ tịch: Ḥa thượng Thích Đức Nhuận. Hoà thượng Thích Trí Thủ. Thay mât đoàn thư kư hội nghị: Thương tọa Thích Minh Châu. Sau đó có duyệt chính thức của nhà nước Cộng sản như sau: Số 83 BT. Đă duyệt bản Hiến chương Giáo Hội Phật giáo Việt Nam gồm: Lời nói đầu và 11 chương, 46 điều.. Và kư duyệt tại Hà nội ngày 29 tháng 12 năm 1981. Bộ Trưởng Tổng Thư kư Hội đồng Bộ trưởng. Đặng Thí. (đă kư và đóng dấu). Hồ sơ này cho thấy bản chất thực sự của Giáo hội Phật giáo hiện nay là ǵ.

• Thứ tư, lừa đảo MTGPMN như nhiều người đă biết rơ sau 1975. Chỉ xin trích dẫn một nhận xét của Vũ Thư Hiên: “Trẻ con miền Bắc cũng biết Mặt Trận Giai Phóng Miền Nam là do miền Bắc dựng nên”.

• Thứ năm, bỏ qua cơ hội lập quan hệ ngoại giao b́nh thường với Mỹ theo học thuyết “thái B́nh Dương Mới” của tổng thống Ford ngay sau khi chiến tranh chấm dứt 1975 nhằm kiến tạo lại những hậu quả chiến tranh Việt Nam như trong hồi kư Hối ức và suy nghĩ của ông cựu thứ trưởng bộ ngoại giao CS Trần Quang Cơ tiết lộ. Sự cắt đứt liên hệ ngoại giao với chính phủ Hoa Kỳ là nguyên do gián tiếp xảy ra chiến tranh Việt -Trung v́ quan thầy Trung quốc muốn “dạy cho Việt Nam một bài học”. Phải mất 20 năm sau, 1995, Việt Nam mới thiết lập được các quan hệ b́nh thường với Hoa Kỳ.
 

Cho đến bây giờ họ vẫn tiếp tục lừa đảo như thế. Dịch tả đang hoành hành trên gần 20 tỉnh thành ở Việt Nam, nhưng họ vẫn che dấu gọi là bệnh tiêu chảy. Các trí thức như Nguyễn Văn Tuấn, giáo sư đại học Sydney bên Úc, đă từng về nước giúp giảng dạy và hỗ trợ hồ sơ chất độc da cam đă bực tức lên tiếng về ngôn ngữ bịp bợm của chính quyền cộng sản Việt Nam.

Thực dân mới rập khuôn thực dân cũ

Bài viết sau đây dựa trên những dữ kiện về sự bóc lột lao động của chế độ thực dân thời Pháp dựa trên chính tài liệu của miền Bắc để thấy rằng, chính quyền cộng sản hiện nay cũng bóc lột trắng trợn người công nhân lao động không thua ǵ người Pháp.

Đó là chế độ cộng sản đă biến chất trở thành chế độ thực dân ngay chính trên đất nước của ḿnh.
 

Cây cao su gần Củ Chi
Nguồn: andyllama.typepad.com


Hai câu thơ mở đầu bài viết trên nhắc nhớ tới số phận cay nghiệt của cu ly lao động từ miền Bắc vào Nam làm phu cạo mủ trong các đồn điền cao su. Nhiều địa danh đă nổi tiếng một thời, nhắc nhở đủ thứ kinh hoàng. Có những nơi rừng xanh, nước độc, mây mù bao phủ, những con suối trong mà tắm lên là da thịt bị nứt nở chảy nước. Cộng với đủ các thứ bệnh: bệnh báng, bệnh phù, sâu quảng, tê thấp, sốt rét liên miên. Có bệnh nhân tự nhiên lá lách xưng lên, bụng mỗi ngày mỗi to, mắt vàng, đi đứng mệt nhọc nặng nề. Người mắc bệnh phù thủng th́ tóc rụng, người chướng lên, nằm liệt một chỗ nằm chờ chết. Tên những địa danh ấy là các đồn điền cao su Dầu Tiếng, Trảng Bom, Bù Đốp, Xuân Lộc, Lộc Ninh, Long Thành, Quảng Lợi, Xa Cam, Xă Trạch, Bến Củi, Phù Hưng vào những thập niên 1930.

Vào khoảng 1928, khi khai phá khu rừng Lộc Ninh, 4000 công nhân lúc bắt đầu, sau này chỉ c̣n nghót nghét 1000 người.

Họ đi và không có đường về. Con số công nhân làm đồn điền cao su lên đến gần 100,000 người. Phần đă chết, phần lớn ở lại và lập nghiệp luôn ở trong Nam.

Phiá Bắc th́ có những công nhân làm trong các hầm mỏ vùng Hồng Gai, Đông Triều, Cẩm Phả, Tinh Túc, Tràng Đà, Lang Hít, Linh Nham.

Số phận họ cũng thê thảm không kém ǵ. Nhưng ngày nay, t́nh trạng công nhân đồn điền cao su cũng như công nhân hầm mỏ đă được cải tiến từ công ăn việc làm đến lương bổng.

Nếp sống có khá hơn trước về lương bổng cũng như đời sống.

Đó là tàn tích bóc lột, độc ác của chế độ thực dân tây để lại.

Nhưng nay, từ thập niên 1990 trở đi, thay thế các địa danh trên là các khu chế xuất như Sóng Thần 1, Sóng thần 2, nằm ở các tỉnh phía Đông Nam Phần như B́nh Dương, Biên Ḥa mà con số lao động lên đến con số 300 ngàn người.

Có điều ǵ giống và không giống giữa các khu đồn điền tây và các khu chế xuất thực dân ta?

Điểm khác biệt duy nhất là nay dân lao động đói th́ có quyền phản đối, nghĩa là đ́nh công. Đă có rất nhiều cuộc đ́nh công xảy ra ở các nơi ấy do lạm phát cũng có, nhưng do tham nhũng của bọn môi giới, đầu nậu, bọn chính quyền địa phương thông đồng với các hăng ngoại quốc mà phần lớn là Đài Loan, Nam Hàn. Đời sống công nhân lao động liên quan đến lương bổng, bảo hiểm sức khỏe, cũng như các vấn đề xă hội thật là những nan đề xă hội không giải quyết được.

Cuộc sống của người dân lao động trong nước cũng như công nhân” xuất khẩu lao động” đă vất vả trăm chiều. Trong cái trăm chiều, có một chiều mà gái đồn điền cao su có thể được miễn trừ.. Đó là chiều làm điếm. Không dám nói ngoa, đă có nhiều cô gái các khu chế xuất đă phải kiếm thêm bằng nghề làm điếm hoặc đỡ hơn là làm mẹ đẻ thuê.

Tuổi thanh xuân tươi đẹp đă bị dập vùi th́ không trở lại lần thứ hai trong đời.

Bài viết này dùng số phận công nhân lao động thời thực dân Pháp để giúp nh́n rơ hơn số phận người lao động hôm nay có điều gi khác biệt.

Dĩ nhiên nỗi khốn khổ lầm than của người cu ly thời Pháp thuộc với mức sốntg quá thấp kém nói chung của dân chúng như người nông phu miền Bắc th́ được như vậy đôi khi cũng là điều an ủi hay may mắn cũng có, c̣n hơn là chết đói. Nhưng sự tàn độc của thực dân Pháp th́ không thể tha thứ và tránh khỏi bị lên án .
C̣n đối với người công nhân hiện nay ở Việt Nam mà nếu đời sống của họ quá nghèo nàn, cực khổ, quá lầm than, quá nghèo đói th́ trách nhiệm ở chính quyền CS.

Đó là thứ thực dân ta, thực dân nội địa. Tài liệu trích dẫn về chế độ thực dân Tây ở đây sử dụng tài liệu miền Bắc. Họ chửi đúng nói đúng về chế độ thực dân Tây. Nhưng càng chửi th́ như thể chửi chính ḿnh. Chửi chế độ thực dân Tây mà gián tiếp đang chửi chế độ thực dân (CSVN– DCV) ta bây giờ. V́ thế, hăy cứ chửi nữa lên


1. T́nh trạng các công nhân làm việc trong nước hiện nay

Trước đây, một công nhân ở Việt Nam được làm cho một công ty ngoại quốc là một điều may mắn. Họ phần lớn ở thôn quê lên, không có nghề nghiệp chuyên môn, đi kiếm sống và tất cả hy vọng kiếm được công ăn việc làm nơi các xí nghiệp của người ngoại quốc. Lương có thể cao hơn mức lương trung b́nh nói chung khoảng chừng 15%. Công việc làm có thể vững chắc. Tháng tháng có một khoản tiền lương nhất định.

V́ thế, đó là giấc mơ của nhiều dân lao động.

Thời 1930, người nông dân Bắc Việt cũng được tuyên truyền về những giấc mơ như thế:


“Sài G̣n, cao su lắm tiền nhiều của vào làm cao su chả mấy chốc mà giầu, có tiền mua trâu tậu ruộng, chỉ ba năm thời sung sướng một đời, lại biết đó biết đây không như xứ ta, cồn khô cỏ cháy, không đất cắm dùi, suốt đời bạch đinh tay trắng. Cứ đi vào rồi biết, may ra tốt số c̣n làm được ông nọ bà kia sung sướng ai bằng”

(Trích bài Giới thiệu Vài nét về t́nh h́nh công nhân Việt Nam thời Pháp thuộc, TS Sử Địa số 27, tháng tư, 1957, XB tại Hà Nội)
 

Nhưng thời nào cũng vậy. Người công nhân chỉ là loại người cùng khổ và là là nạn nhân đầu tiên bị bóc lột.
Nhưng nay th́ sự cùng khổ có tên gọi khác. Tên nó là lạm phát tiếp theo sự bóc lột . Sự tăng trưởng kinh tế và mức độ lạm phát không đồng bộ. Chiều hướng lạm phát gia tăng. Có nghĩa là giá sinh hoạt gia tăng mà đồng lương kiếm được không đuổi kịp.

Người công nhân bắt đầu đói. Trong bản tin trong nước, trên tờ Thanh niên có nhan đề: “Nhọc nhằn đời công nhân” nói đến hoàn cảnh thê thảm của thợ thuyền Việt Nam. Đói đến xỉu. Bản tin cho hay:
 

Ngọc Hân lại xỉu. Cái tin đó chẳng lạ ǵ với công nhân hăng O’Cleer, khu công nghiệp Sóng Thần 2, tỉnh B́nh Dương. Cả tháng trời quần quật bên máy may từ sáng đến tối khuya. Mỗi trưa, công ty cho ăn một bữa cơm với 3 lát thịt mỏng dính, trị giá tương đương 3200. Không xỉu mới là lạ.

Hân 24 tuổi, bốn năm làm cho công ty. Hân không nhớ nổi đă xỉu bao nhiêu lần. Lần này, chóng mặt khi bị hoa mắt, biết sức ḿnh, cô đă xin sếp được nghỉ. Thế nhưng, sếp nh́n cô rồi lắc đầu. Lỗ tai cô công nhân trẻ bắt đầu lùng bùng. Cô không c̣n biết kêu xin ai cả. Xung quanh cô chỉ có những người cúi mặt làm thuê, máy móc và những cái đế giầy.

Chúng tôi đến chỗ ở của chị em lúc 9 giờ đêm. Chín chị em trong một căn nhà lợp tôn, dưới nắng trưa hè, chắc chúng ta h́nh dung được cái nóng ra sao..Tôi chưa sống qua mùa đông, nhưng đă thưởng thức cái nóng, cái oi bức đến điên người của mùa hè khi phải chui rúc trong các container đó. Tôi thầm cảm phục sự chịu đựng dẻo dai của những cô gái Việt, nhưng cũng đau ḷng khi nghĩ đến những bệnh tật sẽ dày ṿ họ sau những năm tháng sống và làm việc trong điều kiện khốn klhổ như vậy”.

Hoàn cảnh như thế có khác ǵ hoàn cảnh dân cạo mủ đồn điền cao su Mimot qua phúc tŕnh của một thanh tra lao động Pháp:
 

Mái nhà không kín. Lợp lá gồi quá mỏng, nhiều chỗ bị dột. Mái bằng tôn th́ không có nóc. Hai mái tôn hai chỗ giáp nhau trên nóc hở bằng bằng bàn tay, mưa to nước dội vào. Nhà cũng không có nền, lúc mưa to nước mưa ngoài đồi tràn vào trong nhà làm cho nền nhà lầy lội.. Xung quanh trại th́ bẩn thỉu. Hàng vạn, hằng triêu ruồi bay khắp trên đồi làm cho người ta phải khó chịu. V́ không có nước tắm, họ chỉ có thể tắm ở dưới suối măi chân đồi. Cho nên phu đều bẩn thỉu, nhiều người ghẻ lở khắp ḿnh mảy, chấy rận đầy.”

Trong phúc tŕnh của ông Thanh tra Pháp thời ấy chỉ thấy có thiếu một chi tiết: Không có gái gọi, gái làm điếm kiếm thêm tiền như hiện nay.

Đói nghèo là do lạm phát. Nhưng ai là người trực tiếp lănh hậu quả của lạm phát? Người ta đă mỉa mai nói rằng: “Lạm phát là một thứ thuế đánh trên người nghèo” . Nghèo v́ đồng lương kiếm được th́ cố định trong khi giá cả vật liệu tiêu dùng tăng đều mỗi tuần, mỗi tháng. Người lao động nghèo sẽ lănh đủ. Họ đói. Đói v́ lạm phát và đói v́ bị chủ bóc lột không tăng lương. Và v́ đói nên họ đi biểu t́nh để đ̣i tăng lương.

Sự khác biệt giữa chế độ thực dân và chế độ hiện nay là ít ra người lao động có quyền biểu t́nh đ̣i tăng lương. Nhưng khốn thay, nhà nước cộng sản ngăn cấm biểu t́nh, làm lơ cho xí nghiệp ngoại quốc kiếm lời là bất nhân.

Phần chính quyền CS, chưa làm được điều ǵ đích thực như lời thú nhận của ông Ninh, bộ trưởng tài chánh: “Cuối năm 2007. Chúng ta đă bị động khi giải quyết bài toán giữa tăng trưởng và lạm phát”.
Cho nên có biểu t́nh là dấu hiệu bài toán lạm phát chưa giải quyết xong. Nó là hệ quả không tránh được trừ khi các chủ hăng tự động giải quyết tăng lương cho công nhân.

Các cuộc biểu t́nh ngày càng nhiều. Hầu hết xẩy ra ở các công ty có vốn ngọai quốc như Đài Loan, Nam Hàn. Nhưng thường không xảy ra ở các công ty do Mỹ làm chủ.

Điều đó có nghĩa các công ty Đài Loan và Nam hàn bóc lột trắng trợn người lao động Việt Nam. Nhưng chính quyền CS thường làm ngơ đến đồng lơa và t́m cách dập tắt các cuộc biểu t́nh ấy.
Họ về hùa với các công ty ngoại quốc, v́ sợ, v́ được đấm mơm? Bằng chứng là trên tờ Nhân Dân, ra ngày 05/01/2006, cơ quan phát ngôn đảng cộng sản Việt Nam ghi nhận:
 

“Những ngày vừa qua, tại các khu chế xuất- khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đă xảy ra 11 cuộc đ́nh công của hơn 30 ngàn lao động. Nhiều người trong số họ đ́nh công để đ̣i tăng lương, nhưng cũng không ít người đ́nh công do bị lôi kéo, kích động”.

Đó là lối nói hai mặt tráo trở của chính quyền trong nước. Ta tạm gọi là thực dân ta.

(C̣n tiếp)

© DCVOnline

 


 

Tran Han

Nếu đem so sánh thực dân đế quốc cũ và thực dân đế quớc CS mới th́:
-Thực dân cũ chưa lấy không hay tịch thu đất đai,ruộng vuờn nhà cữa tiền bạc của dân,thực dân đế quốc CS nầy th́ liếm sạch những ǵ mà thực dân đê`1 quốc cũ chư hề làm.
-Thực dân cũ c̣n có chút luơng tri ,chút t́nh nguời cho nên có truờng học miễn phí ,BV miễn phí ,có nhà xă hôi nuôi trẻ mồ côi ,bệnh tật .....v..v..Nói tóm lại Đế quôc thực dân đỏ nầy hoàn toàn không có chút ích lơi xả hội nào v́ chúng đói quá ,cjhúng bào liếm hết chẳng c̣n chut nhớt nào cho dân.
-Đế quốc thực dân cũ ,hấu như không có tham nhũng hối lộ,v́ quan gia có ít nên nạn nầy rất hiếm duới thời thực dân cũ.Thục dân đỏ, mỗi tên CS là mỗi quan chức cho nên 3 triệu đảng là 3 triệu cán bộ chúng chia nhau tham nhũng,hối lộ nhất nh́ thế giới...
-Vấn đề bóc lột th́ bây giờ với chủ nghỉa thực dân đế quốc đỏ nầy th́ bóc lột gấp ngàn lần thời thực dân đế quốc cũ như:
a/không có công đoàn do công nhân bầu mà tư bàn đỏ đưa nguời của chúng vào nắm quyền làm đại biểu CN,cho nên bóc lột nhiều mà không ai tranh đấu cho công nhân.Ngày xưa công nhân c̣n đuợc đ́nh công đỏi tăng luơng,ngảy nay Đế quốc đỏ không đuợc đ́nh công,lăn công ,không đuợc có tổ chức công đoàn tự do đại diện cho công nhân mà đ̣i hơi ....v....v...
b/Nông dân Thực dân đế quốc cũ đóng thuế ruộng đất nhẹ nhàn chỉ cần bán vài con gà là đóng đuợc một mẫu ruộng.Ngày nay đế quốc thực dâm đỏ mới nầy chúng ra tận ruộng ,chúng đến tận cây xoải cây mít ,chúng t́nh xem bao nhiêu mà nhà no6ng thu hoạch.Chúng đánh thuế từ 4-6 chục % làm cho nông dân có vài công ruộng đóng thuế cho chúng ,c̣n chút ít không có gạo ăn...v..v...
Trên đây chĩ so sánh sơ sài thôi,c̣n nhềiu cái bất công nửa chưa nói đến cái tội ác bằng trời của CS tư bản đỏ...


 

Quoc Quoc

Thưa tác giả Nguyễn Văn Lục,

"Ở Việt nam hiện nay, với hơn 80 triệu dân và với 3 triệu đảng viên mà thực chất bên trong là một thứ thực dân mới chỉ biết vơ vét làm giầu, bóc lột tận xương tủy người nghèo bằng bạo lực và lừa đảo."

Cho phép tôi được bất đồng với tác giả Nguyễn Văn Lục về ư kiến này.

Làm ǵ có chuyện cả 3 triệu đảng viên cộng sản đều đồng loạt trở thành những tên nội-thực-dân như ông nghĩ. Rất nhiều đảng viên b́nh thường đang sống trong nghèo khổ. Sự phân hoá giàu nghèo xảy ra ngay trong nội bộ Đảng CS VN.

Trở nên giàu sang chỉ có một bộ phận đảng viên có chức vụ. Tôi tạm xác định là bao gồm những loại sau đây:

- Cán bộ quản lư kinh tế từ giám đốc các công ty quốc doanh lớn trở lên.
- Công chức các chính quyền địa phương từ cấp Quận/Huyện trở lên, hoặc từ Phó GĐ / Giám đốc các Sở trở lên.
- Cán bộ các cơ quan trung ương từ cấp Vụ / Viện / Cục (tức là cơ quan cấp ngay dưới cấp Bộ) trở lên.
- Các loại cán bộ nói trên tính cho cả 2 nhánh Chính quyền và Đảng quyền.

Ước tính, số lượng các cán bộ nói trên trong cả nước chỉ tới con số dưới 100 000 là cùng. C̣n mọi loại cán bộ đảng viên khác chỉ làng nhàng, làm đầu sai cho các loại trên.

Ông Nguyễn Văn Lục là nhà báo chính trị cần có sự phân biệt chi li như trên th́ mới tập hợp được lực lượng cho dân chủ chứ. Nếu không, các cán bộ đảng viên thường của Đảng CS sẽ nghĩ rằng những người như ông sau này sẽ lại làm cái việc mà giới lănh đạo CS đă từng làm: trả thù cả loạt những người có quá khứ cộng sản!

Có thể ông không biết: tôi dám cả quyết rằng MỘT PHẦN LỚN cán bộ đảng viên thường của Đảng CS cũng đang khát khao dân chủ hoá đất nước.

Milovan Djilas - nhà bất đồng chính kiến và cựu cán bộ lănh đạo Liên đoàn Những người Cộng sản Nam Tư (chỉ dưới có I. Tito) - đă viết trong tác phẩm bất hủ "New Class" rằng: "Chế độ toàn trị đem đến oán cừu toàn diện và sâu sắc..." Oán cừu đó không loại trừ ngay cả trong ḷng những người cộng sản b́nh thường, tiến bộ, ông Nguyễn Văn Lục ạ.

Chào ông thân ái.

Quốc Quốc
(Hà Nội, Việt Nam)