Cùng suy luận với Nguyễn Văn Lục v việc:

Viết sử thiếu trung thực (1)

Lời ngỏ: Gần đây, đọc một số ư kiến bạn đọc trên DCVOnline, tôi thấy nhiều bạn đọc trích dẫn rất nhiều điều về tôn giáo, nhất là về sử liệu chung quanh chế độ ông Diệm đến độ phi thực. Tôi đặt vấn đề trách nhiệm và tŕnh độ hiểu biết của sự trích dẫn đó. Tôi đọc mà ngao ngán. Tôi nghĩ rằng nên đưa ra một trường hợp viết sai sự thực về sử để bạn đọc thận trọng hơn, mỗi khi đọc sử.
Mới đây, tôi có nhận được một tác phẩm nhan đề: Về một quăng đời của Trịnh Công Sơn, do tác giả Nguyễn Thanh Ty gửi tặng. Nội dung sách khác hẳn một vài cuốn mà tôi đă có dịp đọc viết về Trịnh Công Sơn. Ít ra th́ nó cũng hé mở thêm một góc cạnh nào đó về con người nhạc sĩ tài danh ấy. Nhưng h́nh như, chủ đích cuốn sách là dặt vấn đề với tác giả Nguyễn Đắc Xuân. Tác giả Nguyễn Thanh Ty đặt vấn đề về một bài viết của ông Nguyễn Đắc Xuân được hiểu là lấy lại tài liệu đă viết của anh Nguyễn Thanh Ty. Tôi không đi vào chi tiết nội dung cuốn sách, v́ bạn đọc tự ḿnh có thể đưa ra một kết luận thích đáng. Đọc là rơ. Tôi chỉ tiếc một điều giá ông Nguyễn Đắc Xuân khi đọc được bài viết của ông Nguyễn Thanh Ty nói về ḿnh. Chỉ cần liên lạc trực tiếp với tác giả, nói “phải quấy” đôi ba điều. Câu chuyện đáng nhẽ đă khác. Nay th́ nó trở thành lớn ngoài tầm tay của ông rồi.
 

Vua Tự Đức
Nguồn: tienphongonline.com.vn


Từ câu chuyện trên mà tôi muốn đặt trở lại về một bài viết của ông Nguyễn Đắc Xuân trên Giao Điểm, số tháng 3-2003, với nhan đề: Nhớ thầy Vương Hồng Sển, đi t́m nơi ẩn náu của chiếc nghiên mực Tức Mặc Hầu của Vua Tự Đức. Bài viết bầy tỏ tâm sự của tác giả, ḷng khao khát muốn đi t́m lại chiếc nghiên mực vô giá ấy. Tuy nhiên, đọc toàn bài, người viết có ư nhằm đến một nhân vật chính trị, đặc biệt là ông Ngô Đ́nh Diệm mà trong đoạn chót của bài viết, ông Xuân có ư ám chỉ ông Diệm là nguyên nhân của sự mất mát này: Ông Diệm hiểu câu này hơn ai hết. Thế mà cuối cùng lại chính ông đă để mất cái của báu vô giá ấy. Ngoài thầy Vương Hồng Sển, tôi chưa nghe ai nói đến trách nhiệm của “cụ Ngô” về sự thất lạc của chiếc nghiên lịch sử tức Mặc Hầu.

Bài viết của ông Nguyễn Đắc Xuân, ngoài tính cách muốn truy nguyên một cổ vật đă bị mất, c̣n muốn ám chỉ gián tiếp ông Diệm ăn cắp báu vật đó, đồng thời chịu trách nhiệm về sự mất mát này. Người viết xin tŕnh bầy theo những ǵ biết được, theo những tài liệu có được nhờ đó làm sáng tỏ thêm những nghi án do cụ Vương Hồng Sển (1) và ông Nguyễn Đắc Xuân đặt ra.

Để cho độc giả nắm được rơ ràng câu truyện đầy đủ từ đầu tới cuối về chiếc nghiên mực này, xin bắt đầu tŕnh bầy từng đề mục một.

Về nguồn gốc nghiên mực.

Trong một bài dịch của ông Ngô Đ́nh Diệm đăng trong tập san Đô thành hiếu cổ, Bulletin des amis du vieux Huế (BDADVH), tập 4, năm 1917, từ trang 209 đến trang 212), trong đó, ông Diệm có ghi rơ “Traduction des Inscriptions”. Ghi chú đó cho thấy ông Diệm chỉ làm công việc dịch bản văn của Tự Đức. Trong một bài viết khác của ông Diệm, lúc ông c̣n là học sinh trường Hậu Bổ, ông cũng đă dịch một bài về sứ bộ Phan Thanh Giản gồm ba quyển với nhan đề “Như Tây Sử Tŕnh Nhật kư” vào năm 1863. Điều dó cũng có thể cắt nghĩa ở vào tuổi 18, ông Diệm chưa đủ tầm vóc để nghiên cứu một nghiên mực cổ.

Trong toàn cảnh bản văn, vua Tự Đức luôn luôn dùng đại danh từ “Nous”. Do đó hiểu theo văn tiếng Pháp, chữ Nous đó chỉ có thể hiểu là Trẫm, nghĩa là do chính tay vua Tự Đức viết. Trong nội dung bản văn cho thấy khi mô tả về nguồn gốc nghiên mực có viết Đột nhiên , từ phía vừng đông đỏ thắm, giữa những áng mây bay tiến về hướng chúng ta, một sứ giả khoác áo vân cầm. Đó là niềm hân hoan của chúng ta khi được thưởng thức và nhận lănh bảo vật ấy”. Qua nội dung câu trên, đă hẳn là vua Tự Đức mới là người trực tiếp nhận báu vật chứ không thể là ông Diệm được.

Đă thế, khi chấm dứt bài văn đă ghi “Niên hiệu Tự Đức, thế thứ Mậu Th́n Cát Nhật”. Đọc bản văn cho thấy vua là người say mê đồ cổ, người sành điệu, biết từng loại nghiên mực xưa, đánh giá được cái tốt cái dở. Để so sánh nghiên mực này với những nghiên mực cổ xưa từng nổi tiếng, Vua Tự Dức viết: “Les encriers Hông Ti et Thanh Thiết, jadis si réputés, ne pourraient être que ses esclaves, pas plus qu!eux, ceux appelés Đồng Ngơa et Phần Nê ne sauraient être mis en parallèle avec lui. Il parait être unique au monde, dans sa perfectiom. Quel précieux honneur.”

Về nguồn gốc nghiên mực, nội dung bài viết của vua Tự Đức diễn tả một cách văn chương, bóng bảy đầy tính chất lăng mạn gần như huyễn hoặc như một báu vật trời cho. Soudain, du côté de l’aurore pourpre, une nuée s’avance vers nous: un messager, habillé de nuages, enveloppés de brouillards irrisés, resplenđissant de beauté, nous remet un objet de pierre La-Văn, en fortifiant nos pensées pour développer notré génie littéraire. Ce fut un plaisir pour nous de le contempler en l’emportant chez nous”.

Đoạn văn trên đẩy người viết đến những câu hỏi khó có câu trả lời. Vua Tự Dức muốn dùng lối văn ẩn dụ để nói về người đă mang đến cho ông nghiên mực đó. Lối viết đó, hay th́ có hay, nhưng ngày nay gây khó khăn không ít cho người muốn truy t́m gốc tích chiếc nghiên mực. V́ vậy, ngày nay khó mà biết được ai là người đă dâng hiến nghiên mực đó cho vua Tự Đức. Lại nữa, trong trường hợp nào và bao giờ nghiên mực của Tự Đức đă được đưa ra Bảo tàng viện. Có vẻ như nó có một số phận mơ hồ như thế trong suốt mấy chục năm sau khi Tự Đức đă mất.

Kể từ lúc vua Tự Đức băng hà đến năm 1917, năm mà ông Diệm dịch bài này đă mấy chục năm có lẻ, mấy chục năm đầy những biến cố xảy ra trong chốn cung đ́nh. Chủ của chiếc nghiên mực không c̣n nữa, số phận chiếc nghiên mực theo đó trôi nổi không biết đă vào tay ai? Nh́n lại, từ khi Tự Đức lên ngôi 1848-1883, sau đó tiếp nối ngôi vị với Hiệp Ḥa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân rồi Khải Định. Ṛng ră 34 năm trải qua nhiều biến động, ai c̣n nghĩ tới số phận của chiếc nghiên đó nữa?

Và như nội dung đoạn văn vừa nêu trên, một sứ giả từ đâu đó đă trao vào tay vua Tự Đức. Ông chiêm ngắm nó rồi đem về nhà. Sau dó, có nghiên mực trong tay, ông xem xét, đo đạc, t́m hiểu nó thuộc loại nghiên nào, sự cao quư của nó rồi chính tay vua ghi vào đáy nghiên mực. Nhưng tất cả câu hỏi trên chưa có câu trả lời về cái nguồn gốc lênh đênh trôi nổi của nghiên mực trước khi rơi vào tay Tự Đức và sau khi Tự Đức đă mất? Lúc nào và tại sao nghiên mực được trao trả cho Tàng cổ viện để cụ Sển có dịp nói về nó?

Cụ Nguyễn Thiệu Lâu, (tài liệu trích dẫn của cụ Sển trong Nửa Đời Hư, trang 501) một trí thức khoa bảng xuất thân trường Sorbonne cũng đă có dịp được xem cái nghiên này và cụ đă dựa vào một tài liệu sử cho rằng vào năm thứ hai thời Thiệu Trị, năm 1842, tháng 10 có người dâng cái nghiên xưa lên Thiệu Trị. Cũng theo cụ Lâu, đầu nghiên có khắc một bài Minh (Theo cụ, Minh là một bài thơ theo cổ văn). Người viết tự hỏi, nếu cái nghiên là của vua Thiệu Trị, tại sao người đời cứ gán cho Nghiên của Tự Đức? Phải chăng có hai nghiên và có thể có nhiều nghiên, nghiên của vua Thiệu Trị và một nghiên của vua Tự Đức? Điểm thứ hai, người viết đếm bài Minh đến 32 chữ, trong khi đó, chữ viết trên nghiên mực được vẽ lại bởi cụ Tôn Thất Sa không có đủ số chữ như thế. Vả lại dù cho đủ số chữ th́ đă chắc ǵ nội dung của các chữ trong bài Minh của cụ Nguyễn Thiệu Lâu có cùng nội dung với chữ khắc trên mặt nghiên mực của vua Tự Đức? (Xin xem thêm tranh vẽ của cụ Tôn Thất Sa do E. Gras sưu tầm). Thêm một bằng chứng rơ rệt nghiên mực thời Thiệu Trị không phải là nghiên mực của Tự Đức, v́ trên bản khắc nghiên của Tự Đức có ghi rơ:Fait un jour faste de l’an Mậu Th́n (1868) de la période de Tự Đức”

Riêng cụ Vương Hồng Sển đă không nhắc ǵ đến nguồc gốc chiếc nghiên này. Bài của ông Nguyễn Đắc Xuân phần lớn nội dung lại dựa vào ư của cụ Vương Hồng Sển, nhưng ông đă đưa ra một chi tiết đến ngạc nhiên, ông viết: Với sự giúp đỡ của cụ Thượng Nguyễn đ́nh Ḥe, Ngô đ́nh Diệm mượn được cái nghiên Tức Mặc Hầu (mượn ở đâu ông không nói đến) đem về nhà nghiên cứu và dịch sang tiếng Pháp bài văn ngự chế của vua Tự Đức chạm nổi trên mặt bề đáy cái nghiên.

Có thể đồng ư một phần với ông Nguyễn Đắc Xuân ở một điểm là khi ông Diệm là học sinh trường Hậu Bổ th́ ông Ḥe là Hiệu trưởng trường đó. (Theo ông Nguyễn Cúc cho biết, cụ Nguyễn Đ́nh Ḥe thuờng được gọi là cụ Thượng Ḥe, sinh năm 1886, Hiệu trưởng trường Hậu Bổ từ 1911-1917 và Thượng thư bộ Lễ 1923 và về hưu năm 1935). Cho dù như vậy, đă chắc ǵ ông Ḥe đă lấy nghiên mực cho ông Diệm mượn. Mặt khác, ông Diệm chỉ là người dịch bản văn của Tự Đức nên có cần thiết chăng phải có nghiên mực mới viết được bài này? Theo văn từ của cụ Sển và của ông Nguyễn Đắc Xuân th́ h́nh như v́ có cơ may được trực tiếp với nghiên mực, rồi đem nghiên về nhà nghiên cứu nên ông Diệm mới có bài viết trên BDADVH. Xin ghi lại ư của cụ Sển: Lúc nhỏ, ông học trường Hậu bổ ở Huế, và để cho người biết danh, ông viết bài văn Tây này, ông dịch lại những bài thi chạm trên hộp đựng và trên nghiên mực, và kê khai rành rọt những loại đá quư mà người Trung Hoa dùng... Đối với những ai có tánh hiếu kỳ, muốn biết thêm về nghiên mực này, tôi xin khuyên nên đọc bài khảo cứu công phu của ông… ”

Như thế, rơ ràng là cụ Sển cũng như ông Nguyễn Đắc Xuân qua văn mạch bài văn coi toàn bộ nội dung bài văn là công tŕnh nghiên cứu công phu của ông Diệm, không phải của Tự Đức. Phải chăng cụ Sển khi đưa ra kết luận coi bài nghiên cứu nghiên mực của Tự Đức gán cho ông Diệm là tác giả có phần vội vă chăng? Không lẽ một người học theo xưa lại không thể hiểu được văn mạch một bài văn tiếng Pháp? Ông Nguyễn Đắc Xuân th́ dựa trên bằng cớ nào để quyết đoán ông Diệm đă mượn về nhà, rồi xem xét, nghiên cứu viết ra bài khảo cứu? Ông là người nghiên cứu sử, nhất là được coi như Huế học lại quyết đoán một điều thiếu cơ sở như thế?
 

Một vài kiểu nghiên mực cổ
Nguồn: ttvnol.com


Trở lại việc cụ Hoè cho ông Diệm mượn nghiên mực về nhà coi, tôi chỉ xin trích dẫn một số luật lệ về các đồ dùng của vua trong những đồ vật của vua dùng để thấy rằng đồ dùng trong cung không phải ai cũng có quyền mang ra mang vào như tṛ đùa đâu. Trong Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ đă quy định như sau Phàm các đồ vật của vua dùng (người có trách nhiệm coi giữ) mà chứa cất, sửa chữa không đúng phép, phải phạt 60 trượng. Dâng lên vua dùng sai lầm (dâng thứ không đúng dâng), phải phạt suy 40 roi… Nếu người chủ thủ lấy những đồ vật của vua dùng về nhà dùng hoặc cho người khác mượn, cùng là những người mượn những đồ vật ấy, đều phải phạt 100 trượng, đồ 3 năm. (Hội điển sự lệ, trang 381, tập 11).

Người viết tự hỏi không biết ông Nguyễn Đắc Xuân căn cứ vào tài liệu nào để xác quyết ông Diệm đă được cụ Nguyễn Đ́nh Ḥe cho mượn về nhà nghiên cứu. Xin ghi nhận một điều: Nếu cái nghiên để trong điện Càn Thành hay Cẩn Chánh để các vua kế vị dùng th́ ngay cụ Thượng cũng không dám lấy về cho ông Diệm mang về nhà nghiên cứu. Như thế, chỉ có thể là cái nghiên chắc đă được chuyển ra Bảo Tàng Viện Huế. Ngay cả trường hợp này, vị tất ông Diệm đă có thể mang về nhà như của riêng?

Như vậy, về nguồn gốc nghiên này vẫn c̣n có những điểm tồn nghi, chưa rơ ràng. Về nội dung bài viết, cụ Sển và ông Nguyễn Đắc Xuân ngả theo hướng là ông Diệm đă nghiên cứu và đă viết bài. Phải chăng đây là một nhận xét cần xem lại? Ông Diệm không có điều kiện cũng như chưa đủ kiến thức để có thể viết một bài khảo cứu về nghiên mực. Xét văn bản tiếng Pháp, từ cách xử dụng chữ Nous, từ văn mạch cho thấy ông chỉ có công dịch thuật lại điều mà Tự Đức đă viết, đă bỏ công nghiên cứu v́ có sẵn trong tay nghiên mực.

Copyright © 2006 DCVOnline
 

Cụ Vương Hồng Sển tại Vân Đường năm 1980
Nguồn: sggp.org.vn


DCVOnline:
(1): Vương Hồng Sển (sinh 27 tháng 9, 1902[*], Sóc Trăng - mất 9 tháng 12, 1996), mang ba ḍng máu Việt, Hoa, Miên, là một nhà văn hóa, học giả, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng và được kính trọng ở miền Nam Việt Nam. Ông là người có hiểu biết sâu rộng về miền Nam. Khi chết ông đă hiến tặng ngôi nhà (Vân đường phủ) và toàn bộ bộ sưu tập đồ cổ của ḿnh cho Nhà nước với hy vọng thành lập một bảo tàng mang tên ông. Năm 2003, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố ngôi nhà này (địa chỉ: số 9/1 đường Nguyễn Thiện Thuật, phường 14, Quận B́nh Thạnh).

Thời học sinh, ông học tại trường Collège Chasseloup Laubat (nay là trường Phổ thông trung học Lê Quư Đôn).

Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 9 tháng 12 năm 1996, thọ 94 tuổi.

[*] Theo giấy khai sinh th́ ông sinh ngày 4 tháng 1 năm 1904

Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia